Quản lý Nhà nước về Du lịch trên địa bàn Đà Nẵng
Du lịch đã và đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước và vùng miền, có thể xem là một ngành kinh tế có tính chất tổng hợp, giúp đẩy mạnh quá trình phát triển của nhiều ngành kinh tế mũi nhọn, giải quyết việc làm, thúc đẩy quan hệ văn hoá và xã hội giữa các dân tộc, góp phần nâng cao dân trí, tăng cường quan hệ đoàn kết, giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia, vùng miền. Đối với đất nước ta ngày nay, du lịch đóng góp không nhỏ vào quá trình tiến hành Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước. Thu nhập từ ngành Du lịch Việt Nam rất cao, trong giai đoạn gần đây, mỗi năm thu nhập trung bình từ ngành Du lịch khoảng trên 425.000 tỷ đồng, chiếm trên 6.6% GDP mỗi năm và tạo khoảng 2,3 triệu công ăn việc làm cho lực lượng lao động. Du lịch đang ngày càng trở nên một ngành “công nghiệp không khói”, giữ vị thế then chốt đối với sự tăng trưởng kinh tế – xã hội của đất nước.
Nắm bắt được xu hướng trên, qua công cuộc cải cách và hội nhâp, Đảng và chính phủ Việt Nam đã đưa ra những đường lối, chính sách rất đúng đắn nhằm phát triển du lịch. Nghị quyết Trung ương Đảng khoá XIV khẳng định chủ trương Phát triển du lịch toàn diện, trở thành ngành kinh tế quan trọng, từ đó thúc đẩy quá trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước, từng bước đi xây dựng đất nước Việt Nam trở thành một cường quốc du lịch có tầm vóc của thế giới. Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 22/01/2020 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 147/QĐ-TTg về Quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Theo kế hoạch, mục tiêu của đề án là để vào năm 2025, Việt Nam trở thành địa điểm du lịch hàng đầu, phấn đấu trong tốp ba quốc gia hàng đầu về phát triển du lịch trong vùng Đông Nam Á và 50 quốc gia có khả năng cạnh tranh du lịch hàng đầu châu Á và vào năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển bền vững. Việt Nam trở thành điểm du lịch đặc sắc hấp dẫn, trong tốp 30 quốc gia có khả năng cạnh tranh du lịch số một châu Á, phục vụ đủ nhu cầu cùng mục đích phát triển bền vững.
Trong vài năm trở lại đây, cùng với công cuộc phát triển đất nước và tiến trình hội nhập quốc tế, ngành du lịch Đà Nẵng đã chủ động vượt qua khó khăn, tận dụng cơ hội cùng tranh thủ nguồn lực quốc tế thúc đẩy phát triển. Nhờ thế đã góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế, giữ gìn và phát triển những giá trị lịch sử cũng như văn hoá tốt đẹp của dân tộc, giải quyết những vấn nạn quốc tế nói riêng và đời sống cộng đồng nói chung. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đạt được, ngành du lịch Đà Nẵng cũng còn những khó khăn, tồn tại trên nhiều mặt, trong đó có việc quản lý nhà nước hoạt động du lịch của chính quyền địa phương các cấp của Đà Nẵng. Điều này tạo ra cho việc quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Đà Nẵng nhiều việc phải làm.
Chính vì vậy, tác giả chọn vấn đề “Quản lý Nhà nước về Du lịch trên địa bàn Đà Nẵng’’ làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế của mình.Tình hình nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế của mình.
2.1.Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Đà Nẵng, việc làm sáng tỏ các thành công – hạn chế, lí giải nguyên nhân của thực trạng đó. Từ đó, có các đề xuất, giải pháp nhằm phát huy các thành quả đạt được, giải quyết những bất cập, hạn chế nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Đà Nẵng.
2.2.Mục tiêu cụ thể
– Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với du lịch và áp dụng vào tình hình thực tế của Đà Nẵng.
– Nêu bật thực trạng công tác QLNN đối với lĩnh vực du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
– Kiến nghị những biện pháp nhằm tăng cường công tác QLNN trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong tương lai.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm tìm kiếm, đánh giá và kiến nghị những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động quản lý nhà nước du lịch trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng. Nghiên cứu sẽ có giá trị thực tiễn cao nhằm góp phần tích cực vào sự phát triển chung của nghành du lịch và toàn thành phố

3.2. Phạm vi nghiên cứu
-Phạm vi không gian: Thành phố Đà Nẵng
– Phạm vi thời gian: Tình hình QLNN về du lịch thành phố Đà Nẵng được nghiên cứu trong thời gian từ năm 2020 đến nay kiến nghị có hiệu quả vào năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
– Phạm vi nội dung: Lý nhà nước về du lịch được hiểu là sự can thiệp về quyền của Nhà nước vào hoạt động du lịch Đà Nẵng thông qua tổ chức hoạt động du lịch nhằm tạo ra sự đồng nhất giữa quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch, bảo đảm phát triển du lịch nhằm thúc đẩy kinh tế mà lại vừa bảo vệ được di sản, duy trì sự phát triển bền vững, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của khách du lịch, hộ, cá thể hoạt động du lịch, thúc đẩy các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch. Luận văn tập trung nghiên cứu những quy trình và hoạt động quản lý được tiến hành tại các địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Gồm các phương pháp định lượng – định tính, những phương pháp nghiên cứu kết hợp, bổ trợ lẫn nhau với các phương pháp phân tích chủ yếu là: Phương pháp thu thập số liệu, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích, phương pháp phân tích theo mô hình SWOT
– Phương pháp thu thập số liệu: Gồm thu thập dữ liệu sơ cấp – thứ cấp
+ Dữ liệu định tính: Gồm dùng những phương pháp phân tích thống kê nhằm thực hiện tổng hợp, phân tích số liệu thu thấp nhất tại các đơn vị doanh nghiệp, hộ cá thể thuộc ngành thương mại, du lịch trên địa bàn tỉnh.
Tác giả thu thập số liệu khảo sát từ những doanh nghiệp kinh doah du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với 45 doanh nghiệp và 25 nhân viên. Sau quá trình thu thập, số liệu sẽ tiến hành phân tích theo những phương pháp thống kê nhằm cho ra những kết luận so sánh.
+ Dữ liệu thứ cấp: Những số liệu thống kê ngành du lịch, số liệu từ Tổng cục thống kê về du lịch, những báo cáo định kỳ về QLNN về du lịch thành phố Đà Nẵng.
– Phương pháp phân tích: Phân tích nhằm việc làm sáng tỏ các vấn ñề then chốt, các điểm nghẽn đối với hoạt động QLNN về du lịch ở thành phố Đà Nẵng.
– Phương pháp thống kê, mô tả: Phân tích nhằm mô tả những đặc điểm của dữ liệu thu thập được.
– Phương pháp phân tích theo mô hình SWOT: Phân tích điểm nổi bật, điểm hạn chế, thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện quản lý phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Ngoài những phần chung là mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài được kết cấu như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch và công tác Quản lý Nhà nước về du lịch.
Chương 2: Thực trạng công tác Quản lý Nhà nước về Du lịch trên địa bàn Đà Nẵng.
Chương 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác Quản lý Nhà nước về Du lịch trên địa bàn Đà Nẵng.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH
1.1. KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH
1.1.1.1. Khái niệm về du lịch và các loại hình du lịch
a. Khái niệm về du lịch
Thuật ngữ du lịch xuất phát gốc từ tiếng Hy Lạp: Tonos nghĩa “Đi một vòng quanh… Thuật ngữ du lịch được thêm vào hệ ngữ La tinh Turnur và sau này dịch sang Tour theo tiếng Pháp với nghĩa đi du lịch, cuộc rong chơi. Theo Robert Langquar (1980), thuật ngữ Tourism (du lịch) lúc đầu được dùng trong tiếng Anh khoảng năm 1800 đã được quốc tế hoá, nhiều người đã dùng nó mà không giải thích ý nghĩa. Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch là một danh từ song ngữ Hán – Việt, được hiểu là đi du lịch, trải nghiệm.
Ngày nay, du lịch đã trở nên một ngành kinh tế – xã hội thiết yếu đối với mọi quốc gia. Tuy nhiên, do điều kiện về vị trí, thời gian khác nhau hoặc dưới những góc nhìn nhận khác nhau, mỗi quốc gia có một cách định nghĩa khái niệm du lịch này khác nhau. Theo nghĩa khái quát nhất, “Du lịch” có thể hiểu là việc di chuyển của mỗi cá nhân hoặc một cộng đồng khi rời khỏi nơi ở của cá nhân trong khoảng thời gian nhất định tại một nơi nào đấy để giải trí, thư giãn hay chữa căn bệnh. Dưới đây, chúng ta sẽ trình bày một số định nghĩa cơ bản:
Liên Hiệp Quốc (1963) giải thích khái niệm du lịch như sau: “Du lịch là tập hợp những mối liên hệ, sự kiện và những sinh hoạt kinh tế xuất phát từ những hoạt động đi lại và cư trú của người hay cộng đồng khác nằm xa nơi cư trú thông thường của cá nhân bên ngoài đất nước họ với lý do nhân đạo. Nơi khách du lịch đến không phải là nơi cư trú của khách “.
Luật du lịch số 44/2005/QH 11 của Quốc hội Việt Nam quy định: “Du lịch là những hành vi có liên quan đến việc đi của cá nhân đến nơi lưu trú thông thường của cá nhân để thoả mãn mục đích khám phá, trải nghiệm văn hoá, nghỉ ngơi trong một quãng thời gian cụ thể”. [16]
b.Các loại hình du lịch cơ bản
Hoạt động du lịch diễn ra rất đa dạng và sôi động. Tuỳ thuộc theo sự phát triển sẽ có các loại hình du lịch khác nhau. Mỗi loại hình du lịch sẽ có những tác động nhất định đến môi trường. Tuỳ theo tính chất khác nhau ta có thể phân chia du lịch thành nhiều loại hình khác nhau:
Du lịch Biên giới: là sự di chuyển giữa quốc gia nầy sang nước khác, du khách phải ra khỏi khu vực biên giới cửa khẩu và trả bằng ngoại tệ nơi họ đến du lịch.
Du lịch nội địa: là sự di chuyển từ nơi này đến địa phương khác thuộc cùng một khu vực biên giới của một quốc gia.
Du lịch Lễ hội: Lễ hội là một nhu cầu không thể thiếu đối với đời sống tâm linh của con người, lễ hội không chỉ đem lại sự hiểu biết các nét văn hoá, phong tục, tập quán của mỗi vùng đất, từng dân tộc thiểu số mà còn đem lại cho du khách sự thư thái, quên đi những mệt mỏi lo toan của cuộc sống đời thường.
Du lịch Văn hoá: Nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao sự hiểu biết của du khách về những khu di tích lịch sử, những khu di tích, giá trị lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán của nơi đến du lịch.
Du lịch Thể thao: Là một nhu cầu không thể thiếu được của du khách, vì sau chuyến tham quan du khách sẽ phải tranh thủ vui chơi thư giãn nhằm phục hồi sức khoẻ sau khoảng thời gian làm việc mệt mỏi, vì thế các khu du lịch cần phải có các chương trình thể thao dành cho du khách.
Du lịch tham quan: Đây là loại hình du lịch nhằm nâng cao sự hiểu biết của con người về thế giới bên ngoài, điểm tham quan là khu du lịch sinh thái, các khu văn hoá lịch sử, tham quan các di tích văn hoá lịch sử vv v.v.
Du lịch khám phá: Du khách đến khám phá thế giới xung quanh nhằm mục đích nâng cao sự hiểu biết thế giới bên ngoài, du lịch khám phá cũng có thể chia thành du lịch tìm hiểu và du lịch mạo hiểm. Du lịch tìm hiểu là du khách có thể tìm hiểu những phong tục tập quán văn hoá lịch sử, tìm hiểu phong cảnh và con người nơi họ đến du lịch. Du lịch thể thao chủ yếu dành cho du khách cao tuổi họ thích chứng tỏ bản thân, thích sự khám phá chính vì vậy họ thường đến những nơi có địa hình hiểm trở để khám phá.
Du lịch thể thao: Là loại hình du lịch nhằm đáp ứng sự say mê đối với thể thao của con người, họ đi du lịch ngoại trừ việc tham quan những danh lam thắng cảnh thì bên cạnh dó họ cũng tìm đến các nơi có điều kiện để tự mình chơi những môn thể thao mà họ yêu thích.
Du lịch phối hợp với hội thảo, triển lãm, họp báo, tổ chức các sự kiện (Du lịch MICE – Meeting, Incentive, Convention, Exhibition): Đây là loại hình du lịch đã và đang phát triển, cũng là một trong những trọng điểm của chiến lược phát triển ngành du lịch Việt Nam. Vì đây là một loại hình du lịch cao cấp, ngân sách chi tiêu cho chương trình sẽ cao hơn so với du lịch thông thường, tuỳ thuộc theo nhu cầu của từng đối tượng khách hàng. Đòi hỏi các doanh nghiệp khai quật du lịch phải cung ứng dịch vụ trọn gói từ khách sạn, ăn uống đến vận chuyển cùng thực hiện các chương trình. Đây là cơ hội để các đơn vị tỏ ra uy tín cùng thương hiệu của mình trong nghành dịch vụ du lịch.
1.1.1.2. Khái niệm Quản lý nhà nước về du lịch
a.Quản lý nhà nước
Có nhiều cách hiểu khái niệm quản lý nhà nước. Theo nghĩa khái quát nhất, quản lý nhà nước vừa là nhiệm vụ, cũng là quyền lợi và nghĩa vụ của nhà nước, cũng có thể hiểu là việc Nhà nước sử dụng quyền lực chung đã được thể chế hoá tác động dài lâu và liên tục đến những quá trình, lĩnh vực hay hoạt động khác nhằm thực hiện được mục tiêu quản lý nhà nước.
Chúng ta sẽ hiểu nghĩa quản lý nhà nước theo hai khía cạnh:
– Theo nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nghĩa là bao trùm toàn bộ quá trình hoạt động, tổ chức của bộ máy nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp.
– Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước được hiểu là quá trình tổ chức và điều hành của bộ máy cơ quan nhà nước, thực chất là quá trình tổ chức, điều hành của bộ máy cơ quan nhà nước với các quá trình nhận thức và hành vi của công dân theo pháp luật nhằm thực hiện được những mục đích yêu cầu của quản lý nhà nước.
Về khái niệm QL, quan điểm ngày xưa nói rõ: QL chính là làm cho đối tượng toàn vẹn, không suy chuyển, buộc đối tượng hoạt động theo ý chí chủ quan của chủ thể QL. Quan niệm ngày nay nói thêm: “QL là quá trình can thiệp có tổ chức, có mục đích của chủ thể QL vào đối tượng QL để thực hiện mục tiêu đã đặt ra” [13, tr. 11].
QL đó là phương tiện để xã hội có thể dùng nhằm tổ chức và điều tiết đời sống của mình. Người ta có thể hiểu đơn giản: sức lao động, trí thức, QL là ba yếu tố cấu tạo thành quá trình vận động của xã hội, trong đĩ có vai trò liên kết trí thức với sức lao động. Tuy nhiên, trong thực tiễn ba yếu tố trên gắn kết không chặt với nhau. QL nói chính xác khác là phương thức tổ chức đời sống xã hội, để hướng tổ chức hoạt động theo mục đích đã xác định sẵn và có tổ chức, kỷ luật.
Như vậy, QL là quá trình, hoạt động hoặc kiểm soát việc thực hiện nghĩa vụ nhằm bảo đảm cho các hoạt động thuộc tổ chức được thực hiện theo hướng đáp ứng được những mục tiêu đã đặt ra của tổ chức – đồng thời là việc đặt ra và duy trì những biện pháp nhằm thực hiện các mục tiêu bằng việc phối hợp những cố gắng của các cá nhân với nhau thuộc tổ chức, cũng là một bộ phận cá nhân thuộc tổ chức quan tâm đến việc QL tổ chức xã hội
QLNN có thể được định nghĩa như sau: “QLNN là sự tác động mang tính tổ chức, điều chỉnh trên cơ sở khoa học và kế hoạch của các chủ thể QLNN đối với quá trình phát triển xã hội, được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục nhằm đạt tới mục tiêu định trước”. Theo quan niệm này thì QLNN là hoạt động của tất cả các cơ quan NN từ Quốc hội, Chính phủ đến các cơ quan NN khác thông qua pháp luật. NN có thể trao quyền của mình cho các cá nhân hay các tổ chức xã hội, để các chủ thể đó thay mặt NN tiến hành hoạt động QLNN.
b.QLNN về du lịch
Từ những trình bày trên đây về du lịch và quản lý nhà nước, tác giả có thể định nghĩa: “Quản lý nhà nước về du lịch là quá trình tác động của Nhà nước đến du lịch thông qua các công cụ quản lý nhằm bảo đảm cho lĩnh vực này phát triển phù hợp với lợi ích của NN, của xã hội, phát triển đúng định hướng của Nhà nước, tạo nên sự công bằng trong hoạt động du lịch để du lịch thực sự là một ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. QLNN về DL là hoạt động của NN nhằm tác động mang tính tổ chức lên các quá trình của HĐDL bảo đảm cho lĩnh vực này phát triển phù hợp với lợi ích của NN, của xã hội”.
Sự QL trong hoạt động HĐDL được thực hiện thông qua các cơ quan NN, nhưng phần lớn là được các cơ quan NN địa phương thực hiện. Cơ quan NN địa phương được NN ban hành văn bản về chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức biên chế. Trong lĩnh vực QLNN về HĐDL chủ yếu là Bộ Văn hoá, Thể thao và DL trực thuộc Chính phủ; Sở Văn hoá, Thể thao và DL tỉnh, thành phố thuộc Trung ương và phòng Văn hoá – Thể thao của thị xã, Quận, huyện, thành phố tỉnh, thành phố.
- – Phạm vi (đối tượng) quản lý: là những vấn đề, quan hệ cụ thể nảy sinh đối với ngành du lịch.
- – Mục tiêu quản lý nhà nước về du lịch: Bảo đảm hoạt động du lịch vận hành theo một quy luật thống nhất, đồng thời đảm bảo quyền lợi của công dân, doanh nghiệp cũng như quyền lợi chính đáng của cả cộng đồng.
- – Công cụ quản lý: Là cơ quan, đơn vị có chức năng thực hiện quản lý hoạt động du lịch thông qua hê ̣thống những chính sách của Nhà nước và những hoạt động quản lý liên quan đến chính sách, chương trình, kế hoạch về du lịch. ..
- 1.1.2. Đặc điểm công tác QLNN về du lịch
- Một là: Chính sách, pháp luật của Nhà nước đảm bảo sự thuận lợi và dễ kích thích du lịch phát triển nhanh và hiệu quả hơn. Mặt khác, qua chính sách, pháp luật, nhà nước cũng có nhiều giải pháp để điều tiết sự phát triển của du lịch như thuế suất, phí, giá, tín dụng, truyền thông. ..
- Hai là: Bất cứ một ngành kinh tế nào cũng không phát triển riêng lẻ, hơn thế nữa, du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, do đó du lịch để phát triển phải có sự phối hợp hài hoà với các ngành kinh tế liên quan. Do đó, rất cần thiết phải có sự điều tiết của nhà nước nhằm đảm bảo phát triển ngành du lịch phù hợp với mục đích và yêu cầu phát triển tổng thể của kinh tế quốc dân.
- Ba là: Sự can thiệp của nhà nước nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực có thể phát sinh đối với ngành du lịch: tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử; chống ô nhiễm môi trường, các nguồn khoáng sản thiên nhiên và xử lý các vi phạm pháp luật về kinh doanh, dịch vụ du lịch. .. Đó là những việc làm mà không một chủ thể khác của nền kinh tế nào làm và có thể giải quyết hiệu quả như nhà nước.
- 1.1.3. Vai trò của công tác QLNN về du lịch
- Một là: Cơ chế, pháp luật của Nhà nước tạo cơ chế công khai – minh bạch hoá thúc đẩy du lịch phát triển mạnh mẽ – hiệu quả hơn. Mặt khác, qua chính sách, pháp luật, nhà nước cũng có nhiều công cụ để điều chỉnh sự phát triển của du lịch như thuế, lệ phí, tín dụng, thị trường tiền tệ, truyền thông. ..
- Hai là: Bất cứ một ngành kinh tế nào cũng không phát triển đơn lẻ, hơn thế nữa, du lịch là một ngành kinh tế đặc thù, bản thân ngành đã phát triển lại có sự gắn kết chặt chẽ với những ngành kinh tế khác. Do đó, ngày càng cần thiết phải có sự can thiệp của nhà nước để bảo đảm phát triển ngành du lịch phù hợp với qui hoạch theo chiến lược phát triển của ngành kinh tế quốc dân.
- Ba là: Sự quản lý của nhà nước nhằm ngăn ngừa các yếu tố tiêu cực có thể nảy sinh đối với ngành du lịch: trùng tu, tôn tạo những di tích lịch sử; ngăn ngừa suy thoái môi trường sinh thái, cạn kiệt các tài nguyên thiên nhiên và xử lý các sai phạm pháp luật trong kinh doanh, phát triển du lịch. .. Đó là những vấn đề mà không một chủ thể khác của nền kinh tế nào hiểu và có thể xử lý được với nhà nước.
- 1.1.4. Nguyên tắc QLNN về du lịch
- Nguyên tắc tập trung dân chủ: Nguyên tắc này nhấn mạnh sự tham gia tích cực của cộng đồng, cư dân địa phương và các bên liên quan trong quá trình ra quyết định liên quan đến du lịch. Điều này đảm bảo rằng các quyết định liên quan đến hoạt động du lịch được tham khảo ý kiến và quan ngại của những người trực tiếp bị ảnh hưởng bởi hoạt động du lịch. Sự tham gia dân chủ có thể dẫn đến sự phát triển du lịch bền vững và bao hàm hơn.
- Nguyên tắc kết hợp quản lý du lịch theo ngành và lãnh thổ: Nguyên tắc này ủng hộ việc tiếp cận toàn diện trong quản lý du lịch bằng cách xem xét các khía cạnh khác nhau của ngành, chẳng hạn như giao thông, chỗ ở, điểm tham quan và dịch vụ. Nó cũng thúc đẩy việc tích hợp quy hoạch du lịch trên các khu vực địa lý khác nhau, đảm bảo rằng lợi ích và tác động của du lịch được phân phối đồng đều.
- Nguyên tắc bảo vệ và làm chủ cho nguồn lao động: Nguyên tắc này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo môi trường hỗ trợ và làm chủ cho người lao động trong ngành du lịch. Điều này bao gồm việc đảm bảo mức lương công bằng, điều kiện làm việc an toàn và cơ hội phát triển chuyên môn. Những người lao động được hỗ trợ và được đối xử tốt góp phần nâng cao chất lượng trải nghiệm du lịch.
- Nguyên tắc tăng cường biện pháp quản lý trong du lịch: Để duy trì các nguyên tắc khác, nguyên tắc này nhấn mạnh việc cần có khung pháp lý và quy định vững chắc trong ngành du lịch. Việc tăng cường pháp luật và việc thực thi hiệu quả giúp đảm bảo rằng các hoạt động du lịch được tiến hành một cách có trách nhiệm, đạo đức và bền vững. Quy định đủ có thể ngăn ngừa các tác động tiêu cực đối với môi trường, văn hóa và cộng đồng địa phương.
1.2. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CỦA QLNN VỀ DU LỊCH
Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cần có các nội dung chủ yếu sau:
– Khu du lịch bao gồm tổ chức không gian, mạng lưới kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch và kế hoạch sử dụng đất.
– Xây dựng danh mục những dự án đầu tư theo kế hoạch đầu tư.
– Dự báo điều kiện kinh tế, văn hoá và môi trường.
– Đề xuất biện pháp để tổ chức, thực hiện quy hoạch.
Thẩm quyền lập, phê duyệt, quyết định quy hoạch phát triển du lịch
– Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp trung ương chủ trì tổ chức lập quy hoạch tổng thể phát triển ngành, nghề du lịch, vùng du lịch chiến lược, khu du lịch quốc gia trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo thẩm quyền.
– UBND cấp tỉnh tổ chức lập quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trình HĐND cùng cấp quyết định sau khi có ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp trung ương.
– Quy hoạch chung của khu chức năng bao gồm khu du lịch quốc gia, khu du lịch địa phương, điểm du lịch quốc gia có tài nguyên du lịch tự nhiên trình UBND cấp tỉnh quyết định sau khi có ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp trung ương.
– Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, quyết định quy hoạch phát triển du lịch thì có thẩm quyền phê duyệt, quyết định điều chỉnh quy hoạch phát triển du lịch.
Quản lý việc tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển du lịch
– Sau khi quy hoạch phát triển du lịch được phê duyệt, quyết định, cơ quan lập quy hoạch phát triển du lịch có trách nhiệm công bố, cập nhật cơ sở dữ liệu theo quy hoạch để các tổ chức, công dân biết triển khai thực hiện và tổ chức giám sát việc thực hiện quy hoạch.
– Việc lập, thực hiện dự án phát triển du lịch, dự án có ảnh hưởng đến tài nguyên du lịch và các dự án đầu tư có liên quan về du lịch phải phù hợp với quy hoạch phát triển du lịch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, quyết định và đã có ý kiến của cơ quan nhà nước quản lí du lịch có thẩm quyền.
– UBND cấp tỉnh quy định diện tích đất sử dụng xây dựng công trình, kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở kinh tế – kỹ thuật du lịch trong quy hoạch đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch theo quy hoạch đã được phê duyệt, quyết định và công bố; không giao, cho mượn đất đối với dự án đầu tư trái quy hoạch, dự án đầu tư có ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên du lịch và môi trường.
– Mọi tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện nghiêm quy hoạch phát triển du lịch đã được phê duyệt, quyết định và không san ủi mặt bằng, sử dụng trái phép đất đã được quy hoạch để phát triển du lịch. Theo quy định mới, nhiệm vụ thực hiện quản lý về du lịch ở địa phương gồm: xây dựng chiến lược, kế hoạch, chương trình, cơ chế, chính sách phát triển du lịch của Nhà nước bảo đảm phù hợp với thực tiễn ở địa phương và có giải pháp bảo đảm an ninh, quốc phòng, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường đối với khu du lịch, cơ sở du lịch. ..
Vì vậy, các địa phương không xây dựng chiến lược phát triển du lịch mà để thể chế hoá Việc xây dựng và ban hành chiến lược phát triển KTXH sẽ phải thực hiện 05 năm/01 lần và do Hội đồng nhân dân các cấp xây dựng sau đó báo cáo cấp uỷ Địa phương xem xét quyết định. Trên cơ sở chiến lược phát triển KTXH, Tổng cục Du lịch sẽ triển khai xây dựng những kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế du lịch để UBND các cấp phê duyệt.
Hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật đã khó, nhưng vấn đề quan trọng hơn là việc làm thế nào để các chính sách đi sâu vào đời sống thực tế. Bản thân chính sách, pháp luật đối với phát triển kinh tế của một đất nước nói chung và của ngành du lịch nói riêng mới chỉ là những quy định của Nhà nước, là lệnh của Nhà nước bắt buộc mọi chủ thể tham gia (trong đó có cả bản thân nhà nước) phải thực hiện.
Vì vậy, để chính sách, pháp luật đi sâu vào cuộc sống đòi hỏi cơ quan nhà nước nói chung, chính quyền cấp huyện phải tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh. Chính quyền phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật phát triển du lịch cho cán bộ, công nhân lao động và dân cư trên địa phương nhằm có nhận thức đúng, từ đó có thái độ đúng với ngành du lịch và có ý thức tôn trọng, tuân thủ chính sách, pháp luật về du lịch một cách nghiêm túc.
Bên cạnh đó, để phát triển du lịch trên cơ sở khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương, phải chú ý cải thiện môi trường pháp luật, môi trường đầu tư và kinh doanh thông qua việc thể chế hoá và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật chung của Nhà nước về phát triển du lịch thích hợp với tình hình thực tế địa phương.
Đồng thời, xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách theo hướng có tính đặc thù ở địa phương như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách ưu đãi về phí tham quan, thời hạn lưu trú dài, chính sách khuyến khích tín dụng. .. nhằm tạo điều kiện tối đa, tăng cảm giác an tâm, tin tưởng đối với các tổ chức, nhà đầu tư (cả trong nước và ngoài nước) khi rót đồng vốn đầu tư du lịch.
Tuy nhiên, việc ban hành các cơ chế, chính sách của địa phương phải bảo đảm theo đúng các quy định của pháp luật và quy định của cơ quan Nhà nước cấp trên, đồng thời phải trên cơ sở khai thác tiềm năng của địa phương để khuyến khích phát triển, đồng thời cũng phải bảo đảm tính khách quan và công khai, tính dân chủ trong việc thực hiện. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương phải thực hiện thủ tục đầu tư ở địa phương theo hướng thiết thực và hiệu quả. Tiếp tục thực hiện cơ chế một cửa trong hoạt động đầu tư, đăng ký kinh doanh. .. Thực hiện ban hành những quyết định quy phạm theo tinh thần nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, công khai, minh bạch, thuận tiện. Nội dung và trình tự ban hành rõ ràng như sau: a. Nội dung ban hành các chính sách.
Tiêu chí đánh giá:
- Căn cứ vào nền tảng và mục tiêu: Quy hoạch và kế hoạch phát triển du lịch nên căn cứ vào nền tảng văn hóa, tài nguyên tự nhiên, và thị trường du lịch của địa phương. Mục tiêu phát triển cần phải rõ ràng, phù hợp với tình hình thực tế và có tính bền vững.
- Khảo sát và phân tích: Quy hoạch và kế hoạch phát triển cần dựa trên việc tiến hành khảo sát thị trường, khả năng hấp dẫn của địa điểm du lịch, khả năng phát triển hạ tầng và các yếu tố khác liên quan. Phân tích này cần bao gồm cả khả năng chịu đựng của môi trường và xã hội.
- Đa dạng hóa sản phẩm du lịch: Kế hoạch phát triển cần tập trung vào việc đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, từ văn hóa, thiên nhiên, lịch sử đến giải trí và mua sắm. Điều này giúp thu hút đa dạng đối tượng du khách và giảm nguy cơ phụ thuộc vào một nguồn thu nhập du lịch duy nhất.
- Bảo vệ tài nguyên tự nhiên và văn hóa: Quy hoạch cần tôn trọng và bảo vệ tài nguyên tự nhiên và văn hóa của địa phương, tránh việc khai thác quá mức dẫn đến hủy hoại môi trường và mất đi giá trị văn hóa truyền thống.
- Tham gia cộng đồng và gắn kết xã hội: Quy hoạch và kế hoạch phát triển nên được xây dựng thông qua sự tham gia của cộng đồng địa phương, doanh nghiệp và các bên liên quan khác. Việc này giúp tạo ra sự gắn kết xã hội, đảm bảo lợi ích chung và giảm xung đột.
- Phát triển hạ tầng và dịch vụ: Kế hoạch cần đảm bảo phát triển hạ tầng giao thông, điện nước, viễn thông và các dịch vụ hỗ trợ du lịch khác. Hạ tầng tốt sẽ giúp du khách dễ dàng tiếp cận và tận hưởng trải nghiệm du lịch.
- Quản lý và giám sát: Quy hoạch cần bao gồm các biện pháp quản lý và giám sát việc thực hiện. Điều này giúp đảm bảo rằng kế hoạch được thực hiện theo đúng hướng mục tiêu và có thể điều chỉnh khi cần.
- Đánh giá và điều chỉnh: Quy hoạch và kế hoạch cần được đánh giá định kỳ để đảm bảo hiệu quả và đáp ứng được thay đổi trong tình hình thị trường, xã hội và môi trường.
- Tích hợp bền vững: Quy hoạch và kế hoạch phát triển cần tích hợp yếu tố bền vững, bao gồm cả khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường, để đảm bảo rằng ngành du lịch phát triển một cách cân đối và lâu dài.
- Sở Văn hoá thể thao và du lịch.
– Xây dựng kế hoạch theo quy định đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn. Khi được cấp có thẩm quyền duyệt sẽ thay mặt giám đốc sở quản lý, hướng dẫn theo dõi việc thực hiện.
– Làm công tác thẩm tra những chủ trương đầu tư, đề xuất định hướng phát triển du lịch của từng loại hình động thời hướng soạn toàn bộ các bước trình duyệt theo quy định hiện hành.
– Quản lý các hoạt động của ngành công tác thông tin quảng cáo, công tác tổng hợp, thống kê báo cáo và sơ kết tổng kết của ngành.
– Quản lý công tác kĩ thuật du lịch và hướng dẫn công tác thông tin quảng cáo theo quy định của ngành và thực hiện những chế độ theo quy định và chính sách của ngành.
– Làm công tác thẩm tra danh mục chủ trương đầu tư, thẩm định đề án phát triển du lịch của từng loại hình kinh tế đồng thời hướng dẫn ạn thảo hoàn chỉnh hồ sơ trình duyệt theo quy định hiện hành.
– Tham gia thực hiện chế độ chính sách nhân sự theo kế hoạch được trình duyệt đồng thời làm nhiệm vụ quản lý công tác cán bộ, công nhân lao động của ngành theo cấp của.
– Thực hiện kế hoạch công tác của sở đã được giám đốc phê duyệt, nhận cấp phát văn bản, lưu giữ hồ sơ giấy tờ, quản lý con dấu theo đúng quy định của luật hiện hành.
– Quản lý tài sản, ngân sách nhà nước theo đầy đủ những chế độ và chính sách kế toán thống kê nhằm quản lý và vận hành công việc của sở được toàn diện. Từ giám đốc đến từng chuyên viên mỗi phòng ban điều xây dựng kế hoạch công tác chi tiết theo hàng tuần, mỗi tháng và đều có kế hoạch phối kết hợp nhịp nhàng nhằm làm việc có hiệu suất cao.
Bộ máy quản lý QLNN của sẽ phối hợp với những sở ngành có tương quan cùng UBND địa phương nhằm thực hiện công tác QLNN trong từng hoạt động du lịch.
- Cấp địa phương quận, huyện
Chủ tịch UBND địa phương trực tiếp quản lý về du lịch hoặc Phó chủ tịch UBND địa phương quản lý sở, ban ngành.
Các phòng ban quản lý nhà nước về du lịch:
+ Phòng Văn hoá – Thể thao: Quản lý và giúp việc UBND địa phương quản lý văn hoá – du lịch.
+ Phòng Tài chính – Kế hoạch: Quản lý cấp phát giấy phép đăng ký kinh doanh.
+ Chi cục vệ sinh an toàn thực phẩm: Có trách nhiệm quản lý về vệ sinh, an toàn thực phẩm.
+ Công an địa phương – Công an xã: Thực hiện quản lý địa bàn, các biện pháp bảo đảm an ninh trật tự xã hội.
+ Phòng Quy hoạch – Kiến trúc: Quản lý cấp phát phép xây dựng và Quản lý trật tự cảnh quan thành phố.
Tiêu chí đánh giá:
- Cơ cấu tổ chức: Đánh giá cơ cấu tổ chức của bộ máy QLNN để xem liệu nó có phản ánh một cách hiệu quả các khía cạnh quản lý và phát triển của ngành du lịch hay không. Các đơn vị và phòng ban cần phải được chia sẻ rõ ràng nhiệm vụ và trách nhiệm.
- Tích hợp và tương tác: Tổ chức bộ máy QLNN cần thể hiện tính tương tác và tích hợp giữa các cơ quan, bộ phận liên quan, từ cấp trung ương đến địa phương. Sự hợp tác này giúp tối ưu hóa quản lý và phát triển ngành du lịch.
- Chuyên môn và chất lượng nhân lực: Đánh giá khả năng chuyên môn và trình độ của nhân lực trong bộ máy QLNN. Các cán bộ, nhân viên cần có kiến thức và kỹ năng vững trong lĩnh vực du lịch để thực hiện nhiệm vụ quản lý một cách hiệu quả.
- Trách nhiệm và quyền hạn: Đảm bảo rằng bộ máy QLNN có trách nhiệm và quyền hạn đủ để thực hiện nhiệm vụ quản lý và phát triển ngành du lịch. Tuy nhiên, cần có cơ chế kiểm soát và cân nhắc để tránh lạm quyền hoặc thiếu trách nhiệm.
- Bộ máy QLNN cần có quy mô phù hợp với tình hình phát triển của ngành du lịch trong khu vực cụ thể. Không nên quá quan chế hoặc quá tải về nhân lực.
- Khả năng đổi mới: Tổ chức bộ máy cần có khả năng đổi mới để thích nghi với những thay đổi trong môi trường kinh doanh, công nghệ và thị trường du lịch. Sự linh hoạt này giúp duy trì tính cạnh tranh và phản ánh xu hướng mới.
Việc tuyên truyền, quảng bá, và xúc tiến du lịch là một thành phần thiết yếu đối với việc thúc đẩy phát triển du lịch của một đất nước hay vùng lãnh thổ. Đây là cách nhằm gây ra sự quan tâm, thích thú, sự giúp đỡ từ cộng đồng đối với việc hướng dẫn khách du lịch và bảo đảm cho họ có trải nghiệm tích cực và an toàn ở điểm đến. Dưới đây là một vài điểm chính cần lưu ý khi tiến hành công tác tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến ngành du lịch:
Phổ biến biện pháp an ninh và trật tự: Tuyên truyền cần nhấn mạnh đến việc giới thiệu những giải pháp an toàn và trật tự ở những điểm đến du lịch. Giải thích cách thức cộng đồng và du khách đã góp phần cho việc giữ gìn an toàn và trật tự ở các địa điểm họ đến thăm.
Vệ sinh môi trường: Quảng bá cần tập trung vào việc vệ sinh môi trường ở những điểm đến du lịch. Giới thiệu những hoạt động thân thiện môi trường, khích lệ du khách tham gia thực hiện các hoạt động nhằm hạn chế ảnh hưởng xấu đến môi trường tại địa phương.
Phát triển điểm đến An toàn – Thân thiện – Môi trường: Xây dựng hình tượng tích cực cho điểm đến bằng việc tuyên truyền giới thiệu những sản phẩm, dịch vụ và môi trường tốt mà du khách sẽ cảm nhận thấy ở đó. Đồng thời, bảo đảm tất cả những điểm đến du lịch tuân thủ những quy định an toàn và phù hợp với du khách.
Nếp ứng xử văn minh và tuân thủ luật pháp: Tuyên truyền về việc du khách cần tôn trọng những qui định luật pháp và tỏ sự trân trọng với cộng đồng địa phương. Giới thiệu các nguyên tắc chung để ứng xử văn minh khách du lịch.
Phong trào ứng xử văn minh với khách du lịch: Xây dựng ý thức cộng đồng để ứng xử văn minh, lịch sự và thân thiện với du khách. Khuyến khích sự tương tác của cộng đồng địa phương và du khách nhằm tạo ra một môi trường cởi mở – hợp tác tích cực.
Tích cực tham gia trong hoạt động xây dựng thương hiệu du lịch: Nhằm tăng chất lượng của những hoạt động tuyên truyền – quảng bá, cần khuyến khích sự tham gia tích cực từ phía cộng đồng địa phương, doanh nghiệp du lịch cùng những bên liên quan. Đây có thể là những hội thi, sự kiện, hoặc hoạt động phối hợp của những đơn vị. Sử dụng kênh thông tin hiệu quả: Tận dụng những phương tiện thông tin khác nhau bao gồm tivi, radio, internet, mạng xã hội, video, và trang web nhằm truyền đạt thông tin quảng bá du lịch cùng những thông tin liên quan.
Tóm lại, công tác tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến ngành du lịch cần một chiến lược tổng thể và hiểu biết sâu sắc về thị trường, đối tượng khách hàng cùng thông tin mà bạn mong muốn truyền đạt. Qua việc áp dụng các điểm trên, bạn sẽ giúp thúc đẩy hoạt động du lịch và xây dựng một ấn tượng tích cực cho điểm đến của Việt Nam.
Tiêu chí đánh giá:
- Nội dung và thông điệp: Kiểm tra tính chất và chất lượng của nội dung và thông điệp. Nội dung cần phải truyền tải đầy đủ thông tin về điểm đến, cung cấp giá trị và lợi ích của việc tham gia vào trải nghiệm du lịch tại đó.
- Phương tiện truyền thông: Đánh giá sự lựa chọn phương tiện truyền thông như video, hình ảnh, bài viết, trang web, mạng xã hội, và các công cụ khác. Các phương tiện này cần phải phù hợp với đối tượng mục tiêu và mang lại hiệu quả tốt nhất.
- Độ lan tỏa: Đánh giá mức độ mà chiến dịch tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến có thể lan tỏa đến đối tượng mục tiêu. Mức độ tầm ảnh hưởng và sự lan tỏa thông điệp có thể đo lường qua việc theo dõi sự chia sẻ và tương tác trên các phương tiện truyền thông xã hội.
- Hiệu suất đo lường: Đánh giá sự tồn tại của cơ chế để đo lường hiệu suất của chiến dịch. Các chỉ số như số lượng du khách tới, tăng trưởng doanh thu, tương tác trên mạng xã hội, và các hệ số khác có thể được sử dụng để đo lường hiệu suất.
- Tích hợp và liên kết: Đánh giá mức độ tích hợp và liên kết với các hoạt động du lịch khác như sự kiện, tour du lịch, và các chương trình khác. Sự liên kết này có thể tạo ra hiệu quả cao hơn trong việc tạo ra sự quan tâm và tham gia.
Để có thể triển khai thực hiện du lịch các tổ chức, cá nhân du lịch có quyền lợi và nghĩa vụ thực hiện đăng ký như sau: Chọn ngành, nghề du lịch để đăng ký một hoặc nhiều ngành, nghề du lịch. Được Chính phủ cho phép kinh doanh du lịch tự do. Tổ chức, tham gia vào việc quảng bá du lịch đã được đưa vào danh mục quảng cáo chung của ngành du lịch. Tham gia hiệp hội, tổ chức nghề nghiệp về du lịch ở trong nước và quốc tế.
Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân du lịch: Thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Du lịch theo ngành nghề qui định trong giấy đăng ký kinh doanh, giấy phép du lịch với ngành, nghề đã có giấy phép. Thông báo bằng văn bản với cơ quan quản lý ngành du lịch có thẩm quyền khi bắt đầu kinh doanh du lịch nếu có thay đổi thông tin tại giấy đăng ký kinh doanh, giấy phép du lịch. Thông tin rõ ràng, công khai, chính xác số lượng, quy cách, chủng loại các dịch vụ, hàng hoá cung cấp cho khách du lịch và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết với khách du lịch và bồi thường thiệt hại cho khách du lịch do sai sót của mình tạo ra.
– Thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ, tài sản của khách du lịch và thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền nếu tai nạn hoặc rủi ro, thiệt hại có thể xảy ra với khách du lịch. Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê, ghi chép, lưu trữ sổ sách, hồ sơ theo quy định của luật pháp.
Cơ quan quản lý nhà nước và các cấp có thẩm quyền thực hiện quản lý, cấp phép du lịch.
– Với các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch là tổ chức, doanh nghiệp, đủ điều kiện đăng ký kinh doanh, đã được Phòng Đăng ký kinh doanh – Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp phép kinh doanh, được các ngành có thẩm quyền cấp chứng nhận đủ điều kiện, UBND địa phương có thẩm quyền phối hợp kiểm tra sự thực hiện đủ điều kiện của doanh nghiệp.
– Với các cơ sở kinh doanh là hộ kinh doanh cá nhân, hợp tác xã du lịch. Phòng Tài chính – Kế hoạch của UBND địa phương thực hiện cấp phép đăng ký kinh doanh, Các ban ngành (Phòng Văn hoá – Thông tin, Đất đai – Cơ sở hạ tầng. ..) thực hiện cấp phát giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo đúng ngành nghề đã được đăng ký. Công an, Tổ vệ sinh an toàn thực phẩm địa phương, Trạm y tế địa phương. .. thực hiện công tác khám và cấp giấy chứng nhận phòng cháy chữa cháy, an toàn vệ sinh lao động, điều kiện về cửa hàng thuốc tại các khu du lịch, đăng ký tạm trú, lưu trú và lưu hồ sơ.
Tiêu chí đánh giá:
- Tiêu chuẩn cấp phép: Đánh giá xem liệu tiêu chuẩn cấp phép đã được thiết lập và công bố rõ ràng. Các yêu cầu về chất lượng, an toàn, trách nhiệm xã hội và môi trường cần phải được định rõ để đảm bảo các doanh nghiệp du lịch tuân thủ.
- Quy trình đơn giản và minh bạch: Đánh giá mức độ đơn giản và minh bạch trong quy trình cấp phép. Quy trình cấp phép không nên quá phức tạp, mất thời gian hoặc khó hiểu, để giảm thiểu rủi ro của việc lừa đảo và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hợp pháp.
- Đánh giá rủi ro và tuân thủ: Xác định khả năng của bộ máy quản lý trong việc đánh giá rủi ro của các doanh nghiệp và đảm bảo tuân thủ các quy định và yêu cầu đã được đề ra.
- Kiểm tra và giám sát: Đánh giá mức độ giám sát và kiểm tra thực hiện của bộ máy quản lý sau khi cấp phép. Sự theo dõi định kỳ giúp đảm bảo rằng các doanh nghiệp du lịch vẫn tuân thủ các quy định sau khi được cấp phép.
- Hệ thống trừng phạt và thu hồi phép: Đánh giá sự tồn tại của hệ thống trừng phạt và quy trình thu hồi phép nếu các doanh nghiệp vi phạm quy định. Điều này đảm bảo rằng hành vi không tuân thủ sẽ không được chấp nhận.
- Tích hợp thông tin và công nghệ: Đánh giá mức độ tích hợp công nghệ thông tin trong quy trình cấp phép và giám sát. Công nghệ giúp tối ưu hóa quy trình, tạo sự minh bạch và giảm thiểu sai sót.
- Phản hồi từ doanh nghiệp: Đánh giá mức độ lắng nghe và phản hồi từ phía doanh nghiệp khi tham gia vào quy trình cấp phép. Sự hợp tác và phản hồi chân thành từ các doanh nghiệp có thể cải thiện quy trình cấp phép.
- Tối ưu hóa thời gian xử lý: Đánh giá thời gian xử lý hồ sơ cấp phép và yêu cầu góp ý từ các doanh nghiệp để cải thiện hiệu suất và tối ưu hóa thời gian xử lý.
- Sự minh bạch và giao tiếp: Đánh giá cách bộ máy quản lý thông báo cho doanh nghiệp về quy định, thủ tục và quy trình liên quan đến cấp và thu hồi giấy phép.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch là một yếu tố quan trọng giúp đảm bảo sự phát triển lâu dài và chất lượng của ngành này. Dưới đây là một vài yếu tố quan trọng cần lưu ý khi tiến hành việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch:
Chương trình đào tạo linh hoạt: Cung cấp những chương trình đào tạo đa dạng và linh hoạt nhằm phục vụ những yêu cầu khách nhau của ngành du lịch. Các chương trình có thể bao gồm đào tạo kỹ năng quản lý du lịch, hướng dẫn viên du lịch, quản lý phòng và nhà hàng, marketing du lịch, quản lý sự kiện và hội thảo, cùng nhiều chuyên ngành khác.
Liên kết với ngành du lịch: Xây dựng sự kết nối chặt chẽ với các doanh nghiệp thuộc ngành du lịch nhằm đảm bảo rằng chương trình đào tạo đáp ứng được yêu cầu cụ thể của thị trường. Các chương trình học có thể được xây dựng căn cứ trên dữ liệu về các hiệp hội ngành và doanh nghiệp nhằm đảm bảo người học có thể cung cấp kiến thức và kỹ năng cần thiết.
Đào tạo kỹ năng mềm: Ngoài chú trọng đào tạo kiến thức chuyên ngành, còn cần đào tạo kỹ năng mềm quan trọng về lãnh đạo, làm việc độc lập, xử lí tình huống, quản lý công việc và sự sáng tạo. Những kỹ năng trên sẽ giúp người lao động làm ngành du lịch giao tiếp hiệu quả với đối tác và xử lý những vấn đề khó khăn.
Phát triển nhà lãnh đạo và quản lý: Với nhóm người có tham vọng thăng tiến trong ngành, cần phát triển chương trình đào tạo kỹ năng điều hành và quản lý. Điều này giúp họ có kỹ năng lãnh đạo nhóm, quản lý rủi ro và phát triển kế hoạch cho doanh nghiệp du lịch.
Đào tạo về bảo vệ văn hoá và thiên nhiên: Nhằm đảm bảo sự phát triển của ngành du lịch, cần đào tạo kỹ năng gìn giữ văn hoá bản địa và bảo tồn thiên nhiên. Những người hoạt động trong ngành cần nhận thức được vai trò quan trọng của công tác bảo tồn tài nguyên văn hoá và môi trường, cũng như phát triển du lịch sinh thái.
Đào tạo nâng cao đối với người lao động đang có: Đối với việc đào tạo những người mới vào ngành, cần tổ chức những chương trình đào tạo nâng cao đối với người đang có nhu cầu trau dồi kiến thức và kỹ năng mới. Điều này giúp cải thiện chất lượng công việc và tạo cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp.
Hỗ trợ phát triển bản thân thông qua sự thăng tiến: Tạo thêm những cơ hội phát triển bản thân đối với người lao động trong ngành du lịch. Điều này có thể bao hàm việc thúc đẩy học tập thường xuyên, tham dự hội thảo và sự kiện ngành, và tạo cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp.
Xúc tiến học tập và đào tạo: Thúc đẩy việc học tập liên tục và đào tạo bằng việc tham gia các chương trình đào tạo, hội thảo, sự kiện và chương trình giao lưu người lao động với các doanh nghiệp và hiệp hội quốc tế.
Đào tạo bằng công nghệ thông tin và kỹ thuật số: Ngành du lịch ngày nay tận dụng công nghệ thông tin và kỹ thuật số nhằm cải thiện trải nghiệm của du khách. Cần đào tạo nhân lực biết cách sử dụng những công nghệ và giải pháp số trong quản lý, tiếp thị và tạo trải nghiệm du lịch hiệu quả.
Đo đạc và đánh giá: Phân tích và đo lường kết quả của mỗi chương trình đào tạo là vô cùng quan trọng nhằm điều chỉnh và cải thiện chất lượng đào tạo. Thường xuyên lắng nghe ý kiến từ người học và các doanh nghiệp nhằm đảm bảo rằng chương trình thoả mãn những yêu cầu và mong đợi.
Tiêu chí đánh giá:
- Chương trình đào tạo đa dạng: Đánh giá tính đa dạng và phong phú của các chương trình đào tạo. Điều này bao gồm việc đảm bảo rằng có các chương trình phù hợp cho các ngành như hướng dẫn viên du lịch, nhân viên lễ tân, quản lý khách sạn, nhân viên nhà hàng, và các lĩnh vực khác.
- Chất lượng nội dung đào tạo: Xem xét chất lượng nội dung đào tạo, bao gồm cả kiến thức cơ bản về ngành du lịch, kỹ năng mềm và kỹ năng cụ thể liên quan đến từng vị trí công việc.
- Phương pháp đào tạo: Đánh giá phương pháp và hình thức đào tạo, bao gồm cả học trực tiếp, học trực tuyến, học qua thực hành, và các phương tiện học tập khác. Sự kết hợp linh hoạt giữa các phương pháp có thể tạo ra kết quả tốt hơn.
- Huấn luyện thực tế và thực hành: Đánh giá mức độ chương trình đào tạo liên kết với thực tế công việc và có các phần thực hành để cung cấp kinh nghiệm thực tế cho học viên.
- Giảng viên và người hướng dẫn: Đánh giá chất lượng của giảng viên và người hướng dẫn. Giảng viên cần có kiến thức sâu về ngành du lịch và kỹ năng giảng dạy tốt để truyền đạt hiệu quả thông tin cho học viên.
- Cơ sở vật chất và trang thiết bị: Đánh giá mức độ đầu tư vào cơ sở vật chất, hệ thống thiết bị và phòng học hiện đại để hỗ trợ quá trình đào tạo.
- Liên kết với doanh nghiệp: Đánh giá mức độ tương tác và hợp tác với các doanh nghiệp trong ngành du lịch để đảm bảo rằng chương trình đào tạo phản ánh các yêu cầu thực tế của công việc.
- Đánh giá và đảm bảo chất lượng: Đánh giá quy trình đánh giá và đảm bảo chất lượng của các chương trình đào tạo. Sự liên tục trong việc cải tiến chương trình dựa trên phản hồi từ học viên và doanh nghiệp là quan trọng.
- Khả năng thích nghi và cập nhật: Đánh giá khả năng của chương trình đào tạo thích nghi với sự thay đổi trong ngành du lịch, bao gồm cả sự phát triển công nghệ, xu hướng mới và yêu cầu khách hàng thay đổi.
- Tích hợp kỹ năng mềm: Đánh giá việc tích hợp các kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm, quản lý thời gian và khả năng giải quyết vấn đề vào chương trình đào tạo.
Quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên môi trường đối với ngành du lịch là một yếu tố cần thiết nhằm đảm bảo sự bền vững và bảo tồn của mỗi điểm đến du lịch. Dưới đây là các yếu tố chính được cân nhắc để thực hiện việc trên:
Quản lý bền vững: Xây dựng những chính sách và chiến lược quản lý bền vững nhằm đảm bảo việc khai thác tài nguyên môi trường không tạo tổn hại vĩnh viễn đối với môi trường. Cần thiết lập những hạn chế và mức sử dụng phù hợp nhằm giảm thiểu sự cạn kiệt và thoái hoá.
Lập kế hoạch và quản lý lưu lượng khách du lịch: Quản lý lưu lượng khách du lịch nhằm giảm thiểu quá tải ở những điểm đến. Sử dụng các biện pháp bao gồm hạn chế lượng khách, chia thời gian, và quản lý mức lưu lượng nhằm đảm bảo rằng tài nguyên môi trường không chịu tác động quá nhiều.
Phát triển kết cấu hạ tầng và cơ sở du lịch bền vững: Phát triển cơ sở vật chất và hạ tầng phục vụ du lịch một cách bền vững, thông qua việc sử dụng những phương pháp tiết kiệm điện, tái chế rác thải và bảo vệ những nguồn tài nguyên.
Bảo vệ những khu vực bảo tồn và di sản thiên nhiên: Đảm bảo rằng những khu vực bảo tồn và di sản thiên nhiên được bảo vệ trước sự ảnh hưởng xấu của du lịch. Áp dụng những biện pháp để lập khu vực hạn chế du lịch, đề ra những nguyên tắc và chỉ dẫn, và tạo ra những hoạt động giảng dạy về bảo tồn.
Khuyến khích du lịch bền vững: Phát triển và thúc đẩy các loại hình du lịch bền vững bao gồm du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, và du lịch cộng đồng. Các loại hình du lịch chủ yếu dựa trên hợp tác chặt chẽ với cộng đồng địa phương nhằm bảo vệ môi trường.
Giáo dục và tạo ý thức: Thúc đẩy giáo dục và tạo ý thức ở tất cả người dân và cộng đồng địa phương đối với tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Thông qua việc giáo dục và tuyên truyền, anh ta sẽ thúc đẩy hoạt động du lịch có ý thức hơn.
Tạo sự hợp tác chặt chẽ với cộng đồng địa phương: Hợp tác tích cực với cộng đồng địa phương nhằm đảm bảo việc khai thác du lịch không tạo những ảnh hưởng xấu đến đời sống và sinh kế của họ. Hỗ trợ phát triển cộng đồng địa phương bằng việc đầu tư phát triển ngành du lịch.
Theo dõi và đo lường: Tiến hành những chương trình đo lường và giám sát nhằm đánh giá ảnh hưởng của du lịch đối với môi trường. Dựa trên số liệu thống kê, đề xuất những biện pháp quản lý và bảo vệ môi trường.
Hợp tác song phương: Hợp tác với các tổ chức phi chính phủ và những điểm đến du lịch nhằm trao đổi thông tin và đề xuất những biện pháp quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên môi trường.
Thúc đẩy nghiên cứu và phát triển: Tập trung thúc đẩy nghiên cứu và phát triển nhằm đưa ra những biện pháp mới và sáng tạo đối với việc quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên môi trường đối với ngành du lịch.
Tóm lại, việc quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên môi trường đối với ngành du lịch cần sự quan tâm và hợp tác giữa các thành phần tham gia, gồm nhà nước, ngành du lịch, cộng đồng địa phương và du khách. Chỉ khi toàn bộ những thành phần liên quan phối hợp với nhau, ngành du lịch mới có thể phát triển bền vững và bảo vệ tài nguyên môi trường cho thế hệ tương lai.
Tiêu chí đánh giá:
- Quy hoạch bền vững: Đánh giá tính hợp lý của kế hoạch và quy hoạch phát triển du lịch đối với bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên môi trường. Quy hoạch cần đảm bảo sự cân bằng giữa việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
- Bảo vệ di sản thiên nhiên và văn hóa: Xác định mức độ bảo vệ và bảo tồn di sản thiên nhiên và văn hóa trong các điểm đến du lịch. Các biện pháp bảo vệ cần được thực hiện để tránh tình trạng hủy hoại và mất mát giá trị.
- Quản lý quỹ đạo du lịch: Đánh giá khả năng của quỹ đạo du lịch để chấp nhận một lượng lớn du khách mà không gây hại cho môi trường. Cần xem xét các biện pháp như giới hạn lượng khách, phân tán du khách để tránh tình trạng quá tải.
- Hệ thống quản lý môi trường: Đánh giá tính hiệu quả của hệ thống quản lý môi trường trong các khu du lịch. Các chứng nhận và tiêu chuẩn như ISO 14001 có thể được sử dụng để đánh giá khả năng quản lý môi trường của các doanh nghiệp du lịch.
- Phân loại rác thải và xử lý: Đánh giá việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải tại các điểm đến du lịch. Hệ thống xử lý rác cần phải thân thiện với môi trường và đảm bảo tối thiểu tác động tiêu cực.
- Tiết kiệm năng lượng và tài nguyên: Xem xét việc sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên trong các cơ sở lưu trú, nhà hàng, vận chuyển và hoạt động du lịch khác. Sự tiết kiệm giúp giảm lượng khí nhà kính và tác động đến biến đổi khí hậu.
- Khai thác cân đối tài nguyên tự nhiên: Đánh giá việc sử dụng tài nguyên tự nhiên như nước, cây cỏ, và động vật trong các hoạt động du lịch. Khai thác cần được thực hiện cân đối để tránh làm suy giảm nguồn tài nguyên.
- Chương trình giáo dục môi trường: Đánh giá khả năng của các chương trình giáo dục và tạo ý thức môi trường cho du khách. Việc nâng cao ý thức giúp du khách tham gia vào việc bảo vệ môi trường.
- Quản lý vùng cảnh quan và địa danh: Đánh giá mức độ bảo vệ và quản lý các vùng cảnh quan và địa danh quan trọng. Việc bảo vệ cảnh quan và địa danh giúp duy trì giá trị thẩm mỹ và du lịch của vùng.
1.2.7.1.Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật.
QLNN đối với HĐDL bao giờ cũng gắn liền với hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động DL. Mục đích của thanh tra, kiểm tra không chỉ là phát hiện sai phạm để xử lý mà còn là chấn chỉnh, xử lý những vi phạm để hoạt động DL ngày một tốt hơn. Cần lưu ý rằng, thanh tra, kiểm tra là cấp thiết nhưng không được làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động bình thường của ngành DL; mặt khác, không được bởi vì thanh tra, kiểm tra mà lại gây khó dễ cho HĐDL. Khi đã tiến hành thanh tra, kiểm tra, phải có kết quả bằng văn bản cụ thể, rõ ràng và có những hình thức xử lý nghiêm minh. Có như vậy, hoạt động thanh tra, kiểm tra mới có hiệu lực và hoạt động QLNN về DL mới có hiệu quả.
1.2.7.2.Xử lý vi phạm trong HĐDL.
Xử lý vi phạm là một trong các hoạt động trọng tâm của công tác QLNN về DL. Qua hoạt động trên, NN sẽ kịp thời xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm nhằm góp phần điều chỉnh, hướng dẫn tổ chức và cá nhân thực hiện hoạt động chấp hành pháp luật, theo đúng quy hoạch, kế hoạch phát triển DL của cấp có thẩm quyền đưa ra; góp phần, hình thành nên thị trường DL và hoạt động DL lành mạnh; giữ gìn và phát huy hơn nữa các truyền thống nhân văn, ý nghĩa lịch sử của đất nước. ..
Trong thời gian vừa qua, trên địa bàn cả nước, công tác thi hành xử lý vi phạm với những tổ chức, cá nhân vi phạm về HĐDL đã có nhưng không nhiều. Qua các phương tiện thông tin đại chúng thì không thấy các cơ quan xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về HĐDL với qui mô lớn. Điều này có thể vì thực tiễn có vi phạm nhưng quy mô ít hoặc vì việc quản lý nhà nước của các cơ quan không chặt. Trong khi đó, thực tiễn HĐDL xảy ra ngày càng đa dạng với loại hình, quy mô và hoạt động phong phú. Hoạt động trên đặc biệt cần thiết nhằm góp phần điều chỉnh, cải thiện, tạo dựng lại lòng tin với người dân và những đơn vị làm ăn chân chính nhằm hướng đến một sự chuyên nghiệp hoá hơn nữa đối với HĐDL.
Tóm lại, QLNN với HĐDL là việc NN thực hiện quyền lực NN, lấy pháp luật về DL làm công cụ chủ yếu nhằm điều chỉnh các hành vi kinh doanh trong hoạt động DL; QL, bảo vệ, tôn tạo, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên DL để phát triển DL bền vững, nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn, giải trí của nhân dân và khách DL quốc tế; nhằm nâng cao đời sống, tạo việc làm và phát triển KT-XH của quốc gia.
QLNN với HĐDL là hoạt động rất cần thiết của NN Việt Nam. Để hoàn thành mục tiêu này, NN cần phải có trong tay một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, mặt khác hệ thống pháp luật ấy cũng cần phải đảm bảo thực thi thông qua một hệ thống các cơ quan nhà nước có đầy đủ quyền hạn và uy tín.
Tiêu chí đánh giá:
- Chương trình kiểm tra và thanh tra định kỳ: Đánh giá sự tồn tại của chương trình kiểm tra và thanh tra định kỳ để xác định vi phạm. Các kế hoạch kiểm tra thường cần được lên lịch trước để đảm bảo tính toàn diện và công bằng.
- Chấp hành quy định: Đánh giá mức độ tuân thủ của các doanh nghiệp du lịch đối với quy định và yêu cầu. Công tác kiểm tra và thanh tra cần phải tập trung vào việc đảm bảo các doanh nghiệp hoạt động hợp pháp.
- Quy trình kiểm tra và thanh tra: Đánh giá hiệu quả của quy trình kiểm tra và thanh tra, từ việc thu thập thông tin, kiểm tra tài liệu, thực hiện kiểm tra thực tế, đến việc lập biên bản và xử lý vi phạm.
- Khả năng phát hiện vi phạm: Đánh giá khả năng của cơ quan quản lý trong việc phát hiện các hành vi vi phạm. Công tác kiểm tra cần phải đảm bảo rằng các vi phạm không được phớt lờ.
- Xử lý vi phạm: Đánh giá quy trình xử lý vi phạm sau khi phát hiện. Quy trình này cần phải tuân theo quy định pháp luật và bảo đảm tính công bằng và minh bạch.
- Biện pháp xử lý: Xem xét hiệu suất của các biện pháp xử lý vi phạm, bao gồm cả xử phạt tài chính, đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép, và các biện pháp khác.
- Tác động đến doanh nghiệp và hành khách: Đánh giá tác động của hoạt động kiểm tra và xử lý vi phạm đến doanh nghiệp và hành khách. Cần tối ưu hóa tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực.
- Đánh giá kết quả: Đánh giá kết quả của hoạt động kiểm tra và xử lý vi phạm, bao gồm số lượng vi phạm được phát hiện và xử lý, hiệu suất biện pháp xử lý, và tác động lên sự tuân thủ quy định.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QLNN VỀ DU LỊCH
Các điều kiện tự nhiên đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển ngành du lịch. Dưới đây là một số điểm mở rộng về các yếu tố trong điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến ngành du lịch:
Loại khí hậu: Khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến loại hình du lịch mà điểm đến có thể phát triển. Ví dụ, điểm đến có khí hậu nhiệt đới thường hấp dẫn du khách thích biển và nắng, trong khi điểm đến có khí hậu lạnh sẽ thuận lợi cho các hoạt động như trượt tuyết và du lịch mùa đông.
Thời tiết ổn định: Thời tiết ổn định và dự báo chính xác là yếu tố quan trọng để du khách có thể dự đoán và lên kế hoạch cho chuyến du lịch của mình. Thời tiết không ổn định hoặc các yếu tố thời tiết đột ngột có thể ảnh hưởng đến trải nghiệm du lịch.
Vẻ đẹp tự nhiên: Các cảnh quan tự nhiên đẹp và độc đáo thu hút du khách. Các địa danh nổi tiếng như cánh đồng hoa, biển xanh, đỉnh núi, thác nước, và sa mạc có thể trở thành điểm đến hấp dẫn dựa trên vẻ đẹp của chúng.
Động vật hoang dã và hệ sinh thái: Các vùng bảo tồn thiên nhiên và công viên quốc gia với động vật hoang dã và hệ sinh thái độc đáo có thể là điểm đến thu hút những người quan tâm đến quan sát động vật hoang dã và nghiên cứu hệ sinh thái.
Đa dạng sinh học: Sự đa dạng về loài thực vật tạo nên môi trường sống đa dạng và hấp dẫn. Những vùng có động thực vật đa dạng thường có khả năng phát triển các hoạt động như du lịch sinh thái và quan sát thiên nhiên.
Công viên và khu bảo tồn: Các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia và công viên cung cấp cơ hội cho du khách khám phá động thực vật và hệ sinh thái, đồng thời góp phần bảo vệ và duy trì nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Như vậy, điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến tính hấp dẫn và sự phát triển của điểm đến du lịch. Các yếu tố như khí hậu, thời tiết, môi trường thiên nhiên và động thực vật tạo ra các cơ hội du lịch đa dạng và độc đáo, đồng thời cần được bảo vệ và quản lý bền vững để du lịch phát triển một cách cân bằng với môi trường tự nhiên.
Các điều kiện kinh tế – xã hội là những yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển và thực hiện quản lý nguồn nhân lực trong ngành du lịch. Dưới đây là một số điểm mở rộng về từng yếu tố:
Thu nhập và mức sống:
Khả năng chi trả: Thu nhập của dân cư địa phương ảnh hưởng đến khả năng họ tham gia vào các hoạt động du lịch. Nếu thu nhập thấp, người dân có thể không có khả năng chi trả cho dịch vụ du lịch.
Dịch vụ du lịch: Mức sống và thu nhập của du khách cũng ảnh hưởng đến loại hình dịch vụ du lịch được phát triển. Các điểm đến có thể phát triển các dịch vụ sang trọng hoặc giá cả phù hợp với thu nhập của du khách.
Cơ sở hạ tầng:
Hạ tầng vận chuyển: Cơ sở hạ tầng vận chuyển như sân bay, đường bộ, đường sắt và hệ thống giao thông công cộng quyết định khả năng tiếp cận và di chuyển của du khách đến điểm đến. Một hạ tầng vận chuyển tốt cải thiện tính tiện lợi và hấp dẫn của điểm đến.
Cơ sở lưu trú và dịch vụ: Sự phát triển của khách sạn, nhà nghỉ, căn hộ du lịch, nhà hàng và dịch vụ liên quan khác là quan trọng để đảm bảo du khách có nơi lưu trú và trải nghiệm dịch vụ chất lượng.
Văn hóa và lịch sử:
Di sản văn hóa và lịch sử: Di sản văn hóa và lịch sử của một vùng là nguồn cảm hứng cho du lịch văn hóa và du lịch lịch sử. Những điều này tạo nên trải nghiệm độc đáo và giúp du khách hiểu hơn về quá khứ và văn hóa của điểm đến.
Sự đa dạng văn hóa: Điểm đến có thể tận dụng sự đa dạng văn hóa để phát triển các hoạt động như lễ hội, sự kiện văn hóa và ẩm thực địa phương. Điều này thu hút du khách quan tâm đến trải nghiệm văn hóa.
An ninh:
An toàn cho du khách: Tình hình an ninh và ổn định tại điểm đến quyết định sự an tâm của du khách. Môi trường an toàn giúp du khách cảm thấy thoải mái và có thể tập trung vào việc tham gia vào các hoạt động du lịch.
Ảnh hưởng tâm lý: Những vùng có tình hình an ninh không ổn định có thể làm suy giảm sự hứng thú của du khách và ảnh hưởng đến ngành du lịch của khu vực đó.
Như vậy, điều kiện kinh tế – xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường thuận lợi cho du lịch. Cơ sở hạ tầng tốt, mức sống của dân cư địa phương, văn hóa và lịch sử độc đáo cùng với sự an ninh và ổn định ảnh hưởng đến sự phát triển và hấp dẫn của điểm
Việc phát triển các hoạt động du lịch ở đại phương tập trung, đồng nhất, gắn với qui hoạch tổng thể của khu du lịch rất thuận tiện đối với công tác quản lý. Ngược lại những hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ, manh mún, tạo ra sự phức tạp đối với công tác quản lý, hiệu quả của công tác quản lý thấp không bảo đảm môi trường bình đẳng trong kinh doanh, cũng như sự phát triển lành mạnh của nền du lịch địa phương.
Trình độ của các hoạt động kinh doanh cao – công tác quản lý nhà nước đơn giản, còn trình độ hoạt động kinh doanh thấp hơn – công tác quản lý nhà nước khó khăn, vất vả (như mô hình du lịch cộng đồng, homestay. ..).
Hoạt động quản lý nhà nước về du lịch phụ thuộc vào cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước, hoạt động du lịch không được kiểm soát chặt chẽ nếu cơ cấu bộ máy quản lý không tương thích. Bộ máy quản lý gồm một cơ quan trung ương và các cơ quan địa phương. Với hình thức trên, công tác quản lý hoạt động du lịch được thực hiện theo phương thức từ xa, thường xuyên theo kế hoạch, triển khai cả cấp địa phương và trung ương. Công tác quản lý từ xa nếu được triển khai nghiêm túc, bài bản sẽ là nền tảng để cơ quan quản lý có được một cái nhìn tổng thể về toàn bộ hoạt động du lịch. Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch không chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan duy nhất, nó đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước khác như công an, cơ quan y tế, thuế. ..
Sự phát triển du lịch quá khứ: Sự phát triển du lịch trong quá khứ sẽ tác động đến việc quản lý nguồn tài nguyên ngành du lịch hiện nay và tương lai.
Mức độ phát triển du lịch: Mức độ tăng trưởng hiện nay của các địa điểm tham quan du lịch cũng sẽ ảnh hưởng đến việc quản lý và bảo tồn ngành du lịch tương lai.
Kế hoạch phát triển: Kế hoạch và chiến lược phát triển du lịch của các địa phương cũng tác động đến việc quản lý nguồn tài nguyên du lịch.
Tổng hợp những điều kiện trên, QLNN về du lịch phải nghiên cứu và tương tác với môi trường thiên nhiên, tình hình kinh tế – xã hội và quy hoạch phát triển du lịch tại địa phương nhằm bảo đảm các hoạt động du lịch được tiến hành một cách hợp lý nhằm đem lại ích lợi đối với tất cả người dân và môi trường.
1.4. KINH NGHIỆM QLNN VỀ DU LỊCH Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
- 1.4.1.Thái Lan
- Đây là quốc gia có ngành du lịch phát triển mạnh và tương đối thành công ở châu Á. Ngành du lịch thu được nguồn ngoại tệ chủ yếu và cao hơn các ngành sản xuất khác của Thái Lan. Hàng năm, Thái Lan đón một lượng khách du lịch lớn trên 10 triệu lượt người. Năm 2022, Chính phủ Thái Lan đẩy mạnh đầu tư vào ngành công nghiệp không khói du lịch với mục tiêu đón 10 triệu du khách quốc tế, đem lại 1.270 tỷ baht (khoảng 35,7 tỷ USD) tổng thu của ngành du lịch đóng góp khoảng 12% tổng số thu nhập quốc nội (GDP) tại quốc gia này.
- Thái Lan đã nhận thức rõ tiềm năng của ngành du lịch và đã đầu tư thích đáng vào sự phát triển ngành du lịch. Đây là đầu tư vào cơ sở hạ tầng, cải thiện du lịch, đầu tư cho thương hiệu quốc gia để thu hút du khách.
- Quản lý hiệu quả nguồn nhân lực trong ngành du lịch đã giúp Thái Lan tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn thông qua việc đón khách du lịch. Sự đầu tư vào ngành du lịch cũng đóng góp đáng kể vào GDP của quốc gia.
- Thái Lan đã phát triển một chuỗi các loại hình du lịch phong phú bao gồm du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, du lịch nghỉ dưỡng và giải trí. Điều này giúp thu hút đa dạng đối tượng du khách và tạo ra những nguồn thu khách đa dạng.
- Thái Lan hiểu vai trò to lớn của chất lượng dịch vụ đối với việc thu hút và phát triển nguồn khách hàng. Chất lượng dịch vụ cao giúp tạo ra ấn tượng tích cực đối với du khách, kích thích sự quay trở lại và tạo điều kiện thúc đẩy việc quảng cáo tích cực.
- Thái Lan đã tiến hành hợp tác với ngành công – tư nhằm bảo đảm việc phát triển du lịch có thể tiến hành một cách hài hoà. Chính phủ, các công ty và cộng đồng cần hợp tác trong việc quản lý và phát triển ngành du lịch.
- Thái Lan đã nhận thức ra tầm quan trọng của bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và con người đối với sự phát triển du lịch. Việc quản lý bền vững giúp đảm bảo các tài nguyên cần đối với ngành du lịch không trở nên cạn kiệt và trải nghiệm du lịch không làm tổn hại tới môi trường sinh thái và cộng đồng.
- Kinh nghiệm ở Thái Lan đã chứng tỏ rằng việc quản lý nguồn nhân lực ngành du lịch phải có sự phối hợp của đầu tư, chất lượng dịch vụ, bảo tồn tài nguyên và sự hợp tác với cộng đồng. Từ kinh nghiệm thành công và thất bại của Thái Lan, những tỉnh xung quanh cần đúc rút ra những kinh nghiệm quý giá nhằm phát triển ngành du lịch được bền vững và hữu hiệu.
- 1.4.2. Malaysia
- Chính phủ Malaysia đã sớm nhận thức ý nghĩa quan trọng của du lịch trong phát triển kinh tế nên đã có những thay đổi tích cực đối với quản lý và phát triển du lịch, với những chính sách quản lý thích hợp đã giúp ngành du lịch phát triển mạnh mẽ ở Đông Nam Á. Và hiện tại, du lịch Malaysia thu hút khoảng 14 – 15 triệu lượt du khách quốc tế mỗi năm, với thời gian lưu trú trung bình của mỗi du khách khoảng 5-7 ngày. Chính phủ Malaysia đã nhận thức rõ các ý nghĩa của du lịch trong phát triển kinh tế và đã có các chính sách quản lý thích hợp để thúc đẩy phát triển ngành du lịch. Việc này đã giúp ngành du lịch Malaysia trở thành một điểm du lịch hấp dẫn ở khu vực Đông Nam Á.
- Chính sách quản lí và phát triển du lịch của Malaysia đã thu về kết quả tích cực với việc thu hút hàng triệu du khách quốc tế mỗi năm. Sự đa dạng về loại hình và hoạt động du lịch đã giúp hấp dẫn nhiều đối tượng du khách khác nhau.
- Thời gian lưu trú trung bình của mỗi du khách trong khoảng 5-7 ngày là một dấu hiệu tích cực về việc du khách mong muốn tận hưởng thời gian dài hơn tại Malaysia nếu chi tiền nhiều trong khoảng thời gian trên.
- Malaysia đã phát triển một loạt các loại hình du lịch bao gồm du lịch nghỉ dưỡng, du lịch mạo hiểm, du lịch sinh thái và du lịch ẩm thực. Sự đa dạng này đã nhanh chóng trở thành một trải nghiệm phong phú cho du khách mà còn giúp tối ưu hoá nguồn lao động.
- 1.4.3. Singapore
- Từ tháng 6 năm 2022, Singapore đã hoàn thành chỉ tiêu “Một triệu khách du lịch trong một tháng”. Năm 2022 có 6,3 triệu du khách quốc tế đến Singapore và năm 2021 là 4 triệu lượt người. Năm 2019, du lịch đóng góp vào tăng trưởng của Singapore 27,87 tỷ đô Sing, năm 2022 là 14 tỷ đô Singapore, chiếm 3% GDP. Đây quả thật là thành công lớn của ngành du lịch đối với một đất nước nhỏ bé, thiếu tài nguyên và không nhiều lợi thế phát triển du lịch như Singapore.
- Mặc dù Singapore có diện tích nhỏ bé và thiếu tài nguyên tự nhiên, nhưng họ đã tận dụng tối đa các lợi thế thiên nhiên và quản lý tài nguyên rất hiệu quả. Các quần đảo, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và cơ sở hạ tầng phát triển là những điểm nổi bật của Singapore.
- Singapore đã chú trọng đến việc phát triển dịch vụ chất lượng cao cùng trải nghiệm lý thú cho du khách. Chất lượng dịch vụ tuyệt vời và việc chú trọng những chi tiết nhỏ đã tạo nên ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách.
- Mặc dù Singapore không có lợi thế thiên nhiên hùng vĩ, nhưng họ đã phát triển một loạt những sản phẩm du lịch đa dạng như du lịch thiên nhiên, du lịch sinh thái, du lịch mua sắm và giải trí. Điều này hấp dẫn nhiều loại du khách khác nhau.
- Singapore đã hợp tác với các ngành công – tư nhằm đảm bảo quản lý tài nguyên và phát triển bền vững của ngành du lịch. Sự chú ý đến quản lý và bảo vệ tài nguyên là một phần quan trọng của kế hoạch.
- Singapore đã tận dụng lợi thế của du lịch cùng những ngành khác như khoa học, công nghệ, giáo dục và y tế nhằm tạo ra các trải nghiệm du lịch hấp dẫn và lý thú hơn nữa.
- Singapore đã quản lý lưu lượng du khách một cách cẩn trọng nhằm đảm bảo rằng cơ sở hạ tầng và dịch vụ có thể đáp ứng tốt nhu cầu của du khách, nhằm giảm thiểu tình trạng quá tải.
- Kinh nghiệm du lịch Singapore là một minh chứng tiêu biểu về việc tận dụng lợi thế vốn có nhằm tạo những điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển du lịch. Việc chú ý vào chất lượng dịch vụ, sự đổi mới và hợp tác công – tư là những yếu tố ảnh hưởng đối với việc phát triển ngành du lịch bền vững. 1.4.4.Các thành phố khác Ở Việt Nam:
1.4.4.1. Thành phố Vũng Tàu
Vũng Tàu là một tỉnh bờ biển dài nằm phía Đông Nam của Việt Nam, được nhắc đến với các bãi tắm biển rất hoang sơ cùng phong cảnh tự nhiên độc đáo. Dưới đây là một vài mẹo quản lý nguồn nhân lực ngành du lịch ở Vũng Tàu:
Vũng Tàu đã chú trọng tới việc phát triển du lịch sinh thái, đảm bảo rằng những hoạt động du lịch không làm tổn hại tới môi trường sinh thái và người dân bản địa. Bảo vệ và bảo tồn cảnh quan tự nhiên là một thành phần thiết yếu của kế hoạch quản lý.
Ngoài việc sử dụng bờ biển và bãi biển, Vũng Tàu cũng đã phát triển các hoạt động du lịch khác bao gồm du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, và du lịch thể thao. Điều này đã hấp dẫn nhiều nhóm khách hàng du lịch khác nhau.
Vũng Tàu đã tận dụng sự hợp tác của ngành công – tư trong phát triển hạ tầng, dịch vụ và hoạt động du lịch. Sự hợp tác đã góp phần vào việc cải tiến các dịch vụ và sản phẩm du lịch.
Để đảm bảo phát triển dịch vụ du lịch, Vũng Tàu đã chú ý vào việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong ngành. Việc có lực lượng hướng dẫn viên nhiệt tình và chuyên nghiệp sẽ gây ra ấn tượng tốt đẹp đối với du khách.
Vũng Tàu đã đề xuất các giải pháp nhằm quản lý lượng du khách, giảm thiểu sự quá tải và đảm bảo rằng hạ tầng và dịch vụ sẽ thoả mãn các yêu cầu của du khách. Điều này góp phần tối đa hoá trải nghiệm du lịch.
Tóm lại, Vũng Tàu đã áp dụng nhiều giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững và tối ưu trải nghiệm du khách. Việc quản lý lượng du khách, tối ưu hoá hoạt động, hợp tác công – tư và phát triển nguồn nhân lực là các vấn đề then chốt đối với việc phát triển ngành du lịch ở tỉnh Vũng Tàu.
1.4.4.2. Thành phố Nha trang
Thành phố Nha Trang toạ lạc tại tỉnh Khánh Hoà, miền Trung Việt Nam, được biết đến với bờ biển tuyệt đẹp, cảnh quan biển cùng những hoạt động du lịch phong phú. Dưới đây là một vài bí quyết quản trị nguồn nhân lực ngành du lịch ở Nha Trang:
Thành phố Nha Trang đã hướng tới phát triển du lịch xanh, chú trọng đến việc bảo tồn cảnh quan tự nhiên và môi trường. Điều này đảm bảo cho việc phát triển du lịch không có tác hại đối với cảnh quan và môi trường biển.
Nha Trang đã phát triển một chuỗi các hoạt động du lịch phong phú bao gồm du lịch biển, du lịch dưới nước, du lịch sinh thái và thăm danh lam thắng cảnh. Điều này cho phép thu hút nhiều nhóm đối tượng du lịch khác nhau và tối đa hoá sự khai thác nguồn nhân lực.
Để thoả mãn nhu cầu của du khách, Nha Trang đã đầu tư phát triển hạ tầng và dịch vụ du lịch. Việc tạo ra môi trường thân thiện và tiện ích để du khách có cảm nhận tốt đẹp hơn nữa.
Thành phố Nha Trang đã thúc đẩy sự phối hợp của ngành công – tư trong phát triển du lịch. Việc tạo môi trường thuận tiện thu hút đầu tư về phía doanh nghiệp góp phần vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ.
Để đảm bảo chất lượng dịch vụ du lịch, Nha Trang đã chú trọng trong việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong ngành. Sự hiểu biết về văn hoá bản địa cùng sự giao tiếp với khách du lịch có vai trò quyết định.
Nha Trang đã đề ra những giải pháp nhằm kiểm soát lượng du khách và giữ gìn cảnh quan biển, hạn chế sự quá tải và đảm bảo bờ biển cùng môi trường luôn duy trì được sự trong sạch.
Tổng hợp lại, Nha Trang đã tiến hành nhiều giải pháp nhằm phát triển du lịch biển bền vững nhằm tối ưu trải nghiệm du khách. Việc đa dạng hoá hoạt động, đầu tư xây dựng hạ tầng, kết hợp công – tư và phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa to lớn đối với việc phát triển ngành du lịch ở khu vực này.
Trong chương 1 luận văn đã làm rõ những vấn đề chung về du lịch và QLNN trong hoạt động du lịch, chương này có các nội dung cơ bản sau:
– Nêu các khái niệm về du lịch, du lịch, quản lí hoạt động du lịch, QLNN về du lịch. Bên cạnh đó chương 1 cũng làm rõ nội dung của QLNN về hoạt động du lịch, các nhân tố chi phối của QLNN đến hoạt động đông du lịch. Đưa ra kinh nghiệm QLNN trong hoạt động du lịch của các doanh nghiệp trong và ngoài thành phố, qua đĩ rút thêm nhiều kinh nghiệm quý giá cho Đà Nẵng.
– Các nội dung trên làm cơ sở phục vụ việc nghiên cứu thực trạng QLNN trong hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ đĩ đi đến đánh giá và đề xuất giải pháp QLNN trong hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
F:\TÀI LIỆU NĂM 2023\TÀI LIỆU CHƯA ĐỔI TÊN/ Quản lý Nhà nước về Du lịch trên địa bàn Đà Nẵng


