Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn

Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn

Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Điện Bàn là thị xã đồng bằng ven biển phía Bắc của tỉnh Quảng Nam, có 21.471 ha diện tích tự nhiên với dân số khoảng 230.000 người; có 20 đơn vị hành chính, gồm 07 phường và 13 xã. Trung tâm huyện lỵ là thị trấn Vĩnh Điện cách thành phố Tam Kỳ 48km về phía Bắc, cách thành phố Đà Nẵng 25km về phía Nam. Điện Bàn được biết đến là vùng đất trù phú với nhiều sản vật dồi dào, đồng thời rất nổi tiếng với các ngành nghề: trồng dâu nuôi tắm, ươm tơ dệt lụa, trồng đay dệt chiếu, làm đồ gốm, đúc đồng,…

Trong những năm qua, kết cấu hạ tầng giao thông của thị xã được đầu tư khá tốt trong giai đoạn hiện nay. Hệ thống các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ đoạn đi qua huyện đều được trải thảm nhựa và khai thác tốt. Bên cạnh Quốc lộ 1A, đường cao tốc đi ngang qua huyện, 8 tuyến tỉnh lộ với tổng chiều dài 59 km, 9 tuyến huyện lộ với tổng chiều dài 46 km, huyện Điện Bàn còn đầu tư phát triển mạng giao thông đô thị gồm 24 tuyến đường chính tại khu vực thị trấn Vĩnh Điện với tổng chiều dài 14,22 km và 48,35 km các tuyến đường đô thị tại đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc. Bên cạnh đó hệ thống giao thông nông thôn với tổng chiều dài 543 km đã nhựa hóa và bê tông hóa được khoảng 80% theo đề án Nông thôn mới của tỉnh. Các công trình hạ tầng khác liên quan đến điện, nước, trạm bưu chính viễn thông được đầu tư tương đối hoàn chỉnh và sử dụng ổn định nhất của tỉnh Quảng Nam..

Từ thực trạng phát triển mạnh mẽ về kinh tế – xã hội và phát triển đô thị trên địa bàn thị xã Điện Bàn những năm gần đây, đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của vùng thị trấn Vĩnh Điện mở rộng (đô thị Điện Bàn) đòi hỏi phải đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông (HTGT), đã làm nảy sinh những khó khăn phức tạp trong công tác quản lý nhà nước (QLNN) về đầu tư xây dựng HTGT

Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng HTGT trên địa bàn thị xã Điện Bàn đã đạt được những thành công nhất định, từ đó đã tạo sự thay đổi rõ nét hệ thống HTGT trên toàn thị xã, góp phần thay đổi diện mạo, thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất và nâng cao cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng HTGT còn nhiều mặt hạn chế cần phải khắc phục như: Quy hoạch HTGT chưa gắn kết với quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH chung của thị xã, vẫn còn tình trạng buông lỏng quản lý quy hoạch, thường thực hiện chậm, chắp vá; Nhu cầu vốn thực hiện quy hoạch đầu tư xây dựng HTGT lớn nhưng nguồn lực của địa phương để triển khai thực hiện quy hoạch còn hạn hẹp; Kế hoạch đầu tư HTGT chưa đảm bảo đạt hiệu kinh tế xã hội cao. Bố trí vốn đầu tư thực hiện dự án chưa sát tiến độ và có tính dàn trải; Hồ sơ thẩm định dự án HTGT và hồ sơ về thẩm định thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán chưa đầy đủ theo yêu cầu. Hệ thống định mức, đơn giá tiêu chuẩn làm chuẩn mực cho cơ quan thiết kế và thẩm định thiết kế dự toán vẫn còn thiếu; Một số đơn vị chủ đầu tư (chủ yếu là cấp xã) còn hạn chế về năng lực quản lý đấu thầu, dẫn đến còn sai sót về đấu thầu; Trong công tác quản lý chất lượng và nghiệm thu công trình xây dựng hạ tầng giao thông chưa được quan tâm đúng mức; Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm trong đầu tư xây dựng HTGT chưa thật sự chặt chẽ.

Trong điều kiện giai đoạn hiện nay các chính sách, cơ chế pháp luật về đầu tư xây dựng HTGT bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước (NSNN) còn nhiều bất cập, chưa sát với thực tế, dẫn đến việc có nhiều sai sót trong quá trình thực hiện dễ xảy ra. Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN trên địa bàn thị xã Điện Bàn trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết.

Với các lý do phân tích nêu trên, việc tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình với mục tiêu là nhằm nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác QLNN về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN tại thị xã Điện Bàn, phát hiện các mặt hạn chế và nguyên nhân của những mặt hặn chế, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện công tác QLNN về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN tại thị xã Điện Bàn.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu, xác lập các tiền đề khoa học và thực tiễn để đề xuất các
giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN trên địa bàn thị xã Điện Bàn.

2.2. Mục tiêu cụ thể

– Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến công tác QLNN về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN.

– Phân tích, đánh giá, làm rõ thực trạng công tác QLNN về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN trên địa bàn thị xã Điện Bàn thời gian qua.

– Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN trên địa bàn thị xã Điện Bàn thời gian đến.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác QLNN về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN vận dụng vào điều kiện cụ thể của một địa phương.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Không gian nghiên cứu: Trên địa bàn thị xã Điện Bàn.

– Thời gian nghiên cứu: Các dữ liệu được lấy trong thời gian 05 năm theo kế hoạch đầu tư trung hạn của thị xã Điện Bàn giai đoạn 2015-2019. Các giải pháp có ý nghĩa đến năm 2025.

– Nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng HTGT đường bộ bằng nguồn vốn NSNN của thị xã Điện Bàn.

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

+ Thu thập dữ liệu thứ cấp:

– Thông qua các thông tin từ Chi cục Thống kê thị xã Điện Bàn

– Các báo cáo về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN của UBND thị xã và các phòng chuyên môn của thị xã.

– Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các kết quả đã công bố tại các luận văn, bài báo khoa học đăng trên tạp chí kinh tế, các giáo trình của các môn học có liên quan của các tác giả để phục vụ cho nghiên cứu.

+ Thu thập dữ liệu sơ cấp: Tác giả luận văn đã tiến hành điều tra khảo sát về công tác QLNN về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN để làm rõ thực trạng ở thị xã thông qua bảng câu hỏi chuẩn bị sẵn. Phiếu điều tra khảo sát được xây dựng trên cơ sở áp dụng thang đo Likert 5. Với mục đích thu thập và đánh giá mức độ hài lòng của các đối tượng khảo sát đối với công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả thông qua các chỉ tiêu về giá trị trung bình (Mean). Các nhận định đánh giá về công tác quản lý được đo lường bằng thang Likert 5 với 1: Rất không đồng ý đến 5: Rất đồng ý. Khi đó ý nghĩa của từng giá trị trung bình được xác định như sau:

Từ 1.00 – 1.80: Rất không đồng ý

Từ 1.81 – 2.60: Không đồng ý

Từ 2.61 – 3.40: Không đồng ý cũng không phản đối

Từ 3.41 – 4.20: Đồng ý

Từ 4.21 – 5.00: Rất đồng ý

Như vậy, giá trị trung bình của các câu trả lời khảo sát càng cao thể hiện sự đồng ý cao với các nhận định được đưa ra.

– Lựa chọn địa điểm khảo sát: Tại 20 xã, phường trên địa bàn thị xã Điện
Bàn để làm rõ thực trạng công tác QLNN về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNNở thị xã.

– Lựa chọn đối tượng phỏng vấn: Chọn 100 cá nhân, tổ chức để khảo sát phỏng vấn đánh giá của họ về tình hình thực hiện các nội dung QLNN về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN trên địa bàn thị xã Điện Bàn theo mẫu phỏng vấn chuẩn bị sẵn.

Các đối tượng khảo sát được chia làm hai nhóm đối tượng điều tra: nhóm 1 là các cán bộ thực hiện công tác QLNN về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN tại thị xã Điện Bàn, nhóm 2 là các cá nhân, tổ chức tham gia sử dụng, kinh doanh lĩnh vực xây dựng giao thông trên địa bàn thị xã Điện Bàn. Cụ thể các đối tượng như sau:

⮚Nhóm 1: Gồm 55 cá nhân. Ở thị xã: 10 người Phòng Quản lý đô thị, 05 người Phòng Tài chính – Kế hoạch; UBND cấp xã: 35 người là Chủ tịch HĐND và Chủ tịch UBND xã, phường;

⮚Nhóm 2: Gồm 45 cá nhân, đại diện các tổ chức doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn thị xã.

4.2. Phương pháp phân tích:

Để nghiên cứu QLNN về đầu tư HTGT bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

Phương pháp khảo cứu tài liệu:

Để tổng hợp, hệ thống hoá các cơ sở lý thuyết, hệ thống các văn bản pháp quy của Nhà nước và các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố để phân tích, làm rõ về những vấn đề cơ sở lý luận QLNN về đầu tư xây dựng HTGT.

Phương pháp phân tích thống kê:

Phương pháp này gồm nhiều phương pháp khác nhau, như phương pháp đồ thị, phương pháp phân tích dãy số theo thời gian và phương pháp phân tích thống kê mô tả.

Đây là phương pháp được sử dụng trên cơ sở các nguồn số liệu thu thập được để phân tích tình hình đầu tư HTGT bằng nguồn vốn ngân sách thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Đồng thời, phương pháp này cũng được sử dụng trong việc đề xuất các giải pháp QLNN về đầu tư HTGT bằng nguồn vốn ngân sách thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Phương pháp số bình quân, số tương đối, phương pháp dãy số thời gian để phân tích tình hình đầu tư HTGT bằng nguồn vốn ngân sách thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng những bảng thống kê số liệu theo chiều dọc và chiều ngang mô tả hiện trạng và diễn biến tình hình QLNN về đầu tư xây dựng HTGT bằng nguồn vốn ngân sách thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Dựa trên tài liệu thu thập được để phân tích, tổng hợp, so sánh, mô tả các chỉ tiêu, dữ liệu ở các thời điểm, thời kỳ khác nhau. Thông qua việc xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê, thấy được sự thay đổi các chỉ tiêu cần phân tích trong công tác QLNN về đầu tư HTGT bằng nguồn vốn ngân sách thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, đánh giá được thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

– Phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp: Tổng hợp những thông tin thu thập được, tiến hành phân tích và so sánh giữa các năm khác nhau để đánh giá, phân tích diễn biến thực trạng công tác QLNN về đầu tư xây dựng HTGT bằng nguồn vốn ngân sách thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua.

5. Tổng quan các công trình nghiên cứu

6. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được trình bày theo 3 chương

Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn
Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn

CHƯƠNG 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1. KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1.1. Một số khái niệm

a. Khái niệm đầu tư

“Đầu tư là một khái niệm mà hiện nay có rất nhiều cách phát biểu khác nhau tùy theo quan điểm và cách nhìn nhận vấn đề trong hoạt động đầu tư. Có thể nêu một vài cách diễn đạt về khái niệm đầu tư như sau: Đầu tư đó là quá trình sử dụng vốn để tạo nên các nhân tố sản xuất đặc biệt là các tư liệu sản xuất như nhà xưởng, máy móc và vật tư hoặc để mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc cho vay lấy lãi hoặc để mua hàng hóa và sau đó bán lại, mà ở đây những chủ trương đầu tư này có thể sinh lợi dần hoặc thỏa mãn một nhu cầu nào đó cho người bỏ vốn cũng như toàn xã hội trong một thời gian nhất định trong tương lai. Đầu tư đó là một quá trình sử dụng vốn nhằm tạo nên các tài sản để sinh lợi dần theo thời gian. Đầu tư đó là một quá trình chi vốn cho một hoạt động kinh doanh nào đó và ngược lại chủ đầu tư sẽ nhận được các khoản thu trong tương lai để đảm bảo hoàn vốn và có lãi”[1].

“Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời gian nhất định nhằm thu về lợi nhuận cho chủ thể đầu tư và lợi ích kinh tế xã hội. Theo quan điểm của doanh nghiệp, đầu tư là hoạt động sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu thu được lợi nhuận. Theo quan điểm của Nhà nước, đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia”[2].

“Trên giác độ vĩ mô, đầu tư là nhằm đáp ứng những mục tiêu sau: Thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ của quốc gia, từng ngành và từng địa phương, vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng; Sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng, tài nguyên của đất nước, huy động tối đa và sử dụng hiệu quả cao các nguồn lực của ngành, địa phương và toàn xã hội; Tạo ra sự chuyển biến cơ bản trong tăng trưởng, kinh tế phát triển một cách mạnh mẽ, ổn định và đạt hiệu quả cao; Thúc đẩy khoa học công nghệ phát triển, đẩy mạnh được sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá, phát triển văn hoá, giáo dục, y tế. Đầu tư đầy mạnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện phát triển kinh tế mọi miền đất nước, góp phần đưa nông thôn, vùng xa, vùng nghèo tiến kịp các khu vực phát triển; Thúc đẩy tăng trưỏng kinh tế, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần ngày được nâng cao”[1]

b. Khái niệm đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ

“Hạ tầng giao thông đường bộ là hệ thống những công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ được xây dựng, nhằm đảm bảo cho việc di chuyển, đón trả khách, xếp dỡ hàng hóa và vận chuyển hàng hóa, dịch vụ của các loại phương tiện tham gia giao thông diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi và an toàn”[11].

“Đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ NSNN: Đầu tư xây dựng hạ tầng GTĐB từ NSNN là sự phối hợp những hoạt động nhằm sử dụng nguồn vốn NSNN để xây dựng các công trình GTĐB đáp ứng các mục tiêu đầu tư đã được xác định trong một khoảng thời gian với nguồn kinh phí nhất định trong khuôn khổ các quy định về quản lý hiện hành của nhà nước về ĐTXD và NSNN”[3].

c. Khái niệm quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông

Xuất phát từ những giác độ tiếp cận nghiên cứu khác nhau, nhiều tác giả đã đưa ra những quan điểm khác nhau về quản lý. Một số định nghĩa về quản lý của một số tác giả như sau:

Theo tác giả Fayel: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”.

Theo tác giả Hard Koont: “Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định”.

Theo tác giả Peter. F. Druker: “Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích”

Có tác giả lại cho rằng quản lý là các loại hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nổ lực của người khác.

Cũng có tác giả cho rằng quản lý là một một hoạt động bảo đảm phối hợp những nổ lực các cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.

Những quan điểm trên tuy dễ hiểu, rõ ràng nhưng chưa làm rõ bản chất của quản lý. Một cách đơn giản và tương đối toàn diện về mặt bản chất có thể hiểu khái niệm quản lý như sau:

Quản lý thực chất là một hành vi, đã là hành vi thì phải có chủ thể (chủ thể gây ra hành vi) và đối tượng (đối tượng chịu sự tác động của hành vi), mục tiêu (hành vi đó vì mục tiêu gì) và hành vi thông thường gắn với môi trường nhất định (hành vi được tiến hành trong bối cảnh như thế nào). Môi trường có ảnh hưởng đến hành vi.

Như vậy, để hình thành nên hoạt động quản lý cần có 3 yếu tố: Chủ thể quản lý (ai là người quản lý, tác nhân tạo ra các tác động), Đối tượng bị quản lý (quản lý cái gì, người, sự vật tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra ), mục tiêu quản lý (quản lý để đạt được cái gì). Có được 3 yếu tố trên nghĩa là có được điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý. Quản lý bao giờ cũng gắn liền trong một môi trường nhất định (quản lý trong môi trường như thế nào).

Từ đó có thể đưa ra một khái niệm có tính chất tổng quát về quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động của chủ thể lên đối tượng nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong một điều kiện nhất định của môi trường”.

Quản lý có thể chia thành 2 lĩnh vực quản lý ở tầm vĩ mô và quản lý ở tầm vi mô. Quản lý ở tầm vĩ mô chính là quản lý nhà nước (trong 1 quốc gia, 1 tỉnh, 1 huyện, 1 xã). Quản lý ở tầm vi mô chính là quản lý trong một tổ chức (trong 1 cơ quan, 1 doanh nghiệp) hoặc hộ gia đình

– Quản lý kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên tập thể những người quản lý trong hệ thống, sử dụng một cách tốt nhất tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện hành.

Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức, bằng pháp luật và thông qua hệ thống các chính sách với các công cụ quản lý kinh tế lên nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế đất nước, trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Quản lý nhà nước về kinh tế là quản lý ở tầm vĩ mô, giải quyết những quan hệ vĩ mô có liên quan đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế là nhu cầu khách quan, nội tại và nền kinh tế thị trường vận động theo cơ chế thị trường.

Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng tầng giao thông từ NSNN: “Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng tầng giao thông từ NSNN là sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở phối hợp những hoạt động nhằm sử dụng nguồn vốn NSNN để xây dựng các công trình giao thông đáp ứng các mục tiêu đầu tư đã được xác định trong một khoảng thời gian với nguồn kinh phí nhất định trong khuôn khổ các quy định về quản lý hiện hành của nhà nước về ĐTXD và NSNN”[12].

1.1.2. Đặc điểm quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước

– Đầu tư XDHTGT từ nguồn vốn NSNN là quá trình mà chủ thể đầu tư là Nhà nước bỏ vốn từ ngân sách để tiến hành các hoạt động xây dựng công trình giao thông vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Vốn chi cho hoạt động đầu tư XDHTGT từ NSNN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi đầu tư, được cấp phát trực tiếp, nên là nguồn vốn dễ bị thất thoát vì vậy cần phải được quản lý chặt chẽ. Mặt khác, vốn chi cho hoạt động đầu tư XDCB từ NSNN được phân bổ theo dự toán chi hàng năm, là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thi công xây dựng công trình kéo dài để chờ vốn, làm tăng tổng mức đầu tư, lãng phí vốn đầu tư. Nguồn vốn NSNN đầu tư cho KCHT thường có quy mô lớn và được đánh giá là có thời gian thu hồi dài, thậm chí không thể thu hồi được.

– Hiệu quả vốn đầu tư của NSNN mang lại chủ yếu là hiệu quả kinh tế – xã hội;có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng của từng địa phương. Đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước phải mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội. Nguyên tắc sử dụng vốn đầu tư nói chung là phải mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội. Do vậy, vốn đầu tư khi được huy động và sử dụng thường được chú ý đến tính hiệu quả kinh tế – xã hội của đồng vốn. Khi đưa ra quyết định cho mỗi dự án đầu tư cần xem xét hiệu quả với một cách nhìn toàn diện, xem xét hiệu quả kinh tế đi đôi với hiệu quả xã hội, kết hợp lợi tích trước mắt với lợi ích lâu dài, lợi ích cục bộ của từng bộ phận với lợi ích tổng thể của toàn xã hội

– Chính quyền địa phương tham gia trực tiếp vào quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng các công trình thuộc nguồn vốn NSNN nhằm đảm bảo sự phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Vốn từ NSNN trong đầu tư XDCB được kiểm tra, kiểm soát chặt nhằm ngăn chặn tình trạng sử dụng không đúng mục đích, kém hiệu quả, lãng phí hoặc phổ biến là tham ô, tham nhũng, gây thất thoát NSNN.

– Các nguồn lực cần thiết cho hoạt động đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông thường lớn. Bản chất của hoạt động đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông là nhằm tăng thêm tài sản mới cho nền kinh tế, đòi hỏi một lượng vốn lớn, trong đầu tư xây dựng phải thi công nhiều hạng mục công trình đòi hỏi kỹ thuật cao. Số lượng vật tư, thiết bị thi công và lao động của mỗi công trình cũng khác nhau. Bởi vậy việc tính giá thành sản phẩm công trình xây dựng rất phức tạp, thường xuyên thay đổi theo từng địa điểm, từng thời kỳ xây dựng. Vì vậy cần có giải pháp huy động vốn, quản lí vốn hợp lý, cần quyết định bỏ vốn đầu tư, có các chính sách, kế hoạch đầu tư xây dựng và thực hiện đầu tư xây dựng có trọng điểm.

– Xây dựng công trình HTGT chủ yếu hoạt động ngoài trời do đó chịu ảnh hưởng, tác động rất lớn của các điều kiện tự nhiên như khí hậu, thời tiết gây khó khăn cho các đơn vị xây lắp trong quá trình tổ chức các biện pháp thi công theo tiến độ xây dựng trong hợp đồng. Vì vậy “các nhà quản lý và chủ đầu tư cần phải có biện pháp khắc phục kịp thời. Các rủi ro về thời tiết như mưa bão, lũ lụt… làm cho các hoạt động thi công công trình đều phải dừng lại ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ và hiệu quả đầu tư. Các rủi ro về thị trường như giá cả, cung cầu các yếu tố đầu vào. Khi đã nhận diện được các rủi ro có thể xảy ra chủ đầu tư cần co các biện pháp phòng chống rủi ro phù hợp với từng loại rủi ro nhằm hạn chế thấp nhất tác động tiêu cực của nó đến hoạt động đầu tư xây dựng”[14].

1.1.3. Vai trò quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước

– Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và địa phương, tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế địa phương, tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh, tăng sức thu hút vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh ở các địa phương. Đầu tư xây dựng HTGT sẽ giúp thúc đẩy và “tạo ra một cơ cấu kinh tế mới, làm xuất hiện các ngành sản xuất mới gắn liền với chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội mới, làm cho nền kinh tế phát triển năng động và hiệu quả hơn. Sau khi xây dựng xong và đưa vào sử dụng các công trình xây dựng HTGT nó góp phần mở ra một thời kỳ phát triển mới của địa phương”[15].

– Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông góp phần hiện đại hóa HTGT, tăng phương tiện vận tải đưa vào sử dụng, “làm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế, thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong SXKD. Sự tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế không phải là quá trình riêng biệt mà nó là sự kết hợp đan xen lẫn nhau, tác động liên tục vào nền kinh tế, góp phần mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước”[14], nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, cầu nối giúp các ngành kinh tế phát triển.

– Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông “có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển đời sống vật chất và tinh thần của xã hội vì chính nhờ những dự án đầu tư xây dựng HTGT mà sản xuất kinh doanh phát triển, thu nhập của người lao động được tăng thêm, nạn thất nghiệp được dần dần giải quyết. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút nguồn vốn đầu tư”[21], tạo việc làm cho người lao động.

– Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn. Hoạt động đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông “chiếm một nguồn vốn lớn của Ngân sách Nhà nước, có liên quan đến việc sử dụng hợp lý hay lãng phí tài nguyên và các nguồn lực của sản xuất, liên quan đến bảo vệ môi trường”[10]. Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông “góp phần đảm bảo kỷ cương, kỷ luật chính sách, bảo đảm tính tập trung thống nhất trong quản lý vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông từ NSNN, bảo đảm tối đa hóa mục tiêu phát triển kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng”[9].

1.1.4. Phân cấp quản lý nhà nước cấp huyện về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước

Theo quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND cấp huyện trong lĩnh vực đầu tư xây dựng tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và quy định tại Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luất Đấu thầu, công tác xây dựng các chiến lược, chính sách không thuộc phạm vi, thẩm quyền của cấp huyện; mà phạm vi, thẩm quyền đối với cấp huyện là thực hiện hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa phương trong lĩnh vực đầu tư xây dựng sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, điều kiện tự nhiên của mỗi địa phương,cũng như thực hiện đầy đủ, toàn diện và đúng đắn nhất những gì đã đề ra; góp phần đảm bảo sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý bộ máy hành chính nhà nước.

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.2.1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước

Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch, việc lựa chọn địa điểm đầu tư đúng, bố trí kế hoạch đầu tư hàng năm một cách hợp lý là một trong những yêu cầu mà QLNN trong đầu tư xây dựng HTGT phải quan tâm.

Quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng HTGT là việc hoạch định trước những vùng, những tuyến đường cần được đầu tư, mức vốn đầu tư, thời gian bỏ vốn đầu tư. Quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng HTGT thường phải đi trước một bước trong phát trình phát triển kinh tế xã hội

Quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng HTGT là quá trình phân bổ, sắp xếp, bố trí đầu tư xây dựng HTGT vào một không gian nhất định, trong một thời kỳ trung hạn, dài hạn nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng HTGT bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: “Phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển của các ngành khác, quy hoạch sử dụng đất; quy hoạch chi tiết xây dựng phải phù hợp với quy hoạch chung xây dựng, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tạo ra động lực phát triển kinh tế – xã hội. Tổ chức, sắp xếp không gian lãnh thổ cho hệ thống HTGT trên cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai và các nguồn lực phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm lịch sử, kinh tế – xã hội của địa phương trong từng giai đoạn phát triển. Tạo lập được môi trường giao lưu và lưu thông hàng hóa an toàn và bền vững, thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân; bảo vệ môi trường, di sản văn hoá, bảo tồn di tích lịch sử – văn hoá, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc. Xác lập được cơ sở cho công tác xây dựng kế hoạch đầu tư xây dựng hàng năm, kế hoạch 5 năm, quản lý đầu tư và thu hút đầu tư xây dựng; quản lý, khai thác và sử dụng các công trình xây dựng một cách có hiệu quả”[8].

Quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng HTGT là nhằm định hướng hoạt động và là cơ sở cho việc thực hiện đầu tư xây dựng HTGT. Nếu không có quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng HTGT hay quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng HTGT không phù hợp, thiếu cơ sở khoa học sẽ làm cho hoạt động đầu tư xây dựng HTGT không phù hợp với định hướng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội.

Ngoài ra quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng HTGT là nhằm tạo cơ sở khoa học để sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư xây dựng HTGT. Trong thực tế, phần lớn các sai lầm về đầu tư xây dựng HTGT, về sử dụng các nguồn lực tài nguyên đất đai, nguồn vốn .v.v… đều bắt nguồn từ các sai lầm trong quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng HTGT.

Tiêu chí đánh giá:

– Quy hoạch đầu tư xây dựng HTGT từ nguồn vốn ngân sách nhà nước phải sát với thực tế, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương

– Quy hoạch đầu tư xây dựng HTGT từ nguồn vốn ngân sách nhà nước phải được trưng cầu ý kiến của nhân dân và công bố công khai.

– Kế hoạch đầu tư xây dựng HTGT từ nguồn vốn ngân sách nhà nước phải tuân thủ các quy định của luật pháp

– Kế hoạch đầu tư xây dựng HTGT từ nguồn vốn ngân sách nhà nước có trọng điểm, phù hợp với khả năng nguồn vốn NSNN.

– Kế hoạch đầu tư xây dựng HTGT từ nguồn vốn ngân sách nhà nước đảm bảo tính khoa học, tính đồng bộ và tính chính xác.

– Kế hoạch đầu tư xây dựng HTGT từ nguồn vốn ngân sách nhà nước đảm bảo đạt hiệu kinh tế – xã hội cao.

– Xây dựng và ban hành Kế hoạch đầu tư xây dựng HTGT từ nguồn vốn ngân sách nhà nước phải dựa vào chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và xuất phát từ nhu cầu của địa phương

1.2.2. Lập, thẩm định dự án và thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán và quyết định đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông

a. Lập dự án đầu tư:

Theo Điều 3, Luật xây dựng 2014: Lập dự án đầu tư xây dựng gồm việc lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng

“Những nội dung chủ yếu của lập một dự án đầu tư xây dựng HTGT thường bao gồm: “Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư; Lựa chọn hình thức đầu tư; Chương trình sản xuất và yếu tố phải đáp ứng; Các phương án địa điểm cụ thể phù hợp với quy hoạch xây dựng; Phương án giải phóng mặt bằng, kế hoạch tái định cư; Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ; Các phương án kiến trúc, giải pháp xây dựng, thiết kế sơ bộ của các phương án đề nghị lựa chọn, giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường; Xác định rõ nguồn vốn, khả năng tài chính, tổng mức đầu tư và nhu cầu vốn theo tiến độ; Phương án quản lý khai thác dự án và sử dụng lao động; Phân tích hiệu quả đầu tư; Các mốc thời gian chính thực hiện đầu tư; Thời gian khởi công, thời gian hoàn thành đưa công trình vào khai thác sử dụng; Kiến nghị hình thức quản lý thực hiện dự án; Xác định chủ đầu tư; Mối quan hệ và trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến dự án”[7].

b. Thẩm định dự án đầu tư: “Thẩm định dự án đầu tư là quá trình một cơ quan chức năng tổ chức xem xét một cách khách quan, có khoa học và toàn diện các nội dung của một dự án đầu tư để đánh giá xem dự án đầu tư đó tính khả thi hay không, nghĩa là có đạt được các mục tiêu kinh tế-xã hội đã đề ra và có đạt được những mục tiêu đó một cách có hiệu quả hay không. Các kết luận rút ra từ quá trình thẩm định là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư”[6].

Thẩm định dự án đầu tư là hết sức cần thiết. Điều này bắt nguồn từ vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối với các hoạt động đầu tư, giúp cho các cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nước đánh gía được tính phù hợp của dự án với qui hoạch phát triển chung của ngành, vùng lãnh thổ trên các mặt mục tiêu, qui mô, qui hoạch và hiệu quả

Yêu cầu của thẩm định dự án đầu tư: “Tất cả các dự án đầu tư đều phải thẩm định về mặt kỹ thuật như qui hoạch xây dựng, các phương án kiến trúc, công nghệ, về mặt môi trường như vấn đề sử dụng đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái và các khía cạnh xã hội khác của dự án. Đối với các dự án do Nhà nước cấp kinh phí, phải thẩm định tài chính và kinh tế. Mục đích của thẩm định dự án đầu tư là nhằm đánh giá tính hợp lý của dự án; Đánh giá tính hiệu quả của dự án; Đánh giá tính khả thi của dự án. Ba mục đích này đồng thời cũng là những yêu cầu chung đối với mọi dự án đầu tư”[1].

Công tác thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư “các dự án hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN là việc trình cấp có thẩm quyền xem xét việc đầu tư dự án có khả thi, khả năng cân đối vốn, tiến độ bố trí vốn, đảm bảo hiệu quả hay không về các mặt như dự án có trong quy hoạch, khả năng giải phóng mặt bằng, nguồn vốn, môi trường, an ninh quốc phòng”[1].v.v…

c. Thẩm định thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán

“Sau khi thẩm định dự án đầu tư, nếu dự án đạt được những yêu cầu cơ bản về nội dung thẩm định dự án và có tính khả thi cao thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định phê duyệt dự án đầu tư để có thể triển khai ở khâu thiết kế dự toán. Các dự án đầu tư xây dựng HTGT sử dụng vốn ngân sách nhà nước trước khi đấu thầu phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thiết kế – kỹ thuật và tổng dự toán. Cơ quan thẩm định thiết kế – kỹ thuật và tổng dự toán để phê duyệt là cơ quan có chức năng quản lý xây dựng đã được phân cấp”[1].

“Việc thẩm định, phê duyệt thiết kế -kỹ thuật và tổng dự toán phải thực hiện đầy đủ các quy định về thủ tục, trình tự kỹ thuật nhằm bảo đảm chất lượng thiết kế và tổng dự toán. Nội dung thẩm định thiết kế – kỹ thuật bao gồm: Sự phù hợp của thiết kế – kỹ thuật với nội dung đã được phê duyệt trong quyết định đầu tư về quy mô, công nghệ, công suất, các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật, quy hoạch, kiến trúc, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng; Bảo vệ môi trường, sinh thái, phòng, chống cháy nổ, an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp; Sự hợp lý của giải pháp thiết kế – kỹ thuật; Tư cách pháp lý của tổ chức, cá nhân thiết kế. Nội dung thẩm định tổng dự toán bao gồm: Kiểm tra tính đúng đắn của các định mức, đơn giá và việc vận dụng định mức, đơn giá, các chế độ, chính sách có liên quan và các khoản mục chi phí theo quy định của nhà nước; Sự phù hợp giữa khối lượng thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán; Xác định giá trị tổng dự toán kể cả thiết bị để so sánh với tổng mức đầu tư đã duyệt”[1].

d. Quyết định đầu tư

Theo nghị định số 59/2015/NĐ-CP, ngày 18-06-2015, về quản lý dự án đầu tư xây dựng, Khoản 2, điều 12 thì “Nội dung quyết định đầu tư bao gồm: Mục tiêu đầu tư; Xác định chủ đầu tư; Hình thức quản lý dự án; Địa điểm, diện tích đất sử dụng, phương án bảo vệ môi trường và kế hoạch tái định cư và phục hồi (nếu có); Công nghệ, công suất thiết kế, phương án kiến trúc, tiêu chuẩn kỹ thuật và cấp công trình; Chế độ khai thác và sử dụng tài nguyên quốc gia (nếu có); Tổng mức đầu tư; Nguồn vốn đầu tư, khả năng tài chính và kế hoạch vốn của dự án; Các ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước mà dự án đầu tư có thể được hưởng theo quy chế chung; Phương thức thực hiện dự án. Nguyên tắc phân chia gói thầu và hình thức lựa chọn nhà thầu”[2].

Việc đánh giá thất thoát “trong khâu lập, thẩm định, phê duyệt dự án và thiết kế – dự toán từ vốn Ngân sách nhà nước là khá lớn và phổ biến. Vì thế, trong khâu này công tác quản lý nhà nước cần chú ý đến những yêu cầu như: Tránh lãng phí do khâu thiết kế do hồ sơ thiết kế không đúng các quy chuẩn về kỹ thuật đầu tư xây dựng của Nhà nước; Tránh lãng phí, tiêu cực có thể xảy ra trong khâu lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý tổng dự toán, dự toán dự án. Đây là khâu không chỉ gây ra lãng phí, thất thoát về vốn đầu tư mà còn là khâu dẫn đến phát sinh tiêu cực trong hoạt động đầu tư”[19].

“Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã được quyết định đầu tư các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp. Đối với các dự án đầu tư ở cấp huyện dùng vốn ngân sách nhà nước phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận và quản lý chặt chẽ về quy hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội”[1].

Tiêu chí đánh giá:

Nội dung lập dự án đầu tư xây dựng HTGT đúng qui định

Công tác thẩm định dự án đầu tư đúng yêu cầu và mục đích

Hồ sơ thẩm định dự án HTGT đầy đủ theo qui định

Hồ sơ về thẩm định thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán đáp ứng đầy đủ các yêu cầu

Thiết kế – kỹ thuật – tổng dự toán đúng quy phạm, quy chuẩn; định mức kinh tế – kỹ thuật.

Đảm bảo đầy đủ các quy định về thủ tục, trình tự kỹ thuật nhằm bảo đảm chất lượng thiết kế và tổng dự toán.

Quyết định đầu tư các dự án đầu tư xây dựng HTGT bằng nguồn vốn ngân sách ở địa phương có đúng thẩm quyền được phân cấp

1.2.3. Công tác đấu thầu các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông

“Mục tiêu của công tác đấu thầu là nhằm thực hiện tính cạnh tranh, công bằng và minh bạch trong quá trình đấu thầu để lựa chọn nhà thầu phù hợp, bảo đảm hiệu quả kinh tế của dự án. Cơ sở việc đấu thầu được thực hiện trên cơ sở từng gói thầu. Kế hoạch lựa chọn nhà thầu được lập cho toàn bộ dự án. Trường hợp chưa đủ điều kiện lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu cho toàn bộ dự án thì lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu cho một hoặc một số gói thầu để thực hiện trước. Trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu phải ghi rõ số lượng gói thầu và nội dung của từng gói thầu. Việc phân chia dự án thành các gói thầu phải căn cứ theo tính chất kỹ thuật, trình tự thực hiện; bảo đảm tính đồng bộ của dự án và quy mô gói thầu hợp lý. Căn cứ lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với dự án: Quyết định phê duyệt dự án hoặc Giấy chứng nhận đầu tư và các tài liệu có liên quan. Đối với gói thầu cần thực hiện trước khi có quyết định phê duyệt dự án thì căn cứ theo quyết định của người đứng đầu chủ đầu tư hoặc người đứng đầu đơn vị được giao nhiệm vụ chuẩn bị dự án trong trường hợp chưa xác định được chủ đầu tư; Nguồn vốn cho dự án và Các văn bản pháp lý liên quan. Kế hoạch lựa chọn nhà thầu được lập sau khi có quyết định phê duyệt dự án đồng thời với quá trình lập dự án hoặc trước khi có quyết định phê duyệt dự án đối với gói thầu cần thực hiện trước khi có quyết định phê duyệt dự án. Nội dung kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với từng gói thầu: Tên gói thầu; Giá gói thầu; Nguồn vốn; Hình thức và phương thức lựa chọn nhà thầu; Thời gian bắt đầu tổ chức lựa chọn nhà thầu; Loại hợp đồng; Thời gian thực hiện hợp đồng. Trách nhiệm trình duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu: Chủ đầu tư đối với dự án có trách nhiệm trình kế hoạch lựa chọn nhà thầu lên người có thẩm quyền xem xét, phê duyệt. Văn bản trình duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu bao gồm những nội dung sau đây: Phần công việc đã thực hiện, bao gồm nội dung công việc liên quan đến chuẩn bị dự án, các gói thầu thực hiện trước với giá trị tương ứng và căn cứ pháp lý để thực hiện; Phần công việc không áp dụng được một trong các hình thức lựa chọn nhà thầu, bao gồm: hoạt động của ban quản lý dự án, tổ chức đền bù giải phóng mặt bằng, khởi công, khánh thành, trả lãi vay và các công việc khác không áp dụng được các hình thức lựa chọn nhà thầu; Phần công việc thuộc kế hoạch lựa chọn nhà thầu, bao gồm nội dung công việc và giá trị tương ứng hình thành các gói thầu được thực hiện theo một trong các hình thức lựa chọn nhà thầu; Phần công việc chưa đủ điều kiện lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu (nếu có), trong đó nêu rõ nội dung và giá trị của phần công việc này”[1].

“Phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu: Căn cứ báo cáo thẩm định, người có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu bằng văn bản để làm cơ sở tổ chức lựa chọn nhà thầu sau khi dự án, dự toán mua sắm được phê duyệt hoặc đồng thời với quyết định phê duyệt dự án, dự toán mua sắm trong trường hợp đủ điều kiện; Căn cứ báo cáo thẩm định, người đứng đầu chủ đầu tư hoặc người đứng đầu đơn vị được giao nhiệm vụ chuẩn bị dự án phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với gói thầu cần thực hiện trước khi có quyết định phê duyệt dự án”[21]

“Quy trình lựa chọn nhà thầu đối với đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế được thực hiện như sau: Chuẩn bị lựa chọn nhà thầu; Tổ chức lựa chọn nhà thầu; Đánh giá hồ sơ dự thầu và thương thảo hợp đồng; Trình, thẩm định, phê duyệt và công khai kết quả lựa chọn nhà thầu; Hoàn thiện, ký kết hợp đồng. Các hình thức lựa chọn nhà thầu bao gồm: Đấu thầu rộng rãi; Đấu thầu hạn chế; Chỉ định thầu. Các phương thức đấu thầu bao gồm: Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ; Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ; Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ; Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ”[22]

“Trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã: Phê duyệt hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu; Phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu; Thực hiện công việc khác thuộc trách nhiệm của chủ đầu tư; Thực hiện các công việc khác về lựa chọn nhà thầu theo ủy quyền của cấp trên

Bộ phận có chức năng về kế hoạch, tài chính cấp huyện chịu trách nhiệm thẩm định kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện

Tất cả các cơ quan tổ chức cá nhân tham gia đấu thầu và xét thầu phải giữ bí mật các hồ sơ tài liệu thông tin. Không tiết lộ, tiếp nhận những tài liệu, thông tin về quá trình lựa chọn nhà thầu”[1].

Tiêu chí đánh giá:

– Tổ chức đấu thầu xây dựng HTGT được thực hiện theo đúng qui trình đấu thầu

– Hình thức lựa chọn nhà thầu đúng qui định

– Đánh giá hồ sơ dự thầu chính xác và bám sát nội dung hồ sơ mời thầu

– Phê duyệt hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu đúng qui định

– Phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu đúng qui định

– Các hồ sơ tài liệu đấu thầu được giữ bí mật trước khi mở thầu.

– Tính công khai, minh bạch, cạnh tranh trong đấu thầu.

1.2.4. Quản lý chất lượng và nghiệm thu công trình xây dựng hạ tầng giao thông

“Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư cho đến khi kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng. Trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng của chủ đầu tư được quy định như sau: Thực hiện đầy đủ các quy định hiện hành của Nhà nước về lập, thẩm định và trình duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, tổ chức đấu thầu hoặc lựa chọn nhà thầu; Tuyển chọn tổ chức tư vấn, cung ứng vật tư thiết bị, xây lắp có tư cách pháp nhân và có đủ năng lực phù hợp để đảm nhận các công việc chuẩn bị đầu tư thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, cung ứng vật tư thiết bị, xây lắp và giám sát chất lượng công trình; Kiểm tra chất lượng các loại vật liệu, cấu kiện xây dựng, thiết bị lắp đặt đúng theo yêu cầu thiết kế và tiêu chuẩn kỹ thuật được duyệt”[20].

Chất lượng thi công xây dựng công trình phải được kiểm soát từ công đoạn mua sắm, sản xuất, chế tạo các sản phẩm xây dựng, vật liệu xây dựng, cấu kiện và thiết bị được sử dụng vào công trình cho tới công đoạn thi công xây dựng, chạy thử và nghiệm thu đưa hạng mục công trình, công trình hoàn thành vào sử dụng. Giám sát chất lượng công trình là một phần của nội dung QLNN về đầu tư xây dựng, việc giám sát chất lượng công trình nhằm đảm bảo vốn đầu tư bỏ ra có thể mua được công trình theo đúng chất lượng đã xác định.

“Công tác nghiệm thu công trình phải được tiến hành từng đợt ngay sau khi làm xong những khối lượng công trình khuất, những kết cấu chịu lực, những bộ phận hay hạng mục công trình và toàn bộ công trình. Việc nghiệm thu từng phần và toàn bộ công trình xây dựng do chủ đầu tư tổ chức thực hiện với sự tham gia của các tổ chức tư vấn, thiết kế, xây lắp, cung ứng thiết bị (nếu có) và cơ quan giám định chất lượng theo phân cấp”[12].

Tiêu chí đánh giá:

– Cán bộ cấp huyện, cấp xã đảm bảo có trình độ chuyên môn phù hợp về quản lý đầu tư xây dựng

– Công tác quản lý chất lượng đảm bảo đúng thiết kế – kỹ thuật phê duyệt.

– Công tác quản lý khối lượng công việc hoàn thành đúng theo hồ sơ thiết kế – kỹ thuật

– Công tác quản lý chất lượng đối với vật liệu, sản phẩm, cấu kiện, thiết bị sử dụng cho công trình;

– Công tác nghiệm thu, thực hiện đúng trình tự qui định

– Công tác nghiệm thu từng phần và toàn bộ công trình xây dựng thực hiện đúng hồ sơ thiết kế – kỹ thuật

– Lập hồ sơ hoàn thành công trình, lưu trữ hồ sơ và bàn giao công trình.

1.2.5. Thanh, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình hạ tầng giao thông

“Thanh toán vốn đầu tư là việc chủ đầu tư trả tiền cho nhà thầu khi có khối lượng công việc hoàn thành. Thanh toán vốn đầu tư có thể được thanh toán theo kỳ, tức là sau một thời gian thi công chủ đầu tư sẽ thanh toán cho nhà thầu một khoản tiền, có thể được thanh toán theo giai đoạn qui ước hay điểm dừng kỹ thuật hợp lý, có thể được thanh toán theo khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành hay thanh toán theo công trình, hạng mục công trình hoàn thành. Dự án đầu tư xây dựng HTGT sau khi hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng đều phải quyết toán vốn đầu tư. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quyết toán vốn đầu tư. Chậm nhất là 6 tháng sau khi dự án hoàn thành đưa vào vận hành, chủ đầu tư phải hoàn thành báo cáo quyết toán vốn đầu tư gửi người có thẩm quyền quyết định đầu tư. Báo cáo quyết toán vốn đầu tư phải xác định đầy đủ, chính xác số vốn đầu tư thực hiện hàng năm, tổng mức vốn đã đầu tư thực hiện dự án; giá trị tài sản bàn giao cho sản xuất sử dụng. Đối với các dự án đầu tư kéo dài nhiều năm, khi quyết toán chủ đầu tư phải quy đổi vốn đầu tư đã thực hiện về mặt bằng giá trị tại thời điểm bàn giao đưa vào vận hành để xác định giá trị tài sản cố định mới tăng và giá trị tài sản bàn giao”[17]

“Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã được thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng. Chi phí hợp pháp là chi phí theo đúng hợp đồng đã ký kết và thiết kế dự toán đã được phê duyệt, bảo đảm đúng quy chuẩn, định mức, đơn giá, chế độ tài chính – kế toán và những qui định hiện hành của nhà nước có liên quan. Việc quản lý, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư các dự án đảm bảo đúng mục đích, đúng đối tượng, tiết kiệm, hiệu quả; chấp hành đúng chế độ quản lý tài chính – đầu tư – xây dựng của Nhà nước. Quản lý nhà nước trong quyết toán vốn đầu tư từ vốn NSNN của một dự án phải đạt được ba yêu cầu cơ bản sau: Quyết toán vốn đầu tư phải đúng đắn; Quyết toán vốn đầu tư phải đảm bảo tính kịp thời; Quyết toán vốn có dứt điểm và triệt để trong năm tài chính hay không”[15].

Tiêu chí đánh giá:

– Thanh toán vốn đầu tư xây dựng công trình HTGT theo hợp đồng đã kí kết.

– Tính chính xác, hợp pháp của khối lượng thực hiện, định mức, đơn giá, dự toán các loại công việc, chất lượng công trình.

– Vốn thanh toán không được vượt dự toán hoặc giá trị hợp đồng. Tổng số vốn thanh toán cho dự án không vượt tổng mức đầu tư đã được duyệt.

– Xác định đầy đủ và chính xác nguồn vốn đã đầu tư, các chi phí hợp pháp đã bỏ ra để xây dựng công trình.

– Xác định đúng vốn đầu tư được quyết toán.

– Quyết toán vốn đầu tư đảm bảo tính kịp thời.

– Xác định rõ được số lượng, chất lượng TSCĐ tăng mới do đầu tư mang lại để có kế hoạch đưa vào khai thác, sử dụng kịp thời.

1.2.6. Thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm lĩnh vực đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN

“Tất cả các hoạt động đầu tư xây dựng thuộc mọi tổ chức, cá nhân có liên quan đều phải chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng nhà nước theo từng lĩnh vực quản lý. Tùy tình hình cụ thể của từng dự án đầu tư có thể thanh tra, kiểm tra từng khâu hoặc tất cả các khâu của quá trình đầu tư xây dựng. Công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động đầu tư và xây dựng phải căn cứ vào các quy định của pháp luật về thanh tra và kiểm tra. Tổ chức, cá nhân nếu vi phạm các quy định của luật pháp thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”[16].

“Các cơ quan chức năng nhà nước, cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng mà không làm đầy đủ nhiệm vụ được giao hoặc tự đặt ra các thủ tục, yêu cầu ngoài qui định, trì hoãn việc giải quyết các yêu cầu của cá nhân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức đầu tư và xây dựng khi đã đủ các điều kiện quy định thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Kiểm tra, giám sát là một khâu quan trọng trong chu trình quản lý vốn đầu tư. Kiểm tra, giám sát nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, những nhân tố mới, tích cực để phát huy; đồng thời phát hiện những sai lệch của đối tượng quản lý vốn để uốn nắn kịp thời. Mặt khác, qua kiểm tra, giám sát có thể phát hiện những điểm bất cập, bất hợp lý trong cơ chế quản lý, thậm chí ngay cả chủ trương, quyết định đầu tư để kịp thời sửa đổi cho phù hợp”[17].

Tiêu chí đánh giá:

– Số lần thanh tra, kiểm tra các dự án đầu tư xây dựng HTGT

– Công tác tổ chức thanh tra, kiểm tra các dự án đầu tư xây dựng HTGT đúng qui định pháp luật

– Số vụ vi phạm trong đầu tư xây dựng HTGT

– Số vụ vi phạm được xử lí trong đầu tư xây dựng HTGT

– Công tác xử lí vi phạm trong đầu tư xây dựng HTGT đúng qui định pháp luật

1.3. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.3.1. Điều kiện tự nhiên

Đầu tư xây dựng HTGT thường được tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên.Ở mỗi vùng, mỗi lãnh thổ có điều kiện tự nhiên khác nhau, do đó, hoạt động đầu tư xây dựng HTGT cũng phải phù hợp với điều kiện thực tế ở đó.

Điều kiện tự nhiên, như thời tiết khí hậu, địa hình, đất đai, tài nguyên nước… có ảnh hưởng rất lớn đến việc đầu tư xây dựng và quản lý HTGT. Nó có thể gây ra những khó khăn cũng như thuận lợi cho đầu tư và quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông của địa phương. Về mặt gây khó khăn của điều kiện tự nhiên có thể nhận thấy ở những vùng có địa hình phức tạp, nhiều đồi núi, sông ngòi thì việc đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông phải cần nhiều vốn đầu tư cho việc xây dựng cầu, cống, san ủi mặt bằng. Ở những vùng có khí hậu nắng nóng, mưa nhiều, lũ lụt sẽ dễ dàng gây hư hỏng công trình giao thông. Ở những vùng có cấu tạo địa chất không ổn định, lòng đất xấu sẽ làm gia tăng vốn cho việc thi công mặt đường giao thông. Về mặt tạo điều kiện thuận lợi của điều kiện tự nhiên có thể nhận thấy ở những vùng có nhiều mỏ đá, mỏ cát xây dựng sẽ góp phần vào việc cung cấp nguyên liệu đầu vào cho đầu tư xây dựng và phát triển của HTGT.

1.3.2. Điều kiện kinh tế

Đây là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu vốn đầu tư xây dựng HTGT và việc huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng HTGT ở các địa phương cấp Huyện. Các địa phương khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm tình hình phát triển kinh tế khác nhau mà có nhu cầu vốn đầu tư xây dựng HTGT và huy động nguồn lực vốn đầu tư xây dựng HTGT khác nhau. Ở các Huyện có nền kinh tế phát triển, việc huy động vốn ngân sách nhà nước đầu tư xây dựng HTGT cũng dễ dàng hơn so với các địa phương gặp nhiều khó khăn.

Ở một địa phương tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế nhanh chóng thì nhu cầu đầu tư xây dựng HTGT cũng tăng nhanh, mặt khác đầu tư xây dựng HTGT cần đầu tư đi trước một bước để tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển. Khi kinh tế tăng trưởng nhanh thì nguồn thu từ ngân sách tăng lên. Điều này giúp cho chính quyền địa phương có nguồn ngân sách đảm bảo cho việc đầu tư xây dựng HTGT. Những địa phương có điều kiện kinh tế phát triển, nguồn vốn ngân sách dồi dào thì việc đầu tư vốn vào phát triển giao thông càng thuận lợi

1.3.3. Điều kiện xã hội

Đặc điểm về dân số, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động, thu nhập bình quân đầu người của từng địa phương là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến nhu cầu phát triển HTGT.

Dân số của một địa phương có ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng HTGT bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Dân số nhiều hay ít là nhân tố quyết định đến nhu cầu giao thông đi lại cao hay thấp của người dân ở các địa phương. Do đó nó quyết định đến nhu cầu đầu tư xây dựng HTGT. Mặt khác mức độ tăng dân số thường đòi hỏi phải phát triển sản xuất kinh doanh để đảm bảo việc làm, thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, từ đó đòi hoải phải đầu tư xây dựng HTGT

Nguồn lao động sẽ tác động đến việc cung cấp lao động cho quá trình đầu tư xây dựng HTGT, đây cũng là nguồn lực quan trọng để phát triển của địa phương. Nguồn lao động là yếu tố không thể thiếu của tất cả các doanh nghiệp xây dựng các công trình HTGT. Các doanh nghiệp xây dựng các công trình HTGT rất cần lao động có tay nghề, trình độ chuyên môn cao, có trách nhiệm trong công việc. Hay nói cách khác, họ quan tâm đến chất lượng nguồn lao động. Hiện nay, chất lượng nguồn lao động ở các địa phương đang từng bước được cải thiện. Điều đó có lợi trong tiến trình phát triển nhanh chóng của nền kinh tế địa phương

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1 luận văn đã làm rõ các khái niệm có liên quan đến đề tài như: Khái niệm đầu tư; Khái niệm đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ; Khái niệm quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông. Trong đó luận văn nhấn mạnh: Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng tầng giao thông từ NSNN là sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở “phối hợp những hoạt động nhằm sử dụng nguồn vốn NSNN để xây dựng các công trình giao thông đáp ứng các mục tiêu đầu tư đã được xác định trong một khoảng thời gian với nguồn kinh phí nhất định trong khuôn khổ các quy định về quản lý hiện hành của nhà nước về ĐTXD và NSNN”[1].

Luận văn đã trình bày đặc điểm quản lý nhà nước “về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước; Vai trò quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước; Phân cấp quản lý nhà nước cấp huyện về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nướcLuận văn đã làm rõ nội dung quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước bao gồm: Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước”[2]; Lập, thẩm định dự án và thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán và quyết định đầu tư; Công tác đấu thầu; Quản lý chất lượng và nghiệm thu công trình xây dựng; Thanh, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình HTGT; Thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm trong đầu tư xây dựng HTGT. Trong từng nội dung quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước luận văn cũng đã xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Luận văn đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng vốn ngân sách nhà nước bao gồm: Điều kiện tự nhiên; Điều kiện kinh tế; Điều kiện xã hội. Đây là những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu vốn đầu tư xây dựng HTGT và việc huy động nguồn vốn đầu tư xây dựng HTGT.

Nội dung chương 1 là cơ sở lí luận để vận dụng phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng vốn ngân sách trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

2.1. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

2.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên.

      1. C:\Users\Admin\Downloads\66293d770a66b91c308cef518ffe5fb1.png
      2. Hình 2.1. Bản đồ thị xã Điện Bàn – Tỉnh Quảng Nam
      3. a. Vị trí địa lý

Điện Bàn là thị xã đồng bằng ven biển phía Bắc của tỉnh Quảng Nam, toàn thị xã được chia thành 20 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm: 07 phường và 13 xã trực thuộc; cách thành phố Tam Kỳ 48 km về phía Bắc, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 25 km về phía Nam, phía Bắc giáp huyện Hòa Vang và quận Ngũ Hành Sơn (thành phố Đà Nẵng), phía Nam giáp huyện Duy Xuyên, phía Đông Nam giáp thành phố Hội An, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp huyện Đại Lộc. Địa bàn thị xã Điện Bàn trải từ 15050′ đến 15057′ vĩ độ Bắc và từ 1080 đến 108020’ kinh độ Đông. Có tổng diện tích tự nhiên 21.497,00 ha. Có Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam và đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi đi qua nên có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế – xã hội.

b. Địa hình

Điện Bàn là thị xã đồng bằng, địa thế thấp dần từ Tây sang Đông, mức độ chia cắt trung bình. Ngoài khu vực gò đồi ở Điện Tiến phía Tây của thị xã có độ cao tuyệt đối trên 10m, còn lại hầu hết là địa hình bằng phẳng. Đất sản xuất nông nghiệp tập trung chủ yếu là vùng Tây và vùng Nam của thị xã dọc theo ven sông Thu Bồn, còn vùng Đông thì diện tích đất sản xuất nông nghiệp không lớn chủ yếu tập trung đất phát triển đô thị và công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.

c. Khí hậu

Thị xã Điện Bàn nằm trong khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, với hai mùa rõ rệt trong năm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12 hằng năm, mùa khô bắt đầu từ tháng 01 đến tháng 8 với nắng nóng. Nhiệt độ trung bình hằng năm 26,10C, nhiệt độ cao nhất là 40,7oC, nhiệt độ thấp nhất là 14oC, biên độ ngày và đêm là: 8,6oC. Số giờ nắng cao, tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 1920 h; tháng có giờ nắng nhiều nhất là tháng 6, 7, 8 và tháng có giờ nắng ít nhất là tháng 10, 11, 12.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *