Quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Kon Tum

Quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Kon Tum

Quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Kon Tum

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong hệ thống ASXH thì chính sách BHXH đóng vai trò trụ cột, quyết định nền ASXH của một quốc gia phát triển và bền vững như thế nào. Cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện ở Châu Âu dẫn đến sự ra đời của BHXH; những người lao động và gia đình họ cần được đảm bảo cuộc sống trước các rủi ro xã hội như mất việc làm, ốm đau, tai nạn,…, gây giảm hoặc mất thu nhập.

BHXH dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ khó khăn, rủi ro giữa những người tham gia; nó đòi hỏi sự đóng góp tạo nên một quỹ chung của những người tham gia; các thành viên khi gặp “sự cố”, đủ điều kiện sẽ được hưởng chế độ và chi phí này được chi trả bởi quỹ BHXH. Nguồn quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp từ người tham gia, được hiểu là sự chia sẻ giữa người sử dụng lao động và người lao động, với một phần tham gia của Nhà nước; đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ; phần tạm thời chưa sử dụng của Quỹ được đầu tư tăng trưởng, nâng cao mức hưởng cho người thụ hưởng chế độ BHXH. Các chế độ được đảm bảo trên cơ sở các đóng góp BHXH, không liên quan đến tài sản của người hưởng chế độ; mức đóng góp và mức hưởng tỷ lệ với mức tham gia BHXH dựa trên thu nhập trước khi hưởng BHXH.

Do đó, thực hiện chức năng của ngành, BHXH tỉnh Kon Tum luôn quan tâm, giám sát, kiểm tra chặt chẽ công tác quản lý chi, cụ thể là quản lý chi chế độ BHXH trên địa bàn tỉnh Kon Tum. Bên cạnh những thành công thì công tác quản lý chi chế độ BHXH cũng còn nhiều hạn chế nên tác giả chọn đề tài: “Quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Kon Tum” để làm rõ nguyên nhân của hạn chế, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác chi chế độ BHXH nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành, góp phần thực hiện chính sách ASXH.

2. Mục tiêu nghiên cứu

– Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Nghiên cứu những lý luận, thực tiễn quản lý chi chế độ BHXH (gọi tắt là quản lý chi BHXH) là mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận văn.

– Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

+ Làm rõ cơ sở lý luận và hệ thống hóa về quản lý chi BHXH ở địa phương.

+ Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý chi BHXH trên địa bàn tỉnh Kon Tum (nêu rõ thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế).

+ Đề xuất giải pháp khắc phục hạn chế quản lý chi BHXH.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu: Công tác chi trả chế độ BHXH cho các đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn tỉnh Kon Tum của BHXH tỉnh Kon Tum.

– Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản lý chi BHXH trên địa bàn tỉnh Kon Tum tại BHXH tỉnh Kon Tum.

+ Về không gian: Tỉnh Kon Tum.

+ Thời gian: Các giải pháp nêu ở luận văn có thời gian trong khoảng 05 năm.

4. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp thu thập dữ liệu: Thông qua phương pháp nghiên cứu tại văn phòng, tác giả trực tiếp thu thập dữ liệu, số liệu sẵn có để nghiên cứu, các tài liệu sử dụng, gồm:

+ Niên giám thống kê tỉnh Kon Tum năm 2018;

+ Báo cáo hàng năm của BHXH tỉnh Kon Tum (giai đoạn năm 2016-2019);

+ Số liệu thu thập từ các sở, ngành, cơ quan liên quan;

+ Giáo trình, Luận văn, Tạp chí đã được công bố trong nước.

– Phương pháp thống kê mô tả:

+ Thống kê mô tả là phương pháp sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ những nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau.

+ Luận văn chủ yếu sử dụng thống kê mô tả với kỹ thuật biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu.

– Phương pháp tổng hợp, phân tích: Nhằm hệ thống, tóm tắt các vấn đề về lý luận, lý thuyết có liên quan đến đề tài làm cơ sở cho việc phân tích những tồn tại và hạn chế ảnh hưởng đến quản lý chi BHXH và đề xuất, kiến nghị các giải pháp về quản lý chi BHXH tại tỉnh Kon Tum.

5. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

6. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì nội dung chính của Luận văn được trình bày trong 3 chương, cụ thể như sau:

– Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi Bảo hiểm xã hội.

– Chương 2: Thực trạng quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Kon Tum tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Kon Tum giai đoạn 2016-2019.

– Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Kon Tum tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Kon Tum.

Quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Kon Tum
Quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Kon Tum

CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1.1. Một số khái niệm

a. Bảo hiểm xã hội

Sự lao động là nhân tố quyết định ý muốn tồn tại và phát triển của con người, nó xuất hiện đã hình thành mối quan hệ giữa “người lao động” và “người sử dụng lao động”. Ngoài việc người lao động nhận được khoản lương hàng tháng từ người sử dụng lao động thì họ còn cần một khoản tiền chi tiêu lúc gặp sự cố, như: ốm đau, tai nạn, qua đời, mất việc làm,… Nếu như người lao động không gặp rủi ro thì người sử dụng lao động sẽ không phải bỏ ra chi phí gì nhưng không ai có thể đoán trước được tương lai, có thể rủi ro xảy ra dồn dập dẫn đến việc người sử dụng lao động phải mất một khoản tiền rất lớn để giải quyết các vấn đề.

– Người lao động cần được bù đắp và đảm bảo một phần thu nhập khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập (do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết) trên cơ sở đóng vào quỹ Bảo hiểm, đây là định nghĩa của BHXH.

Có thể nêu khái niệm về BHXH [4, tr.8-9]:

– Theo tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, 1948 thì: “BHXH là sự tổ chức bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia và các nguồn thu hợp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội”. Ngoài ra từ mỗi góc độ có thể có những khái niệm khác nhau về BHXH:

– BHXH ở góc độ pháp luật: được hiểu là người lao động được bảo vệ dưới chế độ pháp định. Sử dụng tiền đóng góp của các đối tượng tham gia và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước để trợ cấp vật chất cho người được hưởng chế độ và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật (hưu) hoặc chết.

– Góc độ tài chính: BHXH là sự chia sẻ rủi ro về tài chính giữa các đối tượng tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

– Góc độ chính sách xã hội: Nó là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động khi họ gặp phải các “rủi ro xã hội”, góp phần đảm bảo an toàn xã hội…

– Góc độ thu nhập: Người lao động tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập do nhiều nguyên nhân được đảm bảo thay thế một phần thu nhập.

– Góc độ quản lý: Nhà nước dùng BHXH là một công cụ quản lý để điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động thực hiện quá trình phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội.

– Các khái niệm trên đều có những điểm chung nhất định đó là đều thể hiện những nội dung cơ bản về BHXH:

+ Là một loại hình bảo hiểm mang tính xã hội rất cao. Vì vậy, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.

+ Đối tượng là thu nhập của người lao động, nhưng người được bảo vệ không chỉ có người lao động mà cả gia đình của họ. Vì vậy, BHXH đã, đang và sẽ bảo vệ cho tất cả các thành viên trong cộng đồng xã hội.

+ Người lao động và Người sử dụng lao động đều tham gia đóng góp để hình thành nên quỹ BHXH. Nhà nước luôn hỗ trợ và bảo hộ sự hình thành, sử dụng quỹ.

+ Sự cố và sự kiện trong BHXH đều liên quan đến thu nhập của người lao động. Đó là các rủi ro như: ốm đau, thai sản, TNLĐ – BNN, thất nghiệp, tuổi già về hưu, chết…

– Bản chất của BHXH: Kinh tế càng phát triển, BHXH càng đa dạng và hoàn thiện; ở mỗi phương diện BHXH có bản chất khác nhau [1, tr 6-9]:

+ Phương diện xã hội: BHXH là sự chia sẻ rủi ro, đảm bảo an toàn xã hội.

+ Phương diện kinh tế: BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH thông qua quá trình hình thành một quỹ tiền tệ chuyên dùng để đáp ứng nhu cầu chi trả chế độ cho người lao động và gia đình họ khi gặp sự cố về thu nhập trong lao động hoặc mất nguồn nuôi dưỡng,…

+ Phương diện chính trị, pháp lý: Nhà nước điều chỉnh BHXH bằng pháp luật, điều này làm BHXH trở thành quyền cơ bản của người lao động ở cả quốc gia và quốc tế. Đây cũng là trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động phải tham gia BHXH. Do đó, nó là một chính sách quan trọng về ã hội, là bộ phận cốt yếu để đảm bảo ASXH của các quốc gia.

– Chức năng của BHXH, bao gồm 3 chức năng:

+ Đầu tiên là đảm bảo bù đắp sự thiếu hụt về thu nhập của đối tượng tham gia và gia đình họ khi người lao động gặp phải những khó khăn trong lao động và cuộc sống như: tai nạn, ốm đau, mất sức lao động,…

+ Chức năng thứ hai là phân phối lại thu nhập là sự san sẻ thu nhập theo thời gian của người lao động, tức là người lao động khi gặp sự cố sẽ được trợ cấp từ phần thu nhập từng tháng mà họ để dành. Người sử dụng lao động cũng tham gia BHXH theo từng khoản tiền nhỏ cho người lao động để tránh phải mất một khoản tiền lớn khi nhiều sự cố xảy ra cùng một lúc. Ngoài ra, người lao động khỏe đóng góp cho người lao động ốm đau, người lao động trẻ đóng góp cho người lao động già.

+ Cuối cùng là chức năng tạo sự tương trợ, chia sẻ giữa các nhóm người. Mỗi đối tượng tham gia chỉ phải đóng một phần tiền nhỏ theo thu nhập, từ đó sẽ tạo thành một quỹ BHXH khổng lồ, kịp thời giúp đỡ cho những người lao động gặp rủi ro. Người sử dụng lao động không phải lo lắng nguồn tiền chi trả khi người lao động của họ gặp rủi ro, nguồn tiền này được trích ra từ nguồn thu BHXH.

Như vậy, BHXH mang tính chất kinh tế – xã hội, giúp cho mối quan hệ lao động ổn định, doanh nghiệp phát triển, kinh tế hưng thịnh.

– BHXH có 2 loại hình: BHXH bắt buộc (là loại hình mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia) và BHXH tự nguyện (là loại hình mà đối tượng tham gia hoàn toàn tự nguyện đóng góp mức phí và thụ hưởng theo quy định).

+ BHXH bắt buộc, mức đóng BHXH và các chế độ BHXH bắt buộc: BHXH bắt buộc là một loại hình BHXH, khái niệm BHXH bắt buộc được quy định tại khoản 2, Điều 3, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014:

“BHXH bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.”

Mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động, bao gồm: mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.

* Mức đóng BHXH bắt buộc của người lao động được chia thành hai đối tượng: Người lao động Việt Nam và Người lao động nước ngoài, thể hiện tại bảng 1.1

Bảng 1.1. Mức đóng BHXH bắt buộc của người lao động

Đơn vị tính: %

Đối tượngQuỹ BHXHQuỹ TNLĐ – BNNQuỹ BHTNQuỹ BHYTTổng mức đóng
Quỹ hưu trí, tử tuấtQuỹ ốm đau, thai sản
Người lao động Việt Nam80011,510,5
Người lao động nước ngoài00001,51,5

Nguồn: Luật BHXH năm 2014

Qua bảng 1.1, ta thấy Người lao động Việt Nam phải tham gia đóng các quỹ bảo hiểm tổng cộng 10,5% tổng thu nhập cá nhân và Người lao động nước ngoài tham gia đóng tổng mức đóng là 1,5% tổng thu nhập cá nhân

* Mức đóng BHXH bắt buộc của người sử dụng lao động, tương tự với người lao động, người sử dụng lao động được chia thành 2 đối tượng đóng: Người sử dụng lao động người Việt Nam và Người sử dụng lao động nước ngoài, thể hiện ở bảng 1.2 dưới đây

Bảng 1.2. Mức đóng BHXH bắt buộc của chủ sử dụng lao động

Đơn vị tính: %

Đối tượngQuỹ BHXHQuỹ TNLĐ – BNNQuỹ BHTNQuỹ BHYTTổng mức đóng
Quỹ hưu trí, tử tuấtQuỹ ốm đau, thai sản
Người sử dụng lao động Việt Nam1430,51321,5
Người sử dụng lao động nước ngoài030,5036,5

Nguồn: Luật BHXH năm 2014

Từ bảng 1.2 ta thấy Người sử dụng lao động Việt Nam có tổng mức đóng BHXH bắt buộc là 21,5% và Người sử dụng lao động người nước ngoài tổng mức tham gia BHXH bắt buộc là 6,5% chia ra từng loại quỹ như trên

Các chế độ BHXH bắt buộc:

* Chế độ ốm đau:

Khi người lao động bị tai nạn không phải là TNLĐ được cơ sở y tế có thẩm quyền xác nhận theo quy định của Bộ Y Tế thì người lao động được hưởng chế độ ốm đau. Trường hợp người lao động có con dưới 07 tuổi cũng sẽ được hưởng chế độ khi con ốm đau nếu như có xác nhận của cơ sở KCB có thẩm quyền.

Thời gian hưởng chế độ ốm đau cùng mức hưởng phụ thuộc vào môi trường làm việc của đối tượng thụ hưởng, cụ thể: môi trường làm việc bình thường, làm nghề hay công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành; làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên, mắc bệnh nhẹ hay bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y Tế ban hành và thời gian tham gia BHXH.

Trong vòng 30 ngày kể từ ngày quay trở lại làm việc mà người lao động chưa được phục hồi sức khỏe thì họ tiếp tục được hưởng chế độ nghỉ DSPHSK sau ốm đau.

* Chế độ thai sản:

Tại Điều 30, Điều 31, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động thuộc đối tượng hay thuộc một trong các trường hợp theo quy định khi đang đóng BHXH vào quỹ ốm đau và thai sản sẽ được hưởng chế độ thai sản.

Đối với người lao động là nữ đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản sẽ được nghỉ khám thai; sảy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý được nghỉ hưởng chế độ ; nghỉ hưởng chế độ khi sinh con; khi thực hiện các biện pháp tránh thai. Ngoài ra, lao động nữ mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ hoặc người lao động nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi cũng được hưởng chế độ thai sản khi đủ điều kiện hưởng.

Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại thời điểm sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia BHXH thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con.

Trong vòng 30 ngày kể từ ngày đầu làm việc mà sức khỏe lao động nữ sau khi hưởng chế độ thai sản chưa phục hồi thì được nghỉ DSPHSK từ 05 – 10 ngày.

Theo khoản 2, Điều 34, Luật Bảo hiểm xã hội 2014, trong 30 ngày đầu kể từ ngày người vợ sinh con, lao động nam được nghỉ từ 05 – 14 ngày làm việc: 05 ngày với trường hợp sinh thường; 07 ngày khi sinh mổ, sinh dưới 32 tuần tuổi; 10 ngày với trường hợp sinh đôi; sinh ba trở lên thì cứ mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày; được nghỉ 14 ngày nếu sinh đôi trở lên mà phải mổ.

Tiền trợ cấp thai sản một lần của người chồng (áp dụng trong trường hợp sinh con nhưng chỉ có người chồng tham gia BHXH và đã đóng đủ từ 06 tháng trở lên trong 12 tháng trước khi người vợ sinh) được tính bằng 02 lần mức lương cơ sở ở thời điểm hiện tại (Điều 38, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và điểm a, khoản 2, Điều 9, Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH).

* Chế độ Tai nạn lao động, Bệnh nghề nghiệp:

Theo Điều 42, Điều 43, Điều 44, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động bị TNLĐ nằm trong đối tượng quy định sẽ được hưởng trợ cấp một lần hoặc trợ cấp hàng tháng tùy thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động và thời gian tham gia BHXH.

Ngoài khoản trợ cấp một lần và trợ cấp hàng tháng, khi người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ TNLĐ, chế độ BNN còn có thể được cấp dụng cụ chỉnh hình, phương tiện trợ giúp sinh hoạt; hưởng trợ cấp phục vụ hàng tháng; trợ cấp một lần khi chết do TNLĐ, BNN; DSPHSK sau khi điều trị thương tật, bệnh tật.

* Chế độ hưu trí:

Tại Điều 54, Điều 55, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định các điều kiện vệ tuổi nghỉ hưu, thời gian tham gia BHXH tối thiểu là 20 năm, loại công việc, mức suy giảm khả năng lao động,…

Người lao động đóng BHXH được hưởng mức lương hưu hàng tháng tùy thuộc vào thời gian tham gia BHXH và mức bình quân tiền lương đóng BHXH. Năm 2019, mức hưởng tương ứng với 45% mức bình quân tiền lương tham gia BHXH đối với người lao động nam nghỉ hưu tham gia BHXH 17 năm; lao động nữ nghỉ hưu tham gia BHXH 15 năm. Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.

Thời điểm hưởng lương hưu có thể tính hoặc là thời điểm ghi trong quyết định chấm dứt hợp đồng lao động do người sử dụng lao động ban hành khi người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật; hoặc là tính từ tháng liền kề khi người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu và có văn bản đề nghị gửi cho cơ quan BHXH; hoặc là thời điểm ghi trong văn bản đề nghị của người lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu.

Ngoài ra, nếu như người lao động đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ 20 năm đóng BHXH; sau 01 năm nghỉ việc mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH và không tiếp tục đóng BHXH; ra nước ngoài định cư; mắc bệnh nguy hiểm đến tính mạng thì họ có thể yêu cầu cơ quan BHXH cấp quận/huyện/thành phố nơi mà họ cư trú để hưởng BHXH một lần. Về BHXH một lần phụ thuộc vào thời gian đã tham gia BHXH và mức tiền lương bình quân đóng BHXH.

Đối với cách xác định mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần, gồm có: Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng của số năm đóng BHXH trước khi nghỉ phụ thuộc vào thời gian bắt đầu tham gia BHXH; Người lao động có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian.

* Chế độ tử tuất:

Chế độ tử tuất hiện nay sẽ gồm có trợ cấp mai táng (hay còn gọi là mai táng phí), trợ cấp tuất hàng tháng, trợ cấp tuất một lần.

Người lao động đang đóng BHXH hoặc người lao động đang bảo lưu thời gian đóng BHXH mà đã có thời gian đóng từ đủ 12 tháng trở lên; người lao động chết do TNLĐ – BNN hoặc chết trong thời gian điều trị do TNLĐ – BNN; người đang hưởng lương hưu; hưởng trợ cấp TNLĐ – BNN hằng tháng đã nghỉ việc sẽ được hưởng mai táng phí bằng 10 lần mức lương cơ sở tại tháng mà người đó chết. Thân nhân của những đối tượng trên được hưởng trợ cấp mai táng khi người đó bị Tòa án tuyên bố là đã chết.

Trợ cấp tuất là khoản thu nhập bảo hiểm cho người lao động, dành cho những nhân thân của những người lao động đã tham gia BHXH không có khả năng lao động như là: những người hết tuổi lao động hoặc trẻ em (chưa đến tuổi lao động), trước đây những người này đã sống bằng nguồn thu nhập (hoặc nguồn bảo hiểm thu nhập) của người lao động.

Mức trợ cấp tuất hàng tháng phụ thuộc vào mức lương cơ sở, mức trợ cấp tuất một lần phụ thuộc vào thời gian tham gia BHXH và mức tiền lương bình quân đóng BHXH.

* Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp:

BHTN là một chế độ trong hệ thống các chế độ BHXH, với mục đích hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động bị mất việc làm. Điều kiện tiên quyết để người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp là phải đang tham gia đóng góp vào quỹ BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong khoảng thời gian 24 tháng trước khi bị thất nghiệp. Trong thời gian 03 tháng kể từ ngày thất nghiệp, cần nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm Dịch vụ việc làm. Kể từ ngày thứ 15 đăng ký thất nghiệp, người lao động chưa tìm được việc làm mới được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Về thời gian được hưởng trợ cấp thất nghiệp phụ thuộc vào thời gian tham gia BHTN của người lao động (thời gian hưởng tối thiểu là 3 tháng và tối đa là 12 tháng). Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp. Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, đối tượng được hưởng chế độ BHYT theo quy định của pháp luật về BHYT, được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí, được hỗ trợ học nghề với mức tối đa là 01 triệu đồng/tháng (thời gian hỗ trợ học nghề không quá 06 tháng).

+ BHXH tự nguyện và mức đóng BHXH tự nguyện:

BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức, ở loại hình này người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH tự nguyện để người tham gia được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất. Mức đóng và phương thức đóng của người lao động tham gia BHXH tự nguyện, gồm:

* Người lao động hàng tháng tham gia đóng BHXH là 22% mức thu nhập tháng do họ lựa chọn để tham gia vào quỹ hưu trí và tử tuất; mức đóng thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất là bằng 20 lần mức lương cơ sở tại mỗi thời điểm.

* Người tham gia BHXH tự nguyện được chọn một trong các phương thức đóng sau đây để đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất: Đóng hàng tháng – 03 tháng – 06 tháng – 12 tháng một lần; Đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 05 năm một lần; Người tham gia BHXH đã đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu theo quy định nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 120 tháng (10 năm) thì được đóng một lần cho đủ 20 năm để hưởng lương hưu. Trường hợp người tham gia đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định mà thời gian đã đóng BHXH còn thiếu trên 10 năm, họ có nguyện vọng thì tiếp tục đóng BHXH tự nguyện theo một trong các phương thức trên cho đến khi thời gian đóng còn thiếu không quá 10 năm thì được đóng một lần cho những năm còn thiếu để hưởng lương hưu.

Các chế độ BHXH tự nguyện:

* Chế độ hưu trí:

Người lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH tự nguyện đủ điều kiện về thời gian đóng và tuổi sẽ được hưởng chế độ hưu trí. Mức hưởng hàng tháng phụ thuộc vào thời gian tham gia và mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH. Ngoài ra, người lao động có thời gian đóng BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.

Thời điểm hưởng lương hưu được tính từ tháng liền kề sau tháng người tham gia BHXH tự nguyện đủ điều kiện hưởng lương hưu.

Người lao động được hưởng BHXH một lần thay vì lương hưu hàng tháng khi thuộc các trường hợp sau đây: Đủ điều kiện về tuổi theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 73, Luật BHXH năm 2014 chưa đủ 20 năm tham gia BHXH mà không tiếp tục tham gia; Ra nước ngoài để định cư; Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế.

* Chế độ tử tuất:

Người lao động có thời gian tham gia BHXH tự nguyện từ đủ 60 tháng trở lên, người đang hưởng lương hưu sẽ được hưởng trợ cấp mai táng phí bằng 10 lần mức lương cơ sở tại tháng mà người lao động hoặc người đang hưởng lương hưu qua đời.

Người lao động đang đóng BHXH hoặc đang bảo lưu thời gian đóng BHXH hoặc đang hưởng lương hưu khi mất thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần. Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người lao động đang đóng BHXH hoặc đang bảo lưu thời gian đóng BHXH được tính theo số năm đã đóng BHXH.

b. Quỹ Bảo hiểm xã hội

Tại khoản 4, Điều 3, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 có quy định: Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước.

Quỹ này dùng để chi trả trợ cấp cho các đối tượng hưởng BHXH và chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp, các ngành.

Các bên tham gia BHXH tạo thành tập hợp đóng góp quỹ BHXH:. Người lao động, Người sử dụng lao động, Nhà nước bù thiếu nhằm mục đích chi trả các chế độ BHXH và đảm bảo cho hoạt động của hệ thống BHXH.

Quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ và bù thiếu, đây là quỹ tiền tệ tập trung, hạch toán độc lập với NSNN. Quỹ được quản lý dưới cơ chế cân bằng thu chi, do đó nó không đơn thuần ở trạng thái tĩnh mà luôn có sự biến động theo mọi chiều hướng (thâm hụt hoặc tăng lên). Quỹ được hình thành và hoạt động để tạo ra khả năng giải quyết những rủi ro của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, do rủi ro được dàn trải cho số đông người tham gia. Đồng thời quỹ cũng góp phần giảm chi ngân sách cho Nhà nước; khi biến cố xã hội xảy ra (như thiên tai, hạn hán, dịch bệnh,…), quỹ BHXH là một khoản không nhỏ để cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội,… giúp sức cho Nhà nước

– Quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau:

+ Người sử dụng lao động tham gia đóng góp, sự đóng góp này không chỉ thể hiện trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động mà còn thể hiện lợi ích của người sử dụng lao động bởi đóng góp một phần BHXH cho người lao động, người sử dụng lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế khi phải chi ra một khoản tiền lớn giải quyết rủi ro xảy ra đối với người lao động của mình, đồng thời cũng giảm bớt được tranh chấp. Thông thường phần đóng góp này được xác định dựa trên quỹ lương của đơn vị, doanh nghiệp.

+ Người lao động: Dựa trên nguyên tắc “đóng – hưởng”, người lao động phải tham gia quỹ BHXH mới được hưởng chế độ BHXH. Người lao động tham gia để bảo vệ cho chính bản thân họ. Thông qua hoạt động này người lao động đã dàn trải rủi ro theo thời gian, khoản đóng góp vào quỹ BHXH chính là khoản tiết kiệm của bản thân người lao động kết quả về sau họ được hưởng lương hưu hoặc các loại trợ cấp khi rủi ro xảy ra. Khoản trợ cấp này được xác định một cách khoa học và có cơ sở dựa trên nguyên nhân.

+ Quỹ BHXH được nhà nước bảo hộ, đóng góp và hỗ trợ thêm. Nhằm đảm bảo cho các hoạt động xã hội diễn ra được ổn định. Sự hỗ trợ này là rất cần thiết và quan trọng vì nguồn thu từ sự hỗ trợ NSNN khá lớn. Hoạt động của chính sách BHXH mà không có sự hỗ trợ của Nhà nước thì chẳng khác nào đứa trẻ mới tập đi.

+ Các nguồn khác chính là sự giúp đỡ của tổ chức từ thiện trong và ngoài nước, lãi do đầu tư phần quỹ nhàn rỗi, khoản tiền thu nộp phạt từ các đơn vị chậm đóng BHXH… Tất cả đều là phần thu nhập tăng thêm do bộ phận nhàn rỗi tương đối của quỹ BHXH được cơ quan BHXH đưa vào hoạt động sinh lời. Hoạt động đầu tư quỹ nhàn rỗi này cần phải đảm bảo khả năng thanh khoản khi cần thiết, an toàn và mang tính xã hội.

– Quỹ sử dụng chi vào các mục đích:

+ Chi trả trợ cấp các chế độ: Trợ cấp ngắn hạn (dùng để chi trả các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản, DSPHSK, TNLĐ-BNN, BHYT, BHTN,…) và trợ cấp dài hạn (dùng để chi trả các chế độ dài hạn như hưu trí, tử tuất,…).

+ Chi phí quản lý: Là khoản chi cho các hoạt động thường xuyên của tổ chức, như là: chi lương cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống BHXH; chi phí nghiệp vụ; chi nghiên cứu khoa học; chi phí hành chính; chi phí mua sắm, sửa chữa tài sản, trang thiết bị làm việc;…

+ Chi phí đầu tư: Là khoản chi để đảm bảo các hoạt động đầu tư phần nhàn rỗi của quỹ được diễn ra bình thường và đạt hiệu quả cao. Về mặt kế toán, khoản chi này có thể lấy trong tổng thu được từ lợi nhuận đầu tư.

c. Chi bảo hiểm xã hội

Chi BHXH (thực chất là chi trả các chế độ BHXH) được hiểu là việc cơ quan Nhà nước (cụ thể là cơ quan BHXH) sử dụng số tiền thuộc nguồn NSNN và nguồn quỹ BHXH để chi trả các chế độ BHXH cho đối tượng thụ hưởng theo pháp luật quy định. Đây là một nhiệm vụ quan trọng của ngành BHXH, nó góp phần thực thi chính sách BHXH của Đảng và Nhà nước đối với người tham gia BHXH.

Hoạt động chi trả được thực hiện sau khi người tham gia BHXH đã hoàn thành nghĩa vụ nộp BHXH cho cơ quan BHXH. Vai trò của hoạt động này là thực thi quyền lợi của đối tượng tham gia và góp phần ổn định đời sống, đảm bảo ASXH. Nguồn tài chính dùng để chi trả chế độ cho người lao động được lấy từ NSNN (đối với người lao động nghỉ hưởng BHXH trước ngày 01/01/1995 và thực hiện chế độ hưu trí đối với quân nhân trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ ngày 30/4/1975 trở về trước, có 20 năm trở lên phục vụ quân đội đã phục viên, xuất ngũ) và Quỹ BHXH.

Chi BHXH được thực hiện bởi 2 quá trình là phân phối và sử dụng quỹ BHXH:

– Phân phối quỹ BHXH là quá trình phân bổ các nguồn tài chính từ quỹ BHXH đến các quỹ thành phần.

– Sử dụng quỹ BHXH là quá trình chi tiền từ quỹ BHXH đến đối tượng thụ hưởng hoặc cho từng mục đích sử dụng cụ thể.

d. Quản lý chi bảo hiểm xã hội

Quản lý chi BHXH là hoạt động quản lý công tác chi trả chế độ BHXH có tổ chức, thực hiện theo quy định của pháp luật. Hoạt động được thực hiện bằng hệ thống pháp luật của Nhà nước và các biện pháp hành chính, tổ chức, kinh tế của cơ quan chức năng để đạt được mục tiêu chi đúng đối tượng, chi đủ số lượng và đảm bảo đến tận tay đối tượng thụ hưởng đúng thời gian quy định.

Nhắc đến hoạt động chi BHXH là đề cập đến một loạt các mối quan hệ, gồm: quan hệ giữa Nhà nước, cơ quan BHXH, người lao động và người sử dụng lao động. Trong đó, người lao động và người sử dụng lao động là đối tượng quản lý; chủ thể quản lý chính là Nhà nước và cơ quan BHXH các cấp từ Trung ương tới địa phương; cơ quan quản lý ở trung ương là BHXH Việt Nam, ở địa phương có BHXH các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, BHXH huyện/quận/thành phố trực thuộc tỉnh.

Quản lý chi BHXH có mục tiêu là làm quá trình tổ chức chi trả chế độ thông suốt, chi trả đúng, đủ, kịp thời; hoạt động hoàn thiện mỗi ngày để phục vụ cho người tham gia hưởng các chế độ, đảm bảo ổn định, an toàn xã hội và thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước.

Đây thực chất là hoạt động quản lý các nguồn tiền chi chế độ BHXH nhằm chi đúng chế độ và đúng nguồn kinh phí.

– Các chế độ, khoản chi được chi từ nguồn NSNN:

+ Các chế độ BHXH hàng tháng: Lương hưu (hưu lực lượng vũ trang, hưu công chức viên chức); Trợ cấp theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ (Trợ cấp 91); Trợ cấp mất sức lao động; Trợ cấp TNLĐ – BNN; Trợ cấp công nhân cao su; Trợ cấp phục vụ người bị TNLĐ – BNN; Trợ cấp tuất (định suất cơ bản và định suất nuôi dưỡng).

+ Các chế độ BHXH một lần: Chế độ tuất một lần trong các trường hợp được quy định khi đối tượng trợ cấp mất sức lao động, hưởng lương hưu; người hưởng trợ cấp TNLĐ – BNN hàng tháng đã nghỉ việc qua đời; trợ cấp mai táng khi người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp 91, trợ cấp công nhân cao su và TNLĐ – BNN hàng tháng đã nghỉ việc chết;

+ Tham gia BHYT cho đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp 91, công nhân cao su, TNLĐ – BNN hàng tháng;

+ Hỗ trợ cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình cho người bị TNLĐ – BNN;

+ Lệ phí chi trả;

+ Các khoản chi khác (nếu có).

– Các chế độ, khoản chi được chi từ nguồn quỹ BHXH:

+ Quỹ ốm đau và thai sản: Chi các chế độ ốm đau; thai sản; chế độ nghỉ DSPHSK sau ốm đau, thai sản; lệ phí chi trả.

+ Quỹ TNLĐ – BNN để chi trả các loại trợ cấp: Trợ cấp TNLĐ – BNN hàng tháng; Trợ cấp phục vụ người bị TNLĐ – BNN hàng tháng; Trợ cấp một lần khi bị TNLĐ – BNN và khi chết do TNLĐ – BNN; Cấp dụng cụ chỉnh hình, phương tiện trợ giúp sinh hoạt cho người bị TNLĐ – BNN; Nghỉ DSPHSK sau khi điều trị ổn định thương tật, bệnh tật; Khen thưởng cho người sử dụng lao động thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động, phòng ngừa TNLĐ – BNN; Tham gia BHYT cho người nghỉ việc hưởng trợ cấp TNLĐ – BNN hàng tháng; Lệ phí chi trả.

+ Quỹ hưu trí tử tuất chi trả các chế độ BHXH hàng tháng (bao gồm: Lương hưu của quân đội, hưu công nhân viên chức; Trợ cấp cán bộ xã, phường, thị trấn theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ; Trợ cấp tuất theo định suất cơ bản, định suất nuôi dưỡng); Chế độ BHXH 01 lần (bao gồm: Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu theo Điều 54, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; BHXH 01 lần theo khoản 1, Điều 55, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; Trợ cấp 01 lần trong các trường hợp được quy định khi người hưởng lương hưu, người hưởng trợ cấp TNLĐ – BNN hàng tháng đã nghỉ việc, người lao động đóng BHXH và đang bảo lưu thời gian đóng BHXH qua đời; Trợ cấp mai táng phí khi người hưởng lương hưu, trợ cấp cán bộ xã, người hưởng trợ cấp TNLĐ – BNN hàng tháng đã nghỉ việc, người lao động đang đóng BHXH và đang bảo lưu thời gian đóng BHXH qua đời); Đóng BHYT cho người hưởng lương hưu, trợ cấp cán bộ xã hàng tháng; Lệ phí chi trả.

+ Các khoản chi phí khác (nếu có).

1.1.2. Vai trò của quản lý chi Bảo hiểm xã hội

– Đối với xã hội: Thực hiện tốt quản lý chi BHXH góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

– Đối với hệ thống ASXH: Chính sách ASXH được thực hiện tốt khi công tác quản lý chi diễn ra tốt. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước bền vững.

– Đối với hệ thống BHXH: Góp phần quan trọng trong việc quản lý quỹ BHXH (đặc biệt quỹ tiền mặt) được an toàn, không bị thất thoát, phát triển bền vững.

– Đối với người sử dụng lao động: BHXH là tấm lá chắn giúp họ trong sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất và thu hút được lao động.

– Đối với người lao động: BHXH có vai trò ổn định thu nhập cho người lao động và gia đình họ khi người lao động chẳng may gặp những khó khăn, mất hoặc giảm thu nhập.

1.1.3. Nguyên tắc quản lý chi Bảo hiểm xã hội

– Nguyên tắc đầu tiên của quản lý chi BHXH là chi đúng chế độ, chính sách hiện hành, đúng người được hưởng.

Đúng chế độ, chính sách hiện hành là đúng đối tượng tham gia, đảm bảo nguyên tắc “có đóng – có hưởng”. Thực hiện chi đúng cho đối tượng chính là đảm bảo sự công bằng trong thụ hưởng các chế độ, loại trừ các trường hợp gian lận, giả mạo hồ sơ để trụt lợi quỹ BHXH.

– Bảo đảm giải quyết chi kịp thời và đủ chế độ của người hưởng.

Kịp thời chi trả là nguyên tắc thể hiện vai trò của BHXH trong việc ổn định cuộc sống cho đối tượng tham gia BHXH. Để làm được điều này, cơ quan chức năng phải quy định rõ ràng thời gian chi trả và tổ chức thực hiện chi trả đúng thời gian đó. BHXH các cấp tổ chức các hình thức chi trả kịp thời, thuận lợi, không gây phiền hà cho đối tượng dựa trên cơ sở thời gian đã quy định.

Chi trả đầy đủ chế độ là một trong những nguyên tắc của hoạt động quản lý chi. Cơ quan BHXH phải chi trả đầy đủ các khoản trợ cấp cho đối tượng hưởng chế độ là nội dung chính của nguyên tắc này. Mặt khác, điều này cũng yêu cầu đối tượng tham gia là đóng góp tài chính ít thì được hưởng trợ cấp mức thấp, đóng góp cao thì được hưởng mức trợ cấp cao, tỷ lệ thương tật cao thì được hưởng trợ cấp mức cao và ngược lại.

Xác định đúng tỷ lệ trợ cấp cơ quan chuyên môn phải tổ chức chi trả đủ số tiền cho người được hưởng. Yêu cầu này cần phải quản lý đồng bộ từ khâu xác định tỷ lệ thương tật, bệnh tật đến khâu xét duyệt hồ sơ xác định đối tượng hưởng, mức hưởng, thời gian hưởng và cuối cùng là khâu chi trả.

Thực hiện những nguyên tắc trên tốt đòi hỏi trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào của nền kinh tế, xã hội thì quỹ BHXH cũng phải đảm bảo đầy đủ nguồn lực tài chính để chi trả kịp thời, đầy đủ các chế độ cho đối tượng thụ hưởng.

– Thủ tục chi trả thuận tiện, đơn giản.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, BHXH Việt Nam cùng với BHXH các cấp, trong đó có BHXH tỉnh Kon Tum đã cải cách hành chính tất cả các thủ tục chi trả chế độ BHXH để đảm bảo quy trình giải quyết thục tục đơn giản, thuận tiện cho mọi đối tượng tham gia BHXH tại mọi địa phương.

– Đảm bảo an toàn tiền mặt trong chi trả.

Các nguồn tài chính BHXH dùng để chi chế độ BHXH được quản lý chặt chẽ tại một tài khoản ngân hàng và BHXH khuyến khích tất cả các đối tượng nhận trợ cấp qua tài khoản ngân hàng. Mục tiêu của ngành BHXH năm 2020 có 90% đối tượng nhận trợ cấp thông qua tài khoản ngân hàng; giảm thiểu chi trợ cấp chế độ BHXH bằng tiền mặt tại bưu điện. Đây cũng là một trong những nguyên tắc cần thiết đặt ra với hoạt động quản lý chi nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thất thoát, mất mát nhưng đồng thời cũng giảm được các chi phí, tiết kiệm cho quỹ BHXH

– Chi trả các chế độ BHXH, BHTN được quản lý thống nhất, công khai, minh bạch, công bằng.

Các chính sách, chế độ được ban hành và thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống, trên cả nước. Chế độ “đóng – hưởng” được thực hiện công bằng đối với mọi đối tượng, không có sự phân biệt giới tính, dân tộc, địa giới hành chính, thành phần kinh tế,… Chế độ được thực hiện công khai trong hoạt động chi, có sự thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức xã hội.

Quản lý chi trả các chế độ tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản trên nhằm tránh thất thoát quỹ BHXH, đảm bảo nguồn lực chi trả, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia. Đó cũng là động lực thúc đẩy niềm tin cho mọi người lao động tích cực tham gia BHXH ngày càng nhiều.

1.2. NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.2.1. Lập dự toán chi Bảo hiểm xã hội

– Lập dự toán chi BHXH là xác định kế hoạch chi trả các chế độ do hai nguồn kinh phí (NSNN và Quỹ BHXH) đảm bảo để đủ nguồn chi trả hàng tháng cho các đối tượng thụ hưởng.

– Phải lập dự toán chi BHXH vì để BHXH Việt Nam và các địa phương chủ động quản lý nguồn kinh phí; tránh tình trạng lãng phí hoặc thất thoát Quỹ BHXH và NSNN.

– Nội dung lập dự toán gồm:

+ Xác định đối tượng được hưởng các chế độ dài hạn (gồm, những người hưởng chế độ hưu trí; TNLĐ – BNN; trợ cấp tàn tất; trợ cấp tuất; trợ cấp thất nghiệp) và chế độ ngắn hạn (gồm, những người hưởng chế độ ốm đau, thai sản; trợ cấp mai táng phí; trợ cấp một lần).

+ Xác định mức hưởng: các mức hưởng BHXH phải được xây dựng và tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định, điển hình một vài nguyên tắc như là: Mức trợ cấp phải dựa trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng; Mức trợ cấp phản ánh nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia BHXH; Mức trợ cấp phải bảo đảm mức sống tối thiểu cho người thụ hưởng; Mức trợ cấp phải thấp hơn mức lương hoặc mức tiền công khi đang làm việc của người lao động.

– Để việc lập dự toán được tốt phải:

+ Lập dự toán chi hàng năm của ngành BHXH được thực hiện cùng thời gian lập dự toán NSNN để kịp thời trình cấp có thẩm quyền giao dự toán.

+ Xác định các khoản chi dự kiến theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định. Việc lập, phân bổ và giao dự toán chi hàng năm phải được thực hiện thống nhất theo đúng các quy định, đảm bảo chủ động trong tổ chức thực hiện dự toán.

+ Phù hợp với tình hình thực tế thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu, định hướng phát triển kinh tế – xã hội, tài chính hàng năm của địa phương.

– Tiêu chí đánh giá việc lập dự toán chi tốt: Là sự so sánh giữa tổng chi thực tế với dự toán chi đưa ra theo từng năm.

1.2.2. Tổ chức thực hiện chi Bảo hiểm xã hội

– Tổ chức thực hiện chi BHXH: Cơ quan BHXH có nhiệm vụ tổ chức triển khai thực hiện chi chế độ BHXH, việc chi trả thường được tổ chức theo mô hình thống nhất từ trung ương đến địa phương.

– Phải tổ chức thực hiện chi BHXH nhằm bảo đảm Quỹ BHXH và NSNN cân đối. Thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra của ngành.

– Nội dung tổ chức thực hiện chi BHXH được phân thành 2 cấp quản lý: BHXH tỉnh và BHXH huyện.

Thực hiện chi chế độ theo quy trình chi trả các chế độ BHXH tại Quyết định số 166/QĐ-BHXH ngày 31/01/2019 của BHXH Việt Nam về ban hành quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH, chi trả các chế độ BHXH, BHTN của BHXH Việt Nam.

– Để việc tổ chức thực hiện chi BHXH tốt cần:

+ BHXH tỉnh phân bổ và giao dự toán chi BHXH, BHTN, dự toán chi quản lý BHXH, BHYT, BHTN cho các đơn vị trực thuộc đảm bảo khớp đúng với tổng mức dự toán được BHXH Việt Nam giao. Tổ chức công khai kinh phí được duyệt hàng năm với các cơ sở KCB.

+ Thực hiện đúng Quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH, chi trả các chế độ BHXH, BHTN đầy đủ, kịp thời; đúng chế độ, chính sách; đúng người hưởng. Kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, triển khai dự toán.

– Tiêu chí đánh giá việc tổ chức thực hiện chi BHXH chính xác, phù hợp:

+ Đánh giá dựa trên bảng dự toán năm được duyệt của mỗi đơn vị.

+ Dựa trên hồ sơ giải quyết chế độ đúng quy định theo pháp luật, tốc độ tăng số tiền chi BHXH.

1.2.3. Công tác quyết toán chi Bảo hiểm xã hội

– Công tác quyết toán chi BHXH là việc kiểm tra, tập hợp lại toàn bộ khối lượng, giá trị, tính đúng đắn, hợp lý, hợp lệ,… của tất cả nội dung công việc đã thực hiện (cụ thể là công tác chi BHXH)

– Phải thực hiện công tác quyết toán chi BHXH để đánh giá hiệu quả công việc và căn cứ vào đó làm kế hoạch cho năm kế tiếp; đảm bảo tránh thất thoát quỹ BHXH.

– Nội dung công tác quyết toán chi BHXH gồm: Phản ánh đầy đủ, chi tiết và theo dõi riêng tình hình sử dụng các nguồn kinh phí chi BHXH, BHYT, BHTN được sử dụng.

– Để công tác quyết toán chi BHXH tốt phải đảm bảo thực hiện đúng quy định, biểu mẫu và theo lịch quyết toán như sau:

+ Chế độ hàng tháng: Quyết toán theo số thực chi trả trong tháng trước ngày 10 hàng tháng.

+ Chế độ BHXH một lần: Quyết toán theo số thực chi trả trong tháng trước ngày 05 của tháng liền kề.

+ Chế độ ốm đau, thai sản, DSPHSK: Quyết toán theo số thực chi trả.

+ Đối với số chi BHXH, BHTN đã được duyệt nhưng đến ngày 31 tháng 12 hàng năm, người hưởng chưa đến nhận thì thực hiện theo dõi số tiền chi lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng, một lần mà người hưởng chưa nhận vào sổ sách và các tài khoản ngoại bảng theo quy định.

+ Thu hồi kinh phí chi sai BHXH: Khi có phát sinh thu hồi chi sai, bộ phận Kế toán thực hiện phân tích rõ: số thu năm nay thì được giảm số đã chi tại đơn vị, số thu hồi năm trước thì phải chuyển nộp toàn bộ về BHXH tỉnh. Thuyết minh cụ thể nội dung, nguyên nhân thu hồi chi sai.

– Tiêu chí đánh giá công tác quyết toán chi BHXH tốt:

+ Các báo cáo quyết toán gửi đúng thời hạn, đúng mẫu theo quy định; thông tin số liệu đầy đủ, chính xác.

+ Theo dõi phát hiện kinh phí chi sai và thu hồi kịp thời.

1.2.4. Thanh tra, kiểm tra công tác chi Bảo hiểm xã hội

– Thanh tra, kiểm tra công tác chi BHXH là một công tác quan trọng trong công tác quản lý chi BHXH của ngành, bảo đảm công tác chi diễn ra đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia BHXH thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHXH là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo cho các bên tham gia thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đồng thời đảm bảo quyền lợi hợp pháp của họ cũng như bảo tồn quỹ BHXH, tránh tình trạng trục lợi quỹ.

– Phải thanh tra, kiểm tra công tác chi BHXH để đảm bảo đối tượng thụ hưởng hợp pháp; bảo tồn quỹ BHXH, tránh tình trạng trục lợi quỹ.

– Nội dung của thanh tra, kiểm tra công tác chi BHXH:

+ Việc thực hiện các quy định của pháp luật, hướng dẫn của BHXH Việt Nam về BHXH, BHTN, BHYT của các cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động và cá nhân; công tác quản lý, thực hiện chi trả, thanh quyết toán các chế độ BHXH, BHTN, BHYT;

+ Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, giải quyết tố cáo trong công tác chi trả chế độ theo các quy định của pháp luật và của Ngành đối với cá nhân, tổ chức trong hệ thống BHXH Việt Nam.

+ Hoạt động thực hiện kết luận thanh tra, kiểm tra; công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, kiểm tra đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan.

+ Các nội dung khác theo yêu cầu của người có thẩm quyền ra quyết định thanh tra, kiểm tra.

– Để việc thanh tra, kiểm tra công tác quản lý chi BHXH được tốt cần phải thực hiện các hoạt động sau:

+ Đoàn thanh tra, kiểm tra và các đối tượng thực hiện đúng theo quy định của Quyết định số 1518/QĐ-BHXH ngày 18/10/2016 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quy định hoạt động thanh tra chuyên ngành đóng BHXH, BHTN, BHYT và hoạt động kiểm tra của BHXH Việt Nam; Quyết định số 1300/QĐ-BHXH ngày 04/10/2019 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 1518/QĐ-BHXH ngày 18/10/2016.

+ Thành lập Đoàn kiểm tra cần căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ quản lý và kế hoạch kiểm tra công tác chi.

+ Hoạt động của Đoàn thanh tra, kiểm tra phải tuân thủ pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; trong quá trình tiến hành thanh tra, kiểm tra hải đúng nội dung, phạm vi, đối tượng, thời gian ghi trong quyết định thanh tra, kiểm tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra, kiểm tra.

– Tiêu chí đánh giá việc thanh tra, kiểm tra công tác chi BHXH tốt:

+ Công tác thanh tra, kiểm tra phải thực hiện đúng chương trình, kế hoạch, nội dung, thời gian hợp lý theo đúng kế hoạch đã được phê duyệt.

+ Không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra, kiểm tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra cùng cấp.

+ Đánh giá đúng việc tuân thủ các quy định của Luật NSNN, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam. Đánh giá đúng thực chất toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện và chỉ ra những hạn chế, tồn tại, đưa ra những giải pháp phù hợp hơn,  phòng ngừa và ngăn chặn sai phạm, yếu kém.

+ Sự hợp tác của các bên liên quan trong quá trình thanh tra, kiểm tra; hành động thực hiện kết luận thanh tra, kiểm tra. Công tác chi BHXH được hoàn thiện sau các kỳ thanh tra, kiểm tra.

1.2.5. Xử lý vi phạm trong quản lý chi Bảo hiểm xã hội

– Xử lý vi phạm trong quản lý chi BHXH là xem xét, quyết định áp dụng các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật trong quản lý chi BHXH.

– Phải xử lý vi phạm trong quản lý chi BHXH vì để ngăn chặn hành vi trục lợi quỹ BHXH, gây hậu quả xấu đối với nền ASXH của quốc gia.

– Nội dung của xử lý vi phạm trong quản lý chi BHXH:

+ Dựa trên cơ sở pháp lý trong xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm quyền thụ hưởng BHXH, BHYT, BHTN, như: gian lận trong quá trình đóng bảo hiểm để trụt lợi chế độ BHXH, BHYT, BHTN; làm chứng từ giả trong quá trình hưởng các chế độ BHXH, BHYT, BHTN;…

+ Xác định hành vi phạm tội của tội phạm, các chứng cứ phạm tội: vật chứng, tài liệu giấy tờ; lời khai người làm chứng; lời khai của bị can. bị cáo; kết luận giám định; biên bản khám xét, khám nghiệm,…

– Để việc xử lý vi phạm trong quản lý chi BHXH được tốt thì các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền cần thực hiện theo đúng quy định pháp luật.

– Tiêu chí đánh giá việc xử lý vi phạm trong quản lý chi BHXH tốt:

+ Thực hiện theo kết luận của Đoàn thanh tra, kiểm tra đúng thời gian và nội dung.

+ Cơ quan, tổ chức ra quyết định xử lý vi phạm có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, báo cáo kết quả chấp hành của đối tượng bị xử lý vi phạm.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.3.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội

– Điều kiện tự nhiên:

+ Vị trí địa lý: Địa phương có địa hình đồi núi thì quá trình quản lý chi BHXH thiếu thuận lợi hơn so với các vùng ở đồng bằng. Đối tượng có nhu cầu giải quyết chế độ không thuận tiện trong việc đi lại, cơ quan BHXH cũng vậy, đôi lúc không kịp thời trong việc hỗ trợ vùng sâu, vùng sa.

+ Thổ nhưỡng: Vùng có đất đỏ bazan, đất mềm đến thời gian mùa mưa sẽ gây cản trở trong việc đi lại, có nơi không thể di chuyển sẽ ảnh hưởng đến thời gian giải quyết hồ sơ hưởng trợ cấp bảo hiểm.

+ Khí hậu: Mỗi vùng, miền có từng loại khí hậu khác nhau; có nơi quanh năm đa phần là khí hậu khô hạn, nắng nóng, xảy ra hạn hán; có nơi chỉ có hai mùa nắng, mưa; có nơi xảy ra lũ lụt… tất cả đều xảy ra cản trở cho công tác quản lý chi trả chế độ BHXH vào thời điểm khí hậu thiếu ôn hòa và ngược lại, khí hậu ôn hòa, mát mẻ sẽ thuận lợi trong công tác chi trả

– Điều kiện kinh tế:

+ Cơ cấu kinh tế: Tỉnh, thành có cơ cấu kinh tế ngành Công nghiệp – Xây dựng, Dịch vụ cao cũng góp phần gia tăng số lượng người lao động tham gia BHXH hơn những nơi cơ cấu kinh tế ngành Nông – Lâm – Thủy sản, vì người lao động làm việc tại nhóm ngành Nông – Lâm – Thủy sản đa số là lao động phổ thông, không có chuyên môn, nghiệp vụ, chủ yếu làm theo thời vụ, thiếu tính lâu dài, bền vững và hầu như đều không ký kết hợp đồng lao động.

+ Tốc độ tăng trưởng: Những địa phương có tốc độ tăng trưởng cao, đồng nghĩa là nơi tập trung nhiều Khu Công nghiệp, Chế xuất, các Doanh nghiệp phát triển – lực lượng lao động có xu hướng tìm đến những nơi này, số lượng đối tượng tham gia BHXH đông; công tác quản lý chi trả chế độ ở những nơi này đòi hỏi sự chuyên nghiệp, hiện đại, tích cực cao hơn những địa phương có tốc độ tăng trưởng thấp.

– Điều kiện xã hội:

+ Dân tộc, Dân cư: Đa số người dân tộc thiểu số có trình độ nhận thức và chuyên môn kỹ thuật thấp, chỉ số ít trong họ có kiến thức và hiểu rõ về các chế độ BHXH. Họ sống tập trung ở các vùng, miền núi, những nơi có địa hình hiểm trở; mật độ dân cư rải rác, thưa thớt gây khó khăn trong công tác tuyên truyền, giải quyết chế độ chi trả BHXH. Ngược lại nơi có mật độ dân cư tập trung đông thường là vùng đồng bằng, tốc độ kinh tế phát triển thuận lợi trong quản lý chi BHXH nói chung.

+ Văn hóa, truyền thống: là những yếu tố được gìn giữ lâu đời, nó ăn sâu vào tiềm thức cũng mỗi người dân. Có những nơi có văn hóa nông nghiệp phát triển thì người dân ở đây đều chủ yếu làm nông, họ thiếu kiến thức, không bước ra khỏi rẫy, đồng ruộng, ao cá, vựa tôm,… cũng như chỉ làm các sản phẩm truyền thống nhằm muốn lưu giữ nhưng phần lớn các công việc này thì không ký kết hợp đồng lao động, không tham gia các chế độ BHXH bắt buộc.

+ Lực lượng lao động: Chất lượng của lực lương lao động quyết định đến mục tiêu phủ sóng BHXH trên cả nước của ngành BHXH, lực lượng có chuyên môn, kỹ thuật sẽ tiến vào làm những nơi có chế độ an sinh, phúc lợi tốt, tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn. Lực lượng lao động cao thì trình độ dân trí cao, ý thức, kiến thức về BHXH vững, thuận lợi cho công tác chi trả và quản lý chi. Ngược lại lực lượng lao động thấp, trình độ nhận thức thấp, đôi khi gây cản trở.

Điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quản lý chi BHXH. Thực tế cho thấy khi điều kiện tự nhiên thuận lợi, trình độ dân trí, kinh tế – xã hội phát triển thì quản lý chi BHXH sẽ thuận lợi, bền vững hơn so với những nơi có điều kiện tự nhiên khó khăn, trình độ dân trí thấp, kinh tế – xã hội phát triển chậm.

1.3.2. Hệ thống các văn bản pháp luật, quy định về Bảo hiểm xã hội

Hệ thống các văn bản pháp luật, quy định về BHXH nói chung và chi BHXH nói riêng là công cụ quan trọng để thực hiện việc quản lý chi BHXH. Dựa vào các văn bản pháp luật mà BHXH và các cơ quan ban ngành liên quan mới có cơ sở và quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ trong công tác quản lý chi BHXH.

Thời điểm Nhà nước ban hành một văn bản mới hoặc sửa đổi về chính sách, pháp luật BHXH thì đều có sự tác động tới công tác chi BHXH, điều này đòi hỏi các bộ phận tham gia trong hoạt động chi trả và các cơ quan liên quan phải thường xuyên cập nhật và điều chỉnh một cách chính xác, đảm bảo quyền lợi cho đối tượng tham gia BHXH.

Hệ thống các văn bản pháp luật giúp quản lý hoạt động chi BHXH bao gồm: Luật BHXH, Luật Việc làm, Luật BHYT và các Nghị định, Quyết định, Thông tư, các văn bản hướng dẫn của ngành,…

– Chính sách tiền lương và chính sách, chế độ BHXH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Khi Nhà nước điều chỉnh mức lương tối thiểu chung, lương cơ sở đồng nghĩa với mức hưởng chế độ của người lao động được tăng. Từ năm 1995 đến năm 2019, Nhà nước đã 16 lần điều chỉnh mức lương cơ sở từ 120.000 đồng/tháng lên 1.490.000 đồng/tháng; đồng thời cũng điều chỉnh lương hưu và trợ cấp hàng tháng. Nhà nước tiếp tục ban hành Nghị định số 09/2015/NĐ-CP ngày 22/01/2015 về điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc, tăng 8% mức lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hàng tháng đối với đối tượng quy định tại Điều 1, Nghị định này. Ngày 15/6/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 55/2016/NĐ-CP về điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp hằng tháng và trợ cấp đối với giáo viên mầm non có thời gian làm việc trước năm 1995, nâng mức lương hưu, trợ cấp hàng tháng của nhóm đối tượng này lên 2.000.000 đồng/người/tháng. Do đó nguồn tài chính chi trả chế độ BHXH cũng tăng lên.

– Chính sách lao động, việc làm, BHTN là những chính sách có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH. Chính sách của Nhà nước hợp lý, có tính thu hút thì đối tượng tham gia và thụ hưởng BHXH sẽ tăng và ngược lại chính sách không hợp lý thì sẽ không thu hút được lực lượng lao động tham gia BHXH, dẫn đến quỹ BHXH không phát triển.

– Các chính sách về hưu trước tuổi, tinh giảm biên chế,… cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý chi trả chế độ BHXH.

Tuy nhiên hệ thống văn bản pháp luật tại Việt Nam liên quan đến các chế độ BHXH hiện nay vẫn còn chồng chéo giữa các ngành.

1.3.3. Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý chi Bảo hiểm xã hội

Ứng dụng CNTT trong quản lý chi BHXH là yêu cầu cấp thiết, phục vụ định hướng hiện đại hóa ngành BHXH, đi cùng thời đại công nghệ.

Từ năm 2017, BHXH Việt Nam triển khai thành công hệ thống lưu trữ hồ sơ điện tử ngành BHXH để số hóa tài liệu lưu trữ của ngành; phần mềm giao dịch điện tử trên tất cả các lĩnh vực thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, giải quyết chế độ BHXH, BHTN; hệ thống một cửa điện tử tập trung trên cơ sở phần mềm “Tiếp nhận và quản lý hồ sơ”; cổng thông tin điện tử BHXH Việt Nam là điểm truy cập duy nhất của BHXH Việt Nam trên môi trường Internet cung cấp đầy đủ thông tin hoạt động, chủ trương, chính sách pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN tiếp nhận các yêu cầu giao dịch điện tử, khai thác thông tin, dữ liệu về BHXH, BHYT, BHTN của tổ chức, cá nhân. Đây là một bước tiến lớn của BHXH Việt Nam.

Trên thực tế ứng dụng CNTT trong công tác quản lý chi BHXH đã có những thành công lớn, như: BHXH quản lý chính xác, đầy đủ các đối tượng; mức lương, trợ cấp của từng loại đối tượng; kịp thời xuất danh sách chi trả hàng tháng;… đặc biệt là công tác điều chỉnh lương hưu, trợ cấp cho đối tượng kịp thời, chính xác khi có quyết định của Nhà nước. Do đó việc ứng dụng CNTT có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý chi BHXH.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH KON TUM GIAI ĐOẠN 2016-2019

2.1. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên – kinh tế – xã hội

– Đặc điểm tự nhiên:

Kon Tum có diện tích tự nhiên 9.676,5 km2, chiếm 3,1% diện tích toàn quốc, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam (chiều dài ranh giới 142 km); phía nam giáp tỉnh Gia Lai (203 km), phía đông giáp Quảng Ngãi (74 km), phía tây giáp hai nước Lào và Campuchia (có chung đường biên giới dài 280,7 km).

– Đặc điểm kinh tế:

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2019 ước đạt 14.782 tỷ đồng, tăng 9,96% so với năm trước, trong đó: Khu vực Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản tăng 5,59%; Khu vực Công nghiệp và Xây dựng tăng 15,81%; Khu vực Dịch vụ tăng 9,20%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,05%. Trong tăng trưởng chung 9,96% thì nhóm ngành nông, lâm, thủy sản đóng góp 1,33 điểm phần trăm; nhóm ngành công nghiệp, xây dựng đóng góp 4,26 điểm phần trăm; nhóm thương mại, dịch vụ đóng góp 3,85 điểm phần trăm; nhóm thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,52 điểm phần trăm. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 37,35 triệu đồng năm 2018 lên 41,28 triệu đồng năm 2019. Kinh tế phát triển đạt tốc độ tăng trưởng khá, từng bước tạo lập được các yếu tố bảo đảm cho phát triển nhanh và bền vững.

Bảng 2.1. Cơ cấu kinh tế tỉnh Kon Tum qua các năm 2016-2019

Đơn vị tính: %

Chỉ tiêuNăm 2016Năm 2017Năm 2018Năm 2019
Nông – Lâm – Thủy sản28,6927,9926,5825,65
Công nghiệp – Xây dựng24,3025,4125,7826,76
Dịch vụ39,5839,4139,9539,92
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm7,437,187,247,68

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Kon Tum

Qua bảng 2.1 ta thấy Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: Tỷ trọng ngành Nông – Lâm – Thủy sản giảm dần từ 28,69% (số liệu năm 2016) xuống 25,65% (năm 2019); Tỷ trọng ngành Công nghiệp – Xây dựng tăng từ 24,3% ở năm 2016 lên 26,76% năm 2019; tỷ trọng ngành Dịch vụ được xem là ổn định trong giai đoạn 2016-2019 dao động ở mức 39,58% – 39,92%.

– Đặc điểm xã hội:

Tỉnh Kon Tum hiện có 09 huyện và 01 thành phố trực thuộc tỉnh. Toàn tỉnh có 43 dân tộc sinh sống, dân tộc thiểu số chiếm trên 53% dân số toàn tỉnh. Mật độ dân số còn thấp (khoảng 56 người/km2).

Tình hình dân số của tỉnh có biến động ở giai đoạn 2016-2019 thể hiện ở các chi tiêu của bảng 2.2 dưới đây:

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ chi BHXH

Quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Kon Tum Quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Kon Tum Quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Kon Tum  Quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Kon Tum  Quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Kon Tum Quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Kon Tum  Quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Kon Tum  Quản lý chi Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Kon Tum

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *