Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông

Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông

Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngay từ thuở xa xưa, con người đã biết sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống của mình. Xã hội thay đổi, đời sống con người ngày càng được cải thiện, nhu cầu của con người không ngừng nâng lên. Việc khai thác các nguồn tài nguyên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng ngày càng được con người quan tâm khai thác triệt để. Hậu quả của việc khai thác triệt để đó là ngày nay con người đang phải đối mặt với sự suy giảm mạnh các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong đó có tài nguyên rừng. Tài nguyên rừng đang từng ngày, từng giờ bị tàn phá, sự tái tạo, tính cân bằng tự nhiên của các cánh rừng gần như không còn nữa. Vai trò của rừng là duy trì cân bằng hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta, duy trì tính ổn định, độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt, nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước. Rừng còn là nơi cung cấp những cây gỗ quý, sản vật thiên nhiên, cây thuốc… cho con người. Tuy nhiên trên thực tế nguồn tài nguyên rừng đang dần bị suy thoái. Những năm qua, ở Việt Nam nạn phá rừng, mất rừng, cháy rừng… ngày càng nghiêm trọng, hàng ngàn hécta rừng bị thu hẹp lại. Mất rừng và suy thoái rừng gây nên hiện tượng sa mạc hóa, làm nghèo đất tại nhiều địa phương. Tình trạng đó đã tạo ra hàng loạt các tác động tiêu cực và thách thức sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường như gây ra lũ lụt, hạn hán, gây khó khăn trong việc cung ứng lâm sản, làm giảm diện tích đất trồng khiến tình trạng nghèo đói và thất nghiệp ở nhiều khu vực ngày càng đáng lo ngại, hơn nữa hiện tượng suy thoái rừng đã làm phá vỡ các hệ sinh thái quan trọng khác.

Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã có nhiều thay đổi về quản lý nhà nước (QLNN) trong lĩnh vực bảo vệ rừng (BVR). Luật Lâm nghiệp đã thể chế theo Hiến pháp 2013, Hiến pháp 1992 quy định rừng núi thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước thống nhất quản lý. Hiến pháp 2013 đã nêu rõ, chỉ có tài nguyên rừng sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý. Luật lâm nghiệp số 16/2017/QH14, đã thể chế hóa được 3 chủ trương lớn của các nghị quyết: Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường và Chỉ thị 13-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Xuất phát từ tình hình thực tế hiện tại và yêu cầu phát triển trong tương lai, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum” làm luận văn tốt nghiệp.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ rừng, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum.

2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

– Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về bảo vệ rừng.

– Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum.

– Đề xuất giải pháp chủ yếu mang tính khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý nhà nước về bảo bệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan đến quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum

– Về không gian: Nội dung nghiên cứu được thực hiện tại huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum.

– Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum, giai đoạn 2015 – 2019. Các giải pháp được đề xuất có ý nghĩa trong những năm tới.

4. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Các số liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan quản lý nhà nước của huyện, ngành có liên quan như: Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Chi cục Thống kê tỉnh, Hội đồng nhân dân (HĐND), Uỷ ban nhân dân (UBND), Hạt Kiểm lâm huyện, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNN). Một số dữ liệu được thu thập như sau:

  • Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội trên địa bàn huyện trong giai đoạn 2015 – 2019.
  • Số liệu về quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon PLông giai đoạn 2015 – 2019.

– Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc điều tra khảo sát. Tác giả tiến hành thu thập thông tin bằng phương pháp điều tra gửi bảng câu hỏi thu thập với số lượng khoảng 50 mẫu, đối tượng khảo sát và thu thập thông tin là các cán bộ có liên quan tới quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. (Có phiếu khảo sát kèm theo)

– Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sau khi thu thập số liệu khảo sát và dữ liệu thứ cấp, luận văn sẽ phân tích các số liệu đó để đánh giá tình hình, chuyển biến trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trong giai đoạn 05 năm từ 2015-2019 trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum và tổng hợp, đưa ra kết luận, đánh giá về công tác này.

– Phương pháp phân tích được sử dụng trong việc luận giải, chứng minh nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, trong việc đánh giá tình hình BVR và hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR của huyện Kon Plông thời gian qua cũng như trong việc đánh giá và lựa chọn giải pháp nhằm tăng cường hoạt động này trong thời gian tới.

– Phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu trong việc đánh giá hiện trạng về rừng, tình hình BVR và hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR của huyện Kon Plông.

– Việc tổng hợp, phân tích làm cơ sở để đưa ra các nhận xét, đánh giá trong Luận văn đều đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của từng thời kỳ gắn với điều kiện KT-XH đặc trưng của thời kỳ đó. Các giải pháp và kiến nghị đưa ra là xuất phát từ tình hình thực tế của huyện Kon Plông và có tính đến khuynh hướng phát triển trong tương lai. Chính vì vậy nên phương pháp nghiên cứu của Luận văn là phù hợp với thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng.

5. Bố cục đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về bảo vệ rừng.

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum.

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ BẢO VỆ RỪNG

1.1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG

1.1.1. Khái niệm bảo vệ rừng và quản lý nhà nước về bảo vệ rừng

a. Khái niệm bảo vệ rừng

“Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên” [3, tr.1].

b. Khái niệm quản lý nhà nước về bảo vệ rừng

– Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.

– Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội, thể hiện vai trò và việc thực thi quyền lực của nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhà nước để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.

– Bảo vệ rừng: Bảo vệ rừng là tổng thể các hoạt động của tổ chức và cá nhân tác động vào rừng nhằm phòng, chống những tác động tiêu cực đến rừng để duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng, sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác; bảo tồn đa dạng sinh học và giữ gìn cảnh quan môi trường sinh thái.

– Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng: là quá trình các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước đề ra các chủ trương, chính sách, xây dựng hệ thống văn bản pháp luật và sử dụng nó để điều chỉnh các hoạt động quản lý nhằm đạt được những yêu cầu, mục đích của mình về bảo vệ rừng.

Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông
Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông

1.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về bảo vệ rừng

– Rừng là đối tượng quản lý nhà nước đặc thù

– Đặc trưng về đối tượng chịu sự quản lý của nhà nước về bảo vệ rừng

1.1.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước về bảo vệ rừng

– Bảo đảm sự quản lý tập trung thống nhất của nhà nước

– Bảo đảm sự phát triển bền vững

– Bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các lợi ích

– Đảm bảo tính kế thừa và tôn trọng lịch sử

1.1.4. Vai trò của quản lý nhà nước về bảo vệ rừng

Một là, Sự cần thiết phải tăng cường vai trò của nhà nước về bảo vệ rừng

Hai là, Nhà nước với tư cách là chủ thể đặc biệt tham gia quản lý, bảo vệ rừng bằng việc xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách bảo vệ rừng thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo từng giai đoạn cụ thể.

Ba là, Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng là nhằm thực hiện chức năng quản lý của nhà nước, sự thiết lập và thực thi những khuôn khổ thể chế cùng với những quy định có tính chất pháp quy để duy trì, bảo tồn và phát triển rừng.

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG

1.2.1. Tổ chức bộ máy QLNN về bảo vệ rừng

Cấp tỉnh gồm Sở NN&PTNT (trực tiếp là Chi cục Kiểm lâm) và Sở Tài nguyên và Môi trường.

Cấp huyện gồm phòng NN&PTNT, Hạt Kiểm lâm và phòng Tài nguyên và Môi trường; Ở cấp xã cũng thành lập các bộ phận tương tự.

Chính phủ quy định tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên ngành về lâm nghiệp từ trung ương đến cấp huyện và cán bộ lâm nghiệp ở những xã, phường, thị trấn có rừng.

Tổ chức bộ máy ảnh hưởng trực tiếp và đóng vai trò quan trọng trong công tác QLBVR, đảm bảo sự chỉ đạo, điều hành, tập trung thống nhất của người có thẩm quyền trong công tác quản lý bảo vệ rừng theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy được pháp luật quy định. Qua đó, phát huy được sức mạnh của hệ thống bộ máy từ Trung ương đến địa phương và của các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Tiêu chí đánh giá: (1) Sự phù hợp của bộ máy quản lý; (2) Số lượng cán bộ làm công tác bảo vệ rừng; (3) Chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ rừng; (4) Sự phối hợp giữa các bộ phận và tính hiệu quả trong quá trình thực hiện.

1.2.2. Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật và chính sách về bảo vệ rừng

Nhà nước với tư cách là chủ thể đặc biệt thực hiện việc quản lý tài nguyên rừng, ban hành các quy định pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển nguồn tài nguyên rừng; tổ chức thực hiện các quy định pháp luật và bảo đảm cho các quy định pháp luật đó được thực thi hiệu quả.

Căn cứ vào sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, Huyện ủy, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện; Ủy ban nhân dân huyện đã cụ thể thành Chương trình công tác trọng tâm, Kế hoạch tổ chức thực hiện với 91 đầu việc, phân công cụ thể: cơ quan chủ trì, cơ quan thực hiện, người chỉ đạo, thời gian hoàn thành. Đồng thời giao nhiệm vụ Văn phòng Huyện ủy – Hội đồng nhân dân – Ủy ban nhân dân huyện kiểm tra, đôn đốc, phối hợp thực hiện và hàng tháng tổ chức đánh giá tại cuộc họp thường kỳ làm cơ sở nhận xét, đánh giá cán bộ hàng năm. Thông qua việc này, đã nâng cao được chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, các xã trong thực thi nhiệm vụ được giao.

Việc xây dựng các văn bản QPPL về BVR phải thống nhất, xuyên suốt, không chồng chéo giữa các cơ quan ban hành văn bản cũng như nhất quán giữa các cấp ban hành văn bản. Các văn bản phải thể hiện được ý chí của nhà nước, nguyện vọng của đối tượng khai thác sử dụng rừng, đồng thời nên có sự tham khảo từ các tổ chức quốc tế nhằm tiệm cận với các chuẩn chung của khu vực và thế giới.

* Tiêu chí đánh giá: (1) Số lượng các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành về bảo vệ rừng; (2) Tính phù hợp, kịp thời của các văn bản đã ban hành về bảo vệ rừng; (3) Số lượng và tỷ lệ các xã, các đối tượng đã triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật và chính sách về bảo vệ rừng.

1.2.3. Xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ rừng

a. Việc xây dựng quy hoạch BV&PTR

– Thu thập, phân tích và đánh giá các dữ liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, thực trạng tài nguyên rừng; các chủ trương, định hướng phát triển của quốc gia và các quy hoạch liên quan; đánh giá các nguồn lực hiện có của địa phương, đưa ra các vấn đề cần giải quyết.

– Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch lâm nghiệp kỳ trước.

– Đưa ra các dự báo về nhu cầu và thị trường lâm sản, dịch vụ môi trường rừng, tác động của biến đổi khí hậu, tiến bộ khoa học – kỹ thuật và công nghệ áp dụng trong các hoạt động lâm nghiệp.

– Đánh gia bối cảnh, các mối liên kết ngành và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội đối với ngành lâm nghiệp.

– Xác định quan điểm, mục tiêu phát triển lâm nghiệp.

– Xác định các định hướng về phát triển rừng bền vững; phát triển kết cấu hạ tầng ngành lâm nghiệp; phát triển thị trường, vùng nguyên liệu, chế biến lâm sản.

– Đưa ra các giải pháp và nguồn lực tổ chức thực hiện quy hoạch.

b. Tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch quản lý, bảo vệ rừng

– Đối với quy hoạch, kế hoạch BV&PTR của cả nước, Nhà nước giao cho Bộ NN&PTNN tổ chức chỉ đạo việc thực hiện kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch BV&PTR của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

– Đối với quy hoạch, kế hoạch BV&PTR của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), giao UBND cấp tỉnh tổ chức chỉ đạo việc thực hiện và do Bộ NN&PTNN kiểm tra, đánh giá việc thực hiện.

– Đối với quy hoạch, kế hoạch BV&PTR của huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), giao UBND cấp huyện tổ chức chỉ đạo việc thực hiện; UBND cấp tỉnh quản lý trực tiếp có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá việc thực hiện.

– UBND xã, phường, thị trấn tổ chức chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng của địa phương; UBND cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng của UBND các xã quản lý trực tiếp.

– Việc lập quy hoạch, kế hoạch BV&PTR dựa trên các nguyên tắc: Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển KT – XH, an ninh quốc phòng (ANQP); chiến lược phát triển lâm nghiệp, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước và từng địa phương; Quy hoạch, kế hoạch BV&PTR của các cấp phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của các cấp xã, huyện, tỉnh và cả nước; Đồng bộ với việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

* Tiêu chí đánh giá: (1) Sự phù hợp của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng; (2) Kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng

1.2.4. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng

Một trong những biện pháp quan trọng, được ưu tiên hàng đầu trong công tác quản lý, bảo vệ rừng đó là tuyên truyền. Bởi công tác tuyên truyền có hiệu quả sẽ góp phần nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong công tác quản lý, bảo vệ rừng; thu hút, khuyến khích đông đảo các tầng lớp Nhân dân tích cực tham gia các phong trào, hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng gắn với việc thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương; hạn chế thấp nhất các hành vi gây thiệt hại đến tài nguyên rừng.

Nội dung tuyên truyền: Tuyên truyền về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật, các chương trình, chiến lược, kế hoạch của Nhà nước, của cấp ủy và chính quyền địa phương về công tác quản lý, bảo vệ rừng; Tuyên truyền về các quy định của pháp luật, việc thực thi pháp luật về đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động xâm hại rừng trái phép. Khuyến khích, động viên Nhân dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động khai thác, vận chuyển, cất giữ, mua bán lâm sản trái pháp luật.

Đối tượng tuyên truyền: Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động, lực lượng vũ trang… và tất cả các tầng lớp Nhân dân.

Hình thức tuyên truyền: Tổ chức tuyên truyền trực tiếp tại các điểm dân cư tập trung; Tổ chức hội nghị, tọa đàm, hội thảo chuyên đề…; Mở các trang chuyên mục, đưa tin, phát sóng giới thiệu các văn bản quy định, hướng dẫn các ngành, các cấp nội dung liên quan đến QLBVR; Biên soạn, phát hành tập san, đĩa DVD, VCD để tuyên truyền, phổ biến tại địa bàn….

* Tiêu chí đánh giá: (1) Các hình thức tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng được triển khai; (2) Số lần tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng; (3) Số lượt người tham gia, số pano, tờ rơi được tuyên truyền.

1.2.5. Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng

a. Giao rừng

Giao rừng là một trong các hình thức cơ bản Nhà nước thực hiện việc trao quyền sử dụng rừng cho các đối tượng trong xã hội là các chủ rừng gồm các doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Tùy theo từng loại hình rừng mà Nhà nước giao rừng không thu tiền sử dụng rừng cho các đối tượng phù hợp để quản lý và sử dụng.

b. Cho thuê rừng

Cho thuê rừng là hình thức Nhà nước thực hiện trao quyền sử dụng rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu sử dụng rừng (sản xuất lâm nghiệp; sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí) thông qua hợp đồng cho thuê rừng, có thu tiền sử dụng rừng.

Loại rừng mà Nhà nước cho thuê là rừng sản xuất, là rừng tự nhiên hoặc rừng trồng. Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê rừng có thể trả tiền thuê rừng một lần hoặc hằng năm.

c. Thu hồi rừng: Theo Luật Lâm nghiệp 2017 quy định cụ thể.

Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông
Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông

d. Chuyển mục đích sử dụng rừng

Đối với việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng Nhà nước ta chủ trương không cấm tuyệt đối, nhưng khi chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác cần phải tính toán kỹ lưỡng, chỉ chuyển mục đích sử dụng khi thực sự cần thiết nhằm mục đích đem lại lợi ích cao nhất cho người dân và cộng đồng.

* Tiêu chí đánh giá: (1) Số hộ gia đình, cộng đồng dân cư được giao đất, giao rừng bảo vệ; (2) Số diện tích rừng được chuyển mục đích sử dụng, được thu hồi; (3) Số lượng các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn, quy định thực hiện giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừNg; (4) Diện tích rừng đã giao, đã cho thuê, đã thu hồi.

1.2.6. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực lâm nghiệp

Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật là một trong các biện pháp phòng ngừa có hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật. Qua công tác thanh tra, kiểm tra góp phần hạn chế, răn đe những hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng; giúp phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, phát hiện và xử lý các hành vi sai phạm, kiến nghị biện pháp khắc phục và phòng ngừa, đồng thời phát huy những ưu điểm, các nhân tố tích cực thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Ngoài việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, các giải pháp được đưa ra từ hoạt động thanh tra, kiểm tra còn có tác dụng khắc phục những kẽ hở của các quy định pháp luật, ngăn ngừa tận gốc mầm mống phát sinh những vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng.

* Tiêu chí đánh giá: (1) Số đợt thanh tra, kiểm tra, tuần tra, truy quét và giám sát thường xuyên, đột xuất; (2) Số vụ VPPL về BVR được phát hiện; (3) Khối lượng gỗ vi phạm; Tổng số tiền phạt; (4) Tổng số tiền thu được từ bán đấu giá các tang vật tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG

1.3.1. Nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên

Trồng rừng muốn hiệu quả thì cần phải tìm được loại cây trồng phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu, lượng nước, nhiệt độ độ ẩm, độ dốc của từng loại địa hình…

1.3.2. Nhân tố thuộc về điều kiện xã hội

Các điều kiện xã hội như dân số, mật độ dân số, sự phân bố dân cư, trình độ dân trí, mức sống của xã hội, đào tạo, y tế và thông tin truyền thông đều có những ảnh hưởng nhất định tới công tác quản lý nhà nước về bảo vệ rừng.

1.3.3. Nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế

Điều kiện kinh tế được thể hiện qua quy mô GDP, tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu các ngành trong GDP, thu nhập bình quân trên đầu người, tình hình thu chi ngân sách, tỷ lệ nghèo, số xã nghèo… Bên cạnh các điều kiện kinh tế thì các điều kiện về cơ sở hạ tầng như cơ sở hạ tầng về giao thông, thủy lợi, điện, các cửa khẩu đều có ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bảo vệ rừng.

1.3.4. Nhân tố thuộc về chính sách Nhà nước

Pháp luật chính là một công cụ quan trọng để thực hiện việc quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, trong đó Nhà nước có nhiều quy định liên quan tới chính sách khuyến khích bảo vệ phát triển tài nguyên rừng cụ thể:

– Có chính sách đầu tư, khuyến khích mọi nguồn lực xã hội cho hoạt động lâm nghiệp gắn liền với chính sách phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường, đảm bảo quốc phòng, an ninh.

– Bảo đảm kinh phí và nguồn nhân lực cho hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ.

– Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tham gia vào hoạt động lâm nghiệp.

– Có chính sách tổ chức, hỗ trợ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng sản xuất; hỗ trợ cây giống lâm nghiệp, phục hồi rừng, trồng rừng thay thế, trồng rừng mới; nghiên cứu, áp dụng khoa học công nghệ vào hoạt động lâm nghiệp; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thực hiện dịch vụ môi trường rừng; kết cấu hạ tầng; quản lý rừng bền vững.

– Khuyến khích sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; sản xuất lâm nghiệp hữu cơ; bảo hiểm rừng sản xuất là rừng trồng.

– Bảo đảm cho đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân cư sinh sống phụ thuộc vào rừng được giao rừng gắn với giao đất để sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; được hợp tác, liên kết bảo vệ và phát triển rừng với chủ rừng, chia sẻ lợi ích từ rừng; được thực hành văn hóa, tín ngưỡng gắn với rừng.

1.3.5. Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước về bảo vệ rừng

Sự phát triển của GIS (Hệ thống thông tin địa lí) và ảnh viễn thám đã mở ra nhiều hướng ứng dụng trong nhiều ngành khoa học và quản lý. Đặc biệt đối với lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi trường, công nghệ này hỗ trợ đắc lực cho quản lý cơ sở dữ liệu, phân tích dữ liệu để lựa chọn các giải pháp quản lý, sử dụng bền vững và có hiệu quả tài nguyên.

1.4. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

1.4.1. Kinh nghiệm của huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk

1.4.2. Kinh nghiệm của huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai

1.4.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Kon Plông

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KON PLÔNG

2.1. ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO VỆ RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KON PLÔNG

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội

2.1.3. Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bảo vệ rừng

Ứng dụng công nghệ thông tin được cập nhật và sử dụng các phần mềm bản đồ số; theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, PCCCR, phá rừng trên ứng dụng công nghệ thông tin GIS.

– Ứng dụng ảnh viễn thám quản lý rừng: Ứng dụng ảnh viễn thám và dữ liệu GIS trong quản lý rừng, là giải pháp tối ưu nhất trong việc quản lý tài nguyên rừng, hiện nay nhà nước đã và đang áp dụng ngành khoa học công nghệ viễn thám để theo dõi giám sát rừng.

– Ứng dụng ảnh viễn thám trong quản lý đất đai: Sử dụng ảnh viễn thám vào việc tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính và trên thực địa về diện tích, trữ lượng và chất lượng các loại rừng tại thời điểm kiểm kê và tình hình biến động về rừng giữa hai lần kiểm kê.

– Ảnh viễn thám trong ước tính sinh khối rừng: Ứng dụng ảnh viễn thám trong việc ước tính sinh khối, nhằm hỗ trợ việc tính toán sinh khối rừng một cách nhanh chóng và kịp thời, nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu tính toán trữ lượng sinh khối của thảm thực vật dựa trên ảnh viễn thám như Landsat, SPOT, AVHRR NOAA, ALOS,…

– Ứng dụng ảnh viễn thám trong cảnh báo cháy: Sử dụng ảnh vệ tinh trong bảo vệ rừng luôn thấy được tầm quạn trọng của ngành khoa học & công nghệ này, từ đó phân tích ảnh, đánh giá những bất thường trên diện rộng, để xác định được khu vực khô hạn, độ che phủ thấp… Cảnh báo cháy rừng.

– Ứng dụng GIS và ảnh viễn thám quyết định trong việc bảo vệ tài nguyên: Người dùng hệ thống thông tin địa lý là Cục Kiểm lâm, Chi cục Kiểm lâm, các hạt Kiểm lâm, cán bộ kiểm lâm các huyện, Sở NN&PTNT và các thành phần liên quan khác. Một hệ thống đa người dùng, có cấu trúc “khách-chủ” bao gồm 02 khối: Khối cơ sở dữ liệu (CSDL) GIS và các phần mềm quản trị CSDL; khối thứ hai là khối khách, khối này được vận hành trên các máy trạm của người dùng.

Việc ứng dụng KHCN vào công tác QLBVR của Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã góp phần bảo vệ hiệu quả diện tích rừng hiện có trên địa bàn; hoàn thành chỉ tiêu đưa độ che phủ của rừng lên trên 82,9% theo kế hoạch đặt ra.

2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KON PLÔNG THỜI GIAN QUA

2.2.1. Thực trạng tổ chức bộ máy QLNN về bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông

Tổ chức bộ máy quản lý rừng trên địa bàn huyện Kon Plông bao gồm: UBND huyện với các cơ quan giúp việc như: Phòng NN và PTNT, Phòng TNMT, Hạt Kiểm lâm, UBND các xã là cán bộ địa chính xã, KLĐB xã, Công an xã, Dân quân, Huyện Đội, Các chủ quản lý rừng. (Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý rừng tại Phụ lục 2)

2.2.2. Thực trạng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ rừng

Để thực hiện tốt công tác QLBVR, huyện Kon Plông đã ban hành nhiều văn bản như: quyết định, kế hoạch, chỉ thị, công văn… về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, về phòng cháy, chữa cháy rừng, thực hiện các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản nhằm nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng, chính quyền các xã, thị trấn cũng như phù hợp với điều kiện thực tế trên địa bàn; đồng thời đã chủ động ban hành các văn bản để chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể cho các đơn vị triển khai thực hiện nghiêm túc. Các cơ quan chức năng có liên quan, các đơn vị chủ rừng đã ký kết và thực hiện các quy chế, kế hoạch phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng; trong tuần tra, ngăn chặn, xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng.

Ngoài ra, Hạt kiểm lâm đã tham mưu Huyện ủy, UBND huyện ban hành các văn bản về công tác quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn huyện Kon Plong (kèm theo phụ lục các văn bản chỉ đạo tại phụ lục 3)

2.2.3. Thực trạng xây dựng và ban hành chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ rừng

UBND tỉnh Kon Tum đã chỉ đạo các cấp hoàn thành công tác điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng theo quy định Luật lâm nghiệp năm 2017, Luật quy hoạch năm 2017 và Quyết định số 34/2013/QĐ-UBND ngày 16/8/2013 quyết định phê duyệt Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011 – 2020. (Có bảng số liệu Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp huyện Kon Plông đến năm 2020 kèm theo tại phụ lục 5)

2.3.4. Thực trạng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng

Xác định công tác tuyên truyền luôn là mắt xích quan trọng nhằm góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong công tác QLBVR trên địa bàn. Thư­ờng xuyên chỉ đạo Kiểm lâm địa bàn phối hợp với chính quyền địa phương và cơ quan chức năng tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, phổ biến pháp luật về lĩnh vực QLBVR đến nhân dân thông qua nhiều hình thức như: Công tác truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng loa phát thanh, tuyên truyền trực tiếp tại thôn, làng, xã, tuyên truyền tại các trường học, các cuộc thi tìm hiểu về công tác bảo vệ rừng đã được đẩy mạnh thường xuyên thay đổi nội dung để phù hợp với trình độ dân trí, nhận thức như phong tục tập quán và tình hình thực tế ở địa bàn. (Có bảng số liệu về công tác tuyên truyền về QLBVR giai đoạn 2015-2019 kèm theo tại phụ lục 6)

Qua công tác tuyên truyền, phổ biến những chủ trương, chính sách, quy định mới trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân, đã góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân cùng tham gia bảo vệ rừng. Từ đó, phát huy sức mạnh của cộng đồng khu dân cư trong việc tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\QUAN LY KINH TE\DUONG THI LOAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *