Quản lý nhà nước đối với bảo vệ ĐVHD từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình

Quản lý nhà nước đối với bảo vệ ĐVHD từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình

Quản lý nhà nước đối với bảo vệ ĐVHD từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình

1. Tính cấp thiết của đề tài

Động vật hoang dã (ĐVHD) là một bộ phận quan trọng cấu thành nên đa dạng sinh học của Việt Nam. Tuy nhiên, số lượng ĐVHD đang ngày càng suy giảm nghiêm trọng mà nguyên nhân chủ yếu là do nạn săn bắt, buôn bán trái phép các loài ĐVHD. Theo Báo cáo số 683/BC-KL-QLR ngày 17/12/2014 của Cục Kiểm lâm về Công tác quản lý bảo vệ rừng năm 2014 và Phương hướng nhiệm vụ bảo vệ rừng năm 2015, chỉ tính riêng trong năm 2014, các cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý 432 vụ vi phạm các quy định về quản lý ĐVHD, tịch thu 8.051 cá thể, tương đương 17.473 kg (trong đó có 598 cá thể động vật nguy cấp, quý hiếm). Trên trường quốc tế, Việt Nam hiện được đánh giá là “điểm trung chuyển” và “điểm đến” (tiêu thụ) của các loài ĐVHD. Trong Báo cáo Đánh giá việc tuân thủ và thực hiện cam kết CITES về Hổ, Tê giác và Voi tại 23 quốc gia trong số nhiều quốc gia được coi là có sự phân bố, trung chuyển hoặc tiêu thụ các loài này, tổ chức WWF (Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên) đã đánh giá Việt Nam là một trong các quốc gia có việc thực thi đáng lo ngại nhất với thẻ màu đỏ đối với hai loài Tê giác và Hổ. Nhìn nhận tính nghiêm trọng của tội phạm về ĐVHD và sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD, Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khoá XI đã thông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/6/2013 trong đó đưa ra nhận định: “Đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế – xã hội, sức khoẻ và đời sống nhân dân” và từ đó đưa ra một trong các nhiệm vụ cụ thể, trọng tâm là “Bảo vệ nghiêm ngặt các loài động vật hoang dã,… loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng”.

Trong bối cảnh như vậy, tác giả nhận thấy quản lý nhà nước về bảo vệ ĐVHD hiện nay còn chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này bảo vệ ĐVHD. Chính vì vậy, tác giả chọn vấn đề “Quản lý nhà nước đối với bảo vệ ĐVHD từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình nhằm nghiên cứu các vấn đề chủ yếu từ lý luận đến thực tiễn quản lý của tỉnh Quảng Bình, qua đó rút ra những kiến nghị và các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng quản lý ĐVHD.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu: Luận văn được xây dựng nhằm mục tiêu làm rõ những vấn đề lý luận về động vật hoang dã, sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD, tổng quan và đánh giá những bất cập quản lý nhà nước về bảo vệ ĐVHD từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện nâng cao chất lượng quản lý về bảo vệ ĐVHD.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn giải quyết các số nhiệm vụ cơ bản sau đây:

– Tổng quan những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã;

– Tổng hợp, phân tích vàđánh giá hiện trạng quản lý nhà nước về bảo vệ động vật hoang dã tại tỉnh Quảng Bình;

– Đề xuất những phương hướng và giải pháp tăng cường vai trò của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ ĐVHD.

4. Đối tượng và phạm nghi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận về động vật hoang dã, bảo vệ ĐVHD, pháp luật về bảo vệ ĐVHD; và thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam hiện nay.

4.2. Phạmvi nghiên cứu: Xuất phát từ thực tế khai thác và buôn bán ĐVHD trái phép đang là vấn đề gây bức xúc trong nhiều năm ở phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng, luận văn tập trung nghiên cứu hiện trạng hệ thống chính sách quản lý, xử lý vi phạm, xử lý tang vật các loài ĐVHD.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Đề tài được xây dựng dựa trên phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Phương pháp luận chủ yếu của đề tài là lý luận Mác-xít được sử dụng trong toàn bộ nội dung của luận văn. Chủ nghĩa duy vật biện chứng giúp chúng ta nhìn nhận mọi sự vật và hiện tượng tồn tại trong mối liên hệ phổ biến và chúng luôn vận động, biến đổi, phát triển không ngừng.

5.2. Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp tổng hợp, phân tích: Được sử dụng để xây dựng cơ sở lý luận hoạt động QLNN trong lĩnh vực bảo ĐVHD, xem xét mối quan hệ giữa nội dung QLNN trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động QLNN trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD cũng như đặc điểm của QLNN trong lĩnh vực bảo ĐVHD.

Phương pháp chuyên gia: Đề tài thực hiện phỏng vấn chuyên gia để xem xét và đánh giá các vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay về hoạt động QLNN trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD. Đồng thời, các chuyên gia cũng có nhiều đóng góp, thảo luận để tác giả có thể phát triển các khuyến nghị.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Với việc tổng hợp các lý luận về ĐVHD cũng như nghiên cứu thực trạng QLNN về bảo vệ ĐVHD từ thực tiễn Quảng Bình từ đó đánh giá, đề xuất và hoàn thiện QLNN về ĐVHD của cả nước.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo tốt cho các cơ quan nhà nước hữu quan trong việc hoàn thiện chính sách về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam trong thời gian tới.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 03 chương, gồm các chương sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về bảo vệ động vật hoang dã

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ động vật hoang dã tại tỉnh Quảng Bình

Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ

1.1. Những vấn đề cơ bản về động vật hoang dã

1.2. Những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã

1.2.1. Động vật hoang dã là đối tượng quản lý nhà nước đặc thù

ĐVHD là một thành tố quan trọng, không thể mất đi của hệ sinh thái, thế nhưng ĐVHD trên thế giới cũng như tại Việt Nam hiện nay đang gặp phải nhiều mối đe dọa chính và tiềm tàng do hậu quả của mất sinh cảnh, nạn săn bắt, buôn bán trái phép. Mặc dù vậy, hiện nay nhận thức trong vấn đề bảo vệ ĐVHD vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Chặt phá rừng, cháy rừng, khai thác lâm sản, xây dựng cơ sở hạ tầng và canh tác nông nghiệp là những nguyên nhân chính làm mất sinh cảnh của các loài ĐVHD. Nếu như diện tích rừng tự nhiên trước đây che phủ phần lớn đất nước, hiện tại diện tích rừng Việt Nam chỉ còn lại khoảng 43%. Sinh cảnh bị mất và bị chia cắt bởi việc xây dựng đường xá đã cản đường di chuyển kiếm ăn và cơ hội giao phối trong mùa sinh sản của động vật. Tuy nhiên, nạn săn bắt, buôn bán ĐVHD mới là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều loài ĐVHD nói chung và ĐVHD ở Việt Nam nói riêng. Săn bắt ĐVHD là một hoạt động lao động chủ yếu nhằm đảm bảo sự tồn tại của con người từ hàng nghìn năm trước. Hiện nay, việc săn bắt ĐVHD không nhằm đảm bảo nhu cầu thức ăn của đại đa số con người mà chỉ nhằm phục vụ nhu cầu tiêu thụ của một nhóm những người giàu có, mong muốn tìm kiếm các mặt hàng “đặc biệt”. Tuy nhiên, nạn săn bắt trái phép không kiểm soát đã vượt quá “ngưỡng bền vững” khi mà tốc độ tái tạo quần thể ĐVHD không kịp đáp ứng cho nhu cầu săn bắt ngày càng cao của con người. Tội phạm về ĐVHD đang là một vấn đề nóng được cả thế giới quan tâm.

Chính vì vậy, hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khoá XI đã thông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/6/2013 đã đưa ra nhận định: “Đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế – xã hội, sức khoẻ và đời sống nhân dân” từ đó đề ra một trong các nhiệm vụ cụ thể và trọng tâm là “Bảo vệ nghiêm ngặt các loài động vật hoang dã,… loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng”.

1.2.2. Khái niệm QLNN trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD

QLNN trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD là một bộ phận QLNN nên nó có những đặc trưng vốn có, ngoài ra nó có chủ thể, đối tượng quản lý riêng, có thể khái quát như sau: QLNN trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD là quá trình các chủ thể QLNN xây dựng chính sách, ban hành pháp luật và sử dụng công cụ pháp luật trong hoạt động quản lý nhằm đạt được yêu cầu, mục đích bảo vệ ĐVHD nhà nước đã đặt ra.

1.2.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước trong trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã

+ Bảo đảm sự quản lý tập trung thống nhất của nhà nước;

+ Bảo đảm sự phát triển bền vững;

+ Bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các lợi ích;

+ Đảm bảo tính kế thừa và tôn trọng lịch sử.

1.2.4. Đối tượng quản lý của nhà nước về bảo vệ động vật hoang dã

Chủ thể chịu sự QLNN trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD là tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động bảo vệ ĐVHD; các chủ thể chịu sự quản lý rất đa dạng, thuộc nhiều thành phần kinh tế và mỗi loại hình chủ thể có địa vị pháp lý khác nhau. Trong đó:

– Các chủ rừng là chủ thể chịu sự quản lý chủ yếu bao gồm: các cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân; các tổ chức kinh tế như lâm trường, công ty lâm nghiệp; các ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; các tổ chức, cá nhân nước ngoài được nhà nước giao, cho thuê rừng là chủ thể chịu sự quản lý của nhà nước.

– Các cơ sở gây nuôi và phát triển động vật hoang dã: Hiện nay, ngoài việc để ĐVHD được phát triển một cách tự nhiên, nhà nước ta vẫn cho phép 1 số cơ sở được phép gây nuôi và phát triển các loài ĐVHD giúp phần bảo tồn và đưa ĐVHD tới gần công chúng hơn.

– Các cá nhân, tổ chức có ý định thực hiện hành vi vi phạm về bảo vệ ĐVHD được các cơ quan chức năng phát hiện trong quá trình thanh tra, kiểm tra, nhận được đơn, thư tố giác tội phạm về quản lý ĐVHD. Các đối tượng này sẽ được tiến hành điều tra và chịu mức phạt nếu có sự phát hiện các hành vi vi phạm của mình.

1.3. Nội dung hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ động vật hoang dã

1.3.1. Bộ máy quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã

Hệ thống cơ quan quản lý bảo vệ ĐVHD nằm trong hệ thống cơ quan QLNN nói chung và được tổ chức thống nhất từ trung ương tới địa phương, cơ cấu tổ chức như sau:

* Cấp Trung ương

Chính phủ là cơ quan đứng đầu của hệ thống cơ quan hành pháp, thống nhất quản lý thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước. Chính phủ có toàn quyền giải quyết, quyết định những vấn đề liên quan tới hoạt động QLNN trên phạm vi toàn quốc trong quyền hạn của mình, trong đó có lĩnh vực bảo vệ ĐVHD. Bộ Tài nguyên và môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là hai Bộ được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý bảo vệ ĐVHD. Cụ thể, Bộ Tài nguyên và môi trường quản lý bảo vệ ĐVHD như là một bộ phận trong đa dạng sinh học theo quy định của Luật Đa dạng sinh học; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý các mảng về ĐVHD thuộc rừng và thuỷ sinh.

Tổng cục Lâm nghiệp là cơ quan trực thuộc Bộ NN&PTNT, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ NN&PTNT quản lý Nhà nước và thực thi nhiệm vụ QLNN về lâm nghiệp trong phạm vi cả nước. Cục Kiểm lâm là cơ quan trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp có chức năng tham mưu, giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp thực hiện QLNN về bảo vệ rừng, bảo vệ ĐVHD…, bảo đảm việc thực hiện pháp luật về BV&PTR và quản lý lâm sản thuộc phạm vi QLNN của Tổng cục Lâm nghiệp.

* Cấp Tỉnh

UBND tỉnh thông qua hoạt động chấp hành – điều hành của mình thực hiện chức năng QLNN trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, hành chính – chính trị trong phạm vi địa phương, là cơ quan giúp việc Chính phủ QLNN trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD trên địa bàn quản lý. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Sở NN&PTNT) là cơ quan chỉ đạo chuyên ngành trong lĩnh vực QLNN, chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về mọi hoạt động QLNN về rừng và lâm sản…, đứng đầu là Giám đốc Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm trực thuộc Sở NN&PTNT là cơ quan nòng cốt giúp cho Giám đốc Sở NN&PTNT thực hiện chức năng của mình và tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh xử lý các hành vi vi phạm Luật không thuộc thẩm quyền xử lý của Chi cục Kiểm lâm theo quy định của pháp luật. Cùng trực thuộc Sở NN&PTNT cùng cấp với Chi cục Kiểm lâm là Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản có chức năng tham mưu giúp giám đốc Sở QLNN về lĩnh vực ĐVHD và các lĩnh vực vực khác được quy định trong chức năng và nhiệm vụ trên địa bàn tỉnh.

* Cấp huyện

UBND huyện là cơ quan chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về mọi hoạt động quản lý và bảo vệ ĐVHD trên địa bàn quản lý đứng đầu là Chủ tịch UBND huyện, Hạt Kiểm lâm huyện trực thuộc Chi cục Kiểm lâm là cơ quan tham mưu giúp Chủ tịch UBND huyện thực hiện chức năng quản lý về bảo vệ ĐVHD, tham mưu cho Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm hoặc Chủ tịch UBND huyện, thành phố xử lý các hành vi vi phạm không thuộc thẩm quyền xử lý của Hạt Kiểm lâm huyện theo quy định của pháp luật. Cùng cấp với Hạt Kiểm lâm là Phòng Nông nghiệp trực thuộc UBND huyện, thành phố có chức năng tham mưu, giúp UBND huyện, thành phố thực hiện chức năng QLNN ở địa phương.

* Cấp xã

UBND xã là cơ quan chịu trách nhiệm trước UBND huyện về mọi hoạt động quản lý và bảo vệ ĐVHD trên địa bàn quản lý đứng đầu là Chủ tịch UBND xã, Trạm Kiểm lâm địa bàn chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện và tham mưu cho Chủ tịch UBND xã thực hiện chức năng QLNN về xử lý các hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền của cấp xã theo quy định của pháp luật.

Ở các thôn bản còn có các tổ, đội quần chúng bảo vệ ĐVHD lực lượng tham gia chủ yếu là nhân dân, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các khu rừng thuộc thôn bản đó quản lý, thường xuyên tuần tra phát hiện các hành vi xâm hại tài nguyên rừng, ĐVHD và kịp thời báo cho UBND xã sở tại và Hạt Kiểm lâm huyện để xử lý.

Ở các đầu mối giao thông quan trọng có các Đội Kiểm lâm cơ động trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát lâm sản lưu thông, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm Luật BV&PTR.

Về nguyên tắc quản lý, tất cả các hoạt động săn bắt, vận chuyển, buôn bán, tặng cho, xuất – nhập khẩu, nhập nội từ biển ĐVHD phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và phải đăng ký, được các cơ quan chức năng có thẩm quyền ở trung ương và địa phương theo dõi quản lý. Mọi hành vi săn bắt, vận chuyển, tàng trữ buôn bán, tặng cho, xuất – nhập khẩu, nhập nội từ biển ĐVHD trái phép đều bị nghiêm cấm. Pháp luật cũng xây dựng các quy phạm chuyên biệt để bảo vệ các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm là những loài có nguy cơ tuyệt chủng cao. Nguyên tắc trong việc quản lý đối với loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ là nghiêm cấm mọi hoạt động khai thác, mua bán, tặng cho, vận chuyển.. các loài này vì mục đích thương mại. Đối với các loài ĐVHD khác tuỳ theo mức độ nguy cấp có thể bị hạn chế khai thác hoặc được phép khai thác nếu đáp ứng những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật.

Về nguyên tắc quản lý gây nuôi ĐVHD: Hiện nay pháp luật vẫn quy định cho phép gây nuôi vì mục đích thương mại đối với tất cả các loài ĐVHD nếu đáp ứng những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật. Đối với loài nguy cấp, quý, hiếm, điều kiện và trình tự thủ tục được thực hiện theo quy định của Nghị định 82/2006/NĐ-CP. Đối với một số loài thông thường, quy trình được quy định tại Thông tư 47/2012/TT-BNN. Các loài ĐVHD không được liệt kê trong Thông tư 47/2012/TT-BNN được hiểu là sẽ không được phép khai thác và gây nuôi vì mục đích thương mại. Tuy nhiên, trên thực tế tình trạng gây nuôi các loài không ðýợc liệt kê (sâm cầm, chim sẻ, vịt trời…) vẫn xảy ra trên thực tế và hiện gây khó khãn cho các cõ quan chức nãng do không có cãn cứ xử lý.

1.4. Những nhân tố tác động đến quản lý nhà nước về bảo vệ động vật hoang dã

1.4.1. Nhu cầu trong việc tiêu thụ và sử dụng các sản phẩm liên quan tới động vật hoang dã

Trước thập niên 90 của thế kỷ XX, ĐVHD Việt Nam chủ yếu bị săn bắt, buôn bán sang Trung Quốc và các nước láng giềng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước thì nhu cầu tiêu thụ ĐVHD ở Việt Nam cũng tăng mạnh và ngày càng trở nên phổ biến với rất nhiều hình thức tiêu thụ khác nhau: từ việc ăn các món ăn làm từ ĐVHD, uống rượu ngâm ĐVHD, sử dụng thuốc đông y có nguồn gốc từ ĐVHD hay thậm chí cả việc mua đồ lưu niệm, vật trang trí trong nhà…

Động vật hoang dã và các sản phẩm của ĐVHD được bày bán, tiêu thụ ở khắp mọi nơi: tại nhà hàng, trên đường phố, ở nhà dân, ở các quầy lưu niệm, quán cà phê. Chúng ta có thể nhìn thấy rất nhiều trên các biển quảng cáo, trong thực đơn, trên mạng, biển báo ngoài đường, trên Facebook hay các trang kết nối buôn bán trên mạng.

1.4.2. Ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý

-Ý thức pháp luật là một trong những hình thái của ý thức xã hội, là một trong những biểu hiện của trình độ văn hóa xã hội dưới dạng chung nhất. Ý thức pháp luật là sản phẩm của quá trình phát triển xã hội, chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của các hệ tư tưởng, quan điểm và quan niệm trong xã hội.Việc nâng cao ý thức pháp luật trong bảo vệ ĐVHD từ mọi tầng lớp trong xã hội có ảnh hưởng vô cùng to lớn tới việc quản lý nhà nước trong bảo vệ và phát triển ĐVHD.

-Văn hóa pháp lý là tổng thể các hoạt động hàm chứa các giá trị pháp luật được hình thành trên cơ sở tri thức pháp luật, lòng tin, tình cảm đối với pháp luật và hành vi pháp lý thực tiễn.

1.4.3. Nghiệp vụ kỹ thuật của cán bộ quản lý liên quan tới công tác bảo vệ động vật hoang dã

Nghiệp vụ kỹ thuật của cán bộ là kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình đào tạo, học hỏi và thực tiễn thực hiện các công việc cụ thể. Hiện nay, các đối tượng liên quan tới buôn bán, tiêu thụ ĐVHD thường có những hành vi tinh vi nhằm qua mắt các cơ quan chức năng. Vì vậy, các cán bộ quản lý không có nghiệp vụ và chuyên môn vững vàng sẽ không thể có những phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi này.

1.4.4. Tác động tiêu cực của môi trường

Nắng nóng: Nắng nóng sẽ làm tăng số vụ cháy rừng, các loại bệnh dịch, và mức nhiệt độ trung bình trên hành tinh trong tương lai cũng sẽ tăng theo. Khoảng 50% các loài động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4 độ C.

Băng tan: Khiến cho các tảng băng tăng nhanh hơn, làm mực nước biển và đại dương trên toàn thế giới tăng theo sẽ đe dọa đến nơi cư trú của chính con người và các sinh vật sống trên trái đất.

Bão lụt: Đi kèm với nhiều hậu quả nghiệm trong khác nhau như gây sạc sở đất, lụt trên diện rộng nó là nguyên nhân gây ảnh hưởng tới môi trường sống của các loại sinh vật nói chung cũng như ĐVHD nói riêng.

Hạn hán: Các chuyên gia ước tính tình trạng hạn hán sẽ tăng ít nhất 66% do khí hậu ngày càng ấm hơn. Hạn hán xảy ra thường xuyên sẽ thu hẹp nguồn cung cấp nước, nguồn thức ăn của ĐVHD.

Quản lý nhà nước đối với bảo vệ ĐVHD từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình
Quản lý nhà nước đối với bảo vệ ĐVHD từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH

2.1. Thực trạng tổ chức quản lý nhà nước về bảo vệ động vật hoang dã tại tỉnh Quảng Bình

Tại các khu rừng thì chủ rừng có trách nhiệm bảo vệ, Kiểm lâm là lực lượng có vai trò tham mưu cho các cấp chính quyền ban hành các văn bản điều chỉnh các hành vi liên quan đến bảo vệ ĐVHD và thanh kiểm tra các hoạt động quản lý của chủ rừng. Khi động vật hoang dã trở thành hàng hóa thì Công an và lực lượng quản lý thị trường có trách nhiệm giám sát, kiểm tra hàng hóa này. Động vận hoang dã được xuất hay nhập khẩu thì trách nhiệm quản lý thuộc về lực lượng Hải quan. Ở Quảng Bình hiện nay gồm các cơ quan quản lý ĐVHD như sau:

* Chi cục kiểm lâm: Là cơ quan trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình.Chi cục Kiểm lâm là lực lượng chuyên trách có chức năng bảo vệ rừng, giúp Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình thực hiện quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

Chi cục Kiểm lâm chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo về tổ chức và công tác của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Cục Kiểm lâm thuộc Tổng cục Lâm nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Bình có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

– Tham mưu cho cấp có thẩm quyền về bảo vệ rừng và đảm bảo chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình;

– Tổ chức, chỉ đạo bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh;

– Bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng;

– Tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh;

– Xây dựng lực lượng và bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức kiểm lâm;

– Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong hoạt động kiểm lâm tỉnh.

– Quản lý tổ chức cán bộ, biên chế, kinh phí, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức kiểm lâm theo quy định của pháp luật.

– Chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ; chấp hành chế độ báo cáo, thống kê theo hướng dẫn của Cục Kiểm lâm.

– Thực hiện các nhiệm vụ khác về phát triển lâm nghiệp do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ủy ban nhân dân tỉnh phân công.

* Chi cục khi khác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản: Là cơ quan trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình, có chức năng tham mưu giúp Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình thực hiện chức năng quản lý Nhà nước chuyên ngành về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc phạm vi quản lý của tỉnh; quản lý và đăng kiểm tàu cá trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.

* Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình: Là đơn vị thuộc Tổng cục Hải quan, có chức năng tổ chức thực hiện pháp luật của Nhà nước về hải quan và các quy định khác của pháp luật có liên quan trên địa bàn họat động của Cục Hải quan. Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Hải quan, các quy định khác của pháp luật có liên quan.

* Chi Cục quản lý thị trường tỉnh Quảng Bình: Là cơ quan trực thuộc Sở Công Thương, tham mưu giúp Giám đốc Sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động công nghiệp, thương mại trên địa bàn tỉnh. Chi cục chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Sở Công Thương; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Cục Quản lý thị trường thuộc Bộ Công Thương.

* Lực lượng Công an trên địa bàn tỉnh Quảng Bình tham gia kiểm soát buôn bán ĐVHD chủ yếu là Cảnh sát môi trường vàCảnh sát kinh tế. Với chức năng của cơ quan thừa hành pháp luật, Cảnh sát kinh tế có nhiệm vụ thực hiện các biện pháp đấu tranh ngăn chặn các vi phạm, tội phạm về quản lý kinh tế. Trong lực lược Công an, còn có một số cơ quan Cảnh sát chuyên ngành khác cũng tham gia kiểm soát buôn ĐVHD như: Cảnh sát giao thông, An ninh kinh tế… Trong đó, sự tham gia của Cảnh sát giao thông rất quan trong trong quá trình kiểm soát ĐVHD.

Ngoài các cơ quan nói trên, còn có nhiều tổ chức khác cũng tham gia vào quá trình kiểm soát buôn bán ĐVHD như: Bộ đội biên phòng, cơ quan kiểm dịch động, thực vật…

2.2. Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ động vật hoang dã tại tỉnh Quảng Bình

2.2.1. Thực trạng ban hành các văn bản về quản lý bảo vệ động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Ngày 22 tháng 10 năm 2013, UBND tỉnh Quảng Bình ban hành Quyết định số 2616/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch hành động tăng cường công tác thực thi pháp luật bảo vệ rừng và quản lý động vật hoang dã khu vực Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng và trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2013 – 2015. Như vậy, tính đến thời điểm này thì Quyết định này không còn giá trị mang tính pháp lý.

Ngày 25 tháng 02 năm 2016, UBND tỉnh Quảng Bình đã ban hành công văn số 226/UBND-KTN về việc tăng cường công tác bảo vệ ĐVHD trong đó có chỉ đạo và đề nghị các đơn vị trên địa bàn tỉnh

2.2.2. Thực trạng thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Các đơn vị chức năng trong tỉnh đã và đang tăng cường công tác tuần tra, phát hiện và xử lý các vi phạm liên quan đến quản lý bảo vệ ĐVHD. Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm quản lý ĐVHD được Chi cục Kiểm lâm phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện có hiệu quả. Công tác quản lý các cơ sở nuôi, trại nuôi ngày càng được thực hiện chặt chẽ, từ việc kiểm tra, cấp giấy chứng nhận, hướng dẫn cho các cơ sở gây nuôi sinh trưởng, sinh sản động vật rừng vì mục đích thương mại đến việc tổ chức kiểm soát săn bắn, bẫy bắt, buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã (ĐVHD) trái pháp luật…

Cụ thể, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn 3 huyện Minh Hóa, Bố Trạch, Quảng Ninh, lực lượng kiểm lâm, các ngành chức năng, chủ rừng đã phát hiện, xử lý 489 vụ vi phạm.

Bên cạnh đó, tại 3 huyện này đang có 49 trại nuôi sinh sản, sinh trưởng ĐVHD cấp giấy chứng nhận; 55 nhà hàng, quán ăn ký cam kết, chấp hành nghiêm túc các quy định theo bản cam kết đã ký với cơ quan chức năng về việc không kinh doanh, buôn bán, chế biến bất hợp pháp ĐVHD và các sản phẩm của chúng. Tại Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật thuộc VQG PN-KB đã chăm sóc, cứu hộ 165 cá thể ĐVHD, đã thả về môi trường tự nhiên 76 cá thể…

2.2.3. Thực trạng xử lý tang vật và cứu hộ động vật hoang dã

Trong thời gian qua, các cơ quan chức năng của tỉnh đã phối hợp với các tổ chức xã hội, người dân đã phát hiện, xử lý nhiều vụ vi phạm về bảo vệ ĐVHD. Số vụ vi phạm về bảo vệ ĐVHD trên địa bàn của tỉnh đang có xu hướng gia tăng. Nếu trong năm 2010 chỉ có 19 vụ thì đến năm 2015 đã phát hiện và xử lý 61 vụ. Số vụ tuy có tăng tuy nhiên số lượng cá thể các loài ĐVHD lại có xu hướng giảm. Năm 2010 số cá thể được phát hiện là 725 cá thể thì đến năm 2015 số lượng cá thể chỉ là 7. Điều đó cho thấy tính hiệu quả trong công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội và người dân trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong việc bảo vệ ĐVHD. Các đơn vị trên địa bàn đã kịp thời phát hiện xử lý tại chỗ nhiều cá nhân có hành vi thực hiện việc săn bắt, buôn bán và tàng trữ trái phép ĐVHD.

2.2.4. Thực trạng công tác tuyên truyền nhằm bảo vệ động vật hoang dã

Chi cục Kiểm lâm thực hiện các chức năng tổ chức thông tin tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ ĐVHD.

Các hoạt động tuyên truyền được tổ chức sâu rộng trong toàn thể quần chúng nhân dân. Các đơn vị thường xuyên xây dựng kế hoạch về các chương trình phổ biến về chủ trương, chính sáchvới các tổ chức, đoàn thể như Hội phụ nữ, Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên,v.v..

Các hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật bảo vệ ĐVHD được tổ chức nhiều hình thức như: lớp học cuối tuần, lớp học buổi tối, các khóa tập huấn, các cuộc thi tìm hiểu, các hội thi về bảo vệ ĐVHD.

Quản lý nhà nước đối với bảo vệ ĐVHD từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình
Quản lý nhà nước đối với bảo vệ ĐVHD từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình

CHƯƠNG 3

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LĨNH VỰC BẢO VỆ

ĐỘNG VẬT HOANG DÃ

3.1. Mục tiêu và phương hướng tăng cường quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã

3.1.1. Mục tiêu tăng cường quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã

3.1.1.1. Mục tiêu chung

Tiếp tục thực hiện nghiêm túc và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với việc đảm bảo số lượng, chất lượng phát triển ĐVHD. Đảm bảo việc gây nuôi và kinh doanh ĐVHD đáp ứng đủ các điều kiện an toàn cho con người và môi trường; hạn chế thấp nhất các vụ vi phạm trong quản lý, bảo vệ và phát triển ĐVHD.

3.1.1.2. Mục tiêu cụ thể

– Phấn đấu 100% các cán bộ, cộng tác viên có liên quan tới ĐVHD có hiểu biết và nắm rõ các quy định của pháp luật, nhà nước về bảo vệ ĐVHD.

– Phấn đấu 100% các doanh nghiệp, tổ chức, các cơ sở gây nuôi, vận chuyển, kinh doanh chế biến và xuất khẩu các sản phẩm từ động vật hoang dã nắm rõ các quy định của nhà nước về quy định quản lý và gây nuôi động vật hoang dã.

– Phát hiện, xử lý nghiêm và xóa bỏ hoàn toàn các địa điểm, các trường hợp kinh doanh động vật hoang dã trái phép.

– Ngăn chăn, xử lý kịp thời các vụ buôn bán, vận chuyển trái phép ĐVHD trong nước và từ nước ngoài vào Việt Nam. Công tác giải cứu, cứu hộ ĐVHD được thực hiện kịp thời đảm bảo số lượng, chất lượng và thời gian hoàn thiện hồ sơ liên quan tới việc thả ĐVHD về tự nhiên được rút ngắn.

– Tất cả các cơ sở gây nuôi, cứu hộ, kinh doanh động vật hoang dã đảm bảo các điều kiện về an toàn chuồng trại, môi trường theo đúng quy định của pháp luật.

3.1.2. Phương hướng tăng cường quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã hiện nay

3.1.2.1. Tăng cường quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã phải dựa trên đường lối của Đảng, nhà nước

3.1.2.2. Tăng cường quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã phải đảm bảo chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ động vật hoang dã.

3.1.2.3. Đảm bảo ổn định số cá thể động vật hoang dã hiện có và phát triển số cá thể đó cả về số lượng và chất lượng.

3.2. Những giải pháp tăng cường vai trò của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã

3.2.1. Tổ chức thống kê điều tra, giám sát động vật hoang dã định kỳ

Tổ chức thống kê điều tra, giám sát ĐVHD gồm các nội dung chủ yếu như sau:

– Thống kê điều tra về thành phần loài, hay còn gọi là điều tra khu hệ động, thực vật. Đây là quá trình khảo sát thực địa nhằm cung cấp những thông tin về số lượng loài hiện có và sự phân bố của chúng trong các sinh cảnh khác nhau. Kết quả của cuộc điều tra như vậy sẽ cũng cấp một bản danh mục các loài có mặt trong khư vực theo hệ thống phân loại và một bản đồ phân bố các loài chủ yếu.

– Điều tra trữ lượng: là các hoạt động ngoại nghiệp khó khăn, đòi hỏi kỹ năng, kinh nghiệm và nguồn lực nhiều hơn. Các thông tin quan trọng từ các cuộc điều tra này sẽ trả lời cho các câu hỏi, các loài đó có bao nhiêu cá thể trong khu vực và phạm vi nghiên cứu.

– Giám sát định kỳ: là quá trình theo dõi diễn biến số lượng, sinh trưởng và phát triển của động, thực vật. Quá trình này sẽ giúp cho các nhà quản lý có thể nắm bắt tình hình phát triển của động, thực vật một cách đầy đủ nhất. Trên cơ sở đó, có những giải pháp, những thay đổi cần thiết để tăng tính hiệu quả của hoạt động quản lý đối với phục hồi sinh cảnh, bảo tồn ĐVHD.

3.2.2. Xây dựng và hình thành các trung tâm, mô hình nghiên cứu gây, nuôi và phát triển động vật hoang dã

– Hiện nay nước ta có 2 Trung tâm cứu hộ ĐVHD là: Trung tâm cứu hộ ĐVHD Sóc Sơn, Hà Nội và Trung tâm cứu hộ Linh Trưởng, Vườn quốc gia Cúc Phương, Hà Nội. Trong thời gian tới hình thành Trung tâm cứu hộ ĐVHD đầu tiên ở niềm Nam được đặt tại khuôn viên của Hạt Kiểm lâm Củ Chi, An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TP.HCM. Các Trung tâm cứu hộ ĐVHD đều đặt ở Hà Nội như vậy quá trình vận chuyển từ các tỉnh miền Trung, miền Nam ra các Trung tâm này sẽ mất nhiều thời gian gây ảnh hưởng tới việc đảm bảo sự sống của ĐVHD. Việc hình thành các Trung tâm cứu hộ ĐVHD ở miền Trung và miền Nam là cần thiết và cần sớm được nghiên cứu, hình thành các trung tâm này.

– Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nghiên cứu gây, nuôi và phát triển các loài ĐVHD trong môi trường có kiểm soát. Các đơn vị chức năng cần làm tốt việc cung cấp tài liệu, hướng dẫn kỹ thuật, thủ tục pháp lý cho các tổ chức, đơn vị và cá nhân này. Việc nghiên cứu gây, nuôi và phát triển động vật hoang dã phải được tổ chức quản lý theo đúng các quy định tại Nghị định số 82/2006/NĐ-CP ngày 10/8/2006 của Chính phủ.

– Xây dựng và hình thành các quy trình gây nuôi, sinh sản, phòng, chống dịch bệnh cho các loài ĐVHD.

– Xây dựng quy định đảm bảo điều kiện an toàn cho con người, môi trường trong việc gây nuôi ĐVHD.

– Xây dựng hệ thống tiêu thụ sản phẩm do gây nuôi ĐVHD.

3.2.3. Tạo điều kiện thuận lợi về việc làm đối với những hộ dân gần rừng để giảm áp lực đến rừng

– Thống kê các hộ dân gần rừng, từ đó tuyên truyền vận động người dân tham gia bảo vệ rừng, bảo vệ ĐVHD, phát hiện và tố giác những đối tượng gây nguy hại đến rừng, đến ĐVHD.

– Đối với các hộ dân gần rừng đang gặp khó khăn trong vấn đề kinh tế cần có sự hỗ trợ về việc làm phù hợp đối với những hộ gia đình này, có những chính sách ưu tiên, hỗ trợ con em họ trong việc tới trường.

3.2.4. Mở rộng sinh cảnh cho các loài động vật hoang dã thông qua việc tăng cường trồng rừng phủ xanh đất đồi trọc

– Cần nghiên cứu và xây dựng các mô hình hướng tới các nội dung chính gồm: Giao đất, giao rừng cho hộ, nhóm hộ, hoặc các cộng đồng thôn, xóm để quản lý bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng;

– Hướng dẫn nhóm hộ, cộng đồng cùng nhau bàn bạc xây dựng quy ước về bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững rừng của họ;

– Thiết lập bộ máy quản lý, điều hành của cộng đồng hoặc của nhóm hộ gia đình; Xây dựng quy chế quản lý;

– Lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng, gồm kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm; triển khai thực hiện các hoạt động QLR cộng đồng, nhóm hộ; cộng đồng tổ chức giám sát đảm bảo thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, theo quy ước của cộng đồng ;

– Tổ chức đánh giá hiệu quả đem lại trong quá trình thực hiện (thay đổi về thu nhập các hộ gia đình; thay đổi về độ che phủ so với trước; sản lượng trên đơn vị diện tích; cháy rừng, sâu bệnh hại…); rút bài học kinh nghiệm, bổ cứu và nhân rộng mô hình ra nhiều địa phương khác.

3.2.5. Tổ chức thực hiện đúng và xử lý nghiêm minh đối với những hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý bảo vệ động vật hoang dã

* Đối với hoạt động quản lý bảo vệ ĐVHD

Thứ nhất, tăng cường kiểm soát nguồn gốc, cứu hộ, kiểm dịch và thả lại môi trường tự nhiên các ĐVHD nguy cấp quý hiếm thông qua việc xây dựng và áp dụng các hướng dẫn kỹ thuật và trình tự thủ tục liên quan và dựa trên việc xem xét tham khảo các hướng dẫn kỹ thuật của IUCN và các tổ chức quốc tế khác;

Thứ hai, xây dựng hệ thống các quy trình, hướng dẫn kỹ thuật cụ thể đối với các cơ sở gây nuôi ĐVHD nguy cấp, quý hiếm, được ưu tiên bảo vệ như tiêu chuẩn chuồng trại, chăm sóc, ăn uống, thú y… bao gồm cả tiêu chuẩn xác định cơ sở gây nuôi vì mục đích bảo tồn hay vì mục đích thương mại.

Thứ ba, tăng cường tiến hành rà soát lại việc triển khai các chương trình kiểm soát ĐVHD trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tăng cường thanh tra, kiểm tra các cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, xử lý nghiêm các hoạt động gây nuôi ĐVHD trái quy định hiện hành của pháp luật.

Thứ tư, cần nghiêm cấm các trang trại tiến hành gây nuôi các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ vì mục đích thương mại và có những hình phạt nghiêm khắc dành cho những chủ trang trại vi phạm các quy định pháp luật về bảo vệ ĐVHD.

Thứ năm, cần xây dựng các chương trình bảo tồn ĐVHD nguy cấp quý hiếm cụ thể theo từng mốc thời gian, có thể tiến hành thông qua các kế hoạch 5 năm hoặc 10 năm. Ngoài ra, cần tăng cường khảo sát, đánh giá hiện trạng, phân bổ ĐVHD để đề xuất đưa vào hoặc loại bỏ các loài ĐVHD trong các danh mục ĐVHD nguy cấp, quý hiếm.

* Đối với hoạt động xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD

Thứ nhất, cần đặt vấn đề đấu tranh chống tội phạm về ĐVHD là một vấn đề quan trọng của quốc gia. Từ đó, đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật làm cơ sở cho quá trình thực thi pháp luật về ĐVHD. Đồng thời, các Bộ, ban, ngành Trung ương kịp thời hướng dẫn, giải quyết các vướng mắc của cơ quan chức năng địa phương trong quá trình thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD.

Thứ hai, tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực thi pháp luật về săn bắt, tiêu thụ, vận chuyển, kinh doanh bất hợp pháp ĐVHD, nguy cấp quý hiếm thông qua việc xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra định kỳ, đột xuất đối với các lực lượng thực thi pháp luật trực tiếp liên quan đến săn bắt, tiêu thụ, vận chuyển, kinh doanh bất hợp pháp ĐVHD để tăng cường trách nhiệm, thực thi đúng đắn pháp luật, tránh tình trạng tiêu cực, có sự tiếp tay của cán bộ chuyên ngành trong các vụ việc vi phạm về ĐVHD. Thậm chí trong một số trường hợp, các cán bộ thi hành pháp luật chính là những kẻ trực tiếp vi phạm.

Thứ ba, thường xuyên tiến hành các chiến dịch truy quét tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật về săn bắt, tiêu thụ, vận chuyển, kinh doanh bất hợp pháp ĐVHD. Đặc biệt, cần tập trung nguồn nhân lực vật lực để tiến hành điều tra, xử lý các đường dây buôn bán ĐVHD xuyên quốc gia.

* Hoạt động xử lý tang vật và cứu hộ dộng vật hoang dã

Thứ nhất, cần có hướng dẫn cụ thể về cách thức xử lý tang vật là ĐVHD còn sống và xây dựng các quy trình, hướng dẫn kỹ thuật cụ thể về cứu hộ ĐVHD là tang vật các vụ vi phạm.

Thứ hai, tăng cường cơ sở vật chất và tài chính cho các Trung tâm cứu hộ ĐVHD bằng nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài hoặc hợp tác quốc tế như mô hình Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam (Cục Kiểm lâm đại diện Chính phủ Việt Nam đóng góp quyền sử dụng đất, tổ chức động vật châu Á hỗ trợ nguồn vốn xây dựng cơ sở vật chất và kĩ thuật vận hành hoạt động của Trung tâm). Thu hút có chọn lọc nguồn kinh phí của các doanh nghiệp tư nhân để xúc tiến xây dựng mô hình công viên bán hoang dã nhằm bảo tồn một số loài ĐVHD phù hợp cũng như kết hợp du lịch, giáo dục môi trường và phát triển kinh tế.

3.2.6. Nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền các cấp và sự tham gia của các ngành, tổ chức xã hội về bảo vệ động vật hoang dã

Đối với chủ rừng:

– Chủ rừng chịu trách nhiệm bảo vệ rừng được Nhà nước giao, cho thuê theo quy định hiện hành của pháp luật. Bên cạnh đó, chủ rừng có trách nhiệm quản lý các ĐVHD trong khu rừng của mình.

– Khi nhận thấy có các dấu hiệu về sự xâm phạm tới rừng và các loài ĐVHD trong rừng, chủ rừng cần báo cáo kịp thời các cơ quan chức năng để ngăn chặn và xử lý kịp thời.

Đối với các tổ chức xã hội:

Phối hợp với chính quyền các cấp xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình tuyên truyền, vận động và giáo dục pháp luật về bảo vệ ĐVHD cho các thành viên; phát hiện, đấu tranh, phòng ngừa các hành vi vi phạm phát luật; tổ chức các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ và phát triển ĐVHD.

Đối với các Bộ ngành và UBND các cấp:

Cần thực hiện nghiêm túc, trách nhiệm và quyết liệt chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 20 tháng 02 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo và thực hiện các biện pháp kiểm soát, bảo tồn các loài ĐVHD.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HANH CHINH\PHAM HONG KHANH\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *