Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái

Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái

Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngân sách nhà nước (NSNN) là khâu cơ bản, chủ đạo và quan trọng nhất của hệ thống tài chính quốc gia và là một trong những công cụ quan trọng để nhà nước bảo đảm nguồn lực cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội (KTXH), điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Ngân sách cấp xã (gọi tắt là ngân sách xã – NSX) là một khâu ngân sách cơ sở, liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ phát triển KTXH của hơn 10 nghìn đơn vị chính quyền cấp cơ sở trong cả nước với tổng mức chi hàng năm lên nhiều nghìn tỷ đồng. Đây là cấp chính quyền cơ sở, cấp cuối cùng trong hệ thống chính quyền địa phương, là cầu nối trực tiếp với người dân, nắm bắt, giải quyết các tâm tư nguyện vọng của nhân dân, đồng thời cũng là cơ quan tổ chức và triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Để đảm bảo thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ của mình, cấp xã được bố trí nguồn lực tài chính từ NSNN – NSX. Vấn đề quản lý nguồn NSX như thế nào để báo đảm sử dụng nguồn lực to lớn này có hiệu quả. Do vậy, việc quản lý nhằm nâng cao hiệu hiệu quả sử dụng NSX có ý nghĩa to lớn cả về tài chính, kinh tế, xã hội và chính trị cả nước.

Là một đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố Yên Bái có 15 đơn vị hành chính cấp xã với tổng NSX cân đối hằng năm lên tới gần 80 tỷ đồng. Thời gian qua, quản lý NSX có nhiều chuyển biến từ khi Luật NSNN 2015 có hiệu lực và đặc biệt là từ sau khi có Nghị quyết số 07 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công. Quản lý NSX trên địa bàn thành phố Yên Bái đã đạt được nhiều kết quả tích cực, từ quản lý thu, chi đến kiểm tra, kiểm soát phân bổ và sử dụng NSX. Nhờ đó, hoạt động NSX trên địa bàn đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần bảo đảm nguồn lực cho bộ máy quản lý thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vị, thúc đẩy phát triển KTXH của địa phương.

Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, hiện vẫn còn không ít những khó khăn, hạn chế trong quản lý NSX trên địa bàn thành phố Yên Bái. Vẫn còn tình trạng phân bổ NSX chưa thật phù hợp với Mục lục NSNN; quản lý thu, chi NSX có lúc, có nơi còn thiết chặt chẽ; việc lập dự toán NSX chưa sát thực do thời gian lập và thẩm định dự toán ngắn; vẫn còn tình trạng chưa thực hiện tốt những nội dung mà Luật NSNN quy định, đặc biệt là thời gian lập, chấp hành dự toán ngân sách chưa gắn kết với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, nguồn lực ngân sách được sử dụng còn kém hiệu quả; năng lực, trình độ của cán bộ làm công tác chuyên môn về tài chính và quản lý tài chính còn có những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý NSX.

Bối cảnh hiện nay đang đặt ra nhiệm vụ tiếp tục hoàn thiện quản lý NSNN nói chung và NSX nói riêng theo quan điểm, định hướng của Đảng như được đề ra tại Nghị quyết số 07 năm 2015 của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, cùng với những yêu cầu về hoàn thiện quản lý NSNN nói chung và quản lý NSX theo đúng Luật NSNN năm 2015 và pháp luật, chính sách của Nhà nước trung ương và chính quyền địa phương đang đặt ra rất cấp bách. Vì vậy, việc nghiên nhằm tìm giải pháp hoàn thiện quản lý NSX ớ thành phố Yên Bái có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với phát triển KTXH địa phương. Đó cũng là lý do của việc lựa chọn vấn đề “Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái” làm đề tài luận văn thạc sỹ ngành Quản lý kinh tế.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý thuyết và thực tế về NSX giai đoạn 2016 – 2020 đề xuất một số giải pháp đổi mới quản lý NSX nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý NSNN, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tiêu cực trong thu, chi NSX ở thành phố Yên Bái giai đoạn 2021 – 2025.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

– Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tế về quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố trực thuộc tỉnh.

– Phân tích thực trạng quản lý NSX ở thành phố Yên Bái giai đoạn 2016 – 2020, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và những nguyên nhân chủ yếu.

– Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu đề tài là quản lý NSX, bao gồm quản lý thu và quản lý chi theo chu trình quản lý NSNN cấp xã.

Chủ thể quản lý NSX ở đây là UBND thành phố Yên Bái cùng UBND cấp xã với sự giúp việc của các cơ quan tài chính như Phòng Kế hoạch – Tài chính, Kho bạc nhà nước (KBNN) thành phố.

Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: quản lý thu, chi NSX được tiếp cận theo chu trình sau: chuẩn bị và lập dự toán NSX; Thẩm tra và phê chuẩn dự toán NSX; chấp hành NSX; quyết toán NSX; kiểm tra, giám sát NSX.

Về không gian: NSNN với tư cách đối tượng quản lý giới hạn trong khuôn khổ ngân sách thuộc thẩm quyền quản lý và sử dụng của NSX. Trong luận văn, không đề cập đến phần NSNN của Trung ương và cấp Tỉnh, cấp Huyện ủy quyền quản lý.

Về thời gian: Việc nghiên cứu thực trạng quản lý NSX giai đoạn 2016 – 2020; phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý NSX ở thành phố Yên Bái giai đoạn 2021 – 2025.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

– Cơ sở lý luận: Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về quản lý tài chính công.

– Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng phương pháp phân tích tư liệu, tài liệu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội thành phố Yên Bái; tình hình quản lý NS các xã/phường của thành phố Yên Bái giai đoạn 2016-2020 để phân tích, nghiên cứu, so sánh. Luận văn cũng xem xét chủ thể nghiên cứu trong mối quan hệ tương quan logic, biện chứng với các vấn đề khác để giúp luận văn có tính ứng dụng cao hơn.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

– Ý nghĩa khoa học:

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở bổ sung và làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách cấp xã tại địa phương.

– Ý nghĩa thực tiễn:

Các giải pháp, kiến nghị của luận văn trực tiếp góp phần hoàn thiện quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái.

Luận văn khi hoàn thành là tài liệu tham khảo cho các cơ quan và cá nhân có chức năng quản lý ngân sách cấp xã.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương, 9 tiết.

Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái
Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái

Chương 1CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KINH NGHIỆM THỰC TẾ VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CẤP XÃ

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN SÁCH CẤP XÃ

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và nội dung của ngân sách cấp xã

1.1.1.1. Khái niệm NSNN

Ngân sách xã là một bộ phận của NSNN, là cấp ngân sách cơ sở. Theo Luật NSNN năm 2015 quy định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước” [5].

Theo quy định tại Điều 6 Luật NSNN, hệ thống NSNN nước ta gồm ngân sách Trung ương (NSTW) và ngân sách địa phương (NSĐP); NSĐP gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương. Ngân sách cấp xã thuộc NSĐP, là ngân sách của cấp chính quyền cơ sở (như Sơ đồ 1.1.)

Ngân sách nhà nước

Ngân sách trung ương

Ngân sách địa phương

Ngân sách cấp tỉnh

Ngân sách cấp huyện

Ngân sách cấp xã

  1. Hình 1.1. Sơ đồ hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam

Nguồn: Tác giả tự xây dựng theo quy định pháp luật hiện hành

Qua Hình 1.1 có thể thấy NSNN bao gồm NSTW và NSĐP, trong đó NSĐP bao gồm ngân sách của ba cấp chính quyền địa phương:

– Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và của các huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh;

– Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là NSX);

– NSX là là cấp ngân sách cơ sở gắn với xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) trong hệ thống tổ chức chính quyền bốn cấp ở nước ta.

Như vậy, NSX là toàn bộ các khoản thu, chi của chính quyền cấp xã đã “được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.

Xét về bản chất thì NSX là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ của chính quyền nhà nước cấp xã nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao. NSX là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất, phương tiện vật chất để chính quyền cấp cơ sở thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình trong khuôn khổ đã được phân công, phân cấp quản lý để phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo việc chấp hành pháp luật, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã.

Từ quan niệm như trên, có thể rút ra một số đặc điểm của NSX như sau:

Một là, NSX gắn với chính quyền cấp cơ sở và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cấp xã, bao gồm các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của Nhà nước và chức năng, nhiệm vụ QLNN của xã; đồng thời, gắn với đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư, trình độ quản lý của chính quyền cấp xã.” Quy mô ngân sách mỗi xã không lớn nhưng tổng ngân sách cẩp xã trong cả nước thì rất lớn.

Hai là, đặc điểm về nguồn thu. Nguồn thu của NSX do luật định với các nguồn tương đổi ổn định, gắn với các nguồn thu tại chỗ trên địa bàn như quy định tại Điều 39 Luật NSNN: thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước bạ nhà, đất. Một số nguồn thu NSX được phân chi theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa các cấp ngân sách của NSĐP. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu NSX do HĐND cấp tỉnh xác định vào cuối thời kỳ ổn định ngân sách trước đó, căn cứ vào tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia do Chính phủ giao và các nguồn thu NSĐP được hưởng 100%.

Ba là, đặc điểm về nhiệm vụ chi NSX. Chi NSX gắn với bảo đảm nguồn lực cho bộ máy chính quyền cấp xã và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ ở địa phương. Quy mô chi NSX ở mỗi đơn vị cấp xã khá nhỏ; trong cơ cấu chi NSX, chi thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ yếu. Chẳng hạn, chi thường xuyên NSX ở thành phố Yên Bái giai đoạn 2016 – 2020 chiếm trung bình 86,68%, so với chi thường xuyên ngân sách cả nước khoảng 68%. Một số nhiệm vụ chi NSNN không có trong chi NSX, chẳng hạn tại Điều 39 Luật NSNN quy định: “ngân sách cấp xã không có nhiệm vụ chi nghiên cứu khoa học và công nghệ” [5]. Ngoài ra, theo quy định pháp luật, tài Điều 5 Thông tư 344 của Bộ Tài chính quy định: “…chi không vượt quá nguồn thu được hưởng theo quy định; không được đi vay hoặc huy động, chiếm dụng vốn của các tổ chức, cá nhân dưới mọi hình thức để cân đối ngân sách xã” [9].

Bốn là, NSX mang tính chất lưỡng tính. Theo phân cấp NSX không có đơn vị dự toán trực thuộc nên là đơn vị dự toán đặc biệt nên quá trình tổ chức lập và chấp hành, quyết toán ngân sách cũng bị ảnh hưởng và chi phối rất lớn. NSX tự cân đối thu chi thông qua việc vừa tạo nguồn thu vừa trực tiếp chi tiêu nên nó mang bản chất lưỡng tính. Việc khai thác trực tiếp các nguồn thu hiện có trên địa bàn được thực hiện trực tiếp và không qua trung gian là đặc điểm cuối cùng của NSX.

1.1.1.2. Nội dung cơ bản của ngân sách cấp xã

Cũng như NSNN nói chung, NSX có hai nội dung cơ bản là thu và chi ngân sách. Tuy nhiên, từng nội dung thu, chi của NSX có những đặc thù riêng, cụ thể như sau:

Thứ nhất, thu ngân sách cấp xã

Theo Vú Sỹ Cường, thu NSNN nói chung là “quá trình Nhà nước sử dụng quyền lực để huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội để hình thành quỹ NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước” [12, tr.78].

Như vậy, thu NSX là các khoản thu theo quy định pháp luật nhằm bảo đảm nguồn ngân quỹ cho bộ máy chính quyền cấp xã thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và các nhiệm vụ khác mà chính quyền cấp xã được giao.

Thu ngân sách xã được hưởng bao gồm các khoản thu NSNN phân cấp cho NSX và các khoản huy động đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên nguyên tắc tự nguyện để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của pháp luật do HĐND xã quyết định đưa vào ngân sách xã quản lý, bao gồm: Các khoản thu phân cấp cho NSX hưởng 100%; Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa NSX với ngân sách cấp trên; Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên; Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác.

Thu NSNN “trên địa bàn giao chính quyền cấp xã quản lý, bao gồm: Thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản huy động đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật; thu viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho NSX [4].

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phân cấp nguồn thu của NSX trong phạm vi nguồn thu NSĐP được hưởng, bao gồm các khoản thu 100% xã được hưởng, các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % (tối đa 100%) với ngân sách cấp trên và thu bổ sung từ ngân sách cấp trên.

Như vậy, các nguồn thu chủ yếu của NSX gồm:

Thứ nhất, các khoản thu NSX hưởng một trăm phần trăm (100%). Đây là các khoản thu được HĐND tỉnh xem xét khi phân cấp nguồn thu dành cho xã sử dụng toàn bộ (100%) để chủ động về nguồn tài chính bảo đảm các nhiệm vụ chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển. Căn cứ quy mô nguồn thu, chế độ phân cấp quản lý kinh tế – xã hội và nguyên tắc đảm bảo tối đa nguồn tại chỗ cân đối cho các nhiệm vụ chi thường xuyên gồm các khoản thu dưới đây:

– Các khoản phí, lệ phí giao cho xã tổ chức thu theo quy định;

– Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật;

– Thu từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản khác do xã quản lý theo quy định của pháp luật;

– Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, phạt, tịch thu khác theo quy định của pháp luật do cấp xã thực hiện;

– Thu từ tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước do các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc xã xử lý theo quy định của pháp luật, sau khi trừ đi các chi phí theo quy định của pháp luật;”

“- Các khoản huy động đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân gồm: các khoản huy động đóng góp theo quy định của pháp luật, các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do HĐND xã quyết định đưa vào NSX quản lý;

– Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho NSX;

– Thu kết dư NSX năm trước;

– Thu chuyển nguồn NSX năm trước chuyển sang;

– Các khoản thu khác của NSX theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm. Đây là các khoản thu chủ yếu do ngành thuế đảm nhận nhưng NSX được hưởng một phần điều tiết (tối đa 100%) quy định nhằm gắn trách nhiệm của chính quyền cấp xã vào quá trình quản lý, thu nộp trên địa bàn xã, phấn đấu tăng thu đồng thời bổ sung nguồn thu thường xuyên cho xã đáp ứng nhu cầu chi ngày càng cao của xã. Các khoản thu này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng; thuế thu nhập doanh nghiệp; lệ phí trước bạ nhà, đất; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; lệ phí môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; Các khoản thu phân chia khác.”

Thứ ba, thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho NSX. Các khoản thu này bao gồm: thu bổ sung để cân đối ngân sách và thu bổ sung có mục tiêu.

Thu bổ sung để cân đối ngân sách là mức chênh lệch giữa dự toán chi được giao và dự toán thu từ các nguồn thu được phân cấp (các khoản thu “100% và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm). Số bổ sung cân đối này được xác định từ năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, các năm trong thời kỳ ổn định ngân sách địa phương, căn cứ khả năng cân đối của ngân sách cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp huyện trình HĐND cấp huyện quyết định tăng thêm số bổ sung cân đối ngân sách từ ngân sách cấp huyện cho NSX so với năm đầu thời kỳ ổn định

Thu bổ sung có mục tiêu: là các khoản thu để thực hiện các chương trình, nhiệm vụ (như chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình mục tiêu của trung ương; chương trình, nhiệm vụ của địa phương) hoặc chế độ, chính sách mới do cấp trên ban hành nhưng có giao nhiệm vụ cho xã tổ chức thực hiện và dự toán năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách địa phương chưa bố trí.”

Thứ hai, chi ngân sách cấp xã

Chi NSX là việc phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính từ quỹ NSX nhằm thực hiện nhiệm vụ của chính quyền cấp xã trong từng thời kì. Chi NSX bao gồm “chi đầu tư phát triển; chi thường xuyên nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh của Nhà nước, chi hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị xã hội; chi hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp được thành lập theo quy định khi các tổ chức này được Nhà nước giao nhiệm vụ; chi phát triển kinh tế – xã hội và các nhiệm vụ chi khác theo quy định của pháp luật.

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phân cấp nhiệm vụ chi cho NSX. Căn cứ chế độ phân cấp quản lý kinh tế – xã hội của Nhà nước, các chính sách chế độ về hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng Cộng sản” Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của xã, khi phân cấp nhiệm vụ chi để thực hiện các nhiệm vụ chi được giao. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, chi đầu tư phát triển. Đây là những khoản chi tạo ra năng lực sản xuất kinh doanh, năng lực kinh tế lớn hơn trong tương lai, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với kinh tế – xã hội cả nước nói chung và kinh tế xã hội ở mỗi địa phương nói riêng.

Theo quy định pháp luật, chi đầu tư phát triển của NSX gồm:

“- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội không có khả năng thu hồi vốn theo phân cấp của cấp tỉnh.

– Chi ĐTXD các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của xã từ nguồn huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân cho từng dự án nhất định theo quy định của pháp luật, do HĐND xã quyết định đưa vào NSX quản lý.

– Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật.”

Thứ hai, chi thường xuyên NSX. Các khoản chi thường xuyên NSX có ý nghĩa quan trọng đảm bảo hoạt động của bộ máy để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Các khoản chi thường xuyên NSX bao gồm:

Một là, chi cho hoạt động của các cơ quan nhà nước cấp xã. Khoán chi này bao gồm tiền lương, tiền công, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho cán bộ, công chức cấp xã và các đối tượng khác theo quy định; Sinh hoạt phí đại biểu HĐND; Các khoản phụ cấp khác theo quy định của Nhà nước; Công tác phí; Chi về hoạt động, văn phòng, như: chi phí điện, nước, văn phòng phẩm, phí bưu điện, điện thoại, hội nghị; Chi mua sắm, sửa chữa thường xuyên trụ sở, phương tiện làm việc; Chi khác theo chế độ quy định.

Hai là, kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể. Khoản kinh phí này bao gồm kinh phí của tổ chức Đảng ở cấp xã; “Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội ở cấp xã gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam.

Ba là, chi cho công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội, bao gồm:

– Chi huấn luyện dân quân tự vệ, các khoản phụ cấp huy động dân quân tự vệ và các khoản chi khác về dân quân tự vệ thuộc nhiệm vụ chi của NSX theo quy định của Pháp lệnh về dân quân tự vệ;

– Chi thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, công tác nghĩa vụ quân sự khác thuộc nhiệm vụ chi của NSX theo quy định của pháp luật;

– Chi tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã;

– Các khoản chi khác theo chế độ quy định.

Bốn là, chi cho công tác xã hội và hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao do xã quản lý. Các khoản chi này bao gồm:

– Trợ cấp hằng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc theo chế độ quy định (không kể trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc và trợ cấp thôi việc một lần cho cán bộ xã nghỉ việc từ ngày 01/01/1998 trở về sau do bảo hiểm xã hội chi trả); chi thăm hỏi các gia đình chính sách; trợ giúp xã hội và công tác xã hội khác;

– Chi hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao, truyền thanh ở xã.

Năm là, chi sự nghiệp giáo dục. Khoản chi này chủ yếu hỗ trợ hoạt động giáo dục, đào tạo trên địa bàn xã; (tủy địa phương cụ thể)

Sáu là, chi sự nghiệp y tế. Khoản chi này hỗ trợ chi thường xuyên và mua sắm các khoản trang thiết bị phục vụ cho khám chữa bệnh của trạm y tế xã (tùy địa phương cụ thể)

Bảy là, Chi các hoạt động kinh tế. Khoản chi này bảo đảm cho việc duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạ tầng, các công trình khác do xã quản lý; hỗ trợ khuyến khích phát triển các hoạt động kinh tế như: khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm theo chế độ quy định; các hoạt động kinh tế khác;

Tám là, các khoản chi thường xuyên khác ở cấp xã theo quy định của pháp luật.”

Thứ ba, cân đối ngân sách cấp xã

Cân đối NSX phải đảm bảo nguyên tắc không vượt quá nguồn thu quy định. Nghiêm cấm việc vay hoặc chiếm dụng vốn dưới mọi hình thức để cân đối NSX, trừ trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định.

1.1.2. Chức năng, vai trò của ngân sách cấp xã

Là một bộ phận của NSNN, NSX cũng có những chức năng cơ bản của tài chính công, trong đó có NSNN, đó là:

Thứ nhất, chức năng phân phối. “NSX được sử dụng vào việc phân phối và phân phối lại các nguồn lực tài chính trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu công bằng xã hội. Nhờ chức năng này mà các nguồn lực tài chính đại diện cho những bộ phận của cải của xã hội được bố trí cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội. Khi vận dụng chức năng này vào thực tiễn để phân phối các nguồn tài chính đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau: Phải xác định quy mô, tỷ trọng của đầu tư trong tổng sản phẩm kinh tế quốc dân phù hợp với khả năng và sự tăng trưởng kinh tế ở mỗi thời kỳ nhất định; phải đảm bảo giải quyết mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng; phải giải quyết thỏa đáng các quan hệ về lợi ích kinh tế của những chủ thể tham gia phân phối”.

Thứ hai, chức năng giám đốc. Chức năng giám đốc là một thuộc tính khách quan vốn có của ngân sách các cấp, bắt nguồn từ bản chất của NSNN. Chức năng giám đốc của NSX được hình thành trong quá trình huy động, phân phối và sử dụng nguồn vốn ngân sách. Hay nói cách khác việc kiểm tra được thực hiện ở tất cả các giai đoạn trước, trong và sau khi thực hiện. Thể hiện mọi khoản thu ngân sách phải thực hiện đúng luật hiện hành, mọi khoản chi phải đúng định mức, tiêu chuẩn do nhà nước quy định và dự toán do cấp có thẩm quyền phê chuẩn. Chức năng giám đốc được thực hiện bởi Hội đồng nhân dân cấp xã qua hoạt động giám sát, kiểm tra mọi hoạt động của UBND cấp xã. Đặc điểm của chức năng giám đốc là giám đốc bằng đồng tiền đối với các hoạt động tài chính. Mục đích của chức năng giám đốc nhằm thúc đẩy phân phối các nguồn tài chính của xã hội đảm bảo cân đối và hợp lý, phù hợp với các quy luật kinh tế và đòi hỏi của xã hội, thúc đẩy việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ theo mục đích đã định với hiệu quả cao và giữ gìn kỷ luật tài chính.

Hai chức năng này có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình hình thành và vận động của NSX. Trong đó phân phối là chức năng trọng yếu của NSX, vừa là tiền đề vừa là cơ sở cho sự hình thành và vận động của chức năng giám đốc, thông qua phân phối mà thực hiện giám sát, kiểm tra. Ngược lại, nhờ có kiểm tra, giám sát mà quá trình phân phối NSX được thực hiện đúng pháp luật và có hiệu quả.

Chức năng phân phối chỉ mới cho thấy sự vận động của quỹ tiền tệ tập trung cho từng lĩnh vực phát triển của địa phương, chức năng giám đốc đảm bảo cho thấy tính đúng đắn, hợp lý, phù hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan đòi hỏi phải có. Chức năng giám đốc có thể đi trước, trong, hoặc sau quá trình thực hiện phân phối nhưng xét cho cùng giám đốc về NSNN chỉ có thể bắt nguồn từ quan hệ phân phối.

Ngân sách xã có vai trò quan trọng đối kinh tế – xã hội của địa phương. Vai trò đó thể hiện trên các mặt cụ thể như sau:

Thứ nhất, NSX là công cụ chủ yếu phân bổ trực tiếp hoặc gián tiếp các nguồn tài chính của chính quyền địa phương cấp xã, định hướng và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. Thông qua thu NSX để tập trung một nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu của chính quyền cấp xã, định hướng hoạt động kinh tế; thông qua chi ngân sách, đặc biệt là chi đầu tư để phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế có lợi thế ở địa phương, phát triển kết cấu hạ tầng xã hội như trường học, trạm xá…

Thứ hai, NSX là công cụ góp phần điều chỉnh thu nhập, giải quyết các vấn đề xã hội như tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống dân cư địa phương, bảo đảm công bằng xã hội. Thông qua thu NSX để điều chỉnh thu nhập của các chủ thể có thu nhập cao, đồng thời thông qua chi để hỗ trợ các đối tượng khó khăn, đối tượng chính sách.

Thứ ba, NSX góp phần củng cố, tăng cường sức mạnh của bộ máy chính quyền cơ sở, các tổ chức chính trị – xã hội ở địa phương. NSX là nguồn tài chính chủ yếu bảo đảm bảo đảm nguồn lực cho hoạt động của bộ máy chính quyền và hệ thống chính trị ở địa phương, bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động của hệ thống này.”

1.2. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CẤP XÃ

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của quản lý ngân sách cấp xã

Quản lý là một hoạt động có tính chất phố biến, mọi nơi, mọi lúc, trong mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác làm một công việc để đạt được mục tiêu chung. Theo nghĩa chung nhất, quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Như vậy, quản lý là hoạt động có mục đích của con người, do một hay nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm đạt được một mục tiêu đề ra một cách có hiệu quả.

Quản lý NSX là quá trình tác động của chính quyền địa phương mà trước hết là cấp xã tới các hoạt động NSX nhằm bảo đảm việc huy động, phân bổ và sử dụng NSX đúng quy định pháp luật, có hiệu quả.

Về thực chất, quản lý NSX là việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương mà trước hết là của cấp xã trong lĩnh vực tài chính – NSNN nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương.

Từ quan niệm và những quy định pháp luật hiện hành về quản lý NSX, có thể rút ra một số đặc điểm của quản lý NSX như sau:

Một là, đặc điểm về chủ thể quản lý. Chủ thể quản lý NSX theo luật định là chính quyền cấp xã. Tại Điều 6 Thông tư 344 của Bộ Tài chính quy định: “Ngân sách xã do Ủy ban nhân dân xã xây dựng và quản lý, Hội đồng nhân dân xã quyết định và giám sát” [4]. Tuy nhiên, theo quy định pháp luật, một số nội dung liên quan đến quản lý NSX do UBND tỉnh và UBND huyện quyết định. Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 4, Điều 9 và Điều 10 Thông tư 344 của Bộ Tài chính, HĐND cấp tỉnh quyết định tỷ lệ phân chia nguồn thu NSX từ thuế, lệ phí và định mức chi thường xuyên NSX. UBND cấp huyện hỗ trợ lập dự toán NSX (Điều 11), đề nghị tăng thêm số bổ sung cân đối cho NSX (Điều 9), thông báo số kiểm tra dự toán NSX, quyết định giao nhiệm vụ thu – chi NSX (Điều 11), bố trí và đào tạo bồi dưỡng cán bộ xã để quản lý NSX (Điều 18)… Phòng Tài chính – Kế hoạch cấp huyện, thẩm định dự toán NSX, tổng hợp dự toán NSX (Điều 11) [4]. Ngoài ra, các cơ quan khác như KBNN, thuế… theo chức năng của minh cũng tham gia vào quá trình quản lý NSX.

Hai là, đặc điểm về đối tượng quản lý. Đối tượng quản lý là ngân sách cấp xã, tức là không bao gồm những khoản thu chi của ngân sách cấp trên ủy quyền cho cấp xã thực hiện. Tại Điều 7 Thông tư 344 quy định kinh phí ngân sách của cơ quan QLNN thuộc ngân sách cấp trên ủy quyền cho UBND cấp xã thực hiện “không quyết toán vào NSX” [4]. Quy mô NSX tại mỗi đơn vị cấp xã thường không lớn, cơ cấu các khoản mục thu thường đơn giản hơn ngân sách cấp trên.

Ba là, đặc điểm về mục tiêu quản lý NSX. Do quản lý NSX chủ yếu là quản lý sử dụng ngân sách, nên mục tiêu quản lý chủ yếu là bảo đảm sử dụng NSX đúng pháp luật, đúng tiêu chuẩn định mức, đúng mục đích, có hiệu lực và hiệu quả, nhằm bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội địa phương.

1.2.2. Nguyên tắc và mục tiêu quản lý ngân sách cấp xã

Cũng như các bộ phần tài chính công khác, NSX được quản lý theo các nguyên tắc chung như: Thống nhất; tập trung dân chủ; công khai minh bạch; trách nhiệm giải trình; bảo đảm cân đối NSNN.

Theo nguyên tắc thống nhất, mọi khoản thu, chi của một cấp hành chính đưa vào một kế hoạch ngân sách thống nhất từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, thanh quyết toán. Theo nguyên tắc tập trung dân chủ, quản lý NSNN bảo đảm tính tập trung vào cấp cao, cấp trên dựa trên cơ sở phát huy dân chủ thực sự trong tổ chức hoạt động ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, các ngành, các đơn vị. Theo nguyên tắc công khai, minh bạch, NSNN cần được công bố công khai cho toàn dân được biết, đồng thời bảo đảm tính rõ ràng tất cả các khoản mục thu, chi đúng quy định pháp luật. Theo nguyên tắc trách nhiệm giải trình, các cơ quan quản lý, điều hành NSNN bảo đảm chịu trách nhiệm trước nhân dân về toàn bộ quá trình quản lý ngân sách, về kết quả thu, chi ngân sách và chịu trách về hậu quả của hoạt động ngân sách.

Tuy nhiên, khi xét NSX trong hệ thống ngân sách quốc gia, NSĐP thì việc quản lý NSX cần tuân thủ các nguyên tắc theo quy định của Luật NSNN, các quy định của Chính phủ và Bộ Tài chính (như Thông tư 344). Theo quy định tại Điều 6 Thông tư 344 của Bộ Tài chính, các nguyên tắc quản lý NSX bao gồm [4]:

Thứ nhất, NSX do UBND cấp xã xây dựng và quản lý, HĐND cấp xã quyết định và giám sát.

Thứ hai, mọi khoản thu, chi NSX phải thực hiện quản lý qua KBNN theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.

Thứ ba, “các khoản thu, chi ngân sách xã phải hạch toán kế toán, quyết toán theo mục lục ngân sách nhà nước và chế độ kế toán của Nhà nước.

Thứ tư, NSX phải được công khai theo quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn.

Quản lý NSX cần đạt các mục tiêu như sau:

Thứ nhất, phát huy tính năng động sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền các cấp, nhằm phục vụ tốt nhất nhiệm vụ phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc phòng, xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, đẩy mạnh tiến trình cải cách hành chính.

Thứ hai, tạo ra sự đồng bộ thống nhất trong hệ thống thể chế, văn bản quy phạm pháp luật gắn với đổi mới cơ chế và đảm bảo quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của các đơn vị cơ sở. Đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất về nguồn lực để đảm bảo khả năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế ở từng địa phương.

Thứ ba, làm rõ quyền hạn và trách nhiệm, nguồn lực và nhiệm vụ của các cấp chính quyền trong quản lý sử dụng NSNN, giải quyết tốt mối quan hệ tài chính giữa các ngành và địa bàn lãnh thổ. Khắc phục những chồng chéo hoặc thiếu sót trong từng nội dung quản lý.

Thứ tư, tạo ra mối liên kết đồng thuận giữa các cơ quan tài chính, cơ quan kế hoạch đầu tư và các ngành chức năng liên quan với chính quyền các cấp trong quản lý NSNN.”

1.2.3. Nội dung quản lý ngân sách cấp xã

Theo quy định pháp luật hiện hành và đặc biệt là những điểm mới về mô hình NSNN định hướng trung hạn trong Luật NSNN hiện hành, quản lý NSNN nói chung và NSX nói riêng cần bắt đầu từ lập kế hoạch tài chính 5 năm và kế hoạch tài chính – NSNN 3 năm. Trên cơ sở kế hoạch tài chính – ngân sách được duyệt mới triển khai các khâu của chu trình NSNN. Do vậy, quản lý NSX tập trung vào ba nội dung cơ bản gồm: Lập kế hoạch ngân sách trung hạn; quản lý chu trình NSNN đối với NSX; kiểm tra, giám sát, công khai hoạt động NSX.

1.2.3.1. Lập kế hoạch ngân sách trung hạn

Để định hướng nguồn thu và nhiệm vụ chi trong thời kỳ ổn định ngân sách 3 năm và giai đoạn 5 năm tiếp theo cho NSNN các cấp, cần xây dựng kế hoạch NSNN trung hạn. Kế hoạch này nằm trong kế hoạch tài chính 5 năm và chủ yếu trong kế hoạch tài chính – NSNN 3 năm theo quy định của Luật NSNN và các văn bản pháp luật khác như Nghị định 45 của Chính phủ [8] hay Thông tư 69 của Bộ Tài chính [5].

Kế hoạch tài chính 5 năm: Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ chủ yếu trong kế hoạch tài chính 05 năm của địa phương giai đoạn trước để xác định mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, chủ yếu về tài chính – NSNN 5 năm tiếp theo của địa phương; xác định khung cân đối NSĐP; định hướng thu, chi và cân đối NSĐP trong thời gian 5 năm kế hoạch. Theo quy định pháp luật, kế hoạch tài chính 5 năm do cấp tỉnh thực hiện, Sở Tài chính chủ trì tính toán, xác định tổng số thu, chi, bội chi NSĐP, mức chi trả nợ và chi thường xuyên, tổng mức vay bù đắp bội chi và vay để trả nợ gốc. Chính quyền địa phương và cơ quan tài chính cấp dưới tham gia vào quá trình lập kế hoạch tài chính 5 năm thông qua việc đề xuất nhu cầu ngân sách, đặc biệt là đối với những nhiệm vụ mới, các dự án mới.

Kế hoạch tài chính – NSNN 3 năm: được lập cho thời kỳ ổn định ngân sách theo phương thức cuốn chiếu cho thời gian 3 năm, kể từ năm dự toán ngân sách và 2 năm tiếp theo. Kế hoạch tài chính – NSNN 3 năm được lập ở cấp quốc gia và cấp tỉnh. UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế địa phương, các cơ quan có liên quan khác ở địa phương căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm của địa phương, tình hình thực hiện kế hoạch tài chính – NSNN kỳ trước… để xây dựng kế hoạch. Việc lập kế hoạch thu, chi NSĐP được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, các chính sách và chế độ, được tổng hợp chi tiết theo cơ cấu thu, chi ngân sách chi tiết theo từng năm. Trong kế hoạch NSĐP xác định rõ hướng lớn về thu, chi ngân sách; nguyên tắc, tiêu chí phân bổ ngân sách cho từng ngành, lĩnh vực phù hợp với định hướng sắp xếp thứ tự ưu tiên về chính sách phát triển kinh tế – xã hội của địa phương có tính đến các yếu tố tác động đến thu, chi ngân sách như: thay đổi về kinh tế của địa phương, thay đổi về chính sách về NSNN do trung ương và địa phương ban hành, sự thay đổi về đối tượng liên quan đến thu, chi ngân sách v.v.. Chính quyền địa phương cấp huyện, xã cũng tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch tài chính – ngân sách 3 năm thông qua việc đề xuất thu, chi ngân sách gắn với các nhiệm vụ mới, các dự án mới hay những thay đổi trong chính sách ngân sách của Nhà nước làm thay đổi thu, chi ngân sách của địa phương. Đồng thời, cung cấp các thông tin về tình hình kinh tế, xã hội, bộ máy, nhân sự, các nhiệm vụ được giao trong giai đoạn kế hoạch, nhu cầu chi tiêu… Trên cơ sở đó, hình thành nên kế hoạch tài chính – NSĐP. Kế hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn là cơ sở pháp lý để tiến hành chu trình ngân sách cho cả thời kỳ ổn định ngân sách của các cấp ở địa phương, trong đó có cấp xã.”

1.2.3.2. Quản lý chu trình ngân sách xã

Quản lý chu trình NSNN là việc quản lý, tổ chức thực hiện từng khâu “trong chu trình ngân sách gồm: lập dự toán, chấp hành dự toán ngân sách và quyết toán NSNN. Quản lý chu trình NSX là việc chính quyền cấp xã và các cơ quan nhà nước có liên quan thực hiện trách nhiệm của mình ở từng khâu trong chu trình ngân sách ba khâu đó. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, lập dự toán NSX

Theo quy định của Luật NSNN và các luật về tài chính có liên quan như các luật thuế, cùng với các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Bộ Tài chính, trên cơ sở hướng dẫn của UBND cấp huyện, UBND cấp xã lập dự toán ngân sách năm sau trình HĐND cấp xã quyết định. Việc quản lý lập dự toán NSX được tiến hành như sau:

Một là, xác định rõ căn cứ lập dự toán NSX.

Việc lập dự toán NSX cần dựa vào các căn cứ như: Các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội của xã; Chính sách, chế độ thu NSNN, cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSX; Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do cơ quan có thẩm quyền ban hành; Số kiểm tra về dự toán NSX do UBND cấp huyện thông báo; Tình hình thực hiện dự toán NSX và báo cáo dự toán ngân sách của các cơ quan, đơn vị sử dụng NSX.

Hai là, lập và quyết định dự toán NSX.

Bộ phận tài chính, kế toán cấp xã phối hợp với cơ quan thuế hoặc đội thu thuế xã tính toán các khoản thu NSNN trên địa bàn được phân cấp cho xã quản lý. Các đơn vị, tổ chức thuộc UBND xã căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao và chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi lập dự toán chi của đơn vị, tổ chức mình.

Trên cơ sở đó, bộ phận tài chính, kế toán xã lập dự toán thu, chi và cân đối NSX trình UBND cấp xã báo cáo Thường trực HĐND cấp xã xem xét, cho ý kiến trước khi gửi UBND cấp huyện và Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện tổng hợp.

Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện làm việc với UBND cấp xã về cân đối thu, chi và thẩm định dự toán NSX. Sau khi UBND huyện quyết định giao dự toán NSX, UBND xã xem xét, trình HĐND xã quyết định dự toán NSX. Khi dự toán NSX được HĐND xã quyết định, UBND xã báo cáo UBND cấp huyện, Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện và cơ quan KBNN nơi giao dịch để tổ chức thực hiện.

Thứ hai, chấp hành dự toán ngân sách xã

Căn cứ dự toán NSX và phương án phân bổ NSX cả năm đã được HĐND xã quyết định, UBND xã quyết định phân bổ chi tiết dự toán chi NSX theo từng bộ phận gửi đơn vị thụ hưởng và KBNN nơi giao dịch để nhập dự toán và làm căn cứ kiểm soát, thanh toán các khoản chi.” Cụ thể về quản lý chấp hành NSX như sau:

Một là, quản lý chấp hành thu NSX.

Thu NSX được quản lý theo quy trình sau: Chủ tịch UBND xã chỉ đạo bộ phận tài chính, kế toán xã phối hợp với cơ quan thuế đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời theo quy định của pháp luật và đúng dự toán NSX;

“Đối với các khoản thu NSX được hưởng 100% hoặc các khoản thu phân chia với ngân sách cấp trên, KBNN lập Bảng kê các khoản thu NSX, gửi UBND xã theo từng tháng.

Đối với số thu bổ sung từ ngân sách huyện cho NSX, hằng tháng, UBND xã chủ động rút dự toán tại KBNN để đảm bảo cân đối ngân sách. Riêng vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp huyện cho NSX, căn cứ khả năng nguồn thu và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi, UBND cấp huyện quy định việc rút dự toán của NSX cho phù hợp thực tế ở địa phương.

Đối tượng có nghĩa vụ nộp ngân sách, căn cứ vào thông báo thu của cơ quan thu hoặc của UBND xã nộp trực tiếp vào KBNN. Đối với các khoản thu ngân sách do UBND xã trực tiếp thu, thì định kỳ phải nộp vào KBNN theo quy định. Việc kê khai, nộp thuế và các khoản thu khác của NSNN thực hiện theo quy định pháp luật về quản lý thuế.

Hai là, quản lý chấp hành chi NSX.

Chủ tịch UBND xã hoặc người được ủy quyền quyết định chi ngân sách thông qua việc ký duyệt giấy rút dự toán hoặc lệnh chi tiền hoặc tạm ứng kinh phí bằng giấy đề nghị tạm ứng theo quy định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Chi NSX được thực hiện theo quy trình: Căn cứ vào dự toán chi NSX đã được HĐND quyết định và tiến độ công việc, bộ phận tài chính – kế toán xã làm thủ tục chi trình Chủ tịch UBND xã hoặc người được ủy quyền quyết định gửi KBNN và kèm theo các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật. KBNN kiểm tra, nếu đủ điều kiện thì thực hiện thanh toán cho người được sử dụng ngân sách. Các khoản thanh toán NSX cho các đối tượng thụ hưởng phải được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản.

Đối với chi thường xuyên: Ưu tiên chi trả tiền lương, các khoản phụ cấp và các khoản đóng góp cho cán bộ, công chức xã, chi an sinh xã hội, trợ cấp đối tượng bảo trợ xã hội. Các khoản chi thường xuyên khác phải căn cứ vào dự toán năm, khối lượng thực hiện công việc, khả năng của NSX tại thời điểm chi để thực hiện chi cho phù hợp;”

Đối với chi đầu tư phát triển: “Việc quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của NSX phải thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật về đầu tư công và phân cấp của HĐND cấp tỉnh. Việc thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản của NSX thực hiện theo quy định riêng của Bộ Tài chính.

Đối với dự án đầu tư bằng nguồn đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện, ngoài các quy định chung cần phải mở sổ kế toán theo dõi và phản ánh kịp thời mọi khoản đóng góp bằng tiền, ngày công lao động, hiện vật của nhân dân và phải có sự giám sát của Ban giám sát đầu tư của cộng đồng theo chế độ quy định.

Chi xây dựng cơ bản phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật đầu tư công, xây dựng và các quy định về tài chính theo chế độ quy định; nghiêm cấm việc nợ đọng xây dựng cơ bản, chiếm dụng vốn dưới mọi hình thức.”

Thứ ba, kế toán và quyết toán ngân sách xã

Việc hạch toán kế toán, quyết toán NSX do UBND xã chịu trách nhiệm theo đúng chế độ kế toán NSX hiện hành. KBNN nơi giao dịch chịu trách nhiệm kế toán thu, chi quỹ NSX theo quy định và báo cáo tình hình thực hiện thu, chi NSX cho UBND xã.

UBND xã quyết toán ngân sách hằng năm trên cơ sở phối hợp với KBNN rà soát tất cả các khoản thu, chi và đối chiếu chính xác từng khoản thu, chi với dự toán được duyệt trong năm tài chính. Quyết toán NSX được thực hiện theo quy trình: UBND xã lập báo cáo quyết toán thu, chi NSX gửi Ban Kinh tế – Xã hội xã để thẩm tra và báo cáo Thường trực HĐND xã cho ý kiến trước khi báo cáo HĐND xã phê chuẩn. Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện có trách nhiệm thẩm định báo cáo quyết toán thu, chi NSX.

1.2.3.3. Kiểm tra, giám sát, công khai hoạt động ngân sách xã

Theo quy định pháp luật hiện hành, HĐND xã giám sát việc thực hiện thu, chi ngân sách xã. Cơ quan tài chính cấp trên (Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện) có trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn công tác quản lý NSX.

Cộng đồng cũng có chức năng giám sát NSX theo quy định tại Điều 52 Nghị định số 163 của Chính phủ [7]. Theo đó, “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp xã, phối hợp với các thành viên của Mặt trận tổ chức việc giám sát NSNN của cộng đồng. Mặt trận cấp xã trực tiếp hoặc thông qua các thành viên của Mặt trận đề nghị giám sát; chủ trì xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện giám sát NSX theo kế hoạch và quy định của pháp luật.

Nội dung giám sát thực hiện theo quy định tại Điều 16 Luật NSNN gồm: Giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng NSNN; giám sát tình hình thực hiện dự toán NSNN hằng năm; giám sát việc thực hiện công khai NSNN. Hình thức giám sát bao gồm: Nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lĩnh vực NSNN liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; Tổ chức đoàn giám sát; Tham gia giám sát với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; Thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân được thành lập ở cấp xã, Ban giám sát đầu tư cộng đồng.”

Việc công khai NSX được thực hiện theo quy định tại Thông tư 61 của Bộ Tài chính [10]. Theo đó, Chủ tịch UBND cấp xã hoặc người được ủy quyền công khai dự toán NSX; công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước (quý, 6 tháng, năm); công khai quyết toán NSX

1.2.4. Các nhân tố tác động đến quản lý ngân sách cấp xã

1.2.4.1. Cơ chế, chính sách về quản lý ngân sách

“Cơ chế, chính sách về quản lý NSNN được thể hiện dưới hình thức những văn bản của Nhà nước, có tính quy phạm pháp luật, chi phối và tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động trong quy trình quản lý NSNN từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán đến khâu quyết toán NS.

Cơ chế, chính sách về quản lý NSNN gồm các quy định về phạm vi, đối tượng; về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, quản lý thu, chi ngân sách của các cấp chính quyền; các quy định về trình tự, nội dung lập, chấp hành và quyết toán NSNN; các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý NSNN; các chính sách tài chính, tiền tệ, ưu đãi trong đầu tư phát triển kinh tế- xã hội…; Các quy định về nguyên tắc, chế độ, định mức chi NSNN….

Cơ chế, chính sách được ban hành đúng đắn, hợp lý, kịp thời, phù hợp với thực tiễn sẽ tạo điều kiện cho hoạt động quản lý thu, chi NSNN, trong đó có NS xã có hiệu quả cao.”

1.2.4.2. Đội ngũ cán bộ quản lý ngân sách

Việc quản lý NSNN do các cán bộ trực tiếp thực hiện nên trình độ của đội ngũ này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của công tác quản lý NS xã. Nếu trình độ cán bộ thấp, không nắm vững quy trình quản lý và các cơ chế, chính sách cũng như nội dung các khoản thu, chi NS, việc tổ chức thu, chi sẽ bị sai quy định, không chính xác và là mầm mống phát sinh các hiện tượng tiêu cực như thất thoát, bỏ sót nguồn thu, tham ô, lãng phí, biển thủ quỹ NSNN,… Phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ quản lý cũng ảnh hưởng đến chất lượng quản lý NS. Những cán bộ quản lý có phẩm chất đạo đức liêm khiết, nghiêm túc trong công việc, hiệu quả quản lý ngân sách cấp xã cũng cao hơn.

1.2.4.3. Điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương

Quản lý thu, chi NSNN theo nghĩa rộng là việc sử dụng NSNN làm công cụ quản lý hệ thống kinh tế – xã hội nên việc quản lý phải phù hợp với hệ thống kinh tế – xã hội của địa phương đó, quản lý không thể tách rời hạ tầng kinh tế – xã hội, các yếu tố chính trị, đặc thù văn hóa,…

“Quản lý thu, chi NS cũng phải phù hợp với thực trạng kinh tế – xã hội trên địa bàn xã/phường. Khi trình độ kinh tế phát triển, thu nhập của người dân tăng, đòi hỏi các cơ chế quản lý, chính sách, chế độ, định mức thu, chi NS xã cũng phải thay đổi cho phù hợp.

Hơn nữa, các diễn biến bất thường của điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội trên địa bàn trong năm ngân sách sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ thu chi và công tác quản lý thu” chi NS xã cũng bị ảnh hưởng.

1.2.4.4. Ý thức, trình độ của đối tượng chấp hành và sử dụng NSNN

Việc khai thác nguồn thu, tổ chức thu hay sử dụng nguồn NSNN có sát với thực tế, đúng quy định, “đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả hay không phụ thuộc nhiều vào ý thức, trình độ của các đối tượng chấp hành và sử dụng ngân sách. Nếu đối tượng chấp hành và sử dụng NS có ý thức chấp hành tốt, hiểu biết pháp luật, có trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực hoạt động, việc tổ chức thi và quản lý chi NS xã sẽ thuận lợi, việc khai thác các nguồn thu và các khoản chi NS xã được khai thác, sử dụng một cách hiệu quả. Ngược lại, nếu các đối tượng này không có ý thức chấp hành pháp luật, không tuân thủ các quy trình trong tổ chức, quản lý thu, chi NS xã sẽ gây khó khăn trong công tác quản lý NS, dễ phát sinh các hiện tượng tiêu cực như thất thoát nguồn thu, chi sai mục đích, chi không hiệu quả, tham ô, lãng phí,…”

1.3. MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CẤP XÃ VÀ BÀI HỌC RÚT RA

1.3.1. Một số kinh nghiệm quản lý ngân sách cấp xã của một số địa phương

1.3.1.1. Kinh nghiệm quản lý ngân sách cấp xã trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Vinh là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Nghệ An. Từ ngày 5/9/2008, Vinh trở thành đô thị loại I thứ tư sau Hải Phòng, Đà Nẵng và Huế. “Thành phố Vinh có 25 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 16 phường và 9 xã. Số liệu thống kê năm 2019 cho thấy thành phố Vinh có diện tích 105 km², dân số là 339.114 người, mật độ dân số đạt 3.230 người/km². Dân số thành thị là 230.439 người chiếm 68% và dân số nông thôn là 108.675 người chiếm 32%.

Vinh là thành phố trẻ, năng động. Thành phố nằm giữa hai khu kinh tế lớn là Nghi Sơn (Thanh Hóa) và Vũng Áng (Hà Tĩnh), bên cạnh thành phố là khu kinh tế Đông Nam (Nghệ An). Do vậy, thành phố có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế. Năm 2018, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9,12%, thu nhập bình quân đầu người đạt 3.696 USD, tương đương hơn 85 triệu đồng, thu ngân sách đạt 2.800 tỷ đồng. Vinh hiện có 7 khu công nghiệp và có nhiều dự án phát triển đô thị tại đây.

Trên địa bàn thành phố hiện có 6 trường đại học, 13 trường cao đẳng và nhiều phân hiệu, cùng nhiều trường trung học chuyên nghiệp, trung tâm dạy nghề và hàng trăm trường học từ bậc học phổ thông tới ngành học mầm non. Trên địa bàn còn có 24 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa, cùng nhiều trung tâm y tế, phòng khám đa khoa khác.”

Hoạt động ngân sách của thành phố cũng đạt được những kết quả khả quan. Theo Quyết định số 39 của HĐND tỉnh về dự toán thu, chi ngân sách năm 2021, tổng dự toán thu ngân sách tỉnh trên địa bàn là 14.032,3 tỷ đồng, trong đó thu ngân sách tỉnh là 8.967,1 tỷ; ngân sách huyện là 5.018,1 tỷ và NSX là 47,1 tỷ đồng. Trong tổng dự toán thu ngân sách huyện, số thu của thành phố Vinh là 1.098 tỷ đồng [30].

Các nguồn thu của thành phố Vinh được phân cấp gồm: 1) Thu thuế từ DNNN (cả trung ương và địa phương) trên địa bàn thành phố đạt 16,5 tỷ đồng; 2) Thu thuế công – thương nghiệp ngoài nhà nước đạt 380 tỷ đồng; 3) Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cả doanh nghiệp và cá thể là 234,85 tỷ đồng; 4) Tiền thuê đất 300 tỷ đồng; 6) Phí và lệ phí 230 tỷ đồng; 7) Tiền sử dụng đất 950 tỷ; 8) Lệ phí trước bạ 348 tỷ; 9) Thuế tư nhân, cá thể 110 tỷ; 10) Thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tài nguyên nước 4,1 tỷ đồng; 11) Thu khác ngân sách thành phố 83,13 tỷ đồng; 12) Thu hoa lợi công sản và cổ tức, lợi nhuận được chia 0,7 tỷ đồng [30].

Trong tổng dự toán thu NSX toàn tỉnh, các nguồn thu chủ yếu gồm: Thu phí, lệ phí 10,7 tỷ đồng; thu khác ngân sách 9,4 tỷ đồng và thu hoa lợi công sản và quỹ đất công ích 27 tỷ đồng [30]. Như vậy, việc phân cấp nguồn thu ngân sách trên địa bàn của HĐND tỉnh cho cấp xã là khá hạn hẹp.

Trong tổng dự toán chi ngân sách toàn tỉnh năm 2021 đã được duyệt là 25.716,6 tỷ đồng, dự toán chi ngân sách tỉnh là 12.133 tỷ đồng, chi ngân sách huyện là 10.140,6 tỷ đồng và dự toán chi NSX là 3443 tỷ đồng [30]. Trong tổng dự toán chi ngân sách huyện và NSX, chi đầu tư ngân sách huyện là 857,3 tỷ đồng và NSX là 670,3 tỷ đồng (chủ yếu từ nguồn thu tiền sử dụng đất); dự toán chi thường xuyên ngân sách huyện là 9102,1 tỷ đồng và NSX là 2.719,1 tỷ đồng. Cơ cấu chi NSX như sau: Chi sự nghiệp môi trường 19,2 tỷ đồng (0,41%); chi sự nghiệp kinh tế 112,7 tỷ đồng (4,14%), chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo 124,1 tỷ đồng (4,56%); chi sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể thao 86,8 tỷ đồng (3,19%); chi bảo đảm xã hội 137,7 tỷ đồng (5,06%); chi quản lý hành chính 2.069,5 tỷ đồng (76,11%); chi an ninh, quốc phòng 94,2 tỷ đồng (3,46%); chi ngân sách khác 74,4 tỷ đồng (2,74%). Chi dự phòng ngân sách huyện 181,2 tỷ đồng và NSX là 53,6 tỷ đồng (chiếm 1,97% tổng dự toán chi NSX toàn tỉnh) [30].

Trong tổng số dự toán chi ngân sách huyện (bao gồm cả NSX), chi ngân sách cấp huyện của thành phố Vinh là 980,3 tỷ đồng và chi ngân sách cấp xã thuộc thành phố Vinh là 288,6 tỷ đồng [30].

Trong quản lý NSX, các đơn vị hành chính cấp xã (phường, xã) và thành phố thực hiện nghiêm túc các nội dung, quy trình quản lý NSX: tham gia lập kế hoạch tài chính trung hạn, quản lý chu trình NSNN, quản lý thu – chi NSNN và kiểm tra, giám sát hoạt động NSX. Cụ thể như sau:

Một là, lập kế hoạch tài chính trung hạn. Các phường, xã của thành phố tích cực cung cấp luận cứ, đề xuất các đề án, dự án phát sinh, những thay đổi về nguồn thu, nhiệm vụ chi phát sinh từ việc điểu chỉnh chính sách của tỉnh, của Trung ương làm tăng hay giảm nhu cầu vốn, kinh phí. Trên cơ sở đó, tập hợp vào đầu mối thành phố để phối hợp, cung cấp thông tin cho Sở Tài chính tỉnh lập kế hoạch tài chính trung hạn.

Hai là, quản lý chu trình NSX. Quá trình này cũng được triển khai tích cực trên cả ba nội dung: lập dự toán, chấp hành và quyết toán NSX.

Trên cơ sở những quy định của Luật NSNN, các văn bản pháp luật của Chính phủ và Bộ tài chính, cùng với các quyết định, nghị quyết của HĐND và UBND tỉnh như Quyết định số 65 của UBND tỉnh ban hành quy định cơ chế quản lý, điều hành NSNN năm 2020 trên địa bàn tỉnh Nghệ An; Nghị quyết số 39 của HĐND tỉnh về dự toán thu NSNN trên địa bàn, chi NSĐP năm 2021 [30], UBND thành phố Vinh chỉ đạo, hướng dẫn UBND các xã, phường tiến hành lập dự toán NSX từ khâu xây dựng dự toán đến ra quyết định dự toán NSX. Phòng Tài chính – Kế hoạch thành phố thẩm định dự toán NSX.

Việc quản lý khâu chấp hành NSX được tiến hành theo đúng quy định pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, HĐND và UBND tỉnh. Theo đó, sau khi dự toán NSX được phê duyệt, UBND thành phố chỉ đạo UBND các xã, phường việc chấp hành NSX trên hai nội dung: chấp hành dự toán thu và dự toán chi NSX theo đúng nguồn thu, nhiệm vụ chi đã được phê duyệt. Chủ tích UBND các xã, phường chỉ đạo sát sao bộ phận kế toán cấp xã phối hợp chặt chẽ với cơ quan thu bảo đảm thu đúng, thu đủ các nguồn thu thuộc thẩm quyền của cấp xã.

Việc chấp hành dự toán chi NSX cũng được tiến hành theo đúng quy định pháp luật và định mức từng khoản mục. UBND cấp xã chỉ đạo bộ phận kế toán – tài chính làm các thủ tục chi trình UBND cấp xã quyết định và gửi KBNN để cấp kinh phí.

Trong khâu kế toán và quyết toán NSX, UBND các xã, phường chịu trách nhiệm thực hiện theo đúng chế độ kế toán. Kho bạc thành phố thực hiện kế toán thu, chi quỹ NSX.

Ba là, kiểm tra, giám sát, công khai hoạt động NSX. Việc kiểm tra được thực hiện ở tất cả các khâu của quá trình NSX. Phòng Tài chính – Kế hoạch thành phố thực hiện kiểm tra và hướng dẫn công tác quản lý NSX của các xã, phường. HĐND các xã, phường thực hiện chức năng giám sát việc thực hiện thu, chi NSX. Ngoài ra, NSX cũng được giám sát bởi cộng đồng theo đúng quy định pháp luật hiện hành.

Việc công khai NSX cũng được thực hiện theo đúng quy định pháp luật. Chủ tịch UBND các xã, phương công khai dự toán NSX, công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước, công khai quyết toán NSX. Tuy nhiên, việc công khai NSX cũng như NSĐP ở thành phố Vinh cũng còn những hạn chế. NSX và ngân sách huyện chưa được công khai trên cổng thông tin điện tử hay các trang mạng chính thức. Đây có thể là bài học chưa thành công, cần biết để khắc phục.”

1.3.1.2. Kinh nghiệm quản lý ngân sách cấp xã trên địa bàn thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

Thành phố Sơn La là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Sơn La. Thành phố Sơn La được thành lập năm 2008 trên cơ sở thị xã Sơn La. Năm 2019, thành phố được nâng cấp đô thị loại II. Thành phố có 12 đơn vị cấp xã trực thuộc (7 phường và 5 xã).

Hơn 10 năm qua, thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đột phá trong chiến lược phát triển, kinh tế của Thành phố luôn đạt mức tăng trưởng cao. Bình quân giai đoạn 2011-2015 tăng 12,2%/năm. Năm 2015, thu ngân sách trên địa bàn thành phố đạt 330 tỷ đồng. Giai đoạn 2015-2020, tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân 10-12%/năm. Năm 2017 thu ngân sách trên địa bàn trên 508 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người đạt gần 46 triệu đồng/năm. Thành phố đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; thực hiện chuyển đổi cây trồng trên đất dốc, trọng tâm là phát triển cà phê, cây ăn quả, cây dược liệu quý với quy mô hợp lý; triển khai hiệu quả các mô hình về nhóm hộ, HTX trồng rau, củ, quả an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP; xây dựng và vận hành chuỗi cung ứng tiêu thụ sản phẩm nông, lâm, thủy sản. Thành phố tích cực thu hút đầu tư vào các nhà máy may, nhà máy chế biến nông sản trên địa bàn; khuyến khích phát triển các cơ sở tiểu thủ công nghiệp tại địa bàn nông thôn, phát triển HTX dệt thổ cẩm, HTX dịch vụ ẩm thực. Triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, trọng tâm là hoàn thiện các chỉ tiêu, tiêu chí phát huy từ nội lực của nhân dân, Thành phố đã huy động đóng góp đạt 1,887 tỷ đồng, cùng Nhà nước làm đường giao thông nông thôn và đường trục bản, trục xã… Đến nay, 5/5 xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Về hoạt động NSNN, theo Quyết định số 2778 của UBND tỉnh Sơn La, tổng dự toán thu ngân sách của thành phố Sơn La (bao gồm cả NSX) năm 2021 là 520,5 tỷ đồng [29], từ hai nguồn chủ yếu:

– Thu trên địa bàn thành phố được hưởng là 268,2 tỷ đồng, trong đó nguồn được hưởng 100% là 227,2 tỷ đồng và nguồn phân chia theo tỷ lệ phần trăm là 59 tỷ đồng;

– Nguồn bổ sung từ ngân sách tỉnh là 234,3 tỷ đồng.

Tổng số dự toán chi ngân sách thành phố Sơn La là 520,5 tỷ đồng. Trong đó, chi đầu tư phát triển 55,25 tỷ đồng; chi thường xuyên 440,2 tỷ (riêng chi giáo dục là 237,8 tỷ đồng); chi dự phòng 10,2 tỷ đồng [29].

Về quản lý NSX, thành phố và UBND cấp xã trên địa bàn thành phố Sơn La đã tích cực, chủ động trong việc lập kế hoạch tài chính – NSNN, quản lý chu trình NSX và thực hiện nghiêm việc kiểm tra, giám sát và công khai NSX.

Việc tham gia xây dựng kế hoạch tài chính – NSNN đã dựa trên quan điểm chỉ đạo về phát triển kinh tế – xã hội và tài chính – ngân sách của Nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ XIV, Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Sơn La đến năm 2020, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách 5 năm (2016 – 2020) và hằng năm; cơ chế, chính sách của tỉnh về khuyến khích, hỗ trợ đầu tư cũng như những định hướng phát triển kinh tế – xã hội của Đảng bộ thành phố. Nhờ đó, đã đưa được các đề án phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn xã, phường vào kế hoạch chung để bố trí kịp thời bổ sung nguồn thu, nhiệm vụ chi và kinh phí cho NSX.

Trong quản lý chu trình NSNN, việc quản lý lập dự toán NSX phù hợp với mục tiêu cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công theo Nghị quyết số 07-NQ/TW; Nghị quyết số 18-NQ/TW tiếp tục đổi mới, sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị; Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới tổ chức, quản lý đơn vị sự nghiệp; Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương; các quy định của tỉnh và thành phố Sơn La về kinh tế – xã hội của địa phương. Xây dựng dự toán thu NSX tổng hợp đầy đủ các nguồn thu phát sinh trên địa bàn xã, phường; phù hợp với kế hoạch tài chính trung hạn 5 năm và kế hoạch tài chính – ngân sách 3 năm.

Việc xây dựng dự toán chi NSX dựa trên cơ sở cải cách hành chính theo hướng hiện đại, đổi mới việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông, tiết giảm kinh phí. Dự toán chi thường xuyên NSX gắn với việc kiện toàn tổ chức, giảm đầu mối, giảm cấp trung gian, giảm cấp phó, thực hiện kiêm nhiệm chức danh, sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, xã theo Nghị quyết số 653/2019/ UBTVQH14 [29].

Trong phân cấp quản lý ngân sách, tăng cường phân cấp trong quản lý gắn với việc kiểm tra, giám sát thường xuyên, kịp thời. Trong quản lý, sử dụng NSNN, tăng cường khoán chi và giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sử dụng ngân sách, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát. Duy trì nguyên tắc công khai, minh bạch và yêu cầu thực hiện chống lãng phí ngay từ khâu xác định nhiệm vụ.

Tuy nhiên, trong quản lý NSX ở thành phố Sơn La, hiện còn một số hạn chế: Việc công khai NSĐP không đầy đủ, không công khai dự toán thu, chi đến NSX; không công khai chi tiết chi ngân sách huyện và bổ sung ngân sách huyện cho NSX.”

1.3.2. Một số bài học về quản lý ngân sách cấp xã

Từ những kinh nghiệm thành công và chưa thành công của hai địa phương nêu trên, để có những thành công và khắc phục những hạn chế trong quản lý NSX, cần có thể rút một số bài học sau:

Một là, cần nâng cao nhận thức và tính tích cực, chủ động của chính quyền cấp xã, cấp huyện trong việc quản lý NSX. Quản lý NSX không chỉ đảm bảo thu, chi ngân sách đúng quy định, mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương thông qua việc xây dựng kế hoạch tài chính – ngân sách trung hạn hay thông qua chi NSX cho đầu tư phát triển.

Hai là, tích cực, chủ động và sáng tạo tham gia vào việc xây dựng kế hoạch ngân sách trung hạn của địa phương vừa nhằm dự tính trước, tạo nguồn thu và tăng nhiệm vụ chi cho NSX, đồng thời khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương để phát triển kinh tế – xã hội.

Ba là, tích cực, chủ động trong việc quản lý chu trình NSX ở cả ba khâu – lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán NSX. Trong khâu lập dự toán NSX, UBND huyện và cơ quan tài chính cấp huyện chỉ đạo sát sao cấp xã lập dự toán NSX. Việc lập dự toán NSX vừa nhằm bảo đảm nguồn thu và nhiệm vụ chi để bảo đảm nguồn lực cho việc thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp cơ sở, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Đối với khâu chấp hành NSX, chính quyền cấp huyện ở các địa phương giao nguồn thu, nhiệm vụ chi rõ ràng, chỉ đạo việc thực hiện thu và chi NSX theo đúng pháp luật, đúng chính sách và định mức theo quy định của HĐND tỉnh. Đối với khâu quyết toán, UBND huyện ở các địa phương được nghiên cứu, đôn đốc, chỉ đạo bộ UBND cấp xã và bộ phận tài chính – kế toán thực hiện tốt quyết toán NSX, đồng thời phối hợ với KBNN để thực hiện tốt khâu kế toán quỹ NSX.

Bốn là, chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, công khai NSX. Chính quyền cấp xã ở các địa phương nêu trên, thông qua bộ phận tài chính – kế toán để kiểm tra các khâu của quá trình ngân sách, kiểm tra cho khớp với dự toán, số giao, định mức… Cấp huyện chỉ đạo cơ quản tài chính thẩm định, kiểm tra hoạt động NSX; KBNN kiểm tra việc thực hiện thu, chi NSX.

Năm là, chú trọng nâng cao năng lực, trình độ của bộ máy, cán bộ quản lý NSX. UBND huyện và cơ quản tài chính cấp huyện tích cực hỗ trợ, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tài chính – kế toán xã.”

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2021/ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CẤP XÃ

Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái  Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái  Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái  Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái Quản lý ngân sách cấp xã ở thành phố Yên Bái

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *