Quản lý đầu tư các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

Quản lý đầu tư các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

Quản lý đầu tư các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Quảng Nam có các tuyến đường giao thông nông thôn liên xã, tỉnh lộ, giao thông đô thị được đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, mở rộng; tỉnh Quảng Nam còn có lợi thế nữa về giao thông là có một số tuyến quốc lộ đi qua nối các vùng trong tỉnh, với các tỉnh trong khu vực để đến với các thành phố lớn trong nước như: Quốc lộ 1, Quốc lộ 14B, 14 D, 40B…

Những năm qua, Kinh tế Quảng Nam đã có sự phát triển nhanh, đã trở thành tỉnh trung bình của Việt Nam và thu ngân sách trên địa bàn đạt khá ấn tượng. Nhưng do địa bàn rộng lại có nhiều huyện miền núi nên khả năng nguồn vốn dành cho đầu tư cơ sở hạ tầng nói chung và giao thông đường bộ vẫn chưa thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Thời gian qua, tỉnh Quảng Nam nhận được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và các Bộ, Ngành Trung ương trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông. Vốn đầu tư từ NSNN cho tỉnh về lĩnh vực giao thông được Trung ương quan tâm ưu tiên bố trí; nhiều dự án giao thông hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng đã phát huy được hiệu quả, từng bước góp phần tạo điều kiện thuận cho việc đi lại cho nhân dân giữa các địa bàn trong tỉnh, đóng góp đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được từ công tác quản lý vốn đầu sử dụng vốn NSNN cho lĩnh vực giao thông, trong thời gian qua vẫn còn tồn tại, hạn chế; tình trạng thất thoát gây lãng phí đầu tư công trình giao thông sử dụng NSNN. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên thì có nhiều, nhưng tựu trung lại là do một số nguyên nhân chủ yếu: Từ khâu lập quy hoạch, thiết kế, dự toán, đấu thầu; thi công xây dựng; công tác lập kế hoạch chưa phù hợp; có dự án xác định quy mô chưa phù hợp với khả năng nguồn vốn bố trí; bố trí vốn đầu tư cơ sở hạ tầng nói chung và giao thông đường bộ còn phân tán, dàn trải; bộ máy quản lý vốn đầu tư cơ sở hạ tầng nói chung và giao thông đường bộ năng lực chưa cao, hoạt động kém hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý… Hơn nữa, do đặc thù vốn đầu tư NSNN cho các dự án thuộc lĩnh vực giao thông có lượng vốn dành cho tổng mức đầu tư rất lớn, thời gian đầu tư dài, thời tiết, điều kiện không thuận lợi nên dễ xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí vốn của Nhà nước. Làm thế nào để sử dụng có hiệu quả hơn nữa các nguồn vốn của ngân sách nhà nước đầu tư cho lĩnh vực giao thông trong thời gian tới là vấn đề cần giải quyết của địa phương. Vì thế, với mong muốn của bản thân là nâng cao hơn nữa công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông từ nguồn vốn ngân sách tỉnh để đưa ra hiệu quả quản lý, sử dụng vốn đạt hiệu quả cao hơn, góp phần khắc phục tồn tại, hạn chế trong thời gian qua là một việc làm cấp thiết. Đó là lý do vì sao tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý đầu tư các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách Nhà nước” để làm luận văn tốt nghiệp của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực tiễn nhằm đánh giá thực trạng Quản lý đầu tư các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước đối tượng này.

2.2. Mục tiêu cụ thể

– Khái quát lý luận về quản lý đầu tư hạ tầng giao thông sử dụng vốn ngân sách nhà nước;

– Đánh giá được thực trạng Quản lý đầu tư các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách Nhà nước;

– Đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện công tác Quản lý đầu tư các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách Nhà nước.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Một số vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động Quản lý đầu tư các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách Nhà nước.

Phạm vi nghiên cứu:

– Nội dung: Do phạm vi đầu tư các công trình giao thông khá rộng. Chúng gồm hạ tầng giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, cảng biển….Do đó Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác Quản lý đầu tư các công trình giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và sử dụng vốn ngân sách của tỉnh Quảng Nam.

Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Nguồn NSNN: Ngân sách của tỉnh Quảng Nam

Thời gian: từ 2015 -2019

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Cách tiếp cận: nghiên cứu Quản lý đầu tư các công trình giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách Nhà nước dưới góc độ của các nhà hoạch định chính sách. Thông qua xem xét sự vận động thay đổi hoạt động đầu tư các công trình giao đường bộ dưới tác động của các biện pháp quản lý nhà nước và việc điều chỉnh cách thức quản lý đối tượng này.

4.2. Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp

– Các phương pháp thu thập tài liệu, thông tin sau được sử dụng trong việc nghiên cứu:

+ Kế thừa kết quả các nghiên cứu trước đó;

+ Tổng hợp các nguồn số liệu thông qua các báo cáo của Kho bạc Nhà nước tỉnh, Sở Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông vận tải, niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam qua các năm….

+ Báo cáo kiểm toán ngân sách tiền và tài sản nhà nước tỉnh Quảng Nam, vốn trái phiếu Chính phủ qua các năm….

+ Tìm thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Tạp chí Kinh tế, Tạp chí Tài chính, Báo chí, Internet….

+ Ý kiến của chuyên gia trong ngành.

Số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thực hiện dựa trên khảo sát ý kiến của các bên liên quan tới công tác Quản lý đầu tư các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách Nhà nước. . Đó là là đại diện các chủ đầu tư, Công ty tư vấn thực hiện dự án đầu tư các công trình giao thông và cán bộ quản lý nhà nước liên quan.

Số phiếu khảo sát là 50

Phương pháp khảo sát: Lựa chọ mẫu ngẫu nhiên và thuận tiện do đặc điểm của các dự án hạ tầng giao thông đường bộ phân bố không đồng nhất và khá phân tán, số lượng không nhiều và thời gian thực hiện dài. Lựa chọn phương pháp này sẽ hợp lý.

Phiếu khảo sát (Phụ lục) có nội dung bám sát các nối dung Quản lý đầu tư các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách Nhà nước.

4.3. Phương pháp phân tích

– Phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa: Là phương pháp thu thập thông tin thông qua sách báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm và tư tưởng cơ bản là cơ sở cho lý luận liên quan tới Quản lý đầu tư các công trình giao thông bằng vốn ngân sách của địa phương, hình thành khung lý thuyết với các khái niệm, nội dung quản lý cùng các tiêu chí đánh giá, phương pháp nghiên cứu làm nền tảng thực hiện nghiên cứu cho Chương I của luận văn.

– Phương pháp so sánh: Sử dụng để phân tích và so sánh các dự án công trình giao thông, lượng vốn ngân sách cho đầu tư công trình giao thông đường bộ và quản lý đầu tư hạ tầng GTĐB sử dụng NSNN tỉnh qua các năm, so sánh các chỉ số qua các năm, so sánh chéo với các kết quả nghiên cứu và các quy định quản lý đầu tư công của nhà nước từ đó rút ra được những sai lệch, thiếu sót cũng nhưng thành công nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý.

– Phương pháp thống kê mô tả:

Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các dữ liệu thu thập được nhằm phân tích những nội dung chủ yếu của đề tài, phân tích số liệu thống kê từ nhiều nguồn để rút ra những nhận xét, đánh giá. Trên cơ sở chuỗi số liệu thu thập được từ năm 2015 đến năm 2019, luận văn sẽ phân tích và đưa ra những nhận xét, đánh giá về tình hình nhằm đưa những kiến nghị hoàn thiện Quản lý đầu tư các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách Nhà nước.

5. Tổng quan các nghiên cứu liên quan tới đề tài

Quản lý đầu tư các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách Nhà nước
Quản lý đầu tư các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

6. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư hạ tầng giao thông sử dụng vốn ngân sách nhà nước

Chương 2: Thực trạng Quản lý đầu tư các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách của tỉnh

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác Quản lý đầu tư các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn ngân sách của tỉnh

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÁC CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ CÁC CÔNG TRÌNH ĐẦU TƯ GIAO THÔNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1.1. Khái niệm, vai trò và đặc điểm của đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN

a. Khái niệm đầu tư sử dụng vốn NSNN

Đầu tư trong kinh tế học có phạm vi giời hạn với nghĩa đầu tư thông thường. Đầu tư là quá trình sử dụng vốn tài chính thực hiện các dự án hình thành cơ sở sản xuất, nhà cửa, cơ sở hạ tầng …tạo ra cơ sở vật chất của nền kinh tế (Mankiw (2013)). Từ đó có thể hiểu khái niệm đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN là quá trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước để thực hiện các dự án xây dựng các công trình giao thông đường bộ trong nền kinh tế

b. Vai trò đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN

  1. . Đây là nguồn đầu tư quan trọng và chủ yếu cho cơ sở hạ tầng giao thông trong nền kinh tế

Trong quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng được quan tâm và thực hiện của yếu bằng nguồn từ nhà nước. Trải qua nhiều thời kỳ dù có đẩy mạnh quá trình xã hội hóa bằng nhiều hình thức khác nhau như mô hình công tư hay tư nhân trực tiếp dầu tư thì tỷ trọng lớn vẫn thuộc về vốn của nhà nước. Các thành phần kinh tế khác không dễ có được khả năng tài chính để thực hiện các dự án đầu tư này và trong nhiều trường hợp họ có khả năng nhưng cũng không muốn thực hiện do nhiều vấn đề như tỷ suất lợi nhuận không cao, rủi ro không nhỏ…

Nguồn đầu tư từ ngân sách thường có vai trò rất lớn và chủ yếu trong phát triển cơ sở hạ tầng nhất là khi đầu tư vào những nơi những lĩnh vực kém hấp dẫn như vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa hay lĩnh vực an sinh xã hội;

  1. . Định hướng đầu tư các công trình giao thông trong nền kinh tế

Do nhu cầu đầu tư cho cho cơ sở hạ tầng rất lớn và giới hạn ngân sách của chính phủ nên giải pháp xã hội hóa luôn được quan tâm. Nhưng để thu hút và kêu gọi các nhà đầu tư khác thì nguồn đầu tư từ ngân sách thường coi như khoản đầu tư mồi và kích thích các nhà đầu tư khác.

(3). Đầu tư các công trình giao thông sử dụng ngân sách nhà nước góp phần tăng tích lũy

Chi đầu tư từ ngân sách trực tiếp làm gia tăng số lượng và chất lượng tài sản cố định, gia tăng giá trị tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Vấn đề này thể hiện rõ nét thông qua việc nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như: giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục…Sự tăng lên về số lượng và chất lượng của hàng hoá công này là cơ sở và nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân trên các mặt: Phát triển cân đối giữa các ngành, các lãnh vực, các vùng kinh tế trên lãnh thổ quốc gia; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài và tạo động lực, cú hích cho sự tăng trưởng.

c. Đặc điểm đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN

  • Là khoản chi tích lũy hay đầu tư phát triển cho nền kinh tế

Kết quả đầu tư cơ sở hạ tầng là hạ tầng kinh tế kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Nếu xem xét dưới góc độ nhân tố sản xuất thì đây chính là bộ phận vốn sản xuất của nền kinh tế, chúng quyết định sự gia tăng mức sản lượng của nền kinh tế nên khoản chi này sẽ làm tăng tích lũy vốn sản xuất. Trong kinh tế học phát triển khoản đầu tư này gọi là đầu tư phát triển.

– Quy mô và cơ cấu chi đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông của ngân sách nhà nước không cố định và phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Bùi Quang Vinh (2013).

Kinh nghiệm phát triển cho thấy, trong thời kỳ đầu thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, quy mô chi đầu tư công của ngân sách nhà nước chiếm tỷ lệ khá lớn so với tổng đầu tư xã hội.

Ở giai đoạn này, do khu vực kinh tế tư nhân còn yếu trong khi chính sách thu hút vốn đầu tư chưa hoàn thiện nên nhà nước phải tăng cường quy mô đầu tư từ ngân sách nhà nước để tạo đà cho tiến trình công nghiệp hoá. Đi đôi với sự gia tăng quy mô thì cơ cấu chi đầu tư cũng rất đa dạng để đáp ứng với nhu cầu thực tiễn đặt ra, như chi hỗ trợ, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế xã hội…Quy mô chi đầu tư công của nhà nước sẽ giảm dần theo mức độ thành công của chiến lược công nghiệp hoá và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Khi đó chi đầu tư phát triển của nhà nước chủ yếu tập trung vào điều chỉnh nhằm đạt tới sự ổn định của kinh tế vĩ mô và các khoản chi cho vay chỉ định, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế xã hội sẽ được cắt giảm.

– Chi đầu tư các công trình giao thông bằng NSNN phải gắn chặt chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.

Sự phối hợp không đồng bộ giữa chi đầu tư với chi thường xuyên của ngân sách sẽ dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí để duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng. Điều này sẽ làm giảm hiệu quả khai thác và sử dụng tài sản đầu tư. Sự gắn kết giữa 2 nhóm chi tiêu này sẽ khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan, không tính đến hiệu quả khai thác (Bùi Mạnh Cường (2007))

Nội dung chi đầu tư công gồm 4 lãnh vực: Chi xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn; chi hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước; chi cho quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước; chi dự trữ nhà nước. Trong đó, chi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất và được thực hiện theo phương thức không hoàn trả. Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn tài chính của nhà nước hướng vào củng cố và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, các ngành công nghiệp cơ bản, các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình trọng điểm phục vụ phát triển văn hoá xã hội, phúc lợi công cộng.

Thực chất loại chi này nhằm đảm bảo tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định cho các ngành sản xuất vật chất và không sản xuất, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế – xã hội.

Sự tham gia của nhà nước vào các lĩnh vực nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung và của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng, bởi nó nhằm kích thích đầu tư, giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh đồng thời tạo ra các trung tâm kinh tế.

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN

a. Khái niệm quản lý đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN

Theo Phan Huy Đường (2015) quản lý chính là việc tác động định hướng lên một hệ thống nào đó nhằm đảo bảo hệ thống đó phát triển một cách trật tự và phù hợp với những quy luật được hướng tới. Trên cơ sở này có thể hiểu quản lý nhà nước là một hình thức của quản lý xã hội tuy nhiên có chứa đựng tính quyền lực của nhà nước và sử dụng chính quyền lực đó để điều chỉnh quan hệ nhằm đảm bảo mục tiêu duy trì và phát triển một cách trật tự. Từ đó đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.

Quản lý đầu tư các công trình giao thông bằng nguồn bằng nguồn vốn NSNN là một bộ phận của đầu tư công nên cũng cần hiểu khái niệm về quản lý đầu tư công (Hồ Ngọc Hy (2007))

Quản lý đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án công, ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án, kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn Nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí Ngân sách nhà nước; đảm bảo hoạt động đầu tư công đạt được tốt nhất mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội với chi phí thấp nhất. Chỉ khi đáp ứng được những yêu cầu này thì hoạt động quản lý đầu tư công mới được coi là có hiệu quả Học viện Hành chính (2007).

Từ đó có thể rút ra khái niệm quản lý đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN như sau:

Quản lý đầu tư xây dựng HTGT là các hoạt động chấp hành, điều hành công tác đầu tư xây dựng HTGT có tính tổ chức; được thực hiện, thi hành trên cơ sở các quy định của pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước.

Quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng từ ngân sách bao gồm các nội dung cụ thể như: (i) Hoạch định đầu tư cơ sở hạ tầng; (ii) Tiến hành chuẩn bị đầu tư đầu tư cơ sở hạ tầng; (3i) Tiến hành thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng; (4i) Thực hiện vận hành nghiệm thu và đưa vào sử dụng cơ sở hạ tầng; (5i) Tiến hành kiểm tra và đánh giá cơ sở hạ tầng mới hoàn thành.

b. Đặc điểm của quản lý đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN

Thứ nhất, Quản lý đầu tư các công trình giao thông bằng vốn NSNN là một trong những hoạt động quản lý vừa mang tính chất quản lý hoạt động đầu tư công nhưng phải tuân thủ theo quá trình quản lý NSNN trên cơ sở luật ngân sách. Ngoài ra hoạt động này liên quan tới hoạt động xây dựng do đó hay sẽ chịu chi phối của luật đầu tư.

Thứ hai, Quản lý đâu tư cơ sở hạ tầng giao thông bằng vốn NSNN tỉnh là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu vào quá trình phân bổ, sử dụng và quyết toán VĐT từ NSNN địa phương bằng hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và các biện pháp khác nhằm thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu trong các dự án cơ sở hạ tầng; ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí vốn đầu tư từ đó đạt được các kết quả, hiệu quả đầu tư vào cơ sở hạ tầng để phục vụ các mục tiêu theo chiến lược phát triển KT-XH tại địa phương.

c. Vai trò của của quản lý đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN

– Quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn NSNN có ý nghĩa hết sức to lớn trong quá trình thực hiện đầu tư công, cũng như giảm tình trạng đầu tư công kém hiệu quả và nâng cao hiệu quả đầu tư xã hội cũng như giảm áp lực lạm phát trong nước hay gây mất cân bằng vĩ mô.

– Quản lý đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN có tác động lớn đến sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế của địa phương.

– Quản lý đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN còn tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư công.

– Quản lý đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN nhằm nâng cao hiệu quả của việc quản lý vốn đầu tư của Nhà nước, bảo đãm cho ngồn vốn này được sử dụng đúng mục đích, phát triển hài hòa giữa lợi ích kinh tế – xã hội ở địa phương.

– Thực hiện các biện pháp đảm bảo dự án thực hiện đúng tiến độ đề ra, ngăn ngừa các tiêu cực trong quá trình thực hiện đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hiệu quả.

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÁC CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Phần phạm vi nghiên cứu đã giới hạn nội dung trong Quản lý đầu tư các công trình giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách tỉnh nên các nội dung dưới đây cũng chỉ tập trung vào đối tượng này.

1.2.1. Quản lý quy hoạch đầu tư hạ tầng giao thông sử dụng vốn NSNN

Quy hoạch được coi là nội dung đầu tiên trong quản lý đầu tư HTGT đường bộ sử dụng vốn NSNN. Quy hoạch là một trong những khâu quyết định và có vai trò rất quan trọng trong sử dụng nguồn lực có giới hạn của NSNN cũng như tài nguyên khác trong khi có quá nhiều nhu cầu dịch vụ công phải thỏa mãn cho xã hội. Do đó quy hoạch không đúng sẽ hình thành cơ sở hạ tầng giao thông mà nó không thỏa mãn nhu cầu bức thiết nhất, ví dụ khi người ta quyết định xây dựng tuyến đường giao thông ở những tuyến chưa cần thiết trong khi cần cây cầu kết nối giữa hai tuyến đường bộ của hai trung tâm kinh tế (Lê Văn Thịnh (2008)).

Quy hoạch đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn ngân sách là giai đoạn xây dựng mục tiêu, bố trí không gian, dự tính nguồn lực cần thiết từ ngân sách để đạt được xây dựng cơ sở hạ tầng một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Nghĩa là giai đoạn này sẽ phải trả lời các câu hỏi:

  • Các cở sở hạ tầng GTĐB nào cần thiết phải đầu tư trong giai đoạn tới;
  • Bố trí địa điểm không gian nào;
  • Cần bao nhiêu nguồn lực từ ngân sách.

Đồng thời quy hoạch phải hình thành được danh mục đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn ngân sách nhà nước, tuy nhiên danh mục này phải là một bộ phận cho danh mục đầu tư CSHT chung.

Mục tiêu đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN cần đầu tư xây dựng được xác định phải mang tính khách quan và thực sự cấp thiết chứ không phải chủ quan mong muốn chi phối. Mục tiêu này là kết quả của những phân tích đánh giá và tổng kết ý kiến các chuyên gia, cộng đồng doannh nghiệp và dân cư.

Việc quy hoạch đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN sẽ được thực hiện bởi một loạt các cơ quan chính phủ và chính quyền địa phương thực hiện và dựa trên quy hoạch tỉnh theo Luật quy hoạch 2019. Theo cách thức kế hoạch hóa mới ở Việt Nam, cơ quan chính quyền địa phương đảm trách công việc này là UBND tỉnh, Sở Giao thông vận tải, Sở Tài chính và Sở Kế hoạch và đầu tư ở đó. Cuối cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư tập hợp tất cả các nhu cầu và thống nhất các cơ quan liên quan để hoàn thành dự thảo kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng nói chung và giao thông đường bộ nói riêng xin tài trợ bằng vốn ngân sách và gửi UBND tỉnh. Họ sẽ phối hợp để thực hiện nhưng trong đó UBND tỉnh chịu trách nhiệm chính để hoàn thành kế hoạch này và trình Hội đồng nhân dân tỉnh. Nguồn ngân sách sẽ gồm từ ngân sách Trung ương và địa phương.

Việc quy hoạch phụ thuộc vào nguồn lực ngân sách nhà nước địa phương là bao nhiêu. Có thể nói gần đây do tình hình nợ công ngày càng lớn thì yếu tố này càng quyết định.

Các tiêu chí đánh giá

Quy hoạch các công trình giao thông đường bộ được tích hợp với quy hoạch tỉnh (% đồng ý)

Chất lượng đồ án quy hoạch có tầm nhìn không có tình trạng “treo”

Việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch chưa kịp thời phù hợp với điều kiện thực tiễn (% đồng ý);

Quá trình triển khai thực hiện và điều chỉnh quy hoạch doanh nghiệp, tổ chức và dân cư được tham vấn ý kiến (% đồng ý);

Trình độ tổ chức, cá nhân làm công tác tư vấn và quản lý quy hoạch đáp ứng được yêu cầu quản lý (% đồng ý);

Bộ máy quản lý quy hoạch đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý quy hoạch (% đồng ý);

1.2.2. Thực hiện chuẩn bị đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN

Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, lập dự án đầu tư xây dựng công trình HTGT đường bộ là để trình người quyết định đầu tư xem xét việc đầu tư dự án có khả thi hay không, đảm bảo hiệu quả hay không về các mặt như sự phù hợp với quy hoạch, khả năng giải phóng mặt bằng, nguồn vốn, vệ sinh môi trường, an ninh quốc phòng…; xem xét dự án có đáp ứng được sự kết nối với các công trình hạ tầng kỹ thuật khác, việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn và những nội dung khác liên quan.

Quản lý công tác chuẩn bị đầu tư các công trình giao thông là tiến hành quản lý các công việc phục vụ cho việc đầu tư theo đúng nội dung được xác định, công tác này bao gồm các bước chủ yếu sau:

– Quản lý lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư

+ Nội dung lập, thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình được thực hiện theo quy định của Chính phủ: tại Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2009, Nghị định số 83/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2009; Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 8 năm 2015 đến nay).

+ Công tác thẩm định nguồn vốn của dự án theo: Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg ngày ngày 30 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị định số 77/2015/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 11 năm 2015 đến nay); các văn bản hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và của địa phương.

– Quản lý lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế – dự toán

+ Lập thiết kế thực hiện theo quy định của Chính phủ tại: Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2009, Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2009 và Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 (hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 8 năm 2015 đến nay), Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 5 năm 2015).

+ Thẩm định, phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công, dự toán thực hiện theo quy định của Chính phủ tại: Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ và Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 (hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 8 năm 2015 đến nay), Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 5 năm 2015).

– Quản lý công tác đấu thầu

Việc lập, thẩm định và phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu (hoặc hồ sơ yêu cầu), đánh giá hồ sơ dự thầu (hoặc hồ sơ đề xuất) và kết quả đấu thầu (hoặc kết quả chỉ định thầu) tuân thủ theo quy định của pháp luật về đấu thầu như: Luật Đấu thầu, Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ và Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ (hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 8 năm 2014 đến nay)… và các văn bản hướng dẫn do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành.

Cơ quan chủ trì: bao gồm chủ đầu tư và các cơ quan chuyên môn như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông vận tải, Sở Tài chính, Sở Xây dựng tham gia. Chủ đầu tư tùy thuộc vào việc phân cấp đầu tư các công trình giao thông bằng nguồn ngân sách nhà nước địa phương. Các công trình giao thông đường bộ thường có tổng mức đầu tư lớn nên do UBND tỉnh là chủ đầu tư, một số công trình giao thông có số vốn thấp khoảng 5 tỷ đồng hay do ngân sách cấp huyện tài trợ thì do UBND huyện làm chủ đầu tư.

Các tiêu chí đánh giá

Tổng số dự án và mức đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn ngân sách nhà nước

Mức và tỷ lệ giảm dự toán vốn đầu tư nhờ thẩm định dự toán đầu tư các công trình giao thông

Thời gian thực hiện các thủ tục liên quan chuẩn bị dự án được rút ngắn

Quy trình thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt dự án tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước minh bạch, rõ ràng dễ thực hiện

Cán bộ làm công tác thẩm định, phê duyệt dự án giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước nắm chắc quy định

Quy trình thủ tục lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế, dự toán của dự án giao thông sử dụng vốn ngân sách nhà nước minh bạch, rõ ràng dễ thực hiện

Cán bộ làm công tác lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế, dự toán của dự án giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước minh bạch, rõ ràng dễ thực hiện

Công tác đấu thầu được phân cấp rõ ràng

Quy trình thủ tục đấu thầu dự án đầu tư giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước minh bạch, rõ ràng dễ thực hiện.

1.2.3. Lập, phân bổ kế hoạch vốn ngân sách nhà nước cho các công trình đầu tư các công trình giao thông

Kế hoạch vốn ngân sách cho HTGT là kế hoạch giao vốn để thực hiện chi cho từng dự án đầu tư được cấp thẩm quyền phê duyệt theo từng thời kỳ như: kế hoạch ngắn hạn thường là một năm, kế hoạch trung hạn thường là từ ba đến năm năm, kế hoạch dài hạn thường là từ năm năm trở lên. Kế hoạch vốn ngân sách cho HTGT thể hiện đầy đủ nội dung để làm công cụ quản lý hoạt động đầu tư và quản lý giải ngân. Kế hoạch vốn ngân sách cho các công trình HTGT tỉnh phản ánh khả năng huy động, bố trí sử dụng từ nguồn vốn ngân sách tỉnh, theo tiến độ thời gian và từng dự án hoặc hạng mục công trình cụ thể.

Việc lập kế hoạch vốn ngân sách cho các công trình HTGT đường bộ phải tập trung gắn kết chặt chẽ với mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm tiếp theo, cho từng giai đoạn để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tránh lãng phí, thất thoát nguồn vốn đầu tư nhà nước, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 và Luật Đầu tư công năm 2014 và các quy định khác có liên quan thì kế hoạch chi ngân sách nhà nước gồm kế hoạch chi ngân sách nhà nước trung hạn và kế hoạch chi ngân sách nhà nước hàng năm (dự toán chi ngân sách nhà nước).

Xây dựng kế hoạch đầu tư trung hạn từ nguồn ngân sách nhà nước: Trình tự xây dựng, thẩm định và tổng hợp kế hoạch đầu tư công trung hạn từ nguồn ngân sách nhà nước tuân thủ theo trình tự xây dựng, thẩm định và tổng hợp kế hoạch đầu tư công trung hạn; diễn ra trong năm thứ tư và năm thứ năm của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước. Xây dựng kế hoạch đầu đầu tư hàng năm: Kế hoạch chi vốn đầu tư hàng năm là công cụ quản lý nhà nước quan trọng trong dự toán chi NSNN hàng năm. Đối với dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN, kế hoạch vốn đầu tư hàng năm là điều kiện tiên quyết để được thanh toán vốn, đồng thời là mức vốn tối đa được phép thanh toán cho dự án trong năm kế hoạch. Vì vậy thực hiện tốt kế hoạch vốn đầu tư, đồng nghĩa với việc quyết định đầu tư và bố trí vốn đầu tư cho từng dự án hàng năm phù hợp với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ được duyệt và đảm bảo được tiến độ theo quy định giúp cho quá trình giải ngân nhanh gọn, tăng cường quản lý vốn đầu tư từ NSNN (Bùi Tiến Hanh, Đặng Văn Du (2018))

Trình tự lập kế hoạch đầu tư: Lập kế hoạch vốn đầu tư cho các công trình giao thông đường bộ sử dụng vốn NSNN là toàn bộ chi phí cần thiết để thực hiện dự án xây dựng cơ sở hạ tầng này. Là bước đầu để phân tích, đánh giá khả năng, nguồn lực của dự án mang tính khả thi ra sao trước khi quyết định đầu tư; sao cho phù hợp với tình hình thực tế theo định hướng phát triển từng giai đoạn, từng thời kỳ đã được các cấp thẩm quyền phê duyệt (Trần văn Giao (2011))

Lập, tổng hợp và trình phê duyệt kế hoạch hàng năm, căn cứ vào chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định, Thông tư hướng dẫn của các Bộ, ban, ngành, UBND tỉnh giao cho Sở KH và ĐT, Tài chính, Xây dựng, Giao thông vận tải… tổ chức hướng dẫn các đơn vị chủ đầu tư trực thuộc lập kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản nói chung và kế hoạch vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ.

Việc lập Kế hoạch đầu tư nói chung và đầu tư các công trình HTGT đường bộ bao gồm kế hoạch trung hạn và kế hoạch hàng năm. Kế hoạch trung hạn được lập trong thời hạn 05 năm, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 05 năm; kế hoạch hằng năm để triển khai thực hiện kế hoạch trung hạn, phù hợp với mục tiêu kế hoạch phát triển KTXH hằng năm và cân đối vốn đầu tư XDCB hằng năm ở địa phương.

Lập kế hoạch đầu tư các công trình HTGT đường bộ trung hạn căn cứ vào tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 05 năm và kế hoạch đầu tư XDCB trung hạn giai đoạn trước; định hướng phát triển kinh tế – xã hội, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 05 năm của địa phương, mục tiêu ưu tiên đầu tư trong kế hoạch 05 năm của địa phương; quy hoạch phát triển của địa phương đã được phê duyệt; nhu cầu và dự báo khả năng huy động các nguồn vốn đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH, khả năng cân đối vốn NSNN, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối NSNN; dự báo tác động của tình hình thế giới và trong nước đến sự phát triển và khả năng huy động các nguồn vốn đầu tư; cơ chế và chính sách thu hút các nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế để xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH.

Phân bổ kế hoạch đầu tư là một khâu tiếp theo quy hoạch của tiến trình thực hiện quản lý đầu tư các công trình HTGT đường bộ sử dụng vốn NSNN; thực hiện phân bổ được tuân thủ dựa trên những tiêu chuẩn, định mức và nguyên tắc được quy định trong trình tự quản lý, cấp phát và sử dụng vốn của pháp luật (Trần văn Giao (2011)).

Thực hiện phân bổ, giao kế hoạch vốn đầu tư các công trình HTGT đường bộ sử dụng vốn NSNN phải tuân thủ đúng quy định của Luật NSNN, Luật Đầu tư công, Luật Đấu thầu và Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 02/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị Quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và các quy định hiện hành khác, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương hàng năm. Tập trung bố trí vốn để thực hiện các Nghị quyết của HĐND tỉnh; Phù hợp với khả năng cân đối nguồn vốn đầu tư công và thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách. Việc phân bổ vốn đầu tư tuân thủ nguyên tắc, tiêu chi, định mức phân bổ vốn đầu tư công đã được cấp có thẩm quyền duyệt. Bảo đảm quản lý tập trung, thống nhất về mục tiêu, cơ chế, chính sách; thực hiện phân cấp trong quản lý đầu tư tạo quyền chủ động cho địa phương theo quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư.

Cơ quan chủ trì với lập và phân bổ vốn đầu tư các công trình giao thông bằng nguồn NSNN: HĐND và UBND tỉnh có sự tham mưu của các Sở KH và ĐT, Tài chính và Giao thông vận tải.

Các tiêu chí đánh giá

Tổng số vốn đầu tư các công trình giao thông đường bộ sử dụng vốn NSNN;

Kế hoạch vốn đầu tư các công trình giao thông đường bộ sử dụng vốn NSNN tuân thủ các quy định của pháp luật (% đồng ý);

Kế hoạch vốn đầu tư các công trình giao thông đường bộ sử dụng vốn NSNN được lập sát với thực tiễn và tình hình kinh tế xã hội của địa phương (% đồng ý);

Lập và phân bổ Kế hoạch vốn đầu tư các công trình giao thông đường bộ sử dụng vốn NSNN trung hạn là cơ sở cho kế hoạch hàng năm (% đồng ý);

Kế hoạch vốn đầu tư các công trình giao thông đường bộ sử dụng vốn NSNN bố trí còn dàn trải, chưa tập trung, tình trạng xây dựng kéo dài, hiệu quả đầu tư chưa cao (% đồng ý);

Phân bổ Kế hoạch vốn đầu tư các công trình giao thông đường bộ sử dụng vốn NSNN đúng tiến độ và không nợ đọng (% đồng ý);

1.2.4. Quản lý chất lượng đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN

Công tác này được thực hiện qua nhiều khâu khác nhau, bao gồm:

a. Quản lý khảo sát và thiết kế xây dựng công trình

Chủ đầu tư tự thực hiện hoặc thuê tổ chức, cá nhân có chuyên môn phù hợp với loại hình khảo sát để giám sát công tác khảo sát xây dựng; bởi vì dự án đầu tư các công trình giao thông có vị trí xây dựng trãi dài theo tuyến, trên địa hình thay đổi, nếu không giám sát kỹ ở khâu khảo sát dẫn đến số liệu tự nhiên khác với thực tế, làm ảnh hưởng đến chất lượng ở bước thiết kế và thi công.

Từ khi Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ có hiệu lực thi hành (ngày 15/4/2013) cho đến nay chủ đầu tư phải gửi hồ sơ thiết kế đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thẩm tra theo quy định. Đây là điểm mới nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng thiết kế đối với các công trình xây dựng có quy mô lớn; cơ quan quản lý nhà nước gửi kết quả thẩm tra thiết kế cho chủ đầu tư làm cơ sở phê duyệt.

Việc khảo sát và hồ sơ thiết kế được quản lý chặt chẽ ngay từ đầu thì đây là một trong những khâu quan trọng góp phần chống lãng phí, thất thoát.

b. Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình

Tổ chức quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình theo quy định của pháp luật; theo đó, cần phải chú ý tới công tác giám sát thi công xây dựng và nghiệm thu công trình.

Chủ đầu tư xây dựng công trình phải tổ chức giám sát thi công xây dựng theo những nội dung chủ yếu sau: Kiểm tra các điều kiện khởi công của công trình xây dựng; kiểm tra sự phù hợp về điều kiện năng lực của nhà thầu thi công xây dựng so với hồ sơ dự thầu và hợp đồng xây dựng mà nhà thầu đã cam kết, ký kết với chủ đầu tư; kiểm tra và giám sát chất lượng vật tư, vật liệu và thiết bị lắp đặt vào công trình do nhà thầu thi công xây dựng cung cấp theo yêu cầu của thiết kế; kiểm tra và giám sát trong quá trình thi công xây dựng công trình theo các điều kiện nhà thầu thi công xây dựng cam kết trong hợp đồng xây dựng. Báo cáo chất lượng thi công xây dựng công trình cho cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng theo phân cấp.

Nhà thầu thi công phải tổ chức bộ phận chuyên trách đảm bảo duy trì hoạt động giám sát thi công xây dựng công trình (giám sát B); nhà thầu thiết kế thực hiện giám sát quyền tác giả trong suốt thời gian thi công xây dựng.

Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức nghiệm thu công trình (nghiệm thu A-B) theo đúng các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng theo tài liệu chỉ dẫn kỹ thuật kèm theo hợp đồng giao nhận thầu xây dựng, với các thành phần theo đúng quy định.

c. Quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình

Tiến độ thi công xây dựng công trình phải lập trước khi triển khai thi công. Tiến độ thi công xây dựng công trình phải phù hợp với tổng tiến độ của dự án được duyệt. Công trình xây dựng có quy mô lớn, thời gian thi công dài thì tiến độ xây dựng công trình được lập cho từng giai đoạn, tháng, quý, năm.

Nhà thầu thi công xây dựng công trình có nghĩa vụ lập tiến độ thi công xây dựng chi tiết, bố trí xen kẽ kết hợp các công việc cần thực hiện nhưng phải bảo đảm phù hợp với tổng tiến độ của dự án.

Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát và các bên liên quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình và điều chỉnh tiến độ trong trường hợp thi công xây dựng ở một số giai đoạn bị kéo dài nhưng không được làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ của dự án. Trường hợp xét thấy tổng tiến độ của dự án bị kéo dài thì chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư xem xét, quyết định việc điều chỉnh tổng tiến độ của dự án cho phù hợp.

Khuyến khích đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhưng phải đảm bảo chất lượng công trình xây dựng. Việc thưởng cho nhà thầu xây dựng vượt tiến độ hoặc xử phạt do chậm tiến độ được thực hiện theo Luật Xây dựng.

d. Quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình

Trong quá trình thi công xây dựng công trình phải được thực hiện theo khối lượng của thiết kế, dự toán được phê duyệt và các điều khoản được chủ đầu tư và nhà thầu cam kết trong hợp đồng đã ký.

Khối lượng thi công xây dựng phải được tính toán, xác nhận giữa chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát theo thời gian hoặc giai đoạn thi công và được đối chiếu với khối lượng thiết kế, dự toán được duyệt, hợp đồng đã ký làm cơ sở nghiệm thu, thanh quyết toán hợp đồng.

Khi có khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán xây dựng công trình được duyệt và ngoài hợp đồng thì chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng phải xem xét xử lý. Đối với công trình sử dụng vốn NSNN thì chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư xem xét, quyết định.

Khối lượng phát sinh được người quyết định đầu tư, chủ đầu tư chấp thuận, phê duyệt là cơ sở để thanh quyết toán công trình.

Nghiêm cấm việc khai khống, khai tăng khối lượng hoặc thông đồng giữa nhà thầu và các bên tham gia dự án làm sai khối lượng thanh toán.

e. Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình

Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phải đảm bảo mục tiêu, hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình và phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; phải theo từng công trình và phù hợp với các giai đoạn đầu tư xây dựng công trình, các bước thiết kế, loại nguồn vốn và các quy định khác có liên quan của nhà nước.

Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình bao gồm: tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng công trình; định mức và giá xây dựng; điều kiện năng lực; quyền và trách nhiệm của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, nhà thầu trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng; thanh quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước.

f. Quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng công trình

Nhà thầu thi công xây dựng phải lập các biện pháp bảo đảm an toàn cho người và công trình trên công trường xây dựng. Các biện pháp an toàn liên quan đến nhiều bên thì phải được các bên thỏa thuận và nhất trí. Các biện pháp an toàn, nội quy về an toàn phải được công khai trên công trường xây dựng để mọi người biết và chấp hành. Ở những vị trí nguy hiểm trên công trường phải bố trí người hướng dẫn, cảnh báo đề phòng tai nạn có thể xảy ra.

Nhà thầu thi công xây dựng, chủ đầu tư và các bên liên quan phải thường xuyên kiểm tra giám sát công tác an toàn lao động trên công trường. Khi phát hiện có vi phạm về an toàn lao động thì phải đình chỉ thi công xây dựng. Người để xảy ra vi phạm về an toàn lao động thuộc phạm vi quản lý của mình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm đào tạo, hướng dẫn, phổ biến các quy định về an toàn lao động. Đối với công việc yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động thì người lao động phải có chứng nhận đào tạo an toàn lao động. Nghiêm cấm sử dụng người lao động chưa được đào tạo và chưa được hướng dẫn về an toàn lao động. Nhà thầu thi công phải cung cấp đầy đủ các trang bị bảo hộ lao động, an toàn lao động cho người lao động theo quy định trên công trường. Khi có sự cố về an toàn lao động thì nhà thầu thi công xây dựng, chủ đầu tư và các bên liên quan phải có trách nhiệm khắc phục và bồi thường thiệt hại cho người lao động trong trường hợp không bảo đảm an toàn lao động cho công trình.

g. Quản lý môi trường xây dựng công trình

Nhà thầu thi công xây dựng phải thực hiện các biện pháp đảm bảo môi trường cho người lao động trên công trường và bảo vệ môi trường xung quanh công trường xây dựng, bao gồm có biện pháp chống bụi, chống ồn, xử lý phế thải và thu dọn hiện trường. Đối với những công trình xây dựng trong khu vực đô thị còn phải thực hiện các biện pháp bao che, thu dọn phế thải để đưa đến nơi quy định. Trong quá trình vận chuyển vật liệu và phế thải phải có biện pháp che chắn đảm bảo an toàn, vệ sinh môi trường.

Nhà thầu thi công xây dựng, chủ đầu tư phải có trách nhiệm kiểm tra giám sát việc thực hiện bảo vệ môi trường xây dựng, đồng thời chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường. Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường có quyền đình chỉ thi công công trình và yêu cầu nhà thầu thực hiện đúng biện pháp về bảo vệ môi trường đối với trường hợp không tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường.

Các tiêu chí đánh giá

Việc gửi hồ sơ thiết kế của các chủ đầu tư đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thẩm tra theo quy định nghiêm túc (% đồng ý);

Việc tổ chức giám sát thi công xây dựng của các chủ đầu tư được thực hiện theo quy trình chặt chẽ và minh bạch (% đồng ý);

Có sự phối hợp chặt chẽ giữa Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát và các bên liên quan trong theo dõi, giám sát quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình (% đồng ý);

Quá trình thi công xây dựng công trình được đúng thực hiện theo khối lượng của thiết kế, dự toán được phê duyệt và các điều khoản được chủ đầu tư và nhà thầu cam kết trong hợp đồng (% đồng ý);

Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình được thực hiện chặt chẽ theo quy định (% đồng ý);

Các biện pháp bảo đảm an toàn cho người và công trình trên công trường xây dựng được nghiêm túc chấp hành (% đồng ý);

1.2.5. Thực hiện công tác giám sát và đánh giá đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN

Giám sát, đánh giá đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN là hoạt động theo dõi, kiểm tra và đánh giá mức độ đạt được của quá trình đầu tư so với yêu cầu và mục tiêu đầu tư. Giám sát, đánh giá đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN gồm giám sát, đánh giá dự án đầu tư và giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư theo quy định của Chính phủ tại Nghị định: số 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009; số 84/2015/NĐ-CP ngày 30/9/2015 và hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ đạo của cấp có thẩm quyền.

Giám sát và đánh giá đầu tư là công cụ theo dõi tiến độ thực hiện dự án đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN nhằm cung cấp cho cơ quan quản lý xác định được mức độ phù hợp, mức độ hoàn thành, tính hiệu quả, phù hợp hay không phù hợp của việc đầu tư.

Công tác kiểm tra, giám sát quản lý sử dụng vốn đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN góp phần đảm bảo sự tuân thủ pháp luật trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư từ NSNN; cụ thể là hoạt động của các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát với mục tiêu chính là ngăn chặn, phòng ngừa và xử lý vi phạm nếu xảy ra. Kiểm tra là xem xét, đánh giá hoạt động của các chủ thể đúng quy định hay không; mục đích chính là uốn nắn, chấn chỉnh các sai sót. Thanh tra là xem xét hoạt động tại chỗ của các cơ quan, địa phương nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Kiểm toán là xác định tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính, quyết toán, đánh giá sự tuân thủ pháp luật, hiệu quả sử dụng NSNN. Giám sát là theo dõi một hoạt động và buộc đối tượng phải làm theo các tiêu chuẩn, nguyên tắc nhất định. Đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN luôn là hoạt động dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, thất thoát lãng phí nguồn lực của nhà nước; do vậy hệ thống kiểm tra, giám sát vận hành đúng mục tiêu, nhiệm vụ và có kết quả tốt sẽ giúp hạn chế và ngăn chặn các tệ nạn này, đồng thời góp phần hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư NSNN

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2021/ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÁC CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *