Quản lý hoạt động hợp tác quốc tế tại Trường Đại học Ngoại ngữ Đại học Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay
MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu. Chính vì vậy, hội nhập quốc tế sâu, rộng về giáo dục và đào tạo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các trường đại học ở Việt Nam hiện nay. Sau hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã ghi nhận những thành công lớn trong hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo. Đã có nhiều chương trình hợp tác đào tạo, dự án ODA, dự án trao đổi giáo viên, sinh viên, giảng viên và các chương trình liên kết đào tạo thực tế giữa các trường đại học ở Việt Nam và các trường của quốc gia khác.
Trong xu thế phát triển của giáo dục hiện đại, hợp tác quốc tế (HTQT) của các trường đại học diễn ra như một tất yếu khách quan và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong quá trình phát triển của các trường đại học trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Xu hướng toàn cầu hóa và sự bùng nổ, phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã và đang thúc đẩy giáo dục đại học của mỗi quốc gia đổi mới không ngừng, đặt ra yêu cầu phải hội nhập quốc tế để cập nhật nhanh chóng những xu thế mới, tri thức mới trong quá trình đào tạo của các trường. Tại Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế trong đó xác định nhiệm vụ và giải pháp về chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả HTQT trong giáo dục, đào tạo: “Chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục, đào tạo trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa và thành tựu khoa học, công nghệ của nhân loại. Hoàn thiện cơ chế hợp tác song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế về giáo dục, đào tạo. Tăng quy mô đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đối với giảng viên các ngành khoa học cơ bản và khoa học mũi nhọn, đặc thù… Mở rộng liên kết đào tạo với những cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín, chủ yếu trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; đồng thời quản lý chặt chẽ chất lượng đào tạo…”
Với mục tiêu phấn đấu trở thành trung tâm trao đổi văn hóa, khoa học công “nghệ ở khu vực Miền Trung-Tây Nguyên, Đại học Đà Nẵng đã có chủ trương đa dạng hóa các mối giao lưu quốc tế với các trường Đại học và Viện nghiên cứu trên thế giới. Nhiều dự án trang thiết bị và đào tạo đã được tiến hành giúp nhà trường cải thiện cơ sở vật chất, nhanh chóng cập nhật chương trình đào tạo. Các chương trình hợp tác quốc tế nhắm vào các hoạt động cụ thể như trao đổi giảng viên, trao đổi sinh viên; Hợp tác nghiên cứu khoa học, đào tạo và trao đổi văn hóa, giao lưu kinh tế,… Trong khuôn khổ hợp tác song phương, Đại học Đà Nẵng đã và đang đào tạo chương trình đại học và sau đại học cho khoảng 500 sinh viên quốc tế của các nước Lào, Trung Quốc và tiếp nhận nhiều sinh viên từ các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Na Uy, Nga, Pháp, Đức, Úc, v.v. đến thực tập ngắn hạn. Hàng năm có hàng trăm sinh viên của Đại học Đà Nẵng đi học nước ngoài thông qua các chương trình hợp tác song phương. Bằng các nguồn kinh phí khác nhau, Đại học Đà Nẵng đã gửi các cán bộ giảng dạy trẻ ra nước ngoài đào tạo sau đại học tại các trường đã thiết lập quan hệ thành các nhóm giảng dạy – nghiên cứu. Nhờ vậy nhà trường có thể duy trì được mối quan hệ thường xuyên về giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Là một trường thành viên của Đại học Đà Nẵng (ĐHĐN) nên hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục và đào tạo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Trường Đại học Ngoại ngữ (ĐHNN) trong những năm vừa qua. Trong bối cảnh chung của bức tranh hội nhập quốc tế đó, Trường ĐHNN luôn xác định HTQT là con đường hỗ trợ các bước đột phá vào đào tạo chất lượng cao, hoặc là ánh sáng dẫn lối cho chiến lược quốc tế hóa các chương trình đào tạo của Nhà trường.
Hoạt động HTQT của Trường ĐHNN, ĐHĐN đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng sự phát triển của Nhà trường theo hướng hiện đại, tiếp cận nền giáo dục đại học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Hoạt động HTQT là một trong những công tác trọng yếu, phục vụ cho sứ mạng phát triển của Nhà trường. Cụ thể, hoạt động hợp tác quốc tế hỗ trợ tích cực cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao năng lực chuyên môn và tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ, giảng viên và sinh viên được học tập, nghiên cứu và trao đổi chuyên môn ở các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Thông qua hoạt động HTQT, Nhà trường đã thu hút nhiều lượt chuyên gia, tình nguyện viên nước ngoài đến làm việc và hỗ trợ trực tiếp hoạt động dạy – học, nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa của Nhà trường; qua đó giúp các cán bộ, giảng viên và sinh viên của Trường có cơ hội nâng cao năng lực chuyên môn, xúc tiến liên kết đào tạo, trao đổi kinh nghiệm về nghiên cứu, đào tạo và quản lý với các đối tác quốc tế. Ngoài ra, hoạt động HTQT giúp Nhà trường cải tiến phương pháp giảng dạy, đổi mới dạy – học ngoại ngữ, nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới, cập nhật nội dung chương trình đào tạo trên cơ sở hội nhập và phát triển. Mặc dù đạt được nhiều thành công trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về giáo dục tại Nhà trường, tuy nhiên, công tác này vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như các nội dung hợp tác còn giới hạn, các văn bản hợp tác được ký kết chưa được triển khai triệt để, mạng lưới HTQT của Nhà trường tuy đã được quan tâm xây dựng nhưng sự phối hợp thực hiện giữa các Phòng chức năng và các Khoa chuyên môn chưa được chặt chẽ, hiệu quả hoạt động HTQT chưa cao,…”
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động hợp tác quốc tế tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay” với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động HTQT của Nhà trường.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận quản lý hoạt động HTQT ở trường ĐH và thực trạng quản lý hoạt động HTQT ở Trường ĐHNN, ĐHĐN, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động HTQT của Nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động hợp tác quốc tế ở trường đại học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động hợp tác quốc tế tại Trường ĐHNN, ĐHĐN trong giai đoạn hiện nay.
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động HTQT ở trường đại học.
5.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động HTQT tại Trường ĐHNN, ĐHĐN.
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động HTQT tại Trường ĐHNN, ĐHĐN.
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.3. Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý kết quả điều tra
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý hoạt động HTQT tại Trường ĐHNN-ĐHĐN giai đoạn 2020-2023.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm 03 chương đó là:
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động hợp tác quốc tế ở trường đại học.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động hợp tác quốc tế tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động hợp tác quốc tế tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1. Nghiên cứu trên thế giới
Hợp tác được hiểu là cùng nhau góp công sức, góp tài sản để thực hiện một “công việc, mục đích chung và vì lợi ích chung. Hợp tác quốc tế là sự liên kết của nhiều chủ thể có sự khác nhau về quốc tịch, cùng hướng tới một mục tiêu, không chống phá, chiến tranh với nhau.
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động liên kết, phối hợp đào tạo, giáo dục giữa nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ trên thế giới để thúc đẩy sự phát triển về chất và lượng của giáo dục. Hoạt động đào tạo hợp tác quốc tế đang diễn ra mạnh và trong lĩnh vực đào tạo đại học và sau đại học.
Hiện nay, trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, hoạt động đào tạo quốc tế cũng diễn ra rất sôi nổi và dần mang sự quan trọng nhất định đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo tại Việt Nam. Tầm quan trọng của việc hợp tác quốc tế thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
– Hợp tác quốc tế thúc đẩy sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam, buộc giáo dục Việt nam phải cải tiến, nâng cao, hiện đại hoá, cập nhật tri thức mới, cộng nghệ mới để phù hợp với tình hình hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục nhưng vẫn phải giữ vững bản sắc, văn hoá đặc trưng của dân tộc và khẳng định được chủ quyền của quốc gia.
– Hợp tác quốc tế, đặc biệt là với các cơ sở giáo dục quốc tế uy tín là cơ hội để cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh với các hình thức giáo dục khác, thu hút nhiều nhân tài hơn nữa. Giúp xây dựng cho thị trường lao động Việt Nam nguồn lao động dồi dào về số lượng và đảm bảo về chất lượng.”
1.2.2. Hoạt động hợp tác quốc tế ở trường đại học
“- Hợp tác về lĩnh vực đào tạo như liên kết đào tạo với nước ngoài, đưa giảng viên nước ngoài vào giảng dạy cho các chương trình đào tạo tại Trường.
– Hợp tác về lĩnh vực nghiên cứu khoa học, cùng thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học quốc tế tại Việt Nam hoặc nước ngoài; chuyển giao và tiếp nhận kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ mới phục vụ đào tạo và phát triển kinh tế – xã hội thuộc các lĩnh vực mà các bên cùng quan tâm; tiếp nhận và thực hiện các dự án tài trợ nước ngoài và các tổ chức phi chính phủ.
– Đoàn ra, đoàn vào tham quan khảo sát, học tập kinh nghiệm, giảng dạy, quản lý; tham gia, tổ chức hội thảo, hội nghị quốc tế, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ.
– Tạp chí và in ấn tài liệu đăng tin các bài báo khoa học trên tạp chí nước ngoài, xuất bản giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo phục vụ dạy và học.
– Tìm kiếm học bổng cho giảng viên và sinh viên.
– Trao đổi sinh viên và các hoạt động ngoại khóa của sinh viên. Trao đổi giảng viên, chuyên gia nước ngoài.
– Các chương trình hợp tác với các công ty, doanh nghiệp, cơ quan Chính phủ tại nước ngoài.
1.2.3. Quản lý hoạt động hợp tác quốc tế
Quản lý hoạt động HTQT phải tuân thủ theo các quy định của Nhà nước, của cơ quan chủ quản; đảm bảo chủ quyền, độc lập dân tộc và an ninh quốc gia, phù hợp với các chuẩn mực văn hóa giao tiếp và ứng xử và thông lệ quốc tế; thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo, lập kế hoạch, xin ý kiến thẩm định phê duyệt theo quy định của Chính phủ và các bộ, ngành, đơn vị hữu quan.
Hoạt động HTQT phải hướng đến mục tiêu khai thác, tận dụng hiệu quả nguồn ngoại lực và sử dụng hiệu quả nội lực để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng năng lực, trình độ của CBCCVC; tiếp nhận công nghệ đào tạo và nghiên cứu khoa học mới; thu hút các nguồn lực, học bổng cho SV; tích cực hội nhập quốc tế và nâng cao vị thế của nhà trường nói riêng, tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với các nước.
Quản lý hoạt động HTQT của trường đại học phải đảm bảo sự lãnh đạo tập trung thống nhất và sự phối hợp chặt chẽ, liên thông, liên kết giữa các đơn vị nhưng có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng; đề cao trách nhiệm và vai trò chủ động sáng tạo của các đơn vị, cá nhân; tôn trọng, khuyến khích các đề xuất, sáng kiến, đảm bảo sự đồng bộ, kiểm tra, giám sát chặt chẽ của các cấp quản lý; nhằm phục vụ cho nghĩa vụ và lợi ích của nhà trường.
Như vậy, quản lý hợp tác quốc tế là quá trình tác động của cán bộ quản lý đến hoạt động của GV, nhân viên trong trường theo quy trình gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, đánh giá, giúp các GV, nhân viên thực hiện tốt các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm tìm ra các giải pháp cải tiến quá trình dạy học để tạo điều kiện tốt nhất phát triển hoạt động giảng dạy của nhà trường.
Theo chu trình PDCA, quản lý hoạt động HTQT ở trường ĐH là việc triển khai đầy đủ nội dung của từng bước P (Plan – Lập kế hoạch), D (Do – Triển khai thực hiện), C (Check – Đo lường, đánh giá), A (Act – Cải tiến). Áp dụng chu trinh PDCA trong quản lý hoạt động HTQT ở trường ĐH sẽ giúp hoạt động HTQT của Nhà trường vận hành có hệ thống và luôn cải tiến nhằm đạt được mục tiêu hoạt động HTQT đã đề ra.”
Thời gian
TQM
ĐÁP ỨNG NHU CẦU KHÁCH HÀNG
ISO 9000
Hiệu quả
Phân tích dữ liệu
Thực hiện cải tiến
A
A
A
C
D
P
1.3. Nội dung chính của hoạt động hợp tác quốc tế ở trường đại học
1.3.1. Vai trò, tầm quan trọng của hoạt động HTQT ở trường ĐH
a. Hợp tác quốc tế là một xu hướng tất yếu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và quốc tế hóa hiện nay, phát triển giáo dục là “một xu hướng tất yếu trong một quá trình gia tăng sự trao đổi kiến thức và kinh nghiệm xuyên quốc gia. Sự trao đổi đó được thực hiện bởi con người, công nghệ thông tin và truyền thông, và sự dịch chuyển của cơ cấu nền kinh tế. Xét ở một bối cảnh rộng lớn, các trường đại học không chỉ là một thiết chế giáo dục, mà còn là một môi trường uy tín dẫn đầu các lĩnh vực trong xã hội thông qua các hoạt động nghiên cứu của mình. Sự phát triển của các trường đại học diễn ra không ngừng và nó càng diễn ra sâu rộng hơn trong một môi trường rộng mở với những tác nhân mới tác động từ bên ngoài. Trong bối cảnh kinh tế – xã hội đó, HTQT trong giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng là xu hướng tất yếu, nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu, chất lượng đào tạo, năng lực cạnh tranh, cải thiện cơ sở vật chất…
b. Hợp tác quốc tế góp phần nâng cao vị thế các trường đại học
Các bảng xếp hạng uy tín đều sử dụng các chỉ tiêu liên quan đến yếu tố quốc tế như tỉ lệ sinh viên quốc tế, số bài báo khoa học quốc tế, số lượng giảng viên quốc tế, số lượng chương trình liên kết đào tạo (LKĐT) với nước ngoài.
• Quacquarelli Symonds (QS): Trong tổng điểm đánh giá của QS, 5/13 tiêu chí xếp hạng đại học của QS liên quan đến yếu tố quốc tế: Tỉ lệ giảng viên quốc tế, tỉ lệ sinh viên quốc tế, tỉ lệ giảng viên và nghiên cứu viên quốc tế, tỉ lệ sinh viên đi trao đổi nước ngoài. Theo QS, tỷ lệ giảng viên và sinh viên quốc tế chứng tỏ sự thu hút và khả năng xây dựng thương hiệu quốc tế của mỗi cơ sở giáo dục, cung cấp môi trường đa quốc gia, tạo điều kiện giao thoa văn hóa, phát triển kỹ năng mềm – những kỹ năng ngày càng có giá trị đối với nhà tuyển dụng. Năm 2021 có 2 trường đại học Việt Nam nằm trong 801-1000 trường đại học hàng đầu thế giới (ĐHQG Hà Nội và ĐHQG TPHCM).
• Times Higher Education (THE): Trong 5 nhóm chỉ số chính có triển vọng quốc tế (giảng viên, sinh viên và nghiên cứu) chiếm trọng số 7,5%, bao gồm tỷ lệ sinh viên quốc tế/ sinh viên trong nước (2,5%), tỷ lệ giảng viên quốc tế/giảng viên trong nước (2,5%), hợp tác quốc tế (2,5%). Theo THE, khả năng thu hút được sinh viên đại học, sau đại học và giảng viên từ khắp nơi trên thế giới là chìa khóa dẫn đến thành công của trường trong việc củng cố vị thế quốc tế.
• University Ranking by Academic Performance (URAP): trong 6 chỉ số chính, hợp tác quốc tế chiếm 15% tổng điểm. Theo URAP: HTQT là công cụ thể hiện sự chấp nhận toàn cầu đối với trường đại học. Năm 2019, Việt Nam có 08 đại học vào bảng xếp hạng này, năm 2020 tăng lên thành 12 trường đại học. Trong đó trường Đại học Tôn Đức Thắng (TDTU) đứng vị trí số 1 Việt Nam và thứ 639 thế giới, tiếp theo là Duy Tân, ĐHQG Hà Nội, ĐH QGTPHCM, ĐH Y, ĐH Bách Khoa, ĐH Nguyễn Tất Thành, ĐH Cần Thơ, ĐH Huế, ĐH Nông Nghiệp, ĐH Sư phạm và ĐH Mỏ và Địa chất.”
c. Đa dạng hóa các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm phục vụ xã hội tốt hơn
Các hình thức HTQT hiện nay rất đa dạng: từ hợp tác trong lĩnh vực đào tạo, “hợp tác trong nghiên cứu khoa học đến hợp tác phát triển năng lực quản lý hoặc quản trị đại học. Các hoạt động HTQT không chỉ góp phần hỗ trợ nâng cao chất lượng mà nó còn giúp hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển trong tương lai của các trường đại học. HTQT ngày nay không chỉ dừng lại trong một một lĩnh vực cụ thể hay một chuyên ngành cụ thể mà nó mang tính chất tổng thể tích hợp vào tất cả các mặt hoạt động của trường đại học góp phần giúp các trường đại học đạt đẳng cấp cao hơn và có môi trường quốc tế cao. HTQT cũng không phải tới từ một phía các trường đại học tiên tiến trên thế giới giúp đỡ các trường đại học Việt Nam trong việc từng bước hòa nhập với môi trường quốc tế mà hiện nay đã mang tính chấthai chiều dựa trên tinh thần đôi bên cùng có lợi dựa và lợi thế mà các bên có được cũng như sự hiểu biết lẫn nhau cũng như tích hợp vào các chương trình ngoại giao giữa các vùng, thành phố hay thậm chí là cả cấp độ quốc gia. HTQT không chỉ là xu hướng tất yếu mà thực sự nó đã được trở thành thành một phần không thể tách rời trong hoạt động đời sống của một trường đại học hiện nay và trong tương lai HTQT không còn được xem như là phần bổ sung hay mang tính chất thành phần đầy đủ của một trường đại học mà vai trò của nó sẽ được đề cao hơn và được tích hợp sâu sắc hơn vào các hoạt động của trường.”
1.3.2. Mục tiêu của hoạt động hợp tác quốc tế ở trường ĐH
Trong các cơ sở giáo dục đại học, với trình độ giáo dục bậc cao và yêu cầu “nền tảng kiến thức sâu rộng, để kết nối được với tri thức trên toàn thế giới, tiếp cận những nền khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại nhất thì phải cần đến sự hợp tác quốc tế, giao lưu với những cơ sở giáo dục đại học ở nước ngoài. Ví dụ như việc trường đại học lớn và danh tiếng tại các Úc, Anh, Mỹ… luôn dành ra những suất học bổng tài trợ cho sinh viên giỏi từ khắp nơi trên thế giới đến đó học tập và nghiên cứu. Hay như trường hợp hằng năm, có những trường đại học ở nước ta tổ chức chương trình giao lưu văn hóa – trao đổi học sinh, trao đổi du học sinh là một cơ hội tuyệt vời để trải nghiệm một nền văn hóa mới sâu sắc. Với một năm học để sống ở nước ngoài, sống với một gia đình bản xứ và học tập tại một trường học địa phương, không chỉ trình độ ngoại ngữ của sinh viên sẽ cải thiện, mà các bạn sinh viên sẽ dần dần trở nên độc lập, xây dựng tình bạn, mở rộng mối quan hệ với những người bạn bè quốc tế. Khi thế giới không còn giới hạn trong một nền văn hóa, mọi người sẽ có một sự hiểu biết mới hơn về bản thân. Đối với sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học, việc được là sinh viên trao đổi quốc tế thì càng trở nên thu hút hơn bởi đây là lúc các sinh viên bắt đầu cần tích lũy nhiều hơn các kinh nghiệm làm việc để chuẩn bị cho tương lai của mình. Tham gia chương trình giao lưu văn hóa bậc đại học, chắc chắn sẽ có được những trải nghiệm và kinh nghiệm quý báu.
Như vậy, có thể thấy hoạt động hợp tác quốc tế trong giáo dục nói riêng và trong các lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội nói chung là điều cần thiết, đem lại những lợi ích nhất định. Theo Điều 43 của Luật Giáo dục đại học thì mục tiêu hoạt động hợp tác quốc tế trong các cơ sở giáo dục đại học đó là:
– Nâng cao chất lượng giáo dục đại học theo hướng hiện đại, tiếp cận nền giáo dục đại học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.
– Tạo điều kiện để cơ sở giáo dục đại học phát triển bền vững, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.”
1.3.3. Các nội dung, hình thức hợp tác quốc tế ở trường ĐH
Sau 35 năm tiến hành đổi mới, HTQT trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo được “nâng lên, giúp nâng cao hiệu quả về HTQT và vị thế của Việt Nam trên thế giới. Đến nay Việt Nam đã có nhiều chương trình hợp tác đào tạo, dự án ODA, dự án trao đổi giáo viên, sinh viên, giảng viên và các chương trình liên kết đào tạo thực tế giữa Việt Nam và các trường của quốc gia khác. Tính đến 31/12/2019, Việt Nam đã có 525 dự án hợp tác đầu tư còn hiệu lực của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục với tổng số vốn đầu tư lên tới gần 4,4 tỉ USD. Việt Nam hiện có 05 cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài và hơn 450 chương trình đào tạo quốc tế được giảng dạy tại 70 cơ sở giáo dục đại học. Hiện nay có khoảng 190.000 sinh viên Việt Nam đang học tập ở nước ngoài, trong đó gần 2.700 ở NewZealand. Song song với đó, có 21.000 sinh viên nước ngoài đang theo học tại các cơ sở giáo dục Việt Nam ở nhiều cấp học khác nhau. Hàng năm, Việt Nam cũng nhận hàng ngàn sinh viên và giáo viên quốc tế đến tham gia các chương trình trao đổi. Ngành giáo dục và các cơ sở đại học đã phê duyệt, ký kết trên 530 chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài, với khoảng 85.000 người đã theo học, trong đó hơn 45.000 người đã hoàn thành chương trình và được cấp bằng. Đây là nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần phục vụ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Hợp tác đào tạo quốc tế ở đây được giới hạn là sự hợp tác giữa các trường ÐH trong nước với các trường ÐH nước ngoài nhằm cung cấp cơ hội học tập cho sinh viên nước ta có thể là đưa sinh viên nước ta ra nước ngoài học tập, có thể là đào tạo theo các chương trình quốc tế cho các sinh viên du học tại chỗ.
Hiện nay ở nước ta có các chương trình đào tạo quốc tế tại Việt Nam do các trường ÐH nước ngoài cung cấp hoặc do các trường ÐH Việt Nam liên kết với các trường ÐH nước ngoài cung cấp. Trong các chương trình này, người học sau khi tốt nghiệp sẽ được nhận bằng cấp (cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ) do trường ÐH nước ngoài cấp, hoặc do trường ÐH nước ngoài và trong nước cùng cấp.
Trong những năm qua, đặc biệt là từ đầu thập niên 90 đến nay, hoạt động hợp tác đào tạo quốc tế đã cung cấp hàng vạn cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ thuộc nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau theo tiêu chuẩn quốc tế. Trong đó đáng kể nhất là đào tạo hàng nghìn thạc sĩ về kinh tế và quản trị kinh doanh, đây là lực lượng quan trọng góp phần đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường.
Hợp tác đào tạo quốc tế thật sự đã giúp các trường ÐH nước ta thực hiện những bước đi vững chắc trong hội nhập giáo dục quốc tế. Thông qua các hoạt động này, nhiều trường ÐH lớn đã có được đội ngũ giảng viên có thể đảm đương giảng dạy các chương trình quốc tế, thực hiện được trao đổi giảng viên với nhiều trường ÐH ở các khu vực khác nhau trên thế giới. Ðồng thời, các trường ÐH trong nước cũng có một đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục – đào tạo có thể xây dựng và điều hành các chương trình quốc tế. Nhiều chương trình đào tạo của một số trường ÐH đã được các trường có uy tín của châu Âu, Hoa Kỳ, Australia công nhận tương đương và cho phép thực hiện chuyển đổi kết quả học tập. Nhiều trường ÐH Việt Nam đã tham gia các liên kết, liên minh giáo dục quốc tế, một số trường đã được các tổ chức giáo dục nước ngoài có uy tín đánh giá và công nhận là thành viên chính thức.
Hợp tác trong nghiên cứu khoa học cũng đã và đang mang lại những hiệu quả rất thiết thực giúp các chuyên gia, giảng viên và sinh viên Việt Nam tiếp cận những phương pháp làm việc, kiến thức và kết quả nghiên cứu mới nhất, giúp nhiều trường thành công trong việc đi tắt đón đầu xu thế của thế giới và tiếp cận với nhịp sống của môi trường quốc tế đương đại. Hợp tác trong nghiên cứu đã đạt được những thành quả thông qua việc công bố các cái ấn phẩm khoa học chung cũng như xây dựng các cơ sở nghiên cứu chung tại Việt Nam ngày càng nhiều đã cho thấy hiệu quả của hình thức này.”
Hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học liên tục được chú trọng trong chiến “lược phát triển khoa học – công nghệ quốc gia. Đảng đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến khoa học – công nghệ, trong đó có Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI, ngày 1/11/2012 về phát triển khoa học – công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (gọi tắt là Nghị quyết số 20-NQ/TW). Nghị quyết số 20-NQ/TW đề ra quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ đối với hợp tác quốc tế về khoa học – công nghệ, chỉ rõ cần chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để cập nhật tri thức khoa học – công nghệ tiên tiến của thế giới, thu hút nguồn lực và chuyên gia, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tham gia các dự án khoa học – công nghệ của Việt Nam. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh sau khi được đào tạo ở nước ngoài về nước làm việc; triển khai hợp tác khoa học – công nghệ tầm quốc gia với các nước tiên tiến về khoa học – công nghệ, là đối tác chiến lược của Việt Nam; có cơ chế, chính sách ưu đãi về đầu tư, đất đai, kết cấu hạ tầng, thủ tục hành chính… để tạo đột phá trong thu hút các nhà khoa học – công nghệ Việt Nam ở nước ngoài, các nhà khoa học – công nghệ nước ngoài tham gia hoạt động khoa học – công nghệ ở Việt Nam…
Một hoạt động hợp tác cũng rất sôi nổi là các hoạt động trao đổi sinh viên, giảng viên cũng như các nghiên cứu viên với sự hợp tác song phương hoặc đa phương góp phần tạo ra môi trường trao đổi học thuật, giao lưu văn hóa và sự hiểu biết lẫn nhau. Bước đầu giúp cho sinh viên có thể để hòa nhập nhập vào môi trường quốc tế cũng như có những quan kiến rộng mở về một thế giới đại đồng, về một môi trường làm việc không biên giới trong thời đại của họ. Sự trao đổi đó giúp sinh viên thiết lập các mối quan hệ xã hội, nền tảng kiến thức, kỹ năng và thái độ cho nghề nghiệp của họ trong tương lai.
Có thể nói, từ khi đổi mới đến nay, HNQT của Việt Nam nói chung, giáo dục đại học nói riêng đã không ngừng tích cực, chủ động hội nhập vào khu vực và thế giới đem lại nhiều cơ hội mới cho người học, góp phần quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sư nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và HNQT của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó hoạt động HTQT về giáo dục và đào tạo của các trường đại học ở Việt Nam những năm qua còn tồn tại một số khó khăn, bất cập: Nhu cầu về hợp tác đào tạo quốc tế tăng lên về quy mô, ngày càng phức tạp, đa dạng về phương thức, kèm theo những đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng, một mặt đòi hỏi người học phải cố gắng cao hơn, mặt khác đòi hỏi các trường đối tác phía Việt Nam phải có đầu tư cả về cơ sở vật chất và con người. Sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, thị trường giáo dục đại học Việt Nam sẽ mở cửa hơn với sự tham gia nhiều hơn của các tổ chức giáo dục, các trường ÐH nước ngoài, tạo ra sự cạnh tranh lớn hơn, khốc liệt hơn không chỉ bằng học phí mà quan trọng hơn là bằng chất lượng các dịch vụ được cung cấp. Nhìn chung, các trường đại học ở Việt Nam hiện nay chưa được tổ chức theo mô hình cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của thị trường, chưa thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường nên đã” hạn chế sự thích ứng cũng như khả năng cạnh tranh của các trường… như Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Đổi mới tư duy, hoạt động GD&ĐT còn chậm, chưa quyết liệt, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra… Hệ thống GD&ĐT chưa đảm bảo tính đồng bộ và liên thông giữa các trình độ, các phương thức GD&ĐT… Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, trên một số mặt vẫn còn bất cập về chất lượng, số lượng, cơ cấu và chính sách đãi ngộ…”.
1.4. Quản lý hoạt động hợp tác quốc tế ở trường ĐH
1.4.1. Lập kế hoạch hoạt động HTQT ở trường ĐH
1.4.2. Tổ chức hoạt động HTQT ở trường ĐH
1.4.3. Đo lường, đánh giá hoạt động HTQT ở trường ĐH
1.4.4. Cải tiến hoạt động HTQT ở trường ĐH
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng hoạt động HTQT ở trường ĐH
1.5.1.1. Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
1.5.1.2. Thay đổi trong quy định về hợp tác quốc tế của các trường đại học theo Điều lệ trường đại học ban hành năm 2010
1.5.2.1. Nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, GV, SV trong trường
1.5.2.2. Năng lực quản lý của lãnh đạo nhà trường
1.5.2.3. Năng lực, trình độ chuyên môn của GV trong trường
1.5.2.4. Cơ sở vật chất của trường
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
2.1. Khái quát về quá trình khảo sát và cách thức xử lý số liệu
Đánh giá thực trạng hoạt động HTQT và quản lý hoạt động HTQT tại trường ĐHNN, ĐHĐN.
Luận văn tiến hành khảo sát 348 cán bộ, GV, nhân viên và 200 SV tại các Phòng và các Khoa của Trường ĐHNN, ĐHĐN.
Nội dung khảo sát tập trung vào 02 nội dung chính đó là:
(1) Nhận thức của CBQL, GV, SV về tầm quan trọng hoạt động HTQT ở trường ĐHNN
(2) Quản lý hoạt động HTQT tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà “Nẵng gồm 04 nội dung đó là:
– Thực trạng lập kế hoạch hoạt động HTQT tại Trường ĐHNN, ĐHĐN
– Thực trạng tổ chức hoạt động HTQT tại Trường ĐHNN, ĐHĐN
– Thực trạng đo lường, đánh giá hoạt động HTQT tại Trường ĐHNN, ĐHĐN
– Thực trạng cải tiến hoạt động HTQT tại Trường ĐHNN, ĐHĐN.
– Dùng bảng hỏi (Phụ lục 1), bảng hỏi được thiết kế và sử dụng cho CBQL, GV, SV của trường ĐHNN, ĐHĐN để tìm hiểu thực trạng hoạt động HTQT và quản lý hoạt động HTQT tại trường ĐHNN, ĐHĐN.
– Quan sát: Quan sát các hoạt động HTQT tại trường ĐHNN, ĐHĐN để xem xét mức độ tham gia cán bộ, GV và SV.
– Phỏng vấn: Phỏng vấn CBQL và GV nhằm thu thập thêm thông tin về vấn đề nghiên cứu.”
Việc khảo sát tuân thủ theo các bước:
Bước 1: Trao đổi với các đối tượng khảo sát và ý kiến của chuyên gia để soạn bộ phiếu hỏi;
Bước 2: Chỉnh sửa bảng hỏi và biên soạn chính thức bộ phiếu hỏi, hoàn thành;
Bước 3: Thông qua GV hướng dẫn để chuẩn hóa các mẫu phiếu điều tra.
Bước 4: Điều tra chính thức tại trường ĐHNN, ĐHĐN.
Số liệu khảo sát được đánh giá theo điểm trung bình, thứ bậc và trình bày dưới hình thức bảng tổng hợp.
Mỗi câu trả lời được đánh giá theo 05 mức độ:
– Kém/ Không quan trọng: 1 điểm
– Yếu/ Ít quan trọng: 2 điểm
– Trung bình: 3 điểm
– Khá/ Quan trọng: 4 điểm
– Tốt/Rất quan trọng: 5 điểm
Chúng tôi tiến hành phân loại mức độ đánh giá thực trạng được căn cứ trên tổng điểm các mức và điểm trung bình, sau đó xếp theo thứ bậc để đánh giá mức độ đạt được của mỗi nội dung. Từ đó, rút ra các kết luận về thực trạng.
2.2. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
2.2.3. Cơ sở vật chất, trang thiết bị
2.3. Thực trạng hoạt động hợp tác quốc tế tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\LOP DA NANG 2\SAU BAO VE\Quản lý hoạt động hợp tác quốc tế tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay\SAU BAO VE

