Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Hà tỉnh Quảng Ngãi

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Hà tỉnh Quảng Ngãi

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong thế giới hội nhập Kinh tế Quốc tế hiện nay của Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cao về chất lượng nguồn nhân lực. Để có nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập, các Nhà trường ngoài việc dạy kiến thức, cần phải coi trọng công tác hướng nghiệp, nhằm định hướng cho học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với bản thân, để các em phát triển tối đa của bản thân góp phần cống hiến cho sự nghiệp phát triển của đất nước, đồng thời chuẩn bị tâm thế cho thế hệ trẻ – những công dân tương lai sẵn sàng hội nhập với “thế giới việc làm”, “thế giới nghề nghiệp”, đi vào lao dộng sản xuất, góp phần chuẩn bị nhân lực có kỹ năng nghề nghiệp nhất định cho địa phương và xã hội. Những năm vừa qua, giáo dục hướng nghiệp và công tác phân luồng học sinh sau trung học đã được quan tâm và đạt được những kết quả ban đầu. Giáo dục hướng nghiệp và công tác phân luồng học sinh sau trung học đã được quán triệt trong các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành như Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo…, đã xác định: “Trước mắt, ổn định hệ thống giáo dục phổ thông như hiện nay. Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông. Tiếp tục nghiên cứu đổi mới hệ thống giáo dục phổ thông phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và xu thế phát triển giáo dục của thế giới”; Ngày 14 tháng 5 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định phê duyệt Đề án “GDHN và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 – 2025”, đã chỉ rõ: “Tạo bước đột phá về chất lượng GDHN trong giáo dục phổ thông”; Văn kiện Đại hội khóa XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh : Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, đề nâng cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề. Thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất; Nhà trường gắn liền với đời sống xã hội ”.

Tuy vậy, thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp hiện nay ở các trường THPT chưa được các cấp quản lý giáo dục và các trường học quan tâm đúng mức, thực hiện chưa hiệu quả, chưa phù hợp với thực tiễn. Chất lượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của học sinh và xã hội, học sinh phổ thông cuối các cấp học và bậc học chưa được chuẩn bị chu đáo để lựa chọn nghề nghiệp, lựa chọn ngành học phù hợp với bản thân và yêu cầu của xã hội. Đặc biệt đối với Sơn Hà là huyện Miền núi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn của tỉnh Quảng Ngãi, số học sinh sau khi tốt nghiệp THPT tiếp tục đi học Cao đẳng, Đại học rất ít chỉ chiểm khoảng 30% còn lại các em rất lúng túng không biết chọn ngành, nghề gì cho phù hợp, chủ yếu các em lao động tự do, sản xuất tại địa phương. Trong điều kiện KT- XH của địa phương còn khó khăn, CSVC thiếu thốn, các thông tin về nghề nghiệp còn hạn chế thì việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh của các nhà trường lại càng quan trọng.

Từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Hà tỉnh Quảng Ngãi” để làm luận văn tốt nghiệp cho mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng luận cứ khoa học và các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

  1. Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT.

4.2. Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.

4.3. Đề xuất và khảo nghiệm các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.

5. Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường THPT.

Giới hạn đối tượng khảo sát: 03 trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi gồm:

– THPT Quang Trung;

– THPT Sơn Hà;

– THCS-THPT Phạm Kiệt.

Mốc thời gian khảo sát: Từ năm học 2020-2021 đến 2022 – 2023.

6. Giả thuyết khoa học

Trong những năm qua hoạt động GDHN ở các trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét; tuy nhiên, việc quản lý hoạt động này còn bộc lộ một số hạn chế nhất định đã ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động GDHN. Nếu nghiên cứu cơ sở lý luận về GDHN cho học sinh THPT và khảo sát, đánh giá đúng thực trạng việc quản lý hoạt động GDHN tại các trường THPT trên địa bàn nghiên cứu thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động GDHN cho học sinh tại các trường THPT huyện Sơ Hà, tĩnh Quảng Ngãi.

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Hà tỉnh Quảng Ngãi
Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Hà tỉnh Quảng Ngãi

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Đề tài sử dụng phương pháp Phân tích, tổng hợp lý thuyết để xây dựng cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài. Phương pháp chứng minh để chứng minh giả thuyết khoa học.

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Dùng phiếu hỏi để trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh về hoạt động hướng nghiệp, quản lý các hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường cũng như những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại trong việc quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh.

7.2.2. Phương pháp phỏng vấn

Trao đổi với giáo viên và học sinh về cách thức quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường, những khó khăn, vướng mắc.

7.2.3. Phương pháp chuyên gia:

Để hỏi ý kiến chuyên gia về vấn đề nghiên cứu.

7.3. Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý số liệu thu được.

8. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông.

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.

Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

      1. 1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

Năm 1848, ở Pháp xuất bản cuốn “Hướng dẫn chọn nghề” đầu tiên. Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp [20]. Năm 1909, Frank Parsons bàn đến hướng nghiệp cho HS dựa trên năng lực, năng khiếu, hứng thú, sở thích của cá nhân [14]. Từ năm 1918 đến 1939, N.K.Krupskaia có nhiều bài viết khẳng định hiệu quả lao động phần lớn phụ thuộc vào sự phù hợp của con người đối với nghề nghiệp [1].

Đầu thế kỷ 20, ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đều xuất hiện cơ sở dịch vụ hướng nghiệp. Ở Nga, những thập kỉ đầu thế kỉ 20, công tác hướng nghiệp rất được chú trọng, làm cơ sở để phát triển nguồn nhân lực phục vụ nền công nghiệp hóa đất nước bấy giờ. Tư vấn hướng nghiệp được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm, trong nửa đầu thế kỉ 20, do tăng trưởng nền công nghiệp hóa, nhiều tác giả Keller và Viteles, 1937; Watts, 1966; Super, 1974 đề cập đến tác phẩm Parson ở Hoa Kì trong những năm 1900, tác phẩm của Lahy trong lựa chọn nhân sự ở Pháp năm 1910; nỗ lực của Gemelli trong lựa chọn nhân sự ở Ý năm 1912, và sự tập trung vào hướng nghiệp của Christianen ở Bỉ năm 1911,1912 và những tác phẩm tiên phong ở Genneva và London năm 1914 và 1915 do Reuchlin miêu tả (1964) những nỗ lực ban đầu trong thiết lập tư vấn và hướng nghiệp ở Hoa Kì và Châu Âu [12].

Năm 1937, Keller và Viteles đưa ra tầm nhìn toàn thế giới về tư vấn và hướng nghiệp, họ khảo sát so sánh các quốc gia ở Châu Âu, châu Á. Ở một số quốc gia, các thuật ngữ như “hướng dẫn nghề – vocational guidance”, “tư vấn nghề – vocational counselling”, “thông tin, tư vấn và hướng dẫn – information, advice ad guidance” đều chỉ các hoạt động tư vấn và hướng nghiệp [12]. Suốt thế kỉ 20 và đầu thập kỉ thế kỉ 21, tư vấn và hướng nghiệp phát triển mạnh mẽ trong môi trường giáo dục. Ngoài bối cảnh đặc thù của mỗi quốc gia, giáo dục hướng nghiệp ở các nước đều xuất hiện các vấn đề chung cả lí luận và thực tiễn cần làm rõ nhằm tìm ra con đường khả thi và hiệu quả cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp.

Các tác giả nói trên trong quá trình bàn về hướng nghiệp và GDHN cấp trung học đều khẳng định: Quản lý GDHN là một nội dung quản lý trường học, là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý GDHN để đạt mục đích GDHN. Nội dung quản lý GDHN là xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hoạt động GDHN, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định phục vụ hoạt động GDHN. Một trong những khâu quan trọng của việc quản lý GDHN chính là tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN ở các trường THPT. Đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục; có chức năng, khả năng điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục.

Ở Anh: mô hình DOTS gồm khung cơ bản của tư vấn và hướng nghiệp (giáo dục nghề nghiệp) (Mc. Cash, 2006), được xác định theo 4 mục đích: học quyết định, nhận thức cơ hội, học chuyển đổi và tự nhận thức. Ông đã miêu tả một số ý kiến khung gắn kết với nhau, các ý kiến đó gồm SeSiFuUn với kết quả của nhận thức, chọn lọc và hiểu biết và CPI gồm các lứa tuổi, quá trình, ảnh hưởng.

Các quốc gia Bắc Âu đều có cùng mục tiêu hoặc kết quả học tập (mô hình DOTS). Tuy nhiên nhấn mạnh sự khác biệt, theo Plant (2003), phần nhận thức cơ hội nhấn mạnh nhất, tiếp đến là tự nhận thức, học quyết định và học chuyển đổi ít được quan tâm hơn.

Các điểm chung: Các nước Châu Âu có sự phát triển mạnh về khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, kinh tế. Để phù hợp với xu thế phát triển, nền giáo dục ở Châu Âu đặc biệt quan tâm đến trình độ giáo dục phổ thông và giáo dục nghề và được gắn kết giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề và hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông.

Các nước đều chú trọng đến giáo dục “tiền nghề nghiệp” cho học sinh ngay ở bậc học phổ thông; PLHS sớm ngay từ lớp 9 hoặc lớp 10, chủ yếu 2 nhánh học nghề và lên THPT (như ở Ba Lan, Cộng hòa Pháp); Trong giáo dục phổ thông và GDHN, các nước đều giảm thời lượng hàn lâm mà chú trọng tính thực tiễn nhiều hơn (Ba Lan và Pháp).

Các điểm riêng: Ở Pháp phân hóa hẹp sau trung học cao trung, phân hóa cấp 2,3 theo hướng phân ban, phân chia 50/50 theo luồng phổ thông và kĩ thuật, nghề kĩ thuật dạy theo mô đun gồm 6 lĩnh vực như: Kĩ thuật nghề, Toán, Khoa học, Thế giới, Quốc ngữ, Ngoại ngữ;

Ở Cộng hoà Liên bang Đức hệ thống trường phổ thông ở Cộng hoà Liên bang (CHLB) Đức rất chú trọng đến nguyên tắc GDHN, chuẩn bị cho học sinh bước vào trường đào tạo nghề tuỳ theo trình dộ và năng lực học tập của mỗi em. Trẻ được phân loại ngay từ bậc Tiểu học. Sau lớp 5, các trường học tỉến hành phân loại học sinh dựa vào khả năng học tập của từng em để định hướng cho các em học hết lớp 10 rồi chuyển sang công nhân lành nghề – loại học hết lớp 12 và tiếp tục phân loại cho học sinh khá, giỏi học lên lớp 13; thi tú tài toàn phần và thi vào ĐH… Sự phân loại đó đã thể hiện rõ nét công tác GDHN cho học sinh ngay từ đầu cấp THCS. Như vậy, học sinh có thể học thành thạo một nghề hoặc nhỉều nghề ngay khi còn đang học phổ thông, đây là một quan điểm hiện đại.

Các công trình nghiên cứu của các tác giả ở Viện Hàn lâm Khoa học giáo dục – Cộng hoà Dân chủ Đức như Heinz Frankiewicz, B. Gemer, D. Marschneider đã nêu lên sự phối hợp chặt chẽ giữa các trung tâm GDKT-TH với nhà trường phổ thông trong công tác tổ chức cho học sinh thực tập tại các trung tâm hoặc các đơn vị sản xuất. Điều này cũng được các nhà khoa học ở Cộng hoà Liên bang Đức chủ ý khi nghiên cứu về việc tổ chức hoạt động lao động nghề nghiệp cho học sinh phổ thông. Các tác giả này đã đưa ra phương thức: “Phối họp cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm GDKTTH và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho học sinh phổ thông “.

Ở Australia GDHN trong các nhà trường là việc phát triển các kĩ năng. kỉến thức và quan điểm thông qua một chương trình học đã được hoạch định từ trước. Những kĩ năng, kiến thức này sẽ giúp học sinh trở thành những người hiểu biết khi đưa ra các quyết định về học đường cũng như hậu học đường và làm việc có hiệu quả về sau này.

Giáo dục nghề nghiệp (Career Education) ở Australia nhằm phát triển những kĩ năng, kiến thức và thái độ thông qua một chương trình học tập được kế hoạch hoá để giúp học sinh đưa ra những quyết định về việc lựa chọn có tính hướng nghiệp sau khi học xong bậc phổ thông.

GDHN trong nhà trường Australia cũng rất giống với GDHN ở nhà trường nước Anh, xác định bốn kiểu bài tập cho học sinh, tuy khác nhau nhưng cũng có quan hệ với nhau. Các chương trình sẽ giúp học sinh nhận ra những cơ hội nghề nghiệp có thể gặp, những đặc điểm cá nhân có thể sử dụng trong những cơ hội đó; giúp học sinh có những kĩ năng cần thiết trong việc ra quyết định và có thể dự đoán cũng như vượt qua những giai đoạn chuyển giao sau mỗi thời kì trong sự nghỉệp của họ.

Việc coi những hình thức bài tập khác nhau trên như là các yếu tố của GDHN là rất hữu ích. Chúng tạo thành những bộ khung lí thuyết tốt để:

  • Mô tả các họạt động học tập điển hình.
  • Xác định các kết quả có thể thu được từ học sinh.

Tuy nhiên, trong thực tế, các yếu tố đó có mối liên hệ gần gũi và đều không thể thiếu trong bất cứ một chương trình GDHN nào.

Allan Walker trong công trình khoa học Một số vấn đề về quản lí gíáo dục ở Australia đã chỉ ra: “Nhà trường hiện nay không chỉ là nơi dạy lí thuyết, mà phải cung cấp cho học sinh một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình đẳng gỉữa các học sinh, làm cho học sinh vừa có kĩ năng lao động vừa có tri thức” [30].

Ở Thái Lan: Ngay từ Tiểu học đã trang bị cho HS những kiến thức cơ bản, kĩ năng tối thiểu của một số công việc nội trợ, nông nghiệp và nghề thủ công.Sang cấp II đẩy mạnh công tác GDHN gắn với một nghề trên cơ sở phù hợp với độ tuổi, sở thích, nhu cầu của mỗi HS. Đây là bước tiền đề cho học sinh vào cấp III. Giáo dục nghề nghiệp gắn liền với HN nhằm cung cấp cho HS những kĩ năng nghề nghiệp. Tất cả các trường phải DN theo quy định của Bộ, HS đạt chuẩn sẽ được cấp chứng chỉ nghề [12].

Ở Nhật Bản: Theo tác giả Magumi Nishino thuộc Viện Nghiên cứu Giáo dục Nhật, học sinh trung học phải được bồi dưỡng kĩ năng lao động cơ bản của ngành nghề : “Bồi dưỡng trí thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và khả năng lựa chọn ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân [20] .

Trong những năm 50 của thế kỉ XX, Nhật đã quan tâm đến vấn đề hoàn thiện nội dung , hình thức dạy học kĩ thuật, cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, góp phần quan trọng cho công tác giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông.

Trong quá trình phát triển và hoàn thiện hệ thống giáo dục Nhật bản sớm quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn hoá phổ thông với kiến thức và kĩ năng lao động nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. Có khoảng 27,9% số trường phổ thông trung học vừa học văn hoá phổ thông vừa học các môn học kĩ thuật về các lĩnh vực cơ khí , ngư nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp , dịch vụ… và hầu hết các loại hình trường dạy nghề đồng thời cũng cung cấp học vấn phổ thông tương đương bậc trung học với việc đào tạo các kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp chuyên môn. Ngoài việc học các môn học theo kế hoạch chung , các ban hướng nghiệp dạy nghề còn căn cứ vào lĩnh vực đào tạo chuyên môn của mình mà tổ chức cho học sinh đi sâu tìm hiểu các môn học cụ thể thuộc lĩnh vực đó.

Châu Á (các điểm chung): Các nước Châu Á đều chú trọng đến việc tổ chức giáo dục nghề sau trung học cơ sở, hầu hết các nước PLHS theo hai hướng chính là một bộ phận tiếp tục học lên THPT, một bộ phận chuyển sang học nghề, đó là trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc). Tích hợp các môn hướng nghiệp và giáo dục phổ thông , các môn văn hóa, khoa học kỹ thuật, lao động (Trung Quốc, Philippine); Chú trọng đến năng lực thực hành và nghiên cứu thực tiễn trong hoạt động GDHN (Philippine, Malaysia). Chú trọng đến năng lực thực hành và nghiên cứu thực tiễn trong hoạt động GDHN (Philippine, Malaysia); Quan tâm đến môn học tự chọn sau bậc học THCS (Nhật, Hàn).

Quan điểm của UNESCO coi học tập là một quá trình liên tục, kéo dài suốt cả cuộc đời khiến chúng ta xét lại cả nội dung và cách tổ chức giáo dục trung học. Đòi hỏi của thị trường lao động tạo ra áp lực dẫn đến số năm học có xu hướng tăng lên. Trên toàn thế giới nếu xét về tỉ lệ học sinh đến trường thì số lượng học sinh trung học có số lượng tăng nhanh nhất trong hệ thống giáo dục chính qui.

Trên thế giới hầu hết các nước đều bố trí hệ thống giáo dục kĩ thuật và dạy nghề (vocational and technical education and training – TVET) bên cạnh hệ phổ thông và đại học (tertiary). UNESCO dùng cụm từ technical and vocational education – TVE để chỉ hệ thống này. Một số nước ví dụ như Anh chỉ gọi là vocational education and training – VET. Nước Đức c ó một hệ thống đào tạo nghề và trung cấp chuyên nghiệp (Berufs – und Fachulausbildung) về mặt trình độ một bộ phận được xếp vào bậc trung học tương đương với trung học phổ thông từ lớp 9 đến lớp 13 một bộ phận cao hơn vào bậc sau trung học [31].

      1. 1.1.2. Các nghiên cứu trong nước

Về lĩnh vực hướng nghiệp dạy nghề phổ thông thể hiện ngay trong quan điểm giáo dục của Đảng ta Bác Hồ đã sớm chỉ ra: Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: Học đi với lao động , lý luận đi với thực hành; cần cù đi với tiết kiệm [19, tr.55]. Đề tài mã số B98-52-TĐ17 (8/2000): “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thực hiện Phân luồng học sinh sau THCS c ó tính chất vĩ mô toàn quốc” của PGS.TS Lê Vân Anh

Theo tác giả Phạm Tất Dong, đa số thanh niên không kiếm được việc làm là do không biết nghề (67,4%) [7, tr.25] và nhấn mạnh: “Chú trọng hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự họ tìm ra việc làm” [7, tr.19], đồng thời: “tiếp sau quá trình hướng nghiệp dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh. Đây sẽ là một nguyên tắc cơ bản” [7, tr.40].

Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Đặng Danh Ánh xác định: “Cách mạng khoa học kỹ thuật đã thay đổi tận gôc lao động, và do đó thay đổi những đặc điểm và cách đào tạo con người ở trong nhà trường. Cần phải trang bị cho học sinh không chỉ kiến thức và kỹ thuật công nghệ nhất định mà còn hình thành có hiệu quả phương tiện phát triển tư duy sáng tạo kỹ thuật, tính độc lập trí óc, hình thành kỹ năng, trong thời gian tối thiểu thu được lượng thông tin tối đa và năng lực tự học” [10 , tr.27]. Công trình khoa học của tác giả Nguyễn Văn Hộ đề cập đến vấn đề: “ Thiết lập và phát triển hệ thống giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” [20, tr.35]. Tác giả đã xây dựng luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, cơ sở sản xuất, cơ sở giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông.

Tác giả Trần Khánh Đức đã đề cập đến việc dạy nghề ban đầu cho học sinh phổ thông trung học kỹ thuật Việt Nam và xác định: Nội dung, hình thức phương pháp dạy nghề ban đầu cho học sinh lớp 10, 11 trường phổ thông trung học kỹ thuật theo nhóm nghề xây dựng các phương pháp và hình thức dạy sản xuất trong các trường dạy nghề xây dựng được sử dụng ph hợp với mục đích nhiệm vụ và nội dung ở trường phổ thông trug học kỹ thuật ở nước ta [12].

Các tác giả: Trần Xuân Xước, Tô Bá Trọng, Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Viết Sự, Phạm Huy Thụ, Đoàn Chi.. .đã đưa ra các khái niệm, số liệu, kinh nghiệm giáo dục kỹ thuật và dạy nghề cho học sinh phổ thông, kinh nghiệm tổ chức hướng nghiệp, lao động sản xuất cho học sinh trường phổ thông trung học và trung tâm KTTH – HN.

Các công trình trên cho thấy rằng, các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam rất quan tâm đến công tác hướng nghiệp, lao động sản xuất, và dạy kỹ thuật nghề nghiệp cho học sinh phổ thông. Nhưng các công trình nghiên cứu kế trên phần lớn tập trung vào việc đổi mới tư tưởng , quan điểm và một số mặt về nội dung, chương trình, tổ chức quản lý họat động dạy học nghề cho học sinh phổ thông trong điều kiện nền kinh tế – xã hội ở các nước phát triển cao hơn nước ta. Cũng như nhiều nước trên thế giới, vấn đề chất lượng dạy nghề đang là mối quan tâm lo ngại hiện nay của nền giáo dục phổ thông nước ta. Thực tiễn công tác GDHN – DN hiện nay phát triển còn chậm và chưa đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới. Kết quả và chất lượng dạy học nghề phổ thông hàng năm chưa phản ánh đúng trình độ học lực của học sinh vì việc đánh giá chỉ mới dựa trên tỷ lệ khá giỏi của kỳ thi nghề, chưa đánh giá đầy đủ các mặt như: phẩm chất xã hội – nghề nghiệp của học sinh, khả năng thích ứng thị trường lao động, các chỉ số về sức khỏe tâm lý. Mặc dù hiện nay đã có một số chương trình nghề phổ thông xây dựng theo hướng chuẩn quốc gia nhưng bên cạnh đó lại chưa có tiêu chí đánh giá thống nhất về chất lượng, chưa ban hành tiêu chuẩn đối với giáo viên dạy, cơ sở vật chất thiết bị .GDNN ở Việt Nam một số năm vừa qua đã từng bước được củng cố và phát triển về quy mô và cơ cấu đào tạo. Tuy nhiên, so với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa cũng như hội nhập quốc tế. GDNN nước ta còn có nhiều hạn chế, bất cập, đặc biệt là về chất lượng đào tạo và đang phải đối mặt với những thách thức to lớn. Cũng như phân hệ giáo dục khác, hiện nay GDNN đang đứng trước mâu thuẫn hết sức gay gắt giữa quy mô ngày càng tăng và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo còn rất hạn chế. Đòi hỏi cấp bách hiện nay đối với GDNN là bên cạnh việc tăng quy mô cùng với việc đảm bảo cơ cấu hợp lý phải đảm bảo chất lượng và hiệu quả đào tạo đáp ứng được yêu cầu thực tế sử dụng lao động đã qua đào tạo TCCN và dạy nghề.

Công tác hướng nghiệp được chính thức đưa vào trường phổ thông từ 19/3/1981 theo quyết định số 126/CP của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lí trung học cơ sở, trung học phổ thông tốt nghiệp ra trường. Quyết định nêu rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ công tác hướng nghiệp, phân công cụ thể chính quyền các cấp các ngành kinh tế văn hoá từ trung ương đến địa phương có nhiệm vụ tạo mọi điều kiện thuận lợi trực tiếp giúp đỡ các trường phổ thông trong việc đào tạo, sử dụng hợp lí và tiếp tục bồi dưỡng học sinh phổ thông sau khi ra trường. Ban hành kèm Quyết định 126/CP của Chính phủ là Thông tư 31-TT của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục.

Ngày 23/7/2003, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT có chỉ thị số 33/2003/CT-BGD&ĐT “Về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông” và tiếp theo đó trong phương hướng nhiệm vụ từng năm học, GDHN được quan tâm chỉ đạo. Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/6/2006 cũng đề cập về việc ban hành chương trình giáo dục phổ thông và trong đó có chương trình chuẩn của hoạt động GDHN. Như vậy, GDHN lại được chính thức có trong kế hoạch giáo dục ở bậc THCS, THPT và được triển khai đại trà ở lớp 9 và lớp 10 trong cả nước kể từ năm học 2006- 2007.

Bên cạnh việc học văn hóa, công tác hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông đến nay được ngành Giáo dục coi trọng với mong muốn bổ sung các kĩ năng thực tế cho học sinh; Đây cũng là vấn đề rất được quan tâm hiện nay, góp phần phân luồng học sinh và phát triển nguồn lực lao động. Thế nhưng thực tế, ý nghĩa mang lại hiệu quả của hoạt động hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT nói chung và huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi nói riêng trong thời gian qua lại không như kì vọng. Vì vậy, cần được nghiên cứu cụ thể tìm ra những nguyên nhân chính, đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo.

1.2. Các khái niệm chính của đề tài

      1. 1.2.1. Quản lý
      2. 1.2.2. Quản lý giáo dục
      3. 1.2.3. Hướng nghiệp

1.2.4. Hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT

      1. 1.2.5. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT

1.3. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT

a. Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh trung học phổ thông

b. Sự phát triển nhận thức và trí tuệ của học sinh trung học phổ thông

1.4. Lý luận về hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT

      1. 1.4.1. Hoạt động GDHN trong Chương trình THPT 2018
      2. 1.4.2. Mục tiêu của hoạt động GDHN cho học sinh THPT
      3. 1.4.3. Nội dung GDHN cho học sinh THPT [23, tr 13 ]
      4. 1.4.4. Phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động GDHN cho học sinh THPT
      5. 1.4.5. Các điều kiện hỗ trợ hoạt động GDHN cho học sinh THPT
      6. 1.4.6. Kiểm tra, đánh giá kết quả GDHN cho học sinh THPT

1.5. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT

      1. 1.5.1. Quản lý thực hiện mục tiêu hoạt động GDHN cho học sinh THPT
      2. 1.5.2. Quản lý nội dung GDHN cho học sinh THPT
      3. 1.5.3. Quản lý phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động GDHN cho học sinh THPT
      4. 1.5.4. Quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động GDHN cho học sinh THPT

1.5.5. Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả của hoạt động GDHN cho học sinh THPT

1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDHN cho học sinh THPT

      1. 1.6.1. Hệ thống các văn bản pháp quy
      2. 1.6.2. Quan điểm chỉ đạo và tình hình kinh tế xã hội của địa phương
      3. 1.63. Thị trường lao động
      4. 1.6.4. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên làm công ntacs tư vấn hướng nghiệp
      5. 1.6.5. Cơ sở vật chất, trang thiết bị.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TẠI CÁC TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SƠN HÀ

TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1. Mô tả nghiên cứu thực trạng

      1. 2.1.1. Mục đích khảo sát

Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá thực trạng GDHN ở các trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Hà, làm cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu.

      1. 2.1.2. Đối tượng khảo sát

Đối tượng khảo sát được chọn ngẫu nhiên phân tầng tại 03 trường THPT, bao gồm:

      • THPT Sơn Hà
      • THCS-THPT Phạm Kiệt
      • THPT Quang Trung

Với: 09 CBQL; 135 giáo viên; 850 học sinh thuộc các lớp 10, 11, 12 và 850 phụ huynh HS thuộc các khối 10, 11, 12

      1. 2.1.3. Nội dung khảo sát

Đề tài tiến hành khảo sát thực trạng GDHN ở các trường THPT trên địa bàn trên địa bàn huyện Sơn Hà với những nội dung sau:

– Thực trạng GDHN và quản lý GDHN trong nhà trường THPT

– Sự lựa chọn nghề của HS các trường THPT

– Những nguyên nhân ảnh hưởng đến quản lý GDHN ở các trường THPT.

      1. 2.1.4. Phương pháp khảo sát

Các phương pháp được dùng để khảo sát thực trạng GDHN ở các trường THPT trên đia bàn trên địa bàn huyện Sơn Hà.

– Phương pháp điều tra xã hội học

Xây dựng bộ công cụ điều tra khảo sát gồm các bộ phiếu điều tra gồm hệ thống các câu hỏi đóng và mở xung quanh các vấn đề về GDHN, dành cho các đối tượng sau: HS lớp 10, 11, 12. GV tham gia công tác GDHN ở các trường THPT và phiếu hỏi cho phụ huynh HS để nghiên cứu thực trạng GDHN ở các trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Hà.

– Phương pháp phỏng vấn nhóm

Phương pháp này được tiến hành khi tổ chức các buổi phỏng vấn với GV và HS một số trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Hà.

      1. 2.1.5. Xử lý kết quả khảo sát

Nhập dữ liêu thô bằng chương trình bảng tính Excel, mỗi mục con một cột. Mỗi cột theo các giá trị: 0, 1, 2, 3, 4, 5, … theo thang mức độ. Dùng hàm COUNTIF đếm số người chọn theo các giá trị trong từng mục.

Sau khi kiểm tra, sắp xếp câu hỏi, chúng tôi dùng bảng tính Excel để xử lý thống kê số liệu, tính điểm trung bình, tỷ lệ phần trăm của từng nội dung câu hỏi khảo sát.

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các công thức:

– Tính trung bình cộng:

Description: ưqwqw

– Tính tỷ lệ phần trăm (%):

Dùng tổng điểm từng tiêu chí để so sánh các lựa chọn của tổng khách thể được nghiên cứu. Sắp xếp theo thứ tự giảm dần hoặc tăng dần để dễ nhìn thấy.

Dùng tỷ lệ phần trăm của các đối tượng điều tra khác nhau để so sánh và vẽ biểu đồ các mục điều tra giống nhau.

2.2. Khái quát tình hình kinh tế – xã hội và GD-ĐT của huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi

2.3. Thực trạng hoạt động GDHN tại các trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Hà tỉnh Quảng Ngãi

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *