Quản lý hoạt động GDPL cho học sinh ở các trường THPT huyện Nghĩa Hành tỉnh Quảng Ngãi
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế, vấn đề giáo dục nhân cách, ý thức tuân thủ pháp luật và thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho thế hệ trẻ luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Tuy nhiên, hiện nay công tác tuyên truyền, phổ biến, GDPL còn nhiều hạn chế dẫn đến ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận nhân dân chưa cao, tình trạng vi phạm pháp luật, nhất là học sinh THPT đang có xu hướng gia tăng. Vì vậy, nâng cao chất lượng GDPL trở thành yêu cầu bức thiết, cần sự quan tâm của cả hệ thống chính trị, của toàn ngành GD&ĐT và từng nhà trường.
Việc tuyên truyền, phổ biến, GDPL cho thế hệ trẻ được thực hiện thông qua nhiều hình thức, trong đó GDPL ở các trường THPT có ý nghĩa chiến lược, góp phần hình thành một cách vững chắc nhân cách của người công dân có ý thức chấp hành pháp luật, đáp ứng những yêu cầu của xã hội hiện tại và tương lai.
Tuy nhiên, hoạt động GDPL của ngành GD&ĐT tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi vẫn còn nhiều hạn chế, thể hiện ở nhận thức của một số trường về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của hoạt động này chưa đầy đủ; chương trình, nội dung GDPL còn dàn trải, nặng về lý thuyết và chưa thống nhất ở các trường; hình thức và phương pháp GDPL chậm được đổi mới; hoạt động GDPL ngoại khoá còn đơn điệu, thiếu hấp dẫn; đội ngũ giáo viên, cán bộ làm công tác GDPL còn thiếu về số lượng, năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu mới; kinh phí, tài liệu, trang thiết bị phục vụ hoạt động GDPL còn nhiều khó khăn; việc phối hợp các lực lượng làm công tác GDPL cho học sinh THPT chưa thực sự có hiệu quả.
Từ lý do nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động GDPL cho học sinh ở các trường THPT huyện Nghĩa Hành tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả GDPL cho học sinh các trường THPT trong huyện Nghĩa Hành.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.2. Đối tượng nghiên cứu
4. Giả thuyết khoa học
Hoạt động GDPL cho học sinh tại các trường THPT huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi hiện nay còn nhiều hạn chế. Nếu xây dựng được các biện pháp quản lý phù hợp và khả thi thì việc triển khai thực hiện giúp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động này.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động GDPL cho học sinh tại trường THPT;
– Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDPL, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân;
– Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDPL cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả GDPL tại các trường THPT.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng hoạt động GDPL và quản lý hoạt động GDPL cho học sinh tại các trường THPT huyện Nghĩa Hành từ năm học 2015 – 2016 đến năm học 2017 – 2018 và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động này giai đoạn 2019 – 2022.
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát, hệ thống hóa các tài liệu, văn kiện nhằm xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
– Phương pháp điều tra, phân tích, tổng hợp, phỏng vấn.
7.3. Nhóm phương pháp toán thống kê
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDPT cho học sinh tại trường THPT.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDPL cho học sinh tại các trường THPT huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động GDPL cho học sinh tại các trường THPT huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.2. Các khái niệm chính
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục
a. Quản lý: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của một chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
b. Quản lý giáo dục: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [24]
1.2.2. Quản lý nhà trường: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của nhà trường, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục – đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh.
1.2.3. Hoạt động GDPL tại trường THPT
a. Giáo dục pháp luật
GDPL được hiểu là hoạt động có tổ chức, có mục đích của chủ thể giáo dục được thể hiện để cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm và định hướng hành vi hợp pháp cho đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ ý thức, tình cảm pháp luật đúng đắn, thói quen tuân thủ pháp luật và tham gia tích cực vào các hoạt động pháp luật.
b. Hoạt động GDPL tại Trường THPT
Hoạt động GDPL tại các trường THPT là một hoạt động giáo dục cơ bản được thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ thống tri thức pháp luật của học sinh, hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp luật, hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự theo pháp luật.
1.2.4. Quản lý hoạt động GDPL tại trường THPT
Quản lý hoạt động GDPL tại trường THPT là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến các đối tượng thực hiện hoạt động GDPL và đối tượng được GDPL nhằm đạt được mục tiêu GDPL.
1.3. Hoạt động GDPL cho học sinh tại trường THPT
1.3.1. Mục tiêu của hoạt động giáo dục pháp luật
Mục tiêu của hoạt động GDPL cho thế hệ trẻ là nhằm trang bị cho họ những kiến thức pháp luật cần thiết cho cuộc sống, giúp họ hiểu một cách đầy đủ, chính xác và khoa học về pháp luật; hình thành ở họ ý thức pháp luật đúng đắn, thói quen hành động phù hợp với các quy định của pháp luật và đòi hỏi của nền pháp chế hiện hành.
1.3.2. Nội dung hoạt động giáo dục pháp luật
Nội dung hoạt động GDPL cho học sinh THPT cơ bản là trang bị cho học sinh những kiến thức ban đầu về quyền, nghĩa vụ của công dân, rèn luyện thói quen, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp và thực hiện nghĩa vụ của mình.
1.3.3. Phương pháp và hình thức hoạt động giáo dục pháp luật
a. Phương pháp hoạt động giáo dục pháp luật
Phương pháp hoạt động GDPL là cách thức, biện pháp được chủ thể sử dụng để tác động đến đối tượng giáo dục nhằm truyền đạt nội dung GDPL, mục đích nâng cao nhận thức pháp luật, tình cảm và lòng tin cũng như thói quen xử sự theo pháp luật.
b. Hình thức hoạt động giáo dục pháp luật
Hình thức hoạt động GDPL cho học sinh ở các trường THPT mang tính phổ biến, truyền thống được sử dụng nhiều hình thức như: nói chuyện, báo cáo chuyên đề, tọa đàm, hoạt động văn hóa văn nghệ, các cuộc thi tìm hiểu.
1.3.4. Chủ thể và đối tượng của hoạt động giáo dục pháp luật
Chủ thể của hoạt động GDPL là những người có chức năng, nhiệm vụ GDPL, trực tiếp thực hiện GDPL. Đối tượng của GDPL trong các trường THPT chủ yếu là học sinh.
1.3.5. Điều kiện, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giáo dục pháp luật
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học là phương tiện lao động sư phạm của các nhà giáo dục và học sinh. Nguồn lực tài chính dùng để mua sắm cơ sở vật chất thiết bị cần thiết để nâng cao hiệu quả các hoạt động giáo dục.
1.4. Quản lý hoạt động GDPL cho học sinh tại Trường THPT
1.4.1. Quản lý mục tiêu hoạt động GDPL cho học sinh
Quản lý mục tiêu hoạt động GDPL là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm làm cho hoạt động GDPL cho học sinh đạt tới kết quả mong muốn ..
1.4.2. Quản lý thực hiện nội dung GDPL cho học sinh
Quản lý thực hiện nội dung GDPL là việc tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục nhằm giúp học sinh lĩnh hội và vận dụng được nội dung GDPL.
1.4.3. Quản lý phương pháp, hình thức hoạt động GDPLcho học sinh
Phương pháp và hình thức GDPL phải phù hợp với đối tượng người học, phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông để đạt được hiệu quả GDPL.
1.4.4. Quản lý các lực lượng thực hiện hoạt động GDPL cho học sinh
Quản lý các lực lượng thực hiện hoạt động GDPL tại các trường THPT có những đặc thù riêng. Việc làm rõ tính đặc thù đó sẽ là cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng, tìm ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong hoạt động GDPL của các lực lượng thực hiện hoạt động GDPL cũng như xây dựng các biện pháp phù hợp giúp cho hoạt động GDPL của đội ngũ này đem lại hiệu quả cao.
1.4.5. Quản lý điều kiện, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động GDPL
Quản lý điều kiện CSVC và TBDH trong công tác GDPL là tác động có mục đích của người quản lý nhằm xây dựng môi trường giáo dục phát triển .
1.4.6. Quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động GDPL cho học sinh
Quản lý kiểm tra đánh giá hoạt động GDPL đòi hỏi phải được tiến hành thường xuyên, kịp thời, chính xác, phản ánh được những hạn chế để kịp thời khắc phục, điều chỉnh.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động GDPL cho học sinh các trường THPT
1.5.1. Nhận thức của cán bộ, giáo viên, phụ huynh học sinh
Việc GDPL cho học sinh là một quá trình lâu dài và phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
1.5.2. Điều kiện kinh tế – xã hội, môi trường
Một môi trường xã hội ổn định, nền kinh tế phát triển bền vững, nền tảng văn hóa gia đình và địa phương tốt là điều kiện thuận lợi cho quản lý các hoạt động GDPL.
1.5.3. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông
Tuổi học sinh THPT là lứa tuổi mộng mơ, khao khát sáng tạo, thích cái mới lạ, chuộng cái đẹp, hình thức bên ngoài, nhiệt tình trong công việc, lạc quan yêu đời nhưng cũng rất dễ bi quan chán nản khi gặp thất bại.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Hiện nay, GDPL cho mọi thành viên của xã hội, nhất là cho học sinh ở các trường THPT được đặt ra như một yêu cầu khách quan, là bộ phận cấu thành trong chương trình giáo dục đang được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm. GDPL trong các nhà trường có vị trí đặc biệt quan trọng trong các hình thức GDPL nói chung, có ý nghĩa chiến lược trong việc đào tạo, giáo dục để hình thành những thế hệ công dân, người lao động đáp ứng các yêu cầu của xã hội hiện tại và tương lai. Toàn bộ nội dung Chương 1 là cơ sở lý luận để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG THPT
HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1. Khái quát về khảo sát
2.1.1. Mục đích khảo sát
Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT ở huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDPL phù hợp với điều kiện của các trường THPT.
2.1.2. Nội dung khảo sát
– Thực trạng hoạt động GDPL cho học sinh THPT huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
– Thực trạng công tác quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
2.1.3. Đối tượng, địa bàn khảo sát
– Đối tượng: Cán bộ quản lý của trường THPT, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên giảng dạy môn GDCD, học sinh của 03 trường THPT trên địa bàn huyện Nghĩa Hành và cán bộ các hội, đoàn thể ở địa phương.
– Địa bàn: Huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
2.1.4. Phương pháp khảo sát
– Khảo sát bằng phương pháp Anket (điều tra bằng phiếu hỏi).
– Các phương pháp hỗ trợ khác như: phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn, sử dụng phương pháp toán học để thống kê số liệu khảo sát, nghiên cứu hồ sơ từ cơ quan Công an huyện và các trường THPT trên địa bàn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
2.1.5. Thời gian tiến hành khảo sát
2.1.6. Xử lý kết quả khảo sát
Kết quả khảo sát được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học. Để đánh giá thực trạng, luận văn sử dụng 3 thông số cơ bản tỉ lệ %, thứ bậc và điểm trung bình cộng.
2.2. Tình hình kinh tế – xã hội và giáo dục – đào tạo huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi
Huyện Nghĩa Hành có diện tích: 234,39 km². Dân số: 91.705 người với 02 dân tộc chính là Kinh và Hre (dân tộc Hre chiếm 1,21% dân số). Huyện chia làm 12 đơn vị hành chính, thị trấn Chợ Chùa và 11 xã. Là huyện đồng bằng duy nhất của tỉnh không giáp với biển, không có Quốc lộ 1 chạy qua, kinh tế mang nặng tính thuần nông, ít có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế đa dạng.
Hệ thống giáo dục, mạng lưới trường lớp được củng cố và phát triển, quy mô phát triển đi vào ổn định. Toàn huyện có 44/44 trường (100%) đạt chuẩn quốc gia. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên trong các trường THPT cơ bản đủ về số lượng, cơ cấu giáo viên trong ngành tương đối đồng bộ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất chính trị ngày được nâng cao
2.3. Thực trạng hoạt động GDPL cho học sinh tại các trường THPT huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi
2.3.1. Thực trạng thực hiện nội dung hoạt động GDPL
Qua khảo sát cho thấy việc tổ chức thực hiện các nội dung hoạt động GDPL được đánh giá cao (68,4%), mục tiêu là trang bị cho các em những kiến thức tổng quát nhất, giúp các em hiểu một cách đầy đủ, chính xác và khoa học về pháp luật.
2.3.2. Thực trạng tổ chức các hình thức GDPL
Hình thức GDPL cho học sinh được thực hiện trong nội dung học chính khóa (tích hợp), trong giờ sinh hoạt lớp và trong hoạt động NGLL.
2.3.3. Thực trạng đội ngũ làm công tác GDPL trong nhà trường
Trên thực tế, lực lượng giáo viên, báo cáo viên chưa đáp ứng đủ nhu cầu cho các trường để GDPL cho học sinh. Hoạt động phối hợp của đội ngũ làm công tác GDPL trong nhà trường vẫn chưa được thực hiện một cách xuyên suốt, còn mang tính vụ việc.
2.3.4. Thực trạng các điều kiện phục vụ hoạt động GDPL
Kinh phí cho hoạt động GDPL không được phân bổ riêng. Danh mục các sách về pháp luật, tạp chí khá phong phú nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu nghiên cứu, tham khảo của giáo viên và học sinh. Các loại TBDH và các phương tiện dạy học được trang bị được đánh giá không đồng đều, phần lớn được cung cấp, hỗ trợ từ lâu.
2.3.5. Kết quả GDPL cho học sinh tại các trường THPT
Theo số liệu thu thập được về xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật từ năm 2015 đến năm 2018 là 26 vụ với tổng số 47 đối tượng, trong đó học sinh là 18 đối tượng, đã bỏ học là 29 đối tượng. Như vậy, có đến 18/47 (chiếm 38,3%) người chưa thành niên là học sinh vi phạm pháp luật về trật tự an ninh xã hội.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động GDPL cho học sinh tại các trường THPT huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi
2.4.1.
Nhận thức của CBQL, GV, NV và phụ huynh học sinh về vị trí, vai trò của hoạt động GDPL cho học sinh THPT
GDPL cho học sinh hiện nay chưa thực sự là mối quan tâm của một bộ phận giáo viên (khảo sát 36%), bởi họ chủ yếu quan tâm đến công tác chuyên môn và cho rằng hoạt động GDPL là nhiệm vụ của các ngành chức năng, của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường.
2.4.2. Thực trạng quản lý mục tiêu hoạt động GDPL cho học sinh
Việc quản lý thực hiện mục tiêu hoạt động GDPL chưa được các tổ chuyên môn, giáo viên quan tâm như quản lý về mặt chuyên môn. Công tác kiểm tra đánh giá chưa được chú trọng trong quá trình thực hiện.
2.4.3. Thực trạng quản lý thực hiện các nội dung GDPL cho học sinh
Sự phối hợp trong công tác của Đoàn thanh niên, Ban HĐNGLL, GVCN, giáo viên bộ môn chưa được chặt chẽ mặc dù đã có sự chỉ đạo, nhắc nhở thường xuyên của hiệu trưởng.
2.4.4. Thực trạng quản lý hình thức GDPLcho học sinh
Qua khảo sát có 57.1% ý kiến đánh giá ở mức độ tốt, cho rằng hình thức tổ chức GDPL đảm bảo phù hợp với mục tiêu, yêu cầu và thực tế của nhà trường.
2.4.5. Thực trạng quản lý phối hợp các lực lượng trong GDPL cho học sinh
Việc phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng bên ngoài chưa chặt chẽ trong việc GDPL cho học sinh.
2.4.6. Thực trạng quản lý điều kiện, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động GDPL
Thực tế khảo sát tại các trường cho thấy, việc xây dựng tủ sách pháp luật, sách nghiệp vụ phục vụ cho hoạt động GDPL có thực hiện, nhưng việc cập nhật, bổ sung nguồn mới chưa thường xuyên dẫn đến việc đánh giá mức độ tốt là khá thấp.
2.4.7. Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GDPL cho học sinh
Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GDPL chủ yếu theo đợt thi đua, việc sơ, tổng kết ít chú trọng thành một mảng riêng mà được đánh giá kèm chung với các đợt sơ, tổng kết đánh giá chất lượng hai mặt của nhà trường.
2.5. Đánh giá chung
Hoạt động GDPL cho học sinh THPT tại huyện Nghĩa Hành đã có nhiều chuyển biến tích cực, song vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: vấn đề đạo đức học sinh hiện nay đang có chiều hướng đi xuống, kỷ cương nề nếp trong và bên ngoài nhà trường có sự giảm sút, nhiều học sinh còn đua đòi, tụ tập thành các nhóm ham chơi, thiếu lành mạnh. Hoạt động GDPL chưa thường xuyên và liên tục, mà chỉ mang tính thời vụ, thực hiện theo sự phát động của cấp trên. Vẫn còn tồn tại các hình thức, biện pháp GDPL đơn điệu, chủ yếu là các bài giáo huấn về nội quy của nhà trường, kỷ cương, nền nếp và giảng dạy môn GDCD nên kết quả quản lý hoạt động GDPL đạt kết quả chưa cao. Sự phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục chưa thường xuyên, nhiều khi mang tính hình thức, thiếu đồng bộ.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Hoạt động GDPL cho học sinh các trường THPT trong những năm gần đây đã đạt được những thành tích đáng kể. Các trường đã quan tâm đến công tác GDPL cho học sinh, có ban chỉ đạo, có kế hoạch hoạt động và tổ chức triển khai, giao nhiệm vụ cụ thể tới từng bộ phận trong nhà trường để cùng thống nhất trong công tác GDPL cho học sinh. Các hình thức và biện pháp GDPL phong phú, đa dạng, hấp dẫn; nội dung GDPL thiết thực hơn. Vì vậy, đa số học sinh ngoan, chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Tuy nhiên trong các nhà trường vẫn còn một số học sinh chưa ngoan, còn vi phạm pháp luật. Để khắc phục tình trạng này đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý phải tìm tòi, nghiên cứu, tìm ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDPL cho học sinh. Đó là những nội dung chúng tôi sẽ trình bày trong Chương 3 của luận văn này.
CHƯƠNG 3
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu
3.1.2.
Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả
3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động GDPL cho học sinh tại các trường THPT huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi
3.2.1. Nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, NV và phụ huynh học sinh về công tác GDPL cho học sinh THPT
a. Mục tiêu và ý nghĩa của biện pháp:
Nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, giáo viên và CMHS về công tác GDPL cho học sinh THPT có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng GDPL nói riêng và giáo dục toàn diện nói chung.
b. Nội dung của biện pháp
Đội ngũ CBQL phải tổ chức quán triệt tốt chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các quy định của ngành, chỉ đạo của địa phương về hoạt động GDPL cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay.
c. Cách tiến hành biện pháp
– Đối với hiệu trưởng phải nắm vững các văn bản của cấp trên về các chủ trương, chính sách dân tộc và công tác tuyên truyền, phổ biến GDPL cho học sinh THPT. Nắm được thực trạng các lực lượng tham gia hoạt động GDPL, nhận thức, hành vi của học sinh.
Đối với cán bộ Đoàn – Hội phải phải xây dựng chương trình hành động trong năm học với nội dung và hình thức thiết thực, hấp dẫn, lôi cuốn nhiều đoàn viên thanh niên tham gia, thông qua đó tiến hành hoạt động GDPL có chất lượng và đạt hiệu quả.
– Đối với giáo viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, mẫu mực, lý tưởng nghề nghiệp, vững về chuyên môn. Có ý thức trách nhiệm trong hoạt động GDPL cho học sinh, giáo dục đạo đứ, ý thức chấp hành pháp luật thông qua các hoạt động giảng dạy.
– Đối với phụ huynh học sinh phải thường xuyên phối hợp với nhà trường để trao đổi những thông tin cần thiết giữa nhà trường – gia đình, giải quyết triệt để những vấn đề xảy ra.
3.2.2. Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ GV bộ môn GDCD, báo cáo viên pháp luật đáp ứng yêu cầu mục tiêu giáo dục
a. Mục tiêu và ý nghĩa của biện pháp
Nhằm đảm bảo đội ngũ vận hành một cách có trách nhiệm và hiệu quả hoạt động GDPL cho học sinh. Thông qua hoạt động bồi dưỡng giúp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, giáo viên, báo cáo viên pháp luật.
b. Nội dung của biện pháp
Hiệu trưởng lựa chọn đội ngũ những giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Giáo dục công dân, giáo viên chủ nhiệm, Tổng phụ trách, Bí thư đoàn có kinh nghiệm giảng dạy, kinh nghiệm giáo dục học sinh làm cốt cán. Bồi dưỡng cho họ những kĩ năng truyền đạt các nội dung GDPL, kĩ năng ứng xử, nắm vững chức năng, nhiệm vụ trong hoạt động GDPL cho học sinh.
c. Cách tiến hành biện pháp
Hiệu trưởng lập kế hoạch lựa chọn đội ngũ thực hiện hoạt động GDPL theo các tiêu chuẩn: Có năng lực chuyên môn vững, có kinh nghiệm, có khả năng giải quyết các tình huống, có khả năng tổ chức các hoạt động tập thể, được học sinh tin cậy, kính trọng.
Bồi dưỡng, trang bị cho giáo viên nhận thức lý tưởng nghề nghiệp đúng đắn, giúp họ am hiểu, nắm bắt sâu sắc chủ trương, đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới.
Hiệu trưởng tạo điều kiện cho đội ngũ giáo viên cốt cán tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề để nhân rộng kĩ năng GDPL trong toàn trường. Có chế độ đãi ngộ, khen thưởng kịp thời.
3.2.3. Tích hợp nội dung GDPL vào giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh THPT
a. Mục tiêu và ý nghĩa của biện pháp
Việc tích hợp, lồng ghép nội dung GDPL vào giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh sẽ làm cho các nội dung giáo dục sinh động gần gũi với cuộc sống học sinh, giúp các nhà quản lý có điều kiện triển khai hoạt động GDPL khả thi hơn.
b. Nội dung của biện pháp
Nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật trong cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh toàn trường, biết đánh giá hành vi xử sự của bản thân, tăng cường tính tự giác, sống, học tập và làm việc theo pháp luật.
c. Cách tiến hành biện pháp
Đối với hiệu trưởng phổ biến các văn bản, nghị quyết, chủ trương của Đảng và nhà nước về việc tích hợp GDPL vào giáo dục đạo đức cho học sinh. Phê duyệt kế hoạch giáo dục đạo đức hàng năm, tổ chức triển khai và có đánh giá, xếp loại đúng quy định.
Đối với Đoàn thanh niên phối hợp với GVCN theo dõi và nhắc nhở học sinh vi phạm nội quy của nhà trường. Kịp thời nêu gương tập thể, cá nhân tham gia tích cực hoạt động Đoàn – Hội, công tác xã hội và vượt khó trong học tập.
Đối với tổ chuyên môn và GVCN, nâng cao chất lượng công tác chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, cần quan tâm giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinhi, kết hợp giữa dạy chữ và dạy người; GVCN là cầu nối giữa nhà trường và gia đình học sinh trong hoạt động phối hợp, giáo dục học sinh.
3.2.4. Đổi mới phương pháp giáo dục, đa dạng hóa các hình thức GDPL trong nhà trường
a. Mục tiêu và ý nghĩa của biện pháp
Việc đưa ra biện pháp để đổi mới phương pháp giảng dạy môn GDCD là một việc làm rất cần thiết. Nhà trường cần tổ chức các chương trình HĐNGLL phong phú đa dạng, phù hợp với tâm lý, gây hứng thú, hấp dẫn, thu hút học sinh tham gia tự giác.
b. Nội dung của biện pháp
Nâng cao nhận thức của cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và cha mẹ học sinh về tầm quan trọng của môn GDCD đối với công tác GDPL cho học sinh. Việc dạy môn GDCD cần gắn liền với các môn học khác, giáo dục chính khóa và hoạt động ngoại khóa.
Nhà trường thành lập Ban Chỉ đạo HĐGDNGLL gồm những thành viên có năng lực, nhiệt tình, có kỹ năng tổ chức các hoạt động, có những hiểu biết và kiến thức pháp luật. Lập kế hoạch một cách chi tiết, chặt chẽ, phù hợp với nội dung chủ đề HĐGDNGLL. Huy động các lực lượng trong và ngoài trường cùng tham gia thực hiện GDPL cho học sinh qua việc tổ chức các HĐGDNGLL.
c. Cách tiến hành biện pháp
Đối với hiệu trưởng cần triển khai các văn bản hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học. Tổ chức tập huấn cho giáo viên về GDPL; phổ biến những kiến thức pháp luật mới trong đội ngũ. Xây dựng tủ sách pháp luật để cập nhật kiến thức phục vụ giảng dạy môn GDCD. Kiện toàn bộ máy Ban chỉ đạo HĐGDNGLL, ngoại khóa.
Đối với Tổ chuyên môn và GV dạy môn GDCD đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với mục tiêu bài dạy. Thường xuyên kiểm tra, giám sát kế hoạch thực hiện chương trình theo chuẩn kiến thức, kỹ năng. Cần tìm tòi, nghiên cứu những tình huống pháp luật có trong thực tiễn để đưa vào bài dạy phù hợp với mục tiêu của bài giúp học sinh tự phân tích vấn đề từ đó rút ra bài học cho bản thân.
Đối với GVCN luôn giữ vai trò chính trong tổ chức, quản lý GDPL thông qua HĐGDNGLL, ngoại khóa. Cần tham gia tích cực xây dựng động cơ hoạt động đúng đắn cho học sinh. Cần phối hợp với Đoàn Thanh niên, giáo viên bộ môn để tổ chức tốt hoạt động GDPL thông qua HĐGDNGLL..
3.2.5. Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội, phát huy vai trò các đoàn thể trong hoạt động GDPT cho học sinh
a. Mục tiêu và ý nghĩa của biện pháp
Cần tăng cường phối hợp giữa các lực lượng giáo dục để tạo sự thống nhất trong công tác GDPL cho học sinh. Xây dựng mối liên hệ nhà trường – gia đình – xã hội thật sự gắn kết chặt chẽ.
b. Nội dung của biện pháp
Công tác GDPL cho học sinh là trách nhiệm của toàn xã hội, do đó tất yếu phải tiến hành XHHGD để huy động, thu hút, phối hợp tất cả các thành phần xã hội. Thực chất của XHHGD trong công tác GDPL cho học sinh là tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường – gia đình – xã hội.
c. Cách tiến hành biện pháp
Xây dựng gia đình thực sự là tổ ấm cho các em lớn khôn và trưởng thành, không vi phạm pháp luật; đảm bảo kinh tế gia đình để các em có kiện sống tối thiểu như ăn ở, mặc, sinh hoạt, học hành.
Nhà trường có trách nhiệm quản lý, giáo dục học sinh, phối hợp tốt với gia đình trong việc quản lý, giáo dục học sinh, bảo vệ an ninh, trật tự trong khu vực trường.
Các cơ quan chuyên trách thường xuyên kiểm tra và kiên quyết khắc phục những hiện tượng không lành mạnh trong các hoạt động văn hóa, báo chí, văn nghệ; xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật.
3.2.6. Cải thiện điều kiện, cơ sở vật chất, thực hiện xã hội hóa các nguồn lực phục vụ hoạt động GDPL cho học sinh
a. Mục tiêu và ý nghĩa của biện pháp
GDPL trong nhà trường là trách nhiệm của toàn xã hội. Để có kết quả cao trong công tác GDPL, nhà trường cần phải thực hiện xã hội hóa các nguồn lực phục vụ cho hoạt động GDPL, bao gồm nhân lực, tài lực và vật lực.
b. Nội dung của biện pháp
Nhà trường cần tranh thủ sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền trong hoạt động GDPL cho học sinh. Huy động tài chính để cải thiện cơ sở vật chất của nhà trường, trợ giúp cho học sinh, nhất là học sinh nghèo vượt khó, tăng cường các hoạt động ngoại khóa về GDPL.
c. Cách tiến hành biện pháp
Hiệu trưởng cần nắm rõ các nguyên tắc huy động cộng đồng, đặc biệt là nguồn lực tài chính sao cho đảm bảo tính pháp lý. Chỉ đạo sự phối hợp chặt chẽ trong công tác đảm bảo chất lượng dạy học, khai thác và sử dụng các TBDH, CSVC phục vụ hoạt động GDPL cho học sinh. Tăng cường mối quan hệ với các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội trong và ngoài huyện để được hỗ trợ về nhân lực, vật lực và trí lực để góp phần GDPL đạt hiệu quả.
Đối với giáo viên thi đua dạy tốt nhằm góp phần nâng chất lượng giáo dục nói chung và GDPL cho học sinh nói riêng; tạo niềm tin nơi cha mẹ học sinh, các cấp các ngành, tạo động lực huy động các nguồn lực phục vụ cho GDPL.
3.2.7. Định kỳ kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh, nâng cao chất lượng các hoạt động GDPL trong nhà trường
a. Mục đích và ý nghĩa của biện pháp
Kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh để nâng cao chất lượng hoạt động GDPL cho học sinh là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả GDPL. Xây dựng quy định đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh cụ thể, rõ ràng cho từng mặt hoạt động. Ban hành quy định nhằm hạn chế những tiêu cực ảnh hưởng tới quá trình quản lý hoạt động GDPL cho học sinh.
b. Nội dung của biện pháp
Cần thành lập các ban chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá trong nhà trường. Cần xây dựng chế độ khen thưởng, động viên rõ ràng phù hợp nhằm khuyến khích động viên cán bộ, giáo viên. Tổ chức tốt công tác kiểm tra, đánh giá trong thực hiện kế hoạch GDPL để điều chỉnh, bổ sung mục tiêu, nội dung.
c. Cách tiến hành biện pháp
Xây dựng nội dung, tiêu chí kiểm tra, đánh giá theo tiến trình thời gian và theo kế hoạch GDPL. Tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả công tác GDPL thường xuyên, cụ thể. Thành lập tổ hoặc hội đồng GDPL bao gồm đại diện các bộ phận liên quan. Trên cơ sở nội dung công việc, xây dựng chế độ quản lý, quy định từng hoạt động, nội dung GDPL, đánh giá từng mặt rèn luyện của học sinh.
Sau mỗi học kỳ, năm học, Ban Giám hiệu nhà trường cần chuẩn bị nội dung và tiến hành hội nghị sơ kết, tổng kết để chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và rút kinh nghiệm để công tác chỉ đạo năm học tiếp theo đạt kết quả cao hơn.
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
Biện pháp quản lý hoạt động GDPL là một hệ thống đa dạng, năng động, mỗi biện pháp đều có những vị trí và vai trò nhất định trong quá trình quản lý giáo dục. Tuy nhiên, không có biện pháp nào là vạn năng. Mỗi biện pháp đều có những ưu điểm và những hạn chế nhất định. Vì vậy, tùy thuộc vào đặc điểm tình hình, tùy thuộc vào con người, hoàn cảnh, điều kiện và thời gian,… mà áp dụng các biện pháp cho phù hợp.
Việc thực hiện tốt biện pháp này sẽ là tiền đề để thực hiện có hiệu quả các biện pháp khác và ngược lại, do đó các biện pháp nêu trên cần đảm bảo được thực hiện một cách có hệ thống và đồng bộ. Sẽ ít có ý nghĩa khi thực hiện đơn lẻ từng biện pháp.
3.4. Khảo nghiệm nhận thức về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp
Để kiểm chứng tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp trên, chúng tôi tiến hành trưng cầu ý kiến của đội ngũ CBQL, cán bộ Đoàn, các giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động GDPL cho học sinh và LLGD ngoài nhà trường.
Qua trưng cầu ý kiến, đa số người được hỏi đều cho rằng các biện pháp trên là cấp thiết và khả thi. Hệ số tương quan Spearman giữa tính cấp thiết và tính khả thi của một số biện pháp: Từ công thức Spearman, ta có:
Với hệ số tương quan R = 0.96 cho phép rút ra kết luận tương quan trên là tương quan thuận và là tương quan chặt. Có nghĩa là giữa mức độ cấp thiết và mức độ khả thi của biện pháp quản lý đã đề xuất trong đề tài là phù hợp nhau. Như vậy, các biện pháp quản lý được nhận thức ở mức độ nào thì khả thi ở mức độ đó.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
Trên cơ sở lý luận chương 1, khảo sát thực tiễn chương 2 và các nguyên tắc đề xuất, luận văn đề xuất 07 biện pháp quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Những biện pháp quản lý hoạt động GDPL cho học sinh ba trường THPT đã được khảo nghiệm về nhận thức và cho thấy rằng các biện pháp này là cấp thiết và mang tính khả thi cao.
Mỗi biện pháp đề xuất đều có mục tiêu, nội dung và cách tiến hành. Đồng thời mỗi biện pháp đều có vị trí, vai trò riêng trong quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT huyện Nghĩa Hành trong giai đoạn hiện nay.
Các biện pháp được thiết kế nhằm tác động vào tất cả các khâu của quá trình quản lý và các chủ thể tham gia vào quá trình này, tác động vào tất cả các thành tố của quá trình GDPL cho học sinh nhờ đó sẽ tác động tổng hợp và đồng bộ đến quản lý hoạt động GDPL cho học sinh ở các trường THPT huyện Nghĩa Hành trong giai đoạn hiện nay.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, bằng lý luận và thực tiễn, luận văn đã chứng minh giả thuyết khoa học đã nêu ra, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDPL cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả luận văn rút ra kết luận và khuyến nghị sau:
1. KẾT LUẬN
1.1. Trên cơ sở phân tích lý luận về QLGD, căn cứ kết quả nghiên cứu khảo sát và trao đổi ý kiến với các CBQL có kinh nghiệm về quản lý hoạt động GDPL cho học sinh ở các trường THPT, có thể khẳng định rằng việc nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động GDPL cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Nghĩa Hành là thiết thực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của các nhà trường. Trong giai đoạn hiện nay, trước những cơ hội, thách thức về đổi mới căn bản và toàn diện ngành GD&ĐT, vai trò của công tác quản lý nói chung và quản lý hoạt động GDPL cho học sinh ở các trường THPT lại càng có ý nghĩa cấp thiết hơn.
1.2. Kết quả khảo sát thực trạng trạng quản lý hoạt động GDPL cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Nghĩa Hành trong những năm qua cho thấy công tác này đã có những chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả nhất định. Hoạt động GDPL cho học sinh đã phát huy được vai trò là công cụ cho CBQL trong việc nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục, đồng thời thúc đẩy sự tiến bộ của cá nhân, tổ chức trong nhà trường và xã hội. Thông qua hoạt động GDPL, công tác chuyên môn, công tác phối hợp thường xuyên được duy trì và điều chỉnh kịp thời. Các điều kiện thiết yếu phục vụ cho hoạt động GDPL được đáp ứng đầy đủ. Việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong giáo dục cũng được đảm bảo. Quản lý hoạt động GDPL tại các trường THPT huyện Nghĩa Hành đã đạt được ưu điểm nhất định. Tuy nhiên, trong công tác GDPL cho học sinh hiện nay cũng còn nhiều hạn chế bất cập. Ý thức trách nhiệm của một số ít giáo viên vẫn chưa cao, chưa thực sự tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về công tác GDPL; nội dung GDPL còn cứng nhắc, chưa được đổi mới, hình thức nghèo nàn, thiếu sự hấp dẫn; sự phối kết hợp giáo dục giữa nhà trường và các lực lượng giáo dục chưa chặt chẽ, chưa thực sự phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục trong nhà trường và ngoài XH; công tác kiểm tra, đôn đốc chưa được thực hiện thường xuyên; công tác tuyên truyền chưa thực sự rộng rãi, chưa đúng đối tượng; thói quen chấp hành pháp luật mọi lúc, mọi nơi của học sinh và sự lan tỏa đến mọi người xung quanh vẫn còn nhiều hạn chế. Thực trạng đó đặt ra những yêu cầu khách quan về việc nghiên cứu các biện pháp nhằm củng cố kết quả đạt được, từng bước đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động GDPL cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Nghĩa Hành.
1.3. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, luận văn đề xuất hệ thống 7 biện pháp quản lý hoạt động GDPL nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các trường THPT trên địa bàn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2019 – 2022, bao gồm: (1) Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và phụ huynh học sinh về công tác giáo dục pháp luật cho học sinh THPT; (2) Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ GV bộ môn GDCD, báo cáo viên pháp luật đáp ứng yêu cầu mục tiêu giáo dục; (3) Tích hợp nội dung giáo dục pháp luật vào giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh THPT; (4) Đổi mới phương pháp giáo dục, đa dạng hóa các hình thức GDPL trong nhà trường; (5) Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội, phát huy vai trò các đoàn thể trong hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh; (6) Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội, phát huy vai trò các đoàn thể trong hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh; (7) Định kỳ kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh, nâng cao chất lượng các hoạt động GDPL trong nhà trường. Kết quả khảo nghiệm cho thấy các biện pháp đề xuất có tính cấp thiết và tính khả thi cao.
2. KHUYẾN NGHỊ
2.1. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ngãi
– Trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học, Sở GD&ĐT cần có phần hướng dẫn và yêu cầu cụ thể về công tác GDPL cho các nhà trường.
– Tham mưu cho HĐND, UBND tỉnh ra các văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành trong tỉnh đẩy mạnh công tác GDPL, tăng cường phối kết hợp với nhà trường thực hiện tốt GDPL cho học sinh THPT.
– Kiện toàn đội ngũ và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, thường xuyên mở lớp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên về kĩ năng giảng dạy GDPL cho học sinh trong toàn tỉnh.
- Xây dựng và nhân rộng các điển hình về công tác GDPL cho học sinh. Thực hiện chế độ thi đua, khen thưởng xứng đáng cho các đơn vị tổ chức tốt hoạt động ngoài giờ lên lớp.
2.2. Đối với các cấp chính quyền và đoàn thể địa phương
– Có kế hoạch xây dựng nhiều sân chơi bổ ích mang tính cộng đồng.
– Đảm bảo an ninh chính trị tại địa phương, phối hợp và xử lý nghiêm các đối tượng gây rối bên ngoài vào trong nhà trường.
– Chỉ đạo các trường xây dựng kế hoạch phối hợp thực hiện hoạt động GDPL cho học sinh. Tư vấn và phối hợp chặt chẽ cùng các trường và gia đình học sinh phát hiện kịp thời những biểu hiện hành vi trái pháp luật của học sinh. Tạo dư luận xã hội tích cực để chống những hành vi trái pháp luật và tệ nạn xã hội xâm nhập lứa tuổi học đường.
– Tăng cường công tác phối hợp, vận động quần chúng nhân dân tham gia công tác phòng chống tội phạm, tạo nguồn kinh phí và các điều kiện khác để nhà trường thực hiện hoạt động GDPL cho học sinh.
2.3. Đối với các trường THPT trên địa bàn huyện Nghĩa Hành
– Thành lập Ban chỉ đạo về quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh.
– Chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện quản lý hoạt động GDPL cho học sinh và kế hoạch phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tham gia trực tiếp vào thực hiện công tác này (có nội dung, hình thức, thành phần tham gia, thời gian thực hiện cụ thể).
– Tang cường phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên, báo cáo viên làm công tác GDPL, có đủ phẩm chất năng lực, thường xuyên được bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn trong công tác GDPL cho học sinh THPT.
– Củng cố, bổ sung tủ sách pháp luật của nhà trường để thuận lợi cho việc tra cứu, tìm hiểu văn bản pháp luật của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh.
– Tăng cường đầu tư kinh phí phục vụ hoạt động GDPL cho học sinh. Có biện pháp huy động sự đầu tư kinh phí của các cấp, các ban ngành đoàn thể, cha mẹ học sinh vào công tác GDPL cho học sinh.
– Thường xuyên tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động chính trị, xã hội, hoạt động thực tiễn lao động sản xuất, tạo sân chơi đa dạng phong phú và phù hợp với học sinh THPT.
– Kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệp thường xuyên, nhận xét chính xác việc thực hiện hoạt động GDPL trong tiết dạy của giáo viên và công tác phối hợp các lực lượng cùng tham gia hoạt động GDPL cho học sinh./
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\GIAO DUC HOC\DOAN TRUNG HIEU\SAU BAO VE


