Quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đăk Glei tỉnh Kon Tum

Quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đăk Glei tỉnh Kon Tum

Quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đăk Glei tỉnh Kon Tum

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Từ những năm đầu thế kỷ XXI, thế giới có nhiều thay đổi, cách mạng khoa học và công nghệ thế giới tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền sản xuất và đời sống xã hội. Trí tuệ của con người giữ vai trò quyết định đối với sự tiến bộ cũng như tốc độ phát triển của nền văn minh nhân loại. Đất nước ta đang chuyển sang thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đại hội lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, với tiến bộ khoa học – công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động”.

Hoạt động dạy học là một trong những hoạt động cơ bản trong nhà trường, cùng với HĐGD tạo nên quá trình sư phạm tổng thể, quyết định đến chất lượng giáo dục của nhà trường. Quản lý HĐDH là khâu then chốt trong quán trình QLGD.

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ thông đầu tiên, là cấp học nền tảng có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất cho trẻ em nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách của HS, là cầu nối quan trọng đến cấp trung học cơ sở .Vì vậy, giáo dục tiểu học phải đảm bảo chất lượng như mục tiêu giáo đề ra “Hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kỹ năng cơ bản…” [22]. Trong giáo dục tiểu học, HĐDH là rất quan trọng, đòi hỏi GV dạy phải phù hợp với lứa tuổi, đảm bảo mục tiêu giáo dục và đào tạo, HĐDH đó phải được quản lý tốt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

Trong thời gian qua chất lượng giáo dục ở huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum từng bước được nâng lên, song vẫn chưa đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi của xã hội. Giáo dục bậc tiểu học huyện Đăk Glei vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại cần phải được tháo gỡ (chất lượng giáo dục còn chưa cao so với yêu cầu – chất lượng giáo dục HS DTTS, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, thiếu GV để dạy 2 buổi/ngày…). Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại ấy, một trong những nguyên nhân đó là QLGD còn nhiều bất cập, chậm đổi mới; công tác quản lý HĐGD ở nhà trường còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực khác của đất nước. Tại Đại hội Đảng bộ huyện Đăk Glei lần thứ XVIII nhấn mạnh nhiệm vụ đối với giáo dục “Đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về giáo dục. Nâng cao chất lượng giáo dục ở các xã vùng sâu, vùng xa, chú trọng chất lượng giáo dục toàn diện, quan tâm giáo dục truyền thống, lịch sử trong HS các cấp học” [34]

Đăk Glei là huyện miền núi, vùng cao, đất dốc, đồng thời là cửa ngõ của cực bắc Tây Nguyên, huyện Đăk Glei có 11/12 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, đồng bào DTTS chiếm 90% dân số, nhóm dân tộc phổ biến Dẻ -Triêng, Xê Đăng có ngôn ngữ riêng và sống ở các vùng kinh tế chậm phát triển. Ngôn ngữ giảng dạy chính trong nhà trường là tiếng Việt và tất cả trẻ em DTTS đều được dạy bằng tiếng Việt. Điều này đã tạo nên một “rào cản về ngôn ngữ” đối với nhiều HS DTTS, nhiều em có khả năng tiếng Việt hạn chế. Rất ít GV có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ DTTS, nên HS gặp nhiều khó khăn để hiểu được bài giảng và hệ quả là các em không tự tin tham gia học một cách tích cực. Đây cũng là một trong những lý do tại sao tỉ lệ chưa hoàn thành môn học ở tiểu học của trẻ em DTTS cao hơn nhiều so với của các em dân tộc Kinh (Năm học 2015-2016 tại huyện Đăk Glei số học sinh lớp 1 chưa hoàn thành chưa trình tiếng Việt 59; trong đó HS người DTTS là 56, chiếm tỷ lệ 94,91%).

Trong trường mầm non, trường phổ thông, tiếng Việt có một vị trí, tính chất và tầm quan trọng đối với khả năng lĩnh hội tri thức của HS DTTS, HS tiểu học giao tiếp hàng ngày bằng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Khi đến trường được dạy học bằng tiếng Việt, trong khi đó vốn từ của các em rất ít trước khi đến trường. Do vậy, việc tăng cường tiếng Việt cho HS DTTS vừa là mục tiêu vừa là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho giáo dục miềm núi nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục hiện nay.

Tăng cường tiếng Việt cho HS tiểu học người DTTS là thực hiện mục tiêu chung của Nhà nước ta “ Tập trung tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, HS tiểu học người DTTS, đảm bảo các em có kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt để hoàn thành chương trình giáo dục mầm non và chương trình giáo dục tiểu học; tạo tiền đề để học tập, lĩnh hội tri trức của các cấp học tiếp theo; góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững các DTTS, đóng góp vào sự tiến bộ, phát triển của đất nước” [33]. Tuy nhiên công tác dạy học và quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho HS tiểu học người DTTS chưa đi vào nền nếp, tiến hành chưa đồng bộ, còn nhiều hạn chế, hiệu quả đạt được chưa cao.

Từ các lý do trên, vấn đề “Quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đăk Glei tỉnh Kon Tum” được chọn làm đề tài nghiên cứu của luận văn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu mà Chính phủ đã đề ra, góp phần đưa giáo dục và kinh tế -xã hội ở địa phương phát triển

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng việc quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt, đề xuất những giải pháp quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho HS tiểu học người DTTS trên địa bàn huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum của Hiệu trưởng.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt tại các trường tiểu học.

3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý HĐDH tăng cường tiếng Việt cho HS tiểu học người DTTS huyện Đăk Glei tỉnh Kon Tum của Hiệu trưởng.

4. Giả thuyết khoa học

Trước yêu cầu của việc đổi mới giáo dục và chất lượng giáo dục dân tộc trên địa bàn huyện Đăk Glei còn nhiều hạn chế, nhất là vốn tiếng Việt của HS DTTS, có ảnh hưởng lớn tới kết quả học tập ở lớp một và những năm học tiếp theo.

Vì vậy, nếu xây dựng được khung lý thuyết khoa học, đánh giá đúng thực trạng với những mặt mạnh, hạn chế và nguyên nhân thì có thể đề xuất được các biện pháp của hiệu trưởng có tính cấp thiết và khả thi cao trong công tác quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người DTTS huyện Đăk Glei tỉnh Kon Tum nhằm nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt của HS DTTS.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho HS tiểu học người DTTS.

Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý HĐDH tăng cường tiếng Việt và nguyên nhân của thực trạng các trường tiểu học huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum.

Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt tại các trường tiểu học huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum của Hiệu trưởng.

6. Phạm vi nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt tại các trường tiểu học huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum của Hiệu trưởng .

Địa bàn nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu tại 13 trường tiểu học trên địa bàn huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum.

Đối tượng khảo sát: cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh.

7. Phương pháp nghiên cứu

Quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đăk Glei tỉnh Kon Tum
Quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đăk Glei tỉnh Kon Tum

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

– Phương pháp phân tích- tổng hợp tài liệu.

– Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.

7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

– Phương pháp điều tra: sử dụng phiếu hỏi với câu hỏi đóng và các câu hỏi mở cho các đối tượng như CBQL, GV, để thu thập dữ liệu

– Phương pháp phỏng vấn: trưng cầu ý kiến của các nhà quản lý về các biện

pháp quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho HS người DTTS

– Phương pháp quan sát: quan sát trực tiếp công tác quản lý dạy học tăng cường tiếng Việt cho HS người DTTS

– Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm

7.3. Phương pháp thống kê: Sử dụng công thức thống kê toán học để xử lý số liệu thu được, định lượng kết quả nghiên cứu nhằm rút ra các kết luận khoa học.

8. Kết cấu của luận văn

  • Mở đầu
  • Nội dung

Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số

Chương 2. Thực trạng quản lý HĐDH tăng cường tiếng Việt cho HS tiểu học người DTTS trên địa bàn huyện ĐăkGlei, tỉnh Kon Tum

Chương 3. Biện pháp quản lý HĐDH tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người DTTS trên địa bàn huyện ĐăkGlei, tỉnh Kon Tum

  • Kết luận và khuyến nghị

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HỌẠT ĐỘNG DẠY HỌC TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

      1. 1.2.1. Quản lí, quản lí giáo dục

a. Khái niệm Quản lí

Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra quan niệm về quản lý dưới những góc độ khác nhau. Theo K.Marx thì ” quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó gắn liền với sự phân công và phối hợp, nhưng khi nói đến sự phân công và phối hợp thì sự chỉ huy thống nhất để đảm bảo sự đồng bộ, ăn khớp trong hoạt động của các bộ phận cấu thành hệ thống, điều chỉnh hoạt động của các bộ phận này trên cơ sở mục tiêu là yêu cầu tất yếu khách quan hết sức cần thiết. Xét đến cùng thì điều đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở tổ chức. Chức năng chủ yếu của quản lý là phối hợp các mặt hoạt động của tổ chức và của những người trong tổ chức đó thành một chỉnh thể” [14].

Quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, vì vậy có nhiều định nghĩa khác nhau về khoa học quản lý, tùy thuộc theo quan điểm tiếp cận khác nhau mà các tác giả đưa ra các định nghĩa khác nhau.

Các tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng ” Quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến nó nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà nhà quản lý mong muốn” [20].

Theo K.B Everard, Geoffrey and Ian Wilson cho rằng “Quản lý đề ra phương hướng, mục đích và mục tiêu; lập kế hoạch tiến trình thực hiện hoặc mục tiêu đạt được như thế nào; tổ chức các nguồn lực có sẳn (nhân lực, thời gian, vật lực), để có thể đạt được mục tiêu một cách kinh tế nhất theo đúng kế hoạch đề ra. Kiểm soát tiến trình thực hiện; đề ra và nâng cao chuẩn của tổ chức” [17].

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lí là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người QL) đến khách thể quản lý (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [18].

Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu một cách khái quát về quản lý như sau “Quản lý là quá trình thực hiện các công việc xây dựng kế hoạch hành động, sắp xếp tổ chức, chỉ đạo, điều hành, kiểm soát và đánh giá kết quả, sửa chữa sai sót (nếu có) để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của tổ chức đã đề ra” [35].

b. Khái niệm Quản lí giáo dục

Giáo dục là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội. Đây là một hoạt động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội qua các thế hệ, đồng thời là một động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Để hoạt động này vận hành có hiệu quả, giáo dục phải được tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống các cơ sở giáo dục, điều này dẫn đến một tất yếu là phải có một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tương đối trong giáo dục, đó là công tác QLGD. Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực QLGD, đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước đưa ra các khái niệm với các cách biểu thị khác nhau:

+ QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện, hài hoà.

+ QLGD là quản lý hệ thống GD bằng sự tác động có mục đích, có kế hoạch, có ý thức và tuân thủ các quy luật khách quan những chủ thể QLGD lên toàn bộ các mắt xích của hệ thống GD nhằm đưa HĐGD của cả hệ thống đạt tới mục tiêu.

+ Theo tác giả Trần Kiểm: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở 8 nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của QLGD, của sự phát triển tâm lí và thể lực của trẻ em. [21]

+ Theo tác giả Phạm Minh Hạc: QLGD là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục, để tiến tới mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng HS [18] .

Những khái niệm trên cách diễn đạt khác nhau nhưng tựu chung thì: QLGD được hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định. Trong QLGD, chủ thể quản lý chính là bộ máy quản lý các cấp; đối tượng quản lý là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất- kĩ thuật và các hoạt động thực hiện chức năng của GD&ĐT.

      1. 1.2.2. Hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số

a. Hoạt động dạy học

HĐDH là hoạt động đặc trưng cho bất cứ loại hình nhà trường nào và xét theo quan điểm tổng thể, dạy học chính là con đường giáo dục tiêu biểu nhất. Dạy học luôn được xem là con đường hợp lý, thuận lợi nhất giúp cho HS với tư cách là chủ thể nhận thức có thể lĩnh hội được một hệ thống tri thức và kỹ năng hành động, chuyển thành phẩm chất, năng lực trí tuệ của bản thân.

Hoạt động dạy học là quá trình thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản đó là hoạt động dạy và hoạt động học: Dạy có mục đích là điều kiển sự học tập; học quá trình tự giác chiếm lĩnh, lĩnh hội tri thức dưới sự điều khiển sư phạm của GV.

b. Hoạt động dạy học tiếng Việt ở tiểu học

Giáo viên dạy cho HS nghe hiểu trong giao tiếp thông thường và các chủ đề quen thuộc; nói rõ ràng và mạch lạc, kể các câu chuyện ngắn, đơn giản về các chủ đề quen thuộc; đọc lưu loát và đúng ngữ điệu, đọc hiểu bài đọc ngắn về các chủ đề quen thuộc; viết được bài văn ngắn về các chủ đề quen thuộc. Phát âm đúng các từ; hiểu những từ thông dụng và có số lượng từ vựng cần thiết cho giao tiếp hàng ngày; biết đọc các bài toán có lời văn và đọc hiểu bài ở các môn học khác.

c. Dạy học tăng cường tiếng Việt cho HS tiểu học người DTTS

Học sinh DTTS sống ở địa phương miền núi, có rất ít dân tộc Kinh sinh sống, DTTS sử dụng ngôn ngữ, chữ viết riêng (nếu có) để giao tiếp và sử dụng hạn chế tiếng Việt trong giao tiếp. Học sinh người DTTS từ lúc nhỏ các em sống cùng gia đình, cộng đồng và thường xuyên trao đổi với nhau tiếng mẹ đẻ nhưng đến khi bước vào nhà trường thì buộc các em phải nói và viết thành thạo tiếng Việt mới có thể theo học chương trình giáo dục theo quy định.

Do vậy, việc dạy tiếng Việt cho học sinh DTTS phải được coi trọng và thực hiện thường xuyên, nghiêm túc nhằm giúp các em tự tin, có khả năng tiếp thu và giao tiếp bằng tiếng Việt thành thạo, rút ngắn khoảng cách về khả năng học tập.

Trường tiểu học ở huyện miền núi, vùng DTTS thì HĐDH tăng cường tiếng Việt là một trong những hoạt động quan trọng trong các mặt hoạt động của nhà trường. HĐDH tăng cường tiếng Việt chiếm nhiều thời gian trong các hoạt động giáo dục, diễn ra trong suốt cả một năm học, theo kế hoạch đã được hoạch định trước, đòi hỏi mọi thành viên trong nhà trường tự giác chấp hành.

Dạy học tăng cường tiếng Việt là việc chú trọng gia tăng thêm thời lượng, nội dung, PPDH cho HS người DTTS trong môn tiếng Việt, tăng cường tiếng Việt trong các môn học khác và các hoạt động giáo dục, hoạt động trãi nghiệm ở tiểu học.

      1. 1.2.3. Quản lí hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số

Quản lý HĐDH trong nhà trường là nội dung, là cách thức mà chủ thể quản lý cần cụ thể hoá để thực hiện các chức năng và mục tiêu QLGD. Quản lý HĐDH tăng cường tiếng Việt là một trong những nhiệm vụ trong QLGD nói riêng ở các trường tiểu học các huyện miền núi – chủ yếu đồng bào DTTS sinh sống.

Trong quá trình quản lý HĐDH tăng cường tiếng Việt các yếu tố như: quản lý hoạt động dạy, quản lý hoạt động học và môi trường dạy học tăng cường tiếng Việt. Hoạt động quản lý chủ yếu tập trung vào quản lý hoạt động của GV và trực tiếp với GV, quản lý gián tiếp với HS; quản lý chuyên môn trong nhà trường, trong đó quan tâm đến quản lý hoạt động dạy của GV, quản lý hoạt động học của HS, quản lí môi trường dạy và học tăng cường tiếng Việt.

Quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho HS tiểu học người DTTS là công việc của nhà QLGD hướng đến để thực thi hiệu quả của quản lý hoạt động dạy, hoạt động học và môi trường dạy học tăng cường tiếng Việt cho HS tiểu học người DTTS nhằm đạt được mục đích.

1.3. LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

      1. 1.3.1. Đặc điểm học sinh tiểu học người DTTS

a. Khái niệm học sinh, học sinh tiểu học

– Học sinh là người học ở cấp học phổ thông.

– Học sinh tiểu học là người học có độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi và học chương trình từ lớp 1 đến lớp 5 theo quy định của Bộ GD&ĐT.

b. Học sinh dân tộc thiểu số

 Khái niệm DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ của một nước có đa dân tộc.

Người DTTS có đặc điểm văn hóa cư trú, nhà cửa, quan hệ xã hội, ứng xử trong cộng đồng, các lễ hội, tín ngưỡng, ngôn ngữ riêng … khác so với dân tộc đa số. Những đặc điểm này tác động đến sự phát triển của dân tộc đó. Hiểu rõ đặc điểm văn hóa và tâm lý của DTTS sẽ góp phần thực thi hiệu quả các chính sách đối với vùng có DTTS để phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.

Học sinh DTTS luôn có tính thẳng thắn, thật thà và tự trọng, khả năng diễn đạt bằng tiếng Việt còn hạn chế. Các em thường có lòng tự trọng cao, nhút nhát, rụt rè, ngại giao tiếp với người lạ. Đa số các em đều là con em các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, điều kiện kinh tế vô vùng thiếu thốn. Ngoài việc học, các em còn phải đi rừng, đi rẫy để phụ giúp việc với gia đình. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng GD và việc duy trì số lượng học sinh trên lớp.

      1. 1.3.2. Hoạt động dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số
      2. a. Tầm quan trọng việc dạy học tăng cường tiếng Việt cho HS tiểu học người DTTS
      3. Những hạn chế về vốn từ của trẻ em người DTTS khi bắt đầu vào học tiểu học: Trong những năm gần đây, phần lớn trẻ em DTTS đã học qua lớp mẫu giáo thực hiện chương trình làm quen tiếng Việt nhưng nhìn chung, vốn từ và kỹ năng nghe, nói của các em còn hết sức hạn hẹp Cụ thể:
      4. – Về số lượng từ các em sử dụng được trong giao tiếp chỉ ở mức có thể nói được những lời nói đơn giản như chào cô, cái bàn, quyển sách, cái bút…; chỉ nghe và hiểu được những câu lệnh thường xuyên như ra chơi, vào lớp, ngồi xuống, đứng lên… Với vốn từ ít ỏi như trên, các em thường chỉ diễn đạt một vấn đề bằng cách nói từng tiếng thay vì nói cả câu. Ví dụ: GV hỏi nhà em có mấy người? Các em chỉ nói được “bốn”; hay “Em bé trong tranh đang làm gì?” các em chỉ trả lời” vẽ.
      5. – Về phát âm: do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ nên các em DTTS phát âm sai ở hầu hết dấu thanh và phần vần; có một số vùng phát âm sai một số âm đầu. Ví dụ trẻ em dân tộc nói các tiếng có thanh thành thanh /không/, tiếng có thanh /không/ thành có thanh. Lỗi phát âm này rất khó sửa (nếu không nói là không sửa được) nếu không được sửa chữa từ các lớp mầm non và lớp Một ở tiểu học.
      6. Môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt của học sinh DTTS hạn hẹp và không thuần nhất: Môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt của các em vùng DTTS hết sức hạn hẹp và thiếu tính tích cực. Ở trường, khi học trên lớp, chủ yếu các em được nghe cô giáo giảng bài (có lúc phải dùng cả 2 thứ tiếng để HS hiểu được nội dung bài dạy), luyện đọc nhưng không hiểu nội dung bài đọc; luyện viết nhưng chỉ luyện để viết đúng con chữ mà không thể viết thành bài văn hoàn chỉnh. Còn khi ra chơi, các em lại nói với nhau bằng tiếng mẹ đẻ. Về với gia đình và cộng đồng, các em lại sống trong môi trường thuần tiếng mẹ đẻ, vốn tiếng Việt tạm thời bị chìm vào dạng tiềm năng. Nếu học một buổi/ngày, các em chỉ sử dụng TV trong khoảng thời gian 3 tiếng trong môi trường học tập. Môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt bị hạn hẹp chính là nguyên nhân, là rào cản lớn nhất của sự hình thành kỹ năng sử dụng TV của các em DTTS.
      7. Vì vậy, tăng cường tiếng Việt là giải pháp hữu hiệu trong hoạt động dạy học và giao tiếp của học sinh DTTS, hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh thể hiện ở bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Giúp học sinh DTTS tự tin và chủ động hoà nhập các hoạt động học tập trong trường học, hình thành và rèn luyện các kỹ năng cơ bản ở Tiểu học, đồng thời chi phối kết quả học tập của các môn học khác.

b. Mục tiêu tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người DTTS

Chương trình Tiếng Việt phải góp phần thực hiện những mục tiêu chung của giáo dục tiểu học: “Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm: 1. Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. 2. Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt; về tự nhiên, xã hội và con người; về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài. 3. Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh” [8].

Tiếng Việt vừa là môn học cơ bản, vừa là môn học công cụ để HS tiếp thu tri thức và kỹ năng các bộ môn khác trong chương trình. Tuy nhiên, do sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình dạy học, chất lượng học tiếng Việt của HS DTTS chưa cao, kéo theo sự hạn chế về phát triển năng lực tư duy, ít nhiều tạo ra bất lợi cho việc đạt mục tiêu giáo dục của từng bậc học. Phần lớn HS DTTS chỉ sử dụng tiếng Việt khi đến trường. Môi trường giao tiếp hạn chế và không thuần nhất chính là nguyên nhân dẫn đến việc hình thành và phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Việt của các em gặp nhiều khó khăn.

Mục tiêu tăng cường tiếng Việt là tập trung tăng cường tiếng Việt cho HS tiểu học người DTTS, đảm bảo các em có kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt để hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học; tạo tiền đề để học tập, lĩnh hội tri thức của các cấp học tiếp theo; góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững các dân tộc thiểu số, góp và sự tiến bộ, phát triển của địa phương và đất nước.

Mục tiêu tăng cường tiếng Việt được thực hiện thông qua việc dạy học các môn học và các hoạt động giáo dục và thực hiện theo định hướng yêu cầu giáo dục, nhằm trang bị cho trẻ những kiến thức, kỹ năng cần thiết để trẻ tiếp tục học ở bậc Trung học hay cho công việc lao động của trẻ sau này “Dạy chữ thì các môn học khác nhau. Tiếng Việt là công cụ số một, chìa khoá mở đường học các môn học khác. Tiếng Việt có ở tất cả các môn học và cần cho tất cả các môn học. Dạy học tiếng Việt cùng các môn học khác và để học các môn học khác; thật sai lầm khi nghĩ học tiếng Việt chỉ trong môn học Tiếng Việt” [10].

Đối với các môn học khác hỗ trợ học tiếng Việt: Môn Hát – nhạc dạy nghe, dạy nói tăng vốn từ, dạy đọc, viết lời bài hát, cảm thụ qua giai điệu và lời ca. Môn Mĩ thuật: Tăng vốn từ, tập diễn đạt. Môn Thể dục: tăng vốn từ qua các trò chơi. Môn Toán: nghe hiểu, đọc hiểu, tập diễn đạt qua câu lời giải, tăng vốn từ, tập viết. Môn Đạo đức: Rèn luyện khả năng nghe, nói, hiểu, diễn đạt, vốn từ. Môn Tự nhiên và Xã hội: vốn từ, diễn đạt, học nói.

c. Kế hoạch dạy học tăng cường tăng cường tiếng Việt của GV

– Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch chỉ đạo việc dạy học tăng cường tiếng Việt cho HS tiểu học người DTTS dựa và căn trên kế hoạch của UBND huyện, Công văn hướng dẫn của Phòng GD&ĐT và tình hình thực tế tại đơn vị. Hiệu trưởng thực hiện tăng thời lượng của môn Tiếng việt phù hợp với tình hình thực tế đội ngũ GV của đơn vị cho hợp lý, trong đó:

+ Xây dựng kế hoạch bám sát mục tiêu, yêu cầu chỉ đạo của ngành về tăng cường tiếng Việt cho HS tiểu học người DTTS, phù hợp với đối tượng HS và thực tế của đơn vị.

+ Hiệu trưởng cần khảo sát, đánh giá đúng tình hình đội ngũ của đơn vị, tình hình của HS, những thuận lợi và khó khăn của đơn vị từ đó xây dựng kế hoạch và xác định mục tiêu cần đạt, nội dung thực hiện, biện pháp tiến hành.

+ Kế hoạch trước khi triển khai cần sự thống nhất của tập thể và khi triển khai cần kiểm tra đánh giá thường xuyên, định kỳ và có sự điều chỉnh sau khi kiểm tra

  • GV xây dựng kế hoạch dạy tăng cường tiếng Việt cho HS DTTS ở các môn:

+ Môn tiếng Việt: thiết kế giáo án và chuẩn bị cho giờ lên lớp trên cơ sở hướng dẫn của ngành, các trường cần cho GV soạn bài đúng những yêu cầu của đổi mới cách dạy, cách học, đúng đặc trưng môn học, phù hợp với đối tượng học sinh. Đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học và có tăng cường thời lượng tiếng Việt theo quy định, đảm bảo theo chương trình:

+ Môn học khác ( Toán; Khoa học; Lịch sử, Địa lý): Cần tăng cường những nội dung mà học sinh còn hạn chế sau đây: Về kỹ năng nghe; Về kỹ năng nói; Về kỹ năng viết; Về kỹ năng đọc thành tiếng, đọc hiểu.

d. Nội dung dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người DTTS

– Nội dung dạy học môn tiếng Việt ở cấp tiểu học bao gồm kiến thức và kỹ năng (theo từng khối lớp), đây là quy định chung của Bộ GD&ĐT đối với HS, không phân biệt vùng miền, đối tượng.

– Ngoài môn Tiếng Việt, các môn học khác ở tiểu học đều được tổ chức trên cơ sở sử dụng tiếng Việt làm phương tiện ngôn ngữ để dạy học. Nội dung dạy học cũng được Bộ GD&ĐT quy định chung cho từng khối lớp theo từng môn riêng biệt.

– Khi hiệu trưởng triển khai dạy học tích hợp kỹ năng sử dụng tiếng Việt vào các môn học, các hoạt động GD, qua đó, học sinh được thực hành nhiều hơn về kỹ năng sử dụng tiếng Việt để thực hiện các yêu cầu của bài học, môn học.

– Tiến trình dạy chậm, hiệu quả, kĩ càng, nên sử dụng những ngôn từ đơn giản, thông thường, sử dụng những câu đơn ngắn và nhắc lại, nhấn mạnh những từ trọng tâm. Hoạt động nghe, nói, đọc và viết tập trung vào cả hiểu nghĩa và tính chính xác, chứ không phải là hình thức, bắt chước một cách máy móc.

Nội dung dạy tăng cường tiếng Việt cho HS là dạy tăng cường các kỹ năng về nghe – nói- đọc- viết của tiếng Việt, để HS có được những kỹ năng trên, đạt các yêu cầu so với chuẩn kiến thức và kỹ năng do Bộ GD&ĐT ban hành.

e. Phương pháp dạy tăng cường tiếng Việt cho HS tiểu học người DTTS

Các PPDH tăng cường tiếng Việt sử dụng các PPDH khác nhau nhằm giúp HS người DTTS tiếng cận được tiếng Việt một cách tốt nhất. Giáo viên sử dụng cải tiến PPDH truyền thống, PPDH khác nhau như:

– Phương pháp trực tiếp bằng tiếng Việt: là phương pháp dùng hoàn toàn tiếng Việt trong dạy học; ưu điểm là học sinh tập trung vào tiếng Việt mà không bị chi phối bởi tiếng mẹ đẻ. Tuy nhiên, hạn chế của nó là học sinh rất căng thẳng trong quá tình học, giáo viên khó kiểm soát mức độ tiếp thu bài học của học sinh.

– Phương pháp dạy ngôn ngữ giao tiếp: Kết hợp dạy ngôn ngữ giao tiếp trong dạy học các môn học và các HĐGD góp phần tăng cao hiệu quả tăng cường tiếng Việt, hỗ trợ trực tiếp đối với ngôn ngữ viết cho HS.

Phương pháp trực quan: theo chỉ dẫn với 03 bước (hướng dẫn, làm mẫu, thực hành) và 04 loại trực quan hành động (sử dụng cơ thể, tranh, đồ vật- thẻ tăng cường tiếng Việt trong dạy học môn Toán và Tiếng Việt, câu chuyện); “Thực hiện phương pháp này, giáo viên trực tiếp phát âm các từ hoặc câu, học sinh lắng nghe và nhắc lại theo giáo viên. Việc giải thích nghĩa các từ được thực hiện bằng vật thật hoặc các tài liệu minh họa “ [30].

Phương pháp sử dụng tiếng mẹ đẻ: Là tận dụng vốn ngôn ngữ sẳn có của HS để các em học ngôn ngữ mới.”Ưu điểm của phương pháp này là HS giảm căng thẳng trong học tập, dễ tiếp thu; người dạy chỉ ra chỗ khác nhau về phát âm, cấu trúc từ, câu giữa hai thứ tiếng để HS tiếp thu. Nhược điểm của phương pháp này là HS hạn chế thời gian giao tiếp bằng tiếng Việt, lạm dụng tiếng mẹ đẻ, sử dụng tiếng mẹ đẻ quá mức cần thiết ảnh hưởng đến quá trình học tiếng Việt” [30].

GV tăng cường hoạt động học tập tương tác cho HS như: Thông qua tương tác với các bạn học. Giao tiếp/ trao đổi giúp HS phát triển tư duy, ngôn ngữ, lắng nghe người khác để tự phát triển. Hoạt động phải thể hiện rõ yêu cầu giao tiếp, mục đích phát triển ngôn ngữ, trải nghiệm, chia sẻ hoạt động nhóm xây dựng bài.

g. Phương tiện dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh DTTS của GV

Các ĐDDH trong danh mục quy định của Bộ GD&ĐT ở các môn học ở cấp tiểu học, CNTT; ngoài ra GV tự làm ĐDDH phù hợp với từng môn học, tiết học cụ thể. GV thiết kế bài giảng Elearning tập huấn cho GV kỹ năng sử dụng TBDH các môn có hỗ trợ dạy học tăng cường tiếng Việt và các phần mềm hỗ trợ dạy học .

h. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập tăng cường tiếng Việt của HS

Xây dựng đề kiểm tra theo hướng dẫn từng môn học, ma trận đề dựa vào chuẩn kiến thức kỹ năng của từng môn học chú ý có phần kiểm tra khả năng tiếng Việt của HS DTTS. Nội dung đề kiểm tra đảm bảo theo 4 mức độ và phù hợp với đối tượng HS. Đánh giá toàn diện, công bằng, trung thực, có khả năng phân loại giúp GV và HS điều chỉnh kịp thời việc dạy và học. Phối hợp giữa nhận xét thường xuyên và đánh giá định kỳ, đánh giá của GV và tự đánh giá của người học.

      1. 1.3.3. Hoạt động học tăng cường tiếng Việt của học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số

Hoạt động học là hoạt động với đối tượng, trong đó HS là chủ thể, nội dung dạy học là đối tượng. Học là quá trình HS tích cực, tự giác chiếm lĩnh nội dung dạy học để hình thành, phát triển nhân cách dưới sự điều khiển sư phạm của GV. Hoạt động học của HS bao gồm những hoạt động cụ thể để chuẩn bị cho giờ học, hoạt động trong giờ học, tự học ở nhà, học ngoài giờ học, hoạt động ngoại khóa..

a. Chuẩn bị của học sinh

Học sinh sau khi học ở trường về làm bài tập GV giao về nhà và đọc bài mới chuẩn bị trước khi lên lớp học. Việc học tăng cường tiếng Việt của HS ở nhà là luyện bài đọc trong môn tiếng Việt, đọc các bài toán giải trong môn Toán và các bài học trong các môn Hát, Tự nhiên-xã hội, Lịch sử, Địa lý ….

b. Học trong lớp

Hoạt động cụ thể của học sinh là: Hoạt động giao tiếp (đặc thù của môn Tiếng Việt): trao đổi việc học và giao tiếp giữa HS với GV và HS với HS. Hoạt động phân tích, tổng hợp, thực hành lí thuyết (như ở các môn học khác).

Cả hai hoạt động trên được HS thực hiện trong giờ học theo nhiều hình thức khác nhau: làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, làm việc theo lớp. Trong trường hợp bài tập đề ra là những câu hỏi rất cụ thể, HS sẽ thực hiện làm việc độc lập. Trong trường hợp câu hỏi, bài tập tương đối trừu tượng hoặc đòi hỏi sự khái quát nhất định thì làm việc theo nhóm là giải pháp tốt nhất. Hình thức làm việc chung theo lớp được thực hiện ở các khâu giới thiệu bài, củng cố bài, nêu những câu hỏi không yêu cầu phải suy nghĩ lâu hoặc để HS trình bày kết quả.

c. Học ngoài giờ học

Để tăng cường tiếng Việt cho mình, HS phải tự giác nói và đọc tiếng Việt thông qua các góc thư viện trong lớp, thư viện ngoài trời và đọc sách. Vì vậy, kỹ năng nói và vốn từ tiếng Việt của HS cải thiện, trẻ tự tin, mạnh dạn giao lưu cùng thầy cô, bạn bè và những người xung quanh.

Giờ ra chơi giữa các tiết học, HS có thể tự học tiếng Việt qua các trò chơi với các bạn trong lớp, trong trường; trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp HS cũng có thể trao đổi với nhau, với GV. Các kỹ năng nói và viết chỉ có thể được hình thành ở HS chỉ khi nào quá trình dạy học tiếng Việt gắn liền với quá trình tổ chức, hướng dẫn HS tham gia hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt.

Học tăng cường tiếng Việt tại gia đình và cộng đồng: Nội dung tiếp xúc hướng vào việc trao đổi tình hình gia đình, công việc sinh hoạt hằng ngày, sở thích, ước mơ, nguyện vọng,…Chính các cuộc tiếp xúc này là điều kiện của quá trình chuẩn hóa và phong phú hóa tiếng Việt cho HS DTTS.

d. Tự đánh giá

Học sinh nói và viết tiếng Việt ở mực độ thành thạo hay chưa thành thạo, đã diễn đạt ý muốn của bản thân bằng tiếng Việt trọn vẹn hay chưa; giao tiếp của HS, tự tin và chủ động hoà nhập các hoạt động học tập và hoạt động khác trong trường học, bản thân HS hình thành và rèn luyện các kỹ năng cơ bản ở Tiểu học trong môn tiếng Việt hay chưa (nghe, nói, đọc viết tiếng Việt).

      1. 1.3.4. Môi trường dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số

Học sinh DTTS có vốn ngôn ngữ tiếng Việt còn hạn chế nên các em thường gặp khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức các môn học cũng như tham gia các HĐGD khác trong nhà trường. Để thực sự hình thành vững chắc các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt cần có môi trường tốt để HS thực hành, rèn luyện. Môi trường tiếng Việt cho HS gồm có môi trường tại gia đình, xã hội và trường học. Do đó, việc xây dựng môi trường tiếng Việt là việc làm không thể thiếu để tăng cường Tiếng Việt cho HS DTTS hiệu quả.

a. Môi trường vật chất trong và ngoài lớp học

– Môi trường vật chất trong lớp học gồm: lớp học và phòng bộ môn, nguồn tài liệu, học liệu cho GV và HS; ĐDDH, phương tiện hỗ trợ các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết nhằm đảm bảo chất lượng về các kỹ năng này bền vững.

– Môi trường ngoài lớp học gồm thư viện và các hoạt động NGLL. Từ năm học 2009- 2010 đến nay, Bộ GD&ĐT đều có hướng dẫn việc xây dựng môi trường tiếng Việt, cụ thể: Xây dựng môi trường tiếng Việt cho HS qua các HĐDH và HĐGD; tổ chức các trò chơi học tập, các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ; sử dụng hiệu quả các  phương tiện hỗ trợ các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết; sử dụng hiệu quả thư viện thân thiện, thư viện lưu động; tổ chức ngày hội đọc, thi kể chuyện; giao lưu “Tiếng Việt của chúng em”; hướng dẫn để HS chủ động tổ chức, điều khiển các hoạt động tập thể và hoạt động giáo dục NGLL.

Môi trường tăng cường tiếng Việt là hệ thống nhà cửa, trường lớp, trang thiết bị phục vụ dạy và học; các hoạt động NGLL; tài liệu tham khảo để dạy học tiếng Việt cho học sinh DTTS; cảnh quan sư phạm của nhà trường.

b. Môi trường xã hội

HS giao tiếp với GV khi ở trường học, giáo viên tạo cho HS cảm giác vui, thoải mái, tự tin khi học ở lớp, luôn khen và thưởng khi HS hoàn thành nhiệm vụ, huy động để tạo cho HS có dịp thể hiện mình, khuyến khích, hỗ trợ HS trong mọi hoạt động; giao tiếp giữa HS với nhau trong các tiết học, giờ ra chơi, các hoạt động ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp, cùng nhau tham gia các trò chơi trên trường

Môi trường bên ngoài nhà trường là góc học tập của HS tại các gia đình; là sự quan tâm của giáo viên và cha mẹ đối với việc học tập của HS, các tác động của cộng đồng dân cư đối với công tác giáo dục; là trình độ học vấn của cha mẹ HS; là điều kiện kinh tế của gia đình HS.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\ĐẠI HỌC SƯ PHẠM\Vận dụng quan điểm giao tiếp vào việc dạy học viết cho học sinh lớp 3\CHUYỂN VÙNG/ DẠY HỌC TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

Quản lý hoạt động dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đăk Glei tỉnh Kon Tum

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *