Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tại các trường mầm non huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi
Ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, việc xây dựng, phát triển một nền giáo dục vững mạnh là nhân tố then chốt, quyết định để thúc đẩy xã hội phát triển. Xây dựng, phát triển nguồn nhân lực là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của tất cả các cấp, các ngành, của toàn xã hội; diễn ra trên mọi lĩnh vực KT-XH; thông qua việc thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó, giáo dục và đào tạo là giải pháp chủ yếu nhất. Việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo chính là phát triển nguồn nhân lực cho ngành học, là cơ sở không chỉ mang tính lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn đối với việc phát triển nguồn lực cho tương lai.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ… của trẻ, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào các bậc học phổ thông. Phát triển giáo dục mầm non một cách vững chắc là nền tảng cho sự phát triển nguồn lực con người, phục vụ cho sự phát triển của giáo dục phổ thông. Trường mầm non khác với trường phổ thông ở chỗ trường mầm non phải thực hiện đồng thời 2 nhiệm vụ: chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ. Nhiệm vụ của giáo viên mầm non rất nặng nề. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên cho bậc học mầm non là nhiệm vụ đặt ra cấp bách trong quá trình đổi mới và phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà.
Chuyên môn là một nội dung rất quan trọng, một khâu không thể tách rời quá trình giáo dục và đào tạo. Chuyên môn trong giáo dục và chuyên môn hoạt động nghề nghiệp của giáo viên là một hoạt động mang tính xã hội, có tính chất nghề nghiệp hết sức quan trọng. Để góp phần đảm bảo chất lượng giáo dục, việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên cần phải được quan tâm. Giáo viên mầm non có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp trồng người. Chuyên môn giáo viên mầm non là cơ sở để đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo, bồi dưỡng ở các trường đào tạo; giúp giáo viên tự nâng cao năng lực chuyên môn, trên cơ sở xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện, phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Trong những năm qua, việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non tỉnh Quảng Ngãi nói chung và huyện Bình Sơn nói riêng có những hiệu quả nhất định nhưng vẫn còn có những hạn chế cần phải giải quyết. Cụ thể như là đội ngũ giáo viên tuy đã được chuẩn hoá về bằng cấp nhưng phương pháp giáo dục trẻ còn gò bó áp đặt, một số giáo viên tuổi đời cao nên ngại đổi mới, các giáo viên trẻ còn thiếu kinh nghiệm trong việc chăm sóc giáo dục trẻ dẫn đến chất lượng chưa đáp ứng được với yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay.
Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non là cơ sở để đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo, bồi dưỡng ở các trường; giúp giáo viên tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, trên cơ sở xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện, phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non ở huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi bước đầu đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên còn bộc lộ những bất cập. Xuất phát từ góc độ khoa học, việc nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý thực hiện bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non theo yêu cầu đổi mới quản lý giáo dục là cần thiết . Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tại các trường mầm non huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi” để nghiên cứu.
Trên cơ sở lí luận nghiên cứu và thực tiễn hoat động bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên mầm non, để đề xuất những biện pháp quản lý hoat động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngủ giáo viên mầm non tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi nhằm góp phần nâng cao năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non hiện nay cho đội ngủ giáo viên mầm non ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Trong những năm qua hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non ở huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi đã được quan tâm, tuy nhiên chưa đáp ứng được yêu của thực tế hiện nay. Nếu nghiên cứu và đề xuất được những biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non ở huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngủ giáo viên mầm non đáp ứng được yêu cầu đổi mới hiện nay.
5.1. Nghiên cứu lý luận về hoạt động quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non.
5.2. Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
5.3. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non ở huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi.
Khảo sát thực trạng tại 5 trường mầm non trên đại bàn huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi ( Trường Mầm Non 18.3- Mầm non 24.3- Mầm non Sao Mai- Mẫu Giáo Bình Trị và Mẫu giáo Bình Phước)
Thời gian khảo sát từ năm học 2015 – 2016 đến 2017 – 2018.
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết xây dựng khung lý thuyết của đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
– Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (điều tra, thực nghiệm, quan sát)
– Phương pháp quan sát
– Phương pháp thực nghiệm.
7.3. Phương pháp bổ trợ
– Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý kết quả điều tra
– Phương pháp chuyên gia.
Luận văn gồm có 3 phần:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung nghiên cứu: gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Phần 3: Kết luậnvà kiến nghị,tài liệu tham khảo và phụ lục.

CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG
CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN MẦM NON
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm đạt được những mục tiêu dự kiến” [37, tr.35].
Theo tác giả Nguyễn Hữu Long – 2009: “Quản lý là một phạm trù của khoa học quản lý, có sự tác động qua lại của chủ thể quản lý và khách thể quản lý, trong đó chủ thể quản lý đóng vai trò chủ đạo”. Đây là một định nghĩa làm cho hoạt động QL vừa mang tính khoa học, vừa mang tính công nghệ, đặc biệt là đảm bảo nguyên tắc tập chung dân chủ.
Ngoài ra, theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” Thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) đã lột tả được bản chất hoạt động QL trong thực tiễn. Nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “Lý” gồm thứ tự sửa trang, sắp xếp, đổi mới, đưa vào hệ thống phát triển. Nếu người đứng đầu chỉ chăm lo đến việc“Quản”tức là chăm lo đến việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức ấy sẽ trì trệ, không phát triển. Tuy nhiên, nếu chỉ chăm lo đến việc “Lý” tức là chỉ lo đến việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới, mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì sự phát triển của tổ chức sẽ không bền vững. Vậy, để hoạt động QL có hiệu quả thì nên cân bằng giữa hai quá trình “Quản” và “Lý”.
Ngày nay, QL được coi là một trong năm nhân tố phát triển kinh tế xã hội: Vốn, nguồn lực lao động, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và QL. Trong đó, QL có vai trò mang tính chất quyết định thành công.
1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của hiệu trưởng trường mầm non
1.2.5. Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
1.2.5.1. Khái niệm về chuyên môn
Chuyên môn là tổ hợp các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thực hành mà con người tiếp thu được qua đào tạo đế có khả năng thực hiện một loạt công việc trong phạm vi một ngành nghề nhất định theo phân công của xã hội.
1.2.5.2. Khái niệm về bồi dưỡng chuyên môn
Bồi dưỡng là quá trình giáo dục có kế hoạch nhằm tăng giá trị cho con người, làm biến đổi thái độ, kiến thức, kỹ năng thông qua việc thu thập, xử lý thông tin thực tế trong một hoạt động hoặc chuỗi nhu cầu hành động nhằm nâng cao giá trị nhân cách, nâng cao năng suất và hiệu quả công việc. Sau khi được bồi dưỡng, năng lực cá nhân được gia tăng, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực trong hiện tại và trong tương lai của tô chức .
1.2.6. Quản lý hoạt động chuyên môn ở trường mầm non
1.3. Lí luận về bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
1.3.1. Những vấn đề đổi mới giáo dục mầm non và yêu cầu đối với GVMN hiện nay
Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho CB, GV và toàn xã hội về vai trò, vị trí, trách nhiệm của nhà giáo và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhà giáo, CBQLGD có chất lượng cao, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức, tận tụy với nghề nghiệp, làm trụ cột thực hiện các mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đồng thời, tăng cường và phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan QLGD.
Thứ hai, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng GV, biến quá trình đào tạo, bồi dưỡng thành tự đào tạo, bồi dưỡng. Tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, trang thiết bị, môi trường giúp đội ngũ nhà giáo và CBQLGD có ý thức tự học mọi lúc, mọi nơi, qua thực tiễn công tác để đúc rút những bài học cho bản thân.
Thứ ba, xây dựng đội ngũ quản lý, GV theo quy định, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng năng lực quản lý nhà nước, quản trị trường học và nâng cao trình độ lý luận chính trị đối với đội ngũ CBQL trong toàn ngành. Phối hợp với các trường đại học mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đối với đội ngũ CB, GV.
Thứ tư, tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng GV và các cơ sở giáo dục, đặc biệt là thực hiện tốt Đề án kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ cho GV; phát huy tối đa tiềm lực từ các đề án, dự án, các chương trình mục tiêu quốc gia tiếp tục xây dựng nhà công vụ, phòng học bộ môn và các thiết bị phục vụ cho việc đào tạo, bồi dưỡng.
Thứ năm, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQLGD, làm tốt công tác quy hoạch CBQL của ngành. Phối hợp với các trường đại học, học viện đào tạo, bồi dưỡng CBQL theo nhu cầu thực tiễn và phù hợp với quy hoạch phát triển GD, ĐT của tỉnh.
Thứ sáu, xây dựng quy hoạch, luân chuyển, bồi dưỡng nhà giáo và CBQLGD. Rà soát, bố trí, sắp xếp lại đội ngũ GV toàn ngành và có giải pháp như: Đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ, bố trí công việc khác phù hợp với khả năng của bản thân.
Thứ bảy, hoàn thiện các cơ chế quản lý, định mức lao động, chính sách, chế độ đối với nhà giáo và CBQLGD. Tham mưu ban hành những cơ chế chính sách thu hút, động viên người có trình độ chuyên môn cao, nhà giáo, CBQLGD có học hàm, học vị về công tác tại các cơ sở giáo dục của tỉnh.
Thứ tám, đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức tạo sự đồng thuận và sự tham gia của toàn xã hội trong việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, CBQLGD theo tinh thần Chỉ thị số 40/CT-TW, ngày 15-6-2004 của Ban Bí thư Trung ương.
1.3.2. Nội dung bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non
1.3.3. Các hình thức BDCM cho GVMN
Tùy theo nội dung và các điều kiện hiện có, các trường MN thường có các hình thức bồi dưỡng sau:
* Bồi dưỡng tại chỗ: Là tổ chức bồi dưỡng ngay tại trường, nơi GV công tác, thông qua sinh hoạt nhóm, tổ chuyên môn, tổ chức hội thảo theo từng trường hoặc cụm trường… Có nhiều hoạt động phong phú để bồi dưỡng GV theo hướng này:
– Tổ chức cho GV dự giờ, thăm lớp lẫn nhau.
– Tổ chức chuyên đề về phương pháp chăm sóc – giáo dục trẻ.
– Tổ chức rút kinh nghiệm sau mỗi học kì, mỗi năm học.
– Các GV trong trường có thể giúp đỡ lẫn nhau, làm việc theo cặp hoặc theo tổ. GV giỏi giúp GV còn yếu về chuyên môn, GV có kinh nghiệm giảng dạy giúp GV mới ra trường.
– Tổ chức cho GV giao lưu, trao đổi kinh nghiệm.
– Tạo điều kiện cho GV tham dự các hội thảo, seminar.
* Bồi dưỡng thường xuyên: Là bồi dưỡng theo chu kỳ cho GVMN để họ được bổ sung các kiến thức thiếu hụt và cập nhật kiến thức mới về chủ trương, đường lối giáo dục, về nội dung chương trình, phương pháp giáo dục trẻ. Việc bồi dưỡng này rất thiết thực, đòi hỏi mỗi GV phải có ý thức tự bồi dưỡng, thường xuyên trau dồi kiến thức, nếu không sẽ khó có thể dạy tốt chương trình mới.
* Bồi dưỡng thay sách: Là hình thức bồi dưỡng được tiến hành khi có những thay đổi về chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục trẻ. Loại bồi dưỡng này chủ yếu giúp GV có kiến thức mới, cập nhật những đổi mới trong chương trình về nội dung cũng như phương pháp giáo dục, kỹ’ năng sư phạm giúp cho đội ngũ GVMN có thể dạy tốt chương trình mới. Các đợt bồi dưỡng thay sách này thường diễn ra trong hè trước khi năm học mới bắt đầu.
* Bồi dưỡng thông qua tự học, tự nghiên cứu: Với các yêu cầu như: Phát huy hình thức tự bồi dưỡng, kết hợp nghe giảng, trao đổi, thảo luận; Tăng cường thực hành, rút kinh nghiệm, chia sẻ cùng đồng nghiệp; Chú trọng sử dụng các thiết bị, phương tiện, đồ dùng dạy học. Bồi dưỡng là loại hình của hoạt động dạy và học. Yếu tố nội lực trong dạy học là tự học; yếu tố nội lực trong bồi dưỡng là tự bồi dưỡng. Trong bồi dưỡng, việc tự bồi dưỡng sẽ phát huy hiệu quả tối ưu khi có sự định hướng của người hướng dẫn của tổ chức và có sự tác động đúng hướng của quản lý. Bồi dưỡng tập trung chỉ có hiệu quả khi được quản lý hợp lý và phải dựa trên cơ sở ý thức tự giác và tự bồi dưỡng của người học.
1.3.4. Phương pháp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
1.4. Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
1.4.1. Quản lý kế hoạch bồi dưỡng
1.4.2. Quản lý nội dung bồi dưỡng
1.4.3. Quản lý các hình thức và phương pháp bồi dưỡng
1.4.4. Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động bồi dưỡng
1.4.5. Quản lý việc giám sát, kiểm tra bồi dưỡng chuyên môn
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN MẦM NON Ở HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1. Khái quát quá trình khảo sát
– Nhằm đánh giá khách quan thực trạng công tác quản lý hoạt động BDCM cho viên mầm non ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, khái quát ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân từ đó đưa ra thời cơ và thách thức.
– Cùng với cơ sở lý luận trình bày trong Chương 1, những kết luận rút ra từ quá trình nghiên cứu khảo sát thực trạng ở Chương 2 là cơ sở thực tiễn xây dựng các biện pháp công tác quản lý hoạt động BDCM cho giáo viên mầm non ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
2.1.2.1. Thực trạng về hoạt động BDCM cho GV ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
+ Thực hiện mục tiêu của việc quản lý hoạt động BDCM ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
+ Thực hiện nội dung quản lý hoạt động BDCM ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
+ Phương pháp quản lý hoạt động BDCM ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
+ Hình thức quản lý hoạt động BDCM ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
2.1.2.2. Thực trạng quản lý hoạt động BDCM cho GV ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi:
+ Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động BDCM
+ Tổ chức đánh giá quản lý hoạt động BDCM.
+ Chỉ đạo trong việc quản lý hoạt động BDCM
+ Công tác kiểm tra đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp.
+ Sử dụng kết quả quản lý hoạt động BDCM
– Xem xét các văn bản chỉ đạo, các báo cáo tổng kết, hồ sơ lưu trữ về quản lý hoạt động BDCM để tiến hành thu thập, xử lý thông tin; khảo sát ý kiến theo phiếu khảo sát với 9 câu hỏi (phụ lục 1). Tiến hành điều tra, khảo sát, thu thập ý kiến phản hồi qua phiếu hỏi với sự tham gia của 125 người gồm 10 CBQL và 125 GV ở các trường MN,MG được khảo sát trong huyện.
– Gặp gỡ, trao đổi ý kiến với một số CBQL, chuyên gia am hiểu các lĩnh vực quản lý hoạt động BDCM nhằm làm rõ hơn các ý kiến phản hồi qua phiếu hỏi và nhận xét rút ra từ kết quả phân tích tài liệu; quan sát, suy ngẫm, đúc rút kinh nghiệm thực tế trực tiếp tham gia triển khai thực hiện quản lý hoạt động BDCM của tác giả luận văn.
– Tiến hành viết Chương 2 và Chương 3 của luận văn. Việc phân tích thực trạng các nội dung về quản lý hoạt động BDCM sẽ được trình bày cụ thể ở mục 2.3 dưới đây.
2.1.4. Phương pháp và xử lý kết quả khảo sát
Để khảo sát thực trạng công tác quản quản lý hoạt động BDCM ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, tác giả đề tài tiến hành xây dựng mẫu phiếu trưng cầu ý kiến dành cho CBQL, GV các trường MN huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (Mẫu phiếu tại Phụ lục).
Cách quy ước điểm số cho bảng hỏi: Mỗi điểm đều có các lựa chọn và được quy ước bằng các mức điểm khác nhau:
Chuẩn cho điểm:
| 1 điểm | 2 điểm | 3 điểm | 4 điểm |
| Không sử dụng | Thỉnh thoảng | Thường xuyên | Rất thường xuyên |
| Không cần thiết | Ít cần thiết | Cần thiết | Rất cần thiết |
| Không thường xuyên | Thỉnh thoảng | Thường xuyên | Rất thường xuyên |
Thời gian khảo sát: Từ tháng 3 đến tháng 09/2018.
2.2. Khái quát về kinh tế-xã hội, giáo dục của huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
2.2.1. Đặc điểm, tình hình kinh tế – xã hội
Cơ cấu kinh tế của huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi là: Du lịch – dịch vụ – nông, lâm – thuỷ sản. Trên cơ cấu chung đó, quận tiếp tục thực hiện chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng ngành du lịch, dịch vụ, giảm tỉ trọng ngành nông, lâm. Tình hình kinh tế – xã hội quận những năm gần đây có nhiều chuyển biến tích cực. Hiện nay, huyện đang bước vào thời kỳ mới với những thuận lợi cơ bản, đó là:
Hệ thống chính trị ổn định, đảm bảo vai trò lãnh đạo, quản lý địa bàn. Huyện đang tập trung chỉ đạo và đầu tư đẩy nhanh tốc độ phát triển với mục tiêu là huyện trọng điểm
Diện mạo đô thị và cơ cấu kinh tế đang hình thành rõ nét. Đây là tiền đề quan trọng để quận tiếp tục phát triển, tạo niềm tin trong Đảng bộ và nhân dân trong huyện. Tiếp tục phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục và khoa học công nghệ phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội của huyện. Tuy nhiên, toàn huyện hiện đang trong giai đoạn thực hiện quy hoạch đô thị nên phần lớn người dân khu vực làm nông nghiệp không còn đất canh tác. Một bộ phận dân cư nơi này chưa có việc làm, một bộ phận tham gia lao động phổ thông hoặc làm việc theo vụ, nên đời sống bấp bênh, không ổn định, sự quan tâm chăm sóc và đầu tư cho việc học tập của con em của một bộ phận dân cư, do vậy còn hạn chế.
2.2.2. Tình hình phát triển giáo dục và đào tạo
Huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi hiện có 32 trường mầm non- mẫu giáo, 28 trường tiểu học, 25 trường THCS, 04 trường Trung học phổ thông, 01 trung tâm giáo dục thường xuyên. Huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS đúng độ tuổi, từng bước thực hiện phổ cập bậc trung học. 4/4 trường THPT đã được công nhận hoàn thành chuẩn phổ cập bậc trung học. Tổng kết công tác xét và công nhận hoàn thành chương trình tiểu học, huyện đạt tỉ lệ 100%. Tỉ lệ huy động trẻ 5 tuổi vào mẫu giáo và HS 6 tuổi vào lớp 1 đạt tỉ lệ 100%.
Tuy nhiên, là một huyện vùng ven biển còn khó khăn (toàn huyện có 5 xã được công nhận là xã đặc biệt khó khăn ven biển), đời sống dân cư trên địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi còn gặp nhiều khó khăn, một bộ phận không nhỏ người dân chưa thực sự quan tâm cho việc học hành của con em trong gia đình. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển du lịch, biển, buôn bán nhỏ ngày càng có sức lan tỏa, hấp dẫn và cũng đang ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ. Mặt tích cực là đã tạo việc làm, thu nhập cho hàng nghìn lao động. Mặt khác, hiện tượng thanh thiếu niên bỏ học sớm và đi lao động để kiếm sống phát triển trong mấy năm gần đây cũng đang ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình giáo dục chung trong các nhà trường.
2.3. Thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
2.3.1. Thực trạng nhận thức về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
2.3.2. Thực trạng mục tiêu BDCM cho giáo viên mầm non
2.3.3. Thực trạng về nội dung BDCM cho giáo viên mầm non
2.3.4. Thực trạng hình thức, phương pháp bồi dưỡng
2.3.5. Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động BDCM
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động bDCM cho giáo viên ở các trường mầm non huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
2.4.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch, chương trình BDCM.
2.4.2. Thực trạng việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện chương trình bồi dưỡng chuyên môn
2.4.3. Thực trạng quản lý hình thức phương pháp tổ chức bồi dưỡng
2.4.4. Thực trạng quản lý việc giám sát, kiểm tra hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
2.4.5. Thực trạng quản lý việc sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
Thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15-6-2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc “xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và chất lượng quản lý giáo dục”, Quyết định số 03/2008/QĐ-UBND ngày 05 tháng 03 năm 2012 của UBND Tỉnh Quảng Ngãi về việc Ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2015”. Trong thời gian qua, ngành GD&ĐT tỉnh Quảng Ngãi đã tăng cường quản lý hoạt động bồi dưỡng GVMN gặp nhiều thuận lợi và đã đạt nhiều kết quả như:
– Sở GD&ĐT đã xây dựng Kế hoạch số 588/GD&ĐT-TCCB ngày 23 tháng 3 năm 2012 về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD đến năm 2015 với những mục tiêu phù hợp tình hình thực tế và mang tính khả thi cao; được sự đồng thuận của UBND tỉnh và Phòng nội vụ.
– Quán triệt nghiêm túc những định hướng chỉ đạo của các cấp QLGD, Sở, Phòng GD-ĐT đã có những chủ trương đúng đắn, biện pháp cụ thể về hoạt động đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt về phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ GVMN.
– Bộ máy CBQLGD được củng cố và kiện toàn; 100% CBQLGD đạt chuẩn về trình độ đào tạo, đa số đã qua các lớp bồi dưỡng QLGD nên hoàn thành nhiệm vụ được giao.
– Các cấp QLGD đã chú trọng xây dựng Kế hoạch bồi dưỡng GV hằng năm theo đúng mục tiêu đề ra. Từng bước đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡng, tăng cường kinh phí, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng GVMN. Mặc dù, còn gặp nhiều khó khăn song các cấp QLGD đã tạo điều kiện thuận lợi cho GVMN tham gia các lớp bồi dưỡng dài hạn và ngắn hạn, tổ chức bồi dưỡng nâng cao theo chuyên đề với nhiều hình thức. Đội ngũ GVMN đã không ngừng phát triển và đáp ứng với yêu cầu đổi mới, giữ vững được niềm tin yêu mà của phụ huynh.
– Chất lượng đầu vào ngành giáo dục thấp, GV mới xin vào làm ở các trường MN chủ yếu là GVMN đào tạo hệ tại chức 12+2. Chênh lệch về độ tuổi khá lớn trong một trường mầm non. Ở một số trường MN đội ngũ GV trẻ tuổi chiếm tỷ lệ khá cao, kinh nghiệm hoạt động, kỹ năng nghề nghiệp còn thấp so với yêu cầu của phụ huynh và của ngành. Bên cạnh những nhà giáo luôn cầu thị học hỏi thì vẫn có không ít nhà giáo mang nặng tâm lý an phận thủ thường nên không chịu khó rèn luyện về chuyên môn nghiệp vụ, dẫn đến tình trạng kiến thức rơi rụng, kĩ năng yếu kém, kết quả hoạt động hạn chế.
– Kế hoạch, nội dung, hình thức bồi dưỡng chưa thực sự khoa học, chưa bám sát được yêu cầu nâng cao chất lượng GV đáp ứng CNN. Thời gian bồi dưỡng có lúc chưa hợp lý, chưa kịp thời. Hoạt động bồi dưỡng GV đôi khi còn nặng về hình thức và các thủ tục hành chính chưa bổ sung được những năng lực cụ thể mà GVMN đang khiếm khuyết và cần thiết trong quá trình thực hiện các hoạt động giáo dục.
– Hoạt động kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch bồi dưỡng GV của các cấp QLGD chưa thường xuyên triệt để dẫn đến tình trạng nhiều cơ sở giáo dục, nhiều GV chưa tự giác thực hiện kế hoạch bồi dưỡng đã đề ra.
– Việc đánh giá GV theo các lĩnh vực của CNN tiến hành còn hình thức, nặng nề về quy điểm số dẫn đến tình trạng “Dĩ hoà vi quý” tránh va chạm khi phải nhận xét GV; nhiều hiện tượng quy điểm số theo kiểu Cào bằng ở nhiều trường MN tư thục. Do chưa coi trọng việc đối chiếu tiêu chí, kiểm tra nguồn minh chứng nên hầu hết các phiếu đánh giá GV theo CNN chưa chỉ ra đúng điểm mạnh, điểm yếu của từng GV. Vì vậy chưa đề ra được phương hướng khắc phục nhược điểm và phát huy ưu điểm cho mỗi GV, không kích thích được nổ lực phấn đấu phát triển nghề nghiệp của toàn đội ngũ.
– Đội ngũ GVMN Tỉnh Quảng Ngãi so với nhu cầu gửi con của phụ huynh còn thiếu về chất lượng. Mặt khác do làm việc cả ngày, tâm lý mệt mỏi căng thẳng cũng có ảnh hưởng xấu đến sự nỗ lực học tập, ý thức phấn đấu vươn lên phát triển năng lực nghề nghiệp của toàn đội ngũ.
– Hệ thống các trường sư phạm đầy đủ, đa ngành.
– GDMN cả nước nói chung và GDMN Tỉnh Quảng Ngãi, nói riêng đang ngày càng được Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm, cụ thể có nhiều văn bản chỉ đạo về xã hội hóa GDMN, về CNN, về bồi dưỡng GVMN.
Trường thành lập mới chủ yếu là loại hình dân lập hoặc tư thục và phải đảm bảo đủ điều kiện theo Điều lệ trường mầm non. Mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư; đặc biệt, ở nông thôn và những vùng khó khăn thông qua hệ thống trường, lớp đa dạng và mạng lưới phổ biến kiến thức và tư vấn nuôi dạy trẻ cho các gia đình.
– Bộ GD&ĐT đã không có giải pháp khắc phục từ gốc của tình trạng thiếu sức hấp dẫn của nghề sư phạm chủ yếu vì sự đãi ngộ không tương xứng với sự cống hiến, cơ chế quản lý chưa phát huy được những nhân tố tích cực ở các trường mầm non.
– Trong Quy hoạch phát triển ngành GD&ĐT Tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 có nêu: “….tỉnh đã hoàn thành việc quy hoạch đất đai, quy hoạch trường, lớp cho 100% các trường mầm non trong toàn tỉnh giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn đến năm 2030. Dự kiến đến năm 2020 sẽ có thêm 32 trường mầm non trong toàn tỉnh…” Giải pháp này nếu được thực hiện mà không mang lại hiệu quả gì sẽ tạo nên một lực cản đối với việc thu hút nhân tài vào ngành giáo dục. Bởi vì trước đây nhiều người lựa chọn nghề giáo bởi vì tính “ổn định” (được vào biên chế), nay thì ưu thế đó cũng đã không còn.
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
3.1. Nguyên tắc chung đề xuất các biện pháp
3.2.1. Phù hợp mục tiêu giáo dục mầm non
3.2.2. Đảm bảo tỉnh thực tiễn của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
3.2.3. Đảm bảo tính đồng bộ và toàn diện
3.3. Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở các trường mầm non ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
3.3.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về công tác quản lý hoạt động BDCM cho giáo viên mầm non.
3.3.2. Biện pháp 2: Đổi mới xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn
3.3.3. Biện pháp 3: Tăng cường quản lý nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trường mầm non
3.3.4. Biện pháp 4: Tố chức tốt bộ máy quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
3.3.5. Biện pháp 5: Quản lý tốt công tác thi đua, khen thưởng nhằm khuyến khích, động viên giáo viên mầm non
3.3.6. Biện pháp 6: Tăng cường giám sát, kiểm tra hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
3.4. Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non là công việc hết sức cần thiết, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên vì đội ngũ giáo viên là nhân tố hàng đầu quyết định chất lượng giáo dục mầm non.
Ngày nay, trong thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế và xu thế đổi mới giáo dục đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao về phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người giáo viên nói chung, GVMN nói riêng. Chính vì vậy, công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non luôn được quan tâm đúng mức đế đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng đội ngũ giáo viên trong giai đoạn hiện nay. Làm tốt công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non, chắc chắn đội ngũ giáo viên mầm non sẽ có một trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, tự tin hơn trong công việc của mình.
Qua quá trình khảo sát thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV ở các trường MN Tỉnh Quảng Ngãi hiện nay, cho thấy việc quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN thời gian qua đã đạt được một số thành tựu nhất định:
– Nhận thức về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn của CBQL và GV có sự chuyển biến đáng ké. Nhiều GV tham gia phong trào tự bồi dưỡng do nhà trường phát động và triển khai trong kế hoạch hoạt động của trường.
– Nhiều trường có chú ý thực hiện công tác xây dựng kế hoạch, chương trình bồi dưỡng chuyên môn cho GV tương đối phù hợp với điều kiện GV của trường mình.
Tuy nhiên, kết quả khảo sát cũng phản ánh những hạn chế trong công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN, đó là:
– Chưa quan tâm đến đối tượng tham gia bồi dưỡng, chưa tiến hành khảo sát, tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng bồi dưỡng chuyên môn của GV, cũng như chưa xác lập được mục tiêu rõ ràng, cụ thể.
– Nội dung bồi dưỡng chưa đáp ứng được nhu cầu, mong đợi của GV. Một số nội dung bồi dưỡng chuyên môn còn chung chung, chưa cụ thể, chưa đề ra được biện pháp, cách thức thực hiện đạt hiệu quả. Nội dung bồi dưỡng chuyên môn còn chưa có sự vận dụng và cụ thể hoá vào tình hình, đặc điếm của từng trường.
– Các phương pháp bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN chưa được sử dụng tốt, chưa đáp ứng được yêu cầu bồi dưỡng của GVMN. Lực lượng giảng viên tham gia bồi dưỡng chuyên môn cho GV chưa đổi mới phương pháp, hình thức giảng dạy nên chưa kích thích được tính tự học của học viên.
– Công tác tổ chức, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN trong thời gian qua chưa thật sự thường xuyên và chưa mang lại hiệu quả cao. Nguồn nhân lực chất lượng cho công tác chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn chưa đáp ứng được nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn hiện nay.
– Việc thiết lập mục tiêu, kế hoạch, nội dung chương trình bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN chỉ mang tính một chiều từ Bộ, Sở GD- ĐT mà chưa bám sát vào nhu cầu của đội ngũ GV.
– Chưa xây dựng được chính sách, chế độ khen thưởng phù hợp để động viên, khích lệ những GV tham gia bồi dưỡng chuyên môn.
– Chưa có một văn bản pháp quy nào quy định cụ thể các hình thức xử lý đối với những GV không đạt yêu cầu sau các đợt bồi dưỡng.
Vì thế đế quản lý tốt hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV, người quản lý cần phải tiến hành các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV. Nội dung cơ bản của các biện pháp đó là:
– Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN
– Đối mới xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn
– Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng chuyên môn
– Tổ chức tốt bộ máy hoạt động bồi dưỡng chuyên môn trong trường, giao trách nhiệm và tạo điều kiện hoạt động
Tổ chức thi đua, khen thưởng nhằm khuyến khích GV học tập, bồi dưỡng chuyên môn
– Thường xuyên kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng chuyên môn bằng nhiều hình thức
2. Khuyến nghị
Để nâng cao chất lượng công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN, tác giả có một số kiến nghị như sau:
2.1. Đối với Sở Giáo dục – Đào tạo tỉnh Quảng Ngãi
– Cần tập hợp đội ngũ chuyên viên chuyên trách bồi dưỡng thường xuyên có trình độ chuyên môn và hiểu biết sâu sắc về nghiệp vụ để giải quyết những thắc mắc của giáo viên trong thời gian tập huấn.
– Đôn đốc, kiêm tra nghiêm túc các lớp bồi dưỡng, tránh bệnh thành tích, đảm bảo chất lượng các khóa bồi dưỡng.
– Tăng cường, đầu tư cơ sở vật chất cần thiết cho các lớp bồi dưỡng.
Có chế độ chính sách ưu tiên cho GDMN, vì cường độ lao động của GVMN rất vất vả, thời gian lao động từ 10-12 tiếng/ ngày. Vì vậy để giúp hiệu trưởng quản lý tốt hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, việc quan tâm đến đời sống của giáo viên mầm non là vấn đề hết sức cấp thiết.
– Tăng tiền lương, trợ cấp cho GVMN để góp phần cải thiện đời sống, giúp giáo viên yên tâm công tác và tích cực tự nguyện tham gia hoạt động bồi dưỡng chuyên môn.
2.2. Đối với phòng giáo dục đào tạo huyện Bình Sơn
– Có kế hoạch chỉ đạo, triển khai hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên và CBQL GDMN thường xuyên, liên tục, đặc biệt là chương trình giáo dục mầm non mới, đề án phổ cập giáo dục mầm non.
– Tăng cường tố chức sinh hoạt chuyên môn để giao lưu, học hỏi giữa các trường trong huyện và với các trường ở huyện khác về chuyên môn nghiệp vụ.
– Cần chú ý tìm hiểu nhu cầu, nguyên vọng được bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên tại cơ sở
2.3. Đối với ban Giám hiệu các trường mầm non huyện Bình Sơn
– Khuyến khích, động viên giáo viên thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học, có chế độ khen thưởng giáo viên thực hiện tốt.
– Tạo điều kiện cho giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; hạn chế giao những công việc hành chính kiêm nhiệm và những quy định gò bó khiến giáo viên không phát huy được khả năng sáng tạo.
– Đầu tư cơ sở vật chất phục vụ việc chăm sóc – giáo dục trẻ đúng mức.
– Áp dụng các biện pháp đã đề xuất trong nghiên cứu này một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường.
– Hiệu trưởng chủ động tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên mầm non trong thực tế.
2.4. Đối với giáo viên các trường mầm non huyện Bình Sơn
– Tuyên truyền, vận động với phụ huynh, cộng đồng về chương trình giáo dục mầm non mới, về đề án phổ cập giáo dục mầm non đế huy động mọi nguồn lực của xã hội cho giáo dục mầm non nói chung và hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non nói riêng.
– GVMN cần xác định bồi dưỡng chuyên môn, cập nhật các nội dung chuyên môn để vận dụng vào nhiệm vụ chăm sóc – giáo dục trẻ là nhiệm vụ cần thiết, thường xuyên và liên tục. Tự giác, tích cực, chủ động trong học tập, tự bồi dưỡng và tham gia các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn để rèn luyện và củng cố tay nghề.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\GIAO DUC HOC\NGUYEN THI VY ANH\SAU BAO VE


