Quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ sở huyện Pu Vông trong giai đoạn hiện nay

Quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ sở huyện Pu Vông trong giai đoạn hiện nay

Quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ sở huyện Pu Vông  trong giai đoạn hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng. Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã vượt qua muôn vàng khó khăn, thách thức, song vẫn đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nước ta đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm đang phát triển có thu nhập trung bình. Tuy nhiên những thành tựu về kinh tế của nước ta chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, môi trường văn hóa còn nhiều hạn chế, chưa hội tụ đủ các nhân tố để phát triển nhanh và bền vững.

Để thật sự đạt đến một nền giáo dục “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”, ….Đứng trước những yêu cầu ấy, thời gian qua ngành GD&ĐT đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Chất lượng GD&ĐT có tiến bộ. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấu ngày càng hợp lý. Công tác quản lý GD&ĐT có bước chuyển biến nhất định. Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả GD&ĐT còn thấp so với yêu cầu; phương thức giáo dục – đào tạo còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành, chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc, chưa theo kịp công cuộc đổi mới KT-XH.

Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí Thư Trung ương Đảng cũng chỉ rõ “Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” [1; tr.5].

Luật Giáo dục năm 2005 đã khẳng định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục”[29]. Chi phối trực tiếp đến chất lượng GD là đội ngũ GV trong nhà trường. Vì thế, trong nhà trường nói chung, trong trường THCS nói riêng, đội ngũ GV là lực lượng cốt cán, trung tâm, thực hiện các mục tiêu, trực tiếp quyết định chất lượng GD&ĐT. Kinh nghiệm thế giới đã chỉ rõ rằng, thành công của các cuộc cách mạng trong GD phần lớn phụ thuộc vào năng lực và phẩm chất của đội ngũ GV.

Kết luận số 242-KL/TW ngày 15/09/2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TW Đảng (Khóa VIII), phương hướng phát triển GD&ĐT đến năm 2020 có nêu “xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng”[3, tr.4].

Để tiến kịp với xu thế phát triển chung của thời đại, đòi hỏi giáo dục Việt Nam phải không ngừng đổi mới về căn bản và toàn diện. Với ý nghĩa đó, tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển GD là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền GD Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng GD – ĐT, coi trọng GD đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp“[35]. Đội ngũ nhà giáo là yếu tố hàng đầu quyết định chất lượng giáo dục bởi họ chính là lực lượng lao động trực tiếp và chủ yếu. Chất lượng, nhân cách, phẩm chất đạo đức và lí tưởng của đội ngũ nhà giáo như thế nào sẽ ảnh hưởng to lớn đến sản phẩm – con người – mà họ tạo ra.

Nhận thức được vai trò, vị trí, tầm quan trọng của đội ngũ nhà giáo trong việc thực hiện đổi mới nhất là nhà giáo đang giảng dạy cấp THCS. Trong những năm qua Phòng GD&ĐT huyện Pu Vông luôn bám sát các quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, sự vận dụng sáng tạo của địa phương nên công tác xây dựng, phát triển và bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo cấp THCS có sự chuyển biến mạnh mẽ một phần nào đáp ứng được chương trình giáo dục phổ thông mới. Tuy nhiên kết quả giáo dục của huyện còn thấp so với các huyện trong tỉnh; công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên trường Trung học cơ sở còn bộc lộ một số hạn chế như: Chưa đáp ứng được nhu cầu nâng cao chất lượng dạy học, nặng về hình thức, chậm đổi mới về nội dung, đặc biệt chưa tương xứng công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay.

Với mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục trong địa bàn huyện, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ theo hướng vững vàng về chính trị, tư tưởng, gương mẫu về đạo đức, lối sống, giỏi về chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm và tâm huyết với nghề; đáp ứng kịp thời, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho giáo viên THCS để thực hiện tốt chương trình giáo dục phổ thông mới theo Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 18 tháng 6 năm 2018 về việc đẩy mạnh thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông, vấn đề phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo hết sức cần thiết và luôn được quan tâm hàng đầu trong thời gian gần đây. Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ sở huyện Pu Vông trong giai đoạn hiện nay” để nghiên cứu.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trường Trung học cơ sở huyện Pu Vông , góp phần nâng cao chất lượng giáo viên THCS huyện Pu Vông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay.

3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ sở

Quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ sở huyện Pu Vông  trong giai đoạn hiện nay
Quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ sở huyện Pu Vông trong giai đoạn hiện nay

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trường Trung học cơ sở huyện Pu Vông trong giai đoạn hiện nay.

4. Phạm vi nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu quản lý của Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện đối với công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trường THCS huyện Pu Vông.

Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Đề tài tổ chức khảo sát thực trạng, thăm dò tính cần thiết, khả thi của các giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn ở 08 trường THCS, đó là trường THCS Thạnh Mỹ, PTDTNT THCS Pu Vông, PTDTBT THCS LX Cà Dy- TaBhing, PTDTBT THCS CX Chà Val- Zuôih, PTDTBT THCS LX La Dê- Đắc tôi, PTDTBT THCS LX La Ê- Chơ chun, PTDTBT THCS LX Đắc Pring- Đắc Pre, TH&THCS Tà Pơ trên địa bàn huyện Pu Vông , trong thời gian từ 07/2019 đến 11/2019.

Giới hạn đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên THCS đáp ứng chương trình giáo dục trong bối cảnh hiện nay trên địa bàn huyện Pu Vông.

Giới hạn thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu nội dung quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên THCS chủ yếu tập trung từ năm học 2017-2018 cho đến nay và đề xuất các biện pháp mang tính chiến lược cho giai đoạn 2020-2025.

Phạm vi khách thể khảo sát: Lãnh đạo, chuyên viên phụ trách chuyên môn THCS Phòng GD&ĐT; Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, TTCM, giáo viên các trường THCS trên địa bàn huyện Pu Vông và các giảng viên tham gia bồi dưỡng.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trường trung học cơ sở.

5.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn về quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trường trung học cơ sở huyện Pu Vông .

5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trường Trung học cơ sở huyện Pu Vông đáp ứng thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới.

6. Giả thuyết khoa học

7. Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành, bao gồm:

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập thông tin qua nghiên cứu các văn bản, tài liệu về GD, quản lý GD, dùng phương pháp phân tích, tổng hợp để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Dùng phiếu trưng cầu ý kiến của CBQL, GV ở các trường THCS để đánh giá thực trạng công tác bồi dưỡng và quản lý công tác BDCM.

Phương pháp phỏng vấn, phương pháp khảo nghiệm để xác định tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất.

7.3. Phương pháp thống kê toán học

Để xử lý số liệu nhằm đánh giá chính xác kết quả điều tra khảo sát thu được.

8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

8.1. Về mặt lí luận

Làm phong phú thêm cơ sở lí luận về bồi dưỡng chuyên môn cho GV THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

8.2. Về mặt thực tiễn

Cung cấp bức tranh thực trạng về bồi dưỡng chuyên môn cho GV THCS và quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho GV THCS đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện nay trên địa bàn huyện Pu Vông trước bối cảnh đổi mới giáo dục.

Kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở khoa học trong việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên THCS, góp phần nâng cao chất lượng dạy- học cho GV THCS trên địa bàn huyện Pu Vông nói riêng và GV THCS nói chung.

Đề xuất các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho GV THCS trên địa bàn huyện Pu Vông trong bối cảnh đổi mới giáo dục.

9. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trung học cơ sở.

Chương 2: Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tại các trường trung học cơ sở huyện Pu Vông .

Chương 3: Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trung học cơ sở huyện Pu Vông trong giai đoạn hiện nay.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

      1. 1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
      2. 1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam

1.2. Các khái niệm chính của đề tài

      1. 1.2.1. Giáo viên và giáo viên Trung học cơ sở

1.2.1.1. Giáo viên

Theo Điều 66, 67 của Luật giáo dục 2019, như sau:

“Điều 66. Vị trí, vai trò của nhà giáo

1. Nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong cơ sở giáo dục, trừ cơ sở giáo dục quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 của Luật này.

Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên; nhà giáo giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên gọi là giảng viên.

2. Nhà giáo có vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục, có vị thế quan trọng trong xã hội, được xã hội tôn vinh.

Điều 67. Tiêu chuẩn của nhà giáo

Nhà giáo phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:

1. Có phẩm chất, tư tưởng, đạo đức tốt;

2. Đáp ứng chuẩn nghề nghiệp theo vị trí việc làm;

3. Có kỹ năng cập nhật, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ;

4. Bảo đảm sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp.”

Cũng theo Luật Giáo dục, chuẩn trình độ GV THCS là: Có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên trở lên đối với giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông (Điều 72, mục b). Định hướng theo các tiêu chuẩn nêu trên, Bộ GD&ĐT đã ban hành những quy định cụ thể về trình độ được đào tạo chuẩn của GV THCS.

1.2.1.2. Giáo viên trung học cơ sở

Từ định nghĩa về GV nêu trên, ta có thể hiểu GV THCS là GV tham gia hoạt động dạy học trong trường THCS, trường phổ thông nhiều cấp, trong đó có cấp THCS. Theo Thông tư số 16/2017/TT-BGD của Bộ GD&ĐT năm 2017 về Khung vị trí việc làm trong trường THCS có đưa ra khái niệm “vị trí việc làm GV THCS” – đó là “những người gắn với công việc hoạt động nghề nghiệp” trong trường THCS. Ngoài ra có thể có một vị trí việc làm là Tổng phụ trách đội được hiệu trưởng bổ nhiệm hằng năm. Tuy nhiên những khái niệm này mang nặng tính tổ chức, là những quy định về định mức biên chế, không phải định nghĩa về GV mà chỉ là khái niệm “vị trí việc làm của GV THCS”.

      1. 1.2.2. Quản lý

Khái niệm “quản lý” được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn, nó được xây dựng và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn. Quản lý được hiểu bằng nhiều cách khác nhau và được định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau:

Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng:“Định nghĩa quản lý một cách kinh điển nhất là: Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7, tr.32 ]

Từ sự phân tích cách tiếp cận và quan niệm của các học giả đã nêu ta có thể hiểu: Quản lý là tác động có định hướng có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hệ thống đạt đến mục tiêu đã định và làm cho nó vận hành tiến lên một trạng thái mới về chất.

Mỗi hệ quản lý bao gồm hai bộ phận gắn bó khăng khít với nhau:

Bộ phận quản lý (giữ vai trò chủ thể quản lý) có chức năng điều khiển hệ quản lý, làm cho nó vận hành với mục tiêu đã đặt ra.

Bộ phận bị quản lý (đối tượng quản lý – giữ vai trò khách thể quản lý) gồm những người thừa hành trực tiếp sản xuất và bản thân quá trình sản xuất.

Trong quản lý chủ thể quản lý và đối tượng quản lý lại có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Khi mục tiêu của tổ chức thay đổi sẽ tác động đến đối tượng quản lý thông qua chủ thể quản lý.

* Chức năng của quản lý:

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, quản lý là quá trình hoạt động gồm bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá (planning); tổ chức (organizing); lãnh đạo / chỉ đạo (Leading) và kiểm tra (controlling). [7,tr33]

Trong bốn chức năng quản lý, chức năng kế hoạch hóa là nền tảng của quản lý, đó là việc xây dựng các định hướng và đưa ra quyết định tổ chức thực hiện trong thời gian nhất định của tổ chức. Chức năng kế hoạch bao gồm việc xác định sứ mệnh, dự báo tương lai của tổ chức trên cơ sở thu thập thông tin về thực trạng của tổ chức từ đó xác định mục tiêu dựa trên việc tính toán các nguồn lực, các giải pháp. Mục đích của việc lập kế hoạch là lựa chọn một đường lối hành động mà một tổ chức nào đó và mọi bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức đã đề ra.

Chức năng tiếp theo của quản lý là tổ chức. Tổ chức chính là việc sắp xếp, tuyển chọn xác định một cơ cấu định trước về các vai trò của từng con người đảm đương trong một cơ sở thông qua việc phân tích công việc, đề ra nhiệm vụ để lựa chọn người vào việc và cả việc tính toán phân bổ nguồn lực khác để xây dựng cơ chế làm việc thích hợp. Như vậy tổ chức là một công cụ của quản lý.

Để tổ chức cơ sở hoạt động có hiệu quả, người quản lý cần thực hiện chức năng lãnh đạo, chỉ đạo. Đây là quá trình tác động điều khiển con người làm cho họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu đạt được các mục tiêu của tổ chức.

Người quản lý phải ra quyết định, có thông báo, hướng dẫn để động viên mọi thành viên trong tập thể hăng hái làm việc.

Kiểm tra, đánh giá là việc đo lường và điều chỉnh các hoạt động của các bộ phận trong tổ chức. Kiểm tra là đánh giá kết quả của việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, hạn chế để điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo. Để công tác kiểm tra đánh giá chính xác, sử dụng kết quả đánh giá sao cho có lợi, cần xây dựng các tiêu chí (chuẩn) để thực hiện kiểm tra đánh giá, sử dụng các phương pháp phù hợp, thu thập thông tin đầy đủ.

Trong một chu trình quản lý cả bốn chức năng trên có liên quan mật thiết với nhau, phối hợp, bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa các chu trình theo hướng phát triển. Trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định trong quản lý. Có thể sơ đồ hoá chu trình quản lý như sau:

Hình 1.1. Mô hình các chức năng QL trong một chu trình quản lý

      1. 1.2.3. Quản lý giáo dục

Từ khái niệm quản lý nói chung, có thể hiểu quản lý giáo dục là: “Hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [29, tr.31 ]

Trong quản lý giáo dục chủ thể quản lý ở các cấp chính là bộ máy quản lý giáo dục từ Trung ương đến địa phương, còn đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và các hoạt động thực hiện chức năng của giáo dục đào tạo.

Hay diễn đạt cách khác: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quản lý giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực trẻ em”. [29 tr.24]

Ngày nay, với quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, giáo dục không chỉ dành cho thế hệ trẻ mà giáo dục còn cho tất cả mọi người, nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường, các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

      1. 1.2.4. Bồi dưỡng

Theo từ điển giáo dục, bồi dưỡng (nghĩa hẹp) là trang bị thêm những kiến thức, thái độ, kỹ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể.

Bồi dưỡng (nghĩa rộng) là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích đã chọn. [24, tr.12]

Bồi dưỡng là quá trình tác động của chủ thể giáo dục đến đối tượng được giáo dục, làm cho đối tượng được bồi dưỡng tăng thêm năng lực, phẩm chất và phát triển theo chiều hướng tốt hơn. [30, tr.26]

Bồi dưỡng là một hoạt động có chủ đích nhằm cập nhật những kiến thức mới tiến bộ, hoặc nâng cao trình độ GV để tăng thêm năng lực, phẩm chất theo yêu cầu của ngành học. Công tác bồi dưỡng được thực hiện trên nền tảng các loại trình độ đã được đào tạo cơ bản từ trước. Công tác bồi dưỡng là việc làm thường xuyên, liên tục cho mỗi GV, cấp học, ngành học, không ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ để thích ứng với đòi hỏi của nền kinh tế xã hội. Nội dung bồi dưỡng được triển khai ở các mức độ khác nhau, phù hợp cho từng đối tượng cụ thể. [25, tr.27]

Bồi dưỡng là quá trình giáo dục có kế hoạch nhằm tăng giá trị cho con người, làm biến đổi thái độ, kiến thức, kỹ năng thông qua việc thu thập, xử lý thông tin thực tế trong một hoạt động hoặc chuỗi nhu cầu hành động nhằm nâng cao giá trị nhân cách, nâng cao năng suất và hiệu quả công việc. Sau khi được bồi dưỡng, năng lực cá nhân được gia tăng, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực trong hiện tại và trong tương lai của tổ chức. [30, tr.29]

      1. 1.2.5. Bồi dưỡng giáo viên, công tác bồi dưỡng giáo viên

Bồi dưỡng là một khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.

Theo Đại từ điển Tiếng Việt [28] thì: “Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực phẩm chất”.

Còn theo Từ điển Giáo dục học [19] thì “bồi dưỡng (nghĩa hẹp) là trang bị thêm các kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể”.

Theo thông tư 20/2018/TT-BGDĐT thì: “Bồi dưỡng là quá trình hình thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích đã chọn” [5].

Theo UNESCO (1998) trong công trình Techer’s and teaching in changing Worrld [46] khái niệm “Bồi dưỡng, với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”.

Từ các cách tiếp cận trên, có thể hiểu bồi dưỡng là quá trình bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng còn thiếu và phát triển kỹ năng mới gắn liền với công việc đang đảm nhiệm để tăng cường năng lực, phẩm chất nghề nghiệp cho con người về một lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp nào đó. Mục đích bồi dưỡng nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực để người lao động có cơ hội củng cố, mở mang hoặc nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc đang làm.

1.2.5.1. Bồi dưỡng giáo viên

Theo tác giả Phạm Minh Hạc, Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI [18], BDGV nhằm chỉ việc nâng cao, hoàn thiện trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho các GV đang dạy học. Trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình, sau một thời gian phát triển khoa học, kỹ thuật và tri thức của con người, những kiến thức, kỹ năng mà người GV nhận được trước đây trong nhà trường đã trở nên lạc hậu. Vì vậy,mỗi GV cần cập nhật thêm những tri thức mới về các lĩnh vực nghề nghiệp của mình nhằm nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ GV đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp “trồng người”.

Tác giả Nguyễn Minh Đường thì quan niệm bồi dưỡng là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ [15]. Bồi dưỡng là quá trình bổ sung kiến thức, kỹ năng (nội dung liên quan đến nghề nghiệp) để nâng cao trình độ trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn nhất định giúp khách thể bồi dưỡng có cơ hội củng cố, mở mang, nâng cao kiến thức và nhờ đó nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động nghề nghiệp của mình.

Bồi dưỡng GV liên quan đến những vấn đề sau:

1. Khi kiến thức và kỹ năng của người GV nhận được khi được đào tạo trong nhà trường đã trở nên lạc hậu trước sự phát triển của tri thức;

2. Nhu cầu của nhà trường hoặc của GV trong việc nâng cao năng lực GV nhằm đáp ứng chất lượng GD của nhà trường;

3. Yêu cầu của xã hội đối với GV trong việc đạt được một chuẩn nghề nghiệp nhất định. Chuẩn nghề nghiệp không cố định, được nâng lên theo thời gian nên việc bồi dưỡng theo chuẩn nghề nghiệp là quá trình liên tục;

4. Chủ trương và kế hoạch thay đổi mục tiêu đào tạo, chương trình, nội dung GD và SGK;

5. Bồi dưỡng GV theo mục tiêu của những dự án, đề án nhất định.

Khi nói về BDGV, cần phân biệt giữa các khái niệm: Bồi dưỡng và tự bồi dưỡng. BDGV là hoạt động từ chủ thể bên ngoài tác động lên cá nhân, làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất người được bồi dưỡng. Tự bồi dưỡng là hoạt động của chủ thể, không chịu sự tác động trực tiếp từ bên ngoài, tự mình tiến hành các hoạt động nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả cao hơn trong hoạt động nghề nghiệp của mình. Đó có thể là yêu cầu của xã hội đối với GV. Tự bồi dưỡng có thể xuất phát từ nhận thức, đạo đức nghề nghiệp. Nhà trường cần tạo điều kiện phát triển, nâng cao năng lực cho GV bằng cả hình thức bồi dưỡng và tự bồi dưỡng, coi tự bồi dưỡng là một tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá GV.

1.2.5.2. Công tác bồi dưỡng giáo viên

BDGV là một quá trình thường xuyên, liên tục và lâu dài bao gồm nhiều hoạt động với những mục tiêu khác nhau. Để BDGV, nhà trường phải thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo dài hạn, ngắn hạn thuộc các chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên, đồng thời cử GV học tập, nâng cao trình độ chuyên môn để đạt trình độ học vấn cao hơn.

Song song với quá trình đó, nhà trường cần tạo điều kiện tối đa để GV tự học tập, tự bồi dưỡng để nâng cao khả năng tự chủ học thuật của mình bằng nhiều hình thức khác nhau như: Giao đề tài, dự án nghiên cứu khoa học; cử tham dự hội thảo, hội nghị khoa học; cử đi trao đổi học thuật với các chuyên gia trong và ngoài nước, tạo môi trường và điều kiện làm việc tốt để GV thường xuyên tiếp xúc với đồng nghiệp và người học… Nói tóm lại, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng là hai mặt của một vấn đề thống nhất, luôn đi liền với nhau và bổ sung cho nhau nhằm nâng cao năng lực của người GV.

Theo Từ điển giáo dục: Hoạt động bồi dưỡng GV các hoạt động giáo dục hướng đích nhằm “cập nhật và nâng cao kiến thức, tiếp thu kinh nghiệm giáo dục tiên tiến, từ đó nâng cao năng lực sư phạm của GV” [42 ]. Nhiều nghiên cứu nhấn mạnh là “Hoạt động bồi dưỡng” chỉ hiệu quả cao khi có tính kế hoạch và các phương thức bồi dưỡng chủ yếu hiện nay ở Việt Nam vẫn là hình thức tại chức, tập trung và thường xuyên.

Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên là quá trình tổ chức cho giáo viên cập nhật, bổ sung các tri thức chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng sư phạm để nâng cao trình độ về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình dạy học.

Là bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kỹ năng tay nghề, kiến thức, kỹ năng thực tiễn cho giáo viên cấp THCS. Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên THCS có thể coi là việc đào tạo lại, đổi mới, cập nhật kiến thức và kỹ năng chuyên môn, nâng cao trình độ cho giáo viên THCS, là sự nối tiếp tinh thần đào tạo liên tục trước và trong khi làm việc của người giáo viên THCS.

Quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn là cách làm, cách giải quyết của người quản lý (thông qua các chức năng quản lý: Mục tiêu; Nội dung; Phương pháp; Hình thức; Kiểm tra và các điều kiện phục vụ bồi dưỡng) về các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho khách thể.

1.3. Đổi mới giáo dục phổ thông và những yêu cầu đặt ra đối với giáo viên trung học cơ sở

      1. 1.3.1. Đổi mới giáo dục phổ thông và giáo dục trung học cơ sở

Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã đề ra nhiệm vụ: “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề”. Trong đó, nội dung chương trình phải theo hướng “tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”…

Mục tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.”.

Hơn nữa, ngày 26 tháng 12 năm 2018, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT về việc ban hành chương trình giáo dục phổ thông, theo đó để thực hiện được muc tiêu đổi mới giáo dục, nội dung chương trình giáo dục phổ thông được áp dụng như sau:

Từ năm học 2020-2021 đối với lớp 1.

Từ năm học 2021-2022 đối với lớp 2 và lớp 6.

Từ năm học 2022-2023 đối với lớp 3, lớp 7 và lớp 10.

Từ năm học 2023-2024 đối với lớp 4, lớp 8 và lớp 11.

Từ năm học 2024-2025 đối với lớp 5, lớp 9 và lớp 12.

Chương trình phổ thông được xây dựng theo hướng mở, cụ thể là:

– Chương trình bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương, nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của nhà trường, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội.

– Chương trình chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và việc đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi tiết, để tạo điều kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình.

– Chương trình bảo đảm tính ổn định và khả năng phát triển trong quá trình thực hiện cho phù hợp với tiến bộ khoa học – công nghệ và yêu cầu của thực tế.”[4]

Như vậy, vấn đề đổi mới giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục THCS đã được Bộ GD&ĐT cụ thể hóa bằng Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT. Vì vậy, đây là vấn đề đã và đang đặt ra cho đội ngũ GV nói chung và GV THCS nói riêng, việc chuyển đổi chương trình thì rất cần động tác là bồi dưỡng đội ngũ GV thực hiện chương trình giáo dục phổ thông theo thông tư 32.

      1. 1.3.2. Yêu cầu đặt ra đối với giáo viên trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Theo Thông tư liên tịch 22/2015/TTLT-BGDĐT-BNV có quy định về tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng của giáo viên trung học cơ sở hạng III bao gồm những nhiệm vụ quy định tại Khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch 22/2015/TTLT-BGDĐT-BNV, cụ thể như sau:

– Có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm trở lên hoặc cao đẳng các chuyên ngành phù hợp với bộ môn giảng dạy trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trung học cơ sở;

– Có trình độ ngoại ngữ bậc 1 theo quy định tại Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24 tháng 01 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc có chứng chỉ tiếng dân tộc đối với những vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc;

Đối với giáo viên dạy ngoại ngữ thì trình độ ngoại ngữ thứ hai phải đạt bậc 1 theo quy định tại Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24 tháng 01 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam;

– Có trình độ tin học đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định tại Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11 tháng 3 năm 2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin.

Bên cạnh đó, còn có những yêu cầu đang đặt ra đối với GV THCS trong bối cảnh đổi mới giáo dục, cụ thể là hướng tới thực hiện chương trình Giáo dục phổ thông theo Thông tư 32/2018/TT-BGD&ĐT. Nội dung của chương trình chuyển từ giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh làm được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, yêu cầu người giáo viên phải đổi mới cách tiếp cận các thành tố của quá trình dạy học, cụ thể như sau:

– Thấm nhuần mục tiêu dạy học: Chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức sang hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực người học;

– Am hiểu về chương trình dạy học: Chuyển từ tập trung, bao cấp sang phân cấp: Chương trình khung của Bộ, chương trình địa phương, chương trình nhà trường;

– Quán triệt cốt lõi nội dung dạy học: Chuyển từ nội dung kiến thức hàn lâm sang tinh giản, chọn lọc, tích hợp, đáp ứng yêu cầu ứng dụng vào thực tiễn và hội nhập quốc tế;

– Đổi mới phương pháp dạy học: Chuyển từ chủ yếu truyền thụ một chiều, học sinh tiếp thu thụ động (hoạt động dạy của giáo viên là trung tâm) sang tổ chức hoạt động học cho học sinh, học sinh tự lực, chủ động trong học tập (hoạt động học của học sinh là trung tâm, giáo viên là người hỗ trợ, hướng dẫn);

– Áp dụng kết hợp nhiều hình thức dạy học: Các giờ học chuyển từ chủ yếu diễn ra trên lớp học truyền thống sang việc đa dạng hóa các hình thức dạy học, kết hợp cả trong và ngoài lớp học, ngoài nhà trường: Dạy học tại di sản, dạy học gắn với sản xuất kinh doanh, tăng cường các hoạt động xã hội, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, nghiên cứu khoa học, hoạt động trải nghiệm sáng tạo…Từ chủ yếu dạy học toàn lớp sang kết hợp giữa dạy học nhóm nhỏ, cá nhân với toàn lớp học;

– Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá: Từ chủ yếu kiểm tra việc ghi nhớ kiến thức sang đánh giá năng lực; từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập sang kết hợp đánh giá kết quả học tập với đánh giá quá trình, đánh giá sự tiến bộ của học sinh;

– Đảm bảo các điều kiện dạy học: Chuyển từ việc chủ yếu khai thác các điều kiện giáo dục trong phạm vi nhà trường sang việc tạo điều kiện cho học sinh được học tập qua các nguồn học liệu đa dạng, phong phú trong xã hội, nhất là qua Internet; … phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu và chuẩn bị tâm thế cho học tập suốt đời

Như vậy, từ thay đổi cách tiếp cận các thành tố của quá trình dạy học, đòi hỏi công tác quản lý trong nhà trường cũng phải thay đổi: Chuyển từ thực hiện kiểu quản lý bao cấp (cả tư duy lẫn hành động), áp đặt mệnh lệnh từ trên xuống; thực hiện rập khuôn, máy móc theo quy định của cấp trên, cơ chế quản lý hạn chế khả năng sáng tạo của giáo viên và học sinh, thiếu tính tự chủ, chưa đáp ứng tính phù hợp vùng miền,… sang đổi mới quản lý theo định hướng dân chủ hóa, phân cấp quản lí, giao quyền tự chủ để phát huy tính chủ động, sáng tạo phù hợp thực tế của các nhà trường, của giáo viên.

1.4. Lý luận về công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ sở

      1. 1.4.1. Sự cần thiết phải bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ sở trong giai đoạn đổi mới giáo dục

Bồi dưỡng giáo viên trong nhà trường là công việc mang tính chiến lược, phải làm thường xuyên, liên tục và lâu dài để xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu và có chất lượng cao. Mặt khác, công tác bồi dưỡng giáo viên mang tính cấp bách bởi nhà trường phải thực hiện ngay những yêu cầu của năm học, những chỉ đạo của ngành nhằm nâng cao chất lượng giáo dục như đổi mới chương trình, phương pháp dạy học…

Công tác đào tạo, bồi dưỡng sẽ đẩy mạnh sự phát triển về chuyên môn nghiệp vụ của tất cả giáo viên, nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Tham gia vào các hoạt động bồi dưỡng sẽ giúp cho giáo viên thuận lợi khi tiếp cận với chương trình mới, có thái độ tích cực với những thay đổi nhanh chóng của thời đại.

Bồi dưỡng dưới nhiều hình thức phong phú đặc biệt là hình thức bồi dưỡng tại trường sẽ góp phần xây dựng tinh thần cộng tác, làm việc theo tổ, nhóm chuyên môn trong nhà trường. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng sẽ khuyến khích giáo viên làm việc chăm chỉ, tích cực để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.

Khi tham gia bồi dưỡng một cách thường xuyên, bài bản sẽ góp phần nâng cao ý thức, tính sáng tạo trong phương pháp dạy, những kỹ năng và thói quen tự học của giáo viên. Qua bồi dưỡng giúp cho giáo viên đánh giá được khả năng hoàn thành công việc và sự tiến bộ trong công tác của bản thân.

Như vậy, bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên là công việc quan trọng trong việc cải cách công tác hành chính. Do đó quản lý phải thể hiện dân chủ; tôn trọng nhân cách của giáo viên, phân biệt trách nhiệm và quyền hạn của từng thành viên trong nhà trường, tôn trọng tính sáng tạo của giáo viên đồng thời coi trọng tinh thần hợp tác trong nhà trường. Hiệu trưởng cần quan tâm đến việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, nâng cao phẩm chất và năng lực của họ, bởi họ là nhân tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông 2018 và đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội.

      1. 1.4.2. Mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn cho GV THCS

Quá trình bồi dưỡng đội ngũ GV THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông cần đảm bảo các mục tiêu như sau:

– Có năng lực giáo dục biểu hiện ở năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục, năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục.

– Có năng lực dạy học biểu hiện ở việc nắm vững kiến thức kỹ năng môn học, nắm vững phương pháp dạy học, dạy học phân hóa, dạy học tích hợp các khoa học.

– Có năng lực sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Có năng lực tự phát triển nghề nghiệp bằng tự học, tự nghiên cứu.

– Có năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề giáo dục bằng nghiên cứu khoa học. Đó chính là những lĩnh vực cấu thành phẩm chất nghề nghiệp của người giáo viên trong nhà trường phổ thông hiện đại.

      1. 1.4.3. Nội dung bồi dưỡng

Căn cứ vào Thông tư số 17/2019/TT-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, về việc ban hành chương trình Bồi dưỡng thường xuyên giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông thuộc hình thức bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành bắt buộc hàng năm, bao gồm:

1. Chương trình bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng chuyên ngành đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ năm học đối với các cấp học của giáo dục phổ thông (gọi là Chương trình bồi dưỡng 01): Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể theo từng năm học các nội dung bồi dưỡng về đường lối, chính sách phát triển giáo dục phổ thông, chương trình giáo dục phổ thông, nội dung các môn học, hoạt động giáo dục thuộc chương trình giáo dục phổ thông.

2. Chương trình bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng chuyên ngành thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục phổ thông theo từng thời kỳ của mỗi địa phương (gọi là Chương trình bồi dưỡng 02): Sở Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể theo từng năm học các nội dung bồi dưỡng về phát triển giáo dục phổ thông của địa phương, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông, chương trình giáo dục địa phương; phối hợp với các dự án để triển khai kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên (nếu có).

3. Chương trình bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp theo yêu cầu vị trí việc làm (gọi là Chương trình bồi dưỡng 03): Giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông tự chọn các mô đun bồi dưỡng nhằm phát triển phẩm chất, năng lực nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm. Số lượng mô đun tự chọn đảm bảo quy định về thời lượng bồi dưỡng tại Khoản 2 Mục IV của Chương trình này. Các mô đun bồi dưỡng, cụ thể như sau:

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\ĐẠI HỌC SƯ PHẠM\Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở huyện Pu Vông tỉnh Ắttapư Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào\New folder/ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *