Giáo dục kĩ năng vận động tinh qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết. của đề tài
- Xu thế hội nhập toàn cầu giáo dục (GD) và đào tạo được xác định là chiến lược, chính sách hàng đầu quyết định đến sự phát triển của đất nước. Nhận thức được điều đó, GDMN không ngừng đổi mới, với quan điểm hướng tới phát triển ở trẻ phẩm chất và năng lực chung mang tính cốt lõi, phù hợp với lứa tuổi nhằm đạt được mục tiêu “…Nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo hướng đạt chuẩn chất lượng giáo dục mầm non trong khu vực và quốc tế” 1. GD phát triển thể chất cho trẻ bao gồm các vận động cơ bản, vận động tinh và tố chất thể lực sẽ là nền tảng giúp trẻ phát triển toàn diện.
- Kĩ năng vận động tinh (KNVĐT) là năng lực thực hiện có kết quả một hành động trên cơ sở phối hợp giữa thị giác và vận động của đôi bàn tay. Nhà giáo dục người Nga V.A. Sukhomlinsky đã từng nói: Khởi nguồn khả năng của trẻ em nằm trong đôi tay của chúng. Hay nói một cách hình tượng hơn, các ngón tay là sợi chỉ nuôi nguồn sáng tạo của trẻ em. GĐ từ 0-6 tuổi là giai đoạn não bộ của trẻ có “Tính dẻo” đây được coi là “Giai đoạn nhạy cảm”, giai đoạn “Cửa sổ của các cơ hội” 2 bởi khi đôi bàn tay của trẻ HĐ sẽ tạo nên sự kết nối giữa các dây thần kinh kích thích sự phát triển của não bộ và đánh thức khả năng tiềm ẩn của trẻ. Điều này đã được khẳng định trong NC của các KH ở Việt Nam và trên thế giới về mối liên hệ của KNVĐT với sự phát triển nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm KN xã hội và thẩm mỹ. KNVĐT được hình thành ở trẻ ngay từ khi còn nhỏ, quá trình này diễn ra song song với sự hoàn thiện về vận động và hệ thần kinh của trẻ. Trẻ 5-6 tuổi là giai đoạn cuối độ tuổi MG,
nhờ sự phát triển của hệ cơ, xương, khớp và sự chín muồi trong hoạt động của não bộ, trẻ đã có thể tiếp thu và thực hiện những vận động đòi hỏi sự tỉ mỉ và tinh khéo. Mặt khác, 5-6 tuổi còn là giai đoạn chuyển tiếp từ bậc học mầm non lên tiểu học với hoạt động chủ đạo là hoạt động học, chính vì vậy GD KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi là một trong những nhiệm vụ cần thiết để chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.
- Ở trường MN, có thể sử dụng nhiều hoạt động để GD KNVĐT cho trẻ. Tuy nhiên chơi là hoạt động có nhiều ưu thế, bởi hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ em MG, ngoài việc đem lại cho trẻ niềm vui, sự thích thú, hoạt động chơi còn là phương tiện GD và phát triển trẻ toàn diện trong đó có KNVĐT. “Học thông qua chơi là những trải nghiệm thú vị, có ý nghĩa, thúc đẩy sự phát triển nhận thức, cảm xúc xã hội, thể chất và sự sáng tạo của trẻ”3. Chương trình GDMN [1] định hướng lấy trẻ làm trung tâm với phương châm “Chơi mà học, học bằng chơi”. Sử dụng HĐ chơi GD KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi được xem là một trong những phương tiện đem lại hiệu quả.
- Thực tế cho thấy, hiện nay ở các TMN việc GD KNVĐT đã được triển khai và thực hiện. Tuy nhiên, hầu hết giáo viên (GV) mới chỉ tập trung vào những biểu hiện bên ngoài của KNVĐT và chủ yếu thông qua HĐ tự phục vụ, HĐ tạo hình… Việc GD KNVĐT qua chơi còn hạn chế do nhiều nguyên nhân như thiếu nguồn trò chơi, cách thức tổ chức chưa mang tính đồng bộ. Vì vậy, chưa phát huy được hết thế mạnh của chơi trong việc GD KNVĐT. Điều đó dẫn đến KNVĐT của trẻ mặc dù đã hình thành nhưng mức độ thuần thục, linh hoạt chưa cao.
Từ những lí do nêu trên, đề tài “Giáo dục kĩ năng vận động tinh qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN” được lựa chọn nghiên cứu.
3Parker R, Thomsen BS, Berry A (2022), “Learning Through Play at School – A Framework for Policy and Practice”, Frontiers in Education. Educ.7, Electronic ISSN 2504-284X.

Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở NC lí luận và thực tiễn, luận án đề xuất một số biện pháp GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN nhằm góp phần phát triển thể chất và chuẩn bị cho trẻ sẵn sàng vào lớp 1.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể NC: Quá trình GDKNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN.
- Đối tượng NC: Biện pháp GDKNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN.
Giả thuyết khoa học
Nhiệm vụ nghiên cứu
- NC cơ sở lí luận về GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN.
- Khảo sát thực trạng GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN.
- Đề xuất BP GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN
- Tiến hành TN các BP GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN đã được đề xuất.
Giới hạn phạm vi NC
Giới hạn nội dung NC
Luận án tập trung NC biểu hiện KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi trong các TC và các HĐ có yếu tố chơi.
Giới hạn về khách thể, địa bàn và thời gian nghiên cứu
– Khảo sát 150 GVMN đang dạy trẻ 5-6 tuổi ở địa bàn TP Hải Phòng, Tỉnh Ninh Bình, Tỉnh Phú Thọ.
- Khảo sát thực trạng mức độ KNVĐT của 80 trẻ 5-6 tuổi ở một số TMN trên địa bàn TP Hải Phòng.
- Thực nghiệm SP tiến hành với 40 trẻ 5-6 tuổi tại TMN Thực hành – Đại học Hải Phòng.
- Thời gian NC: Thời gian khảo sát từ tháng 3 đến tháng 5/2019, TN từ tháng 9/2019 đến 01/2020.
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận
- Tiếp cận hoạt động
HĐ là phương thức tồn tại của con người, thông qua HĐ và bằng HĐ thì trẻ mới có thể tích lũy kiến thức, hình thành được KN. GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN là quá trình GV tổ chức cho trẻ tham gia vào HĐ chơi, trong đó GV giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn và tạo cơ hội và điều kiện để trẻ tham gia hoạt động. Từ đó KNVĐT của trẻ được phát triển và nâng cao.
- Tiếp cận phát triển
Sự hình thành và phát triển KNVĐT luôn gắn với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ trong từng giai đoạn. Nhà GD cần đánh giá đúng MĐ phát triển KNVĐT của trẻ ở thời điểm hiện tại để tìm ra nguyên nhân, dự báo xu hướng phát triển KNVĐT của trẻ trong tương lai. Tiếp cận phát triển cho thấy, việc NC quá trình GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN và đề xuất BP không chỉ dựa trên đặc điểm và MĐ phát triển KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi ở thời điểm hiện tại mà còn hướng tới “Vùng phát triển gần nhất” giúp trẻ vận dụng KNVĐT vào các hoàn cảnh khác nhau.
- Tiếp cận hệ thống
Cấu trúc KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi bao gồm nhiều thành phần, các thành phần này có mối quan hệ với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất. GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN là một quá trình GD bao gồm: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và đánh giá. Quá trình giáo dục KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi cần đảm bảo KNVĐT được phát triển trên nền tảng mà trẻ đã có từ độ tuổi trước. Đồng thời giúp trẻ vận dụng KNVĐT giải quyết các nhiệm vụ nảy sinh trong cuộc sống từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
- Tiếp cận thực tiễn
Thực tiễn cho thấy mỗi trẻ là một sự khác biệt về nhận thức, khả năng vận động cũng như được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tại mỗi gia đình, trường, lớp ở các địa phương khác nhau. Vì thế, việc xây dựng các BP GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi cần căn cứ vào thực tiễn GD trẻ tại các vùng miền và khả năng của trẻ. Đảm bảo quá trình GD KNVĐT phù hợp, vừa sức với khả năng của trẻ và điều kiện, bối cảnh của địa phương.
- Tiếp cận tích hợp
Tiếp cận tích hợp trong việc GD KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi cho thấy, sự phát triển KNVĐT của trẻ có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển vận động và các mặt GD khác. Vì vậy, GD KNVĐT cho trẻ không chỉ thông qua hoạt động chơi mà còn được tích hợp trong các HĐ khác của trẻ ở TMN.
Trong quá trình NC cần xác định các biểu hiện KNVĐT của trẻ trong HĐ chơi và các HĐ của trẻ ở TMN.
Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
Sưu tầm, thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu khoa học trong và ngoài nước về KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi; GD KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi. Trên cơ sở đó xác định tổng quan và cở sở lý luận của GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN.
- Phương pháp so sánh:
Từ việc phân tích tổng hợp tài liệu, luận án đối chiếu, so sánh, tìm ra điểm tương đồng và những điểm khác biệt trong NC của các nhà KH. Từ đó, xác định hướng NC của luận án.
– Phương pháp hệ thống hóa, kKQ hóa lí thuyết
Các công trình NC liên quan đến đề tài được hệ thống hóa, khái quát hóa thành những quan điểm nhằm xác định cơ sở để xây dựng khung lý thuyết, khảo sát thực trạng, đề xuất BP và TN BP GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN.
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Sử dụng phiếu điều tra tìm hiểu nhận thức và thực trạng quá trình tổ chức GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN hiện nay.
- Phương pháp QS
QS quá trình tổ chức GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN của GVMN.
Quan sát, ghi chép những biểu hiện KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi.
- Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực GDH, TLH. Tiếp thu ý kiến của các chuyên gia để làm rõ các vấn đề về KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi, các tiêu chí đánh giá, các BT, tính khả thi và hiệu quả của các BP GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN.
- Phương pháp đàm thoại
Trao đổi với GVMN, CBQL, cha mẹ trẻ 5-6 tuổi để tìm hiểu những thông tin liên quan đến đề tài. Đàm thoại, trò chuyện cùng với trẻ để tìm hiểu về MĐ KNVĐT của trẻ.
- Phương pháp NC sản phẩm
NC kế hoạch tổ chức chơi của GVMN và sản phẩm chơi của trẻ.
- Phương pháp TN sư phạm
TN các BP GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN mà luận án đã xây dựng nhằm kiểm chứng tính đúng đắn và khả thi của các BP và chứng minh giả thuyết KH của luận án.
- Phương pháp NC trường hợp điển hình
Phân tích chân dung của 02 trẻ về biểu hiện KNVĐT; MĐ cải thiện về KNVĐT của trẻ sau TN để chứng minh tính hiệu quả và khả thi của các BP. Góp phần làm sáng tỏ giả thuyết KH của luận án đã đề ra.
7.2.3. Phương pháp xử lí số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS 25.0 để xử lý số liệu thu được qua khảo sát thực trạng và tổ chức TN sư phạm nhằm kiểm nghiệm KQ NC.
Những luận điểm bảo vệ
- KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi gồm các thành phần: Phối hợp thị giác – vận động, sự khéo léo của đôi bàn tay, sử dụng phối hợp hai tay, kiểm soát lực của bàn tay ngón tay và tốc độ của thao tác tay.
- Trẻ 5-6 tuổi đã có những biểu hiện về KNVĐT với các MĐ khác nhau. Quá trình phát triển KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi chịu ảnh hưởng từ các yếu tố trong đó có yếu tố từ phía trẻ, môi trường GD, CSVC, năng lực và KN tổ chức HĐGD của GVMN.
- Chơi là một trong những phương tiện GD KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN. Quá trình GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi được thực hiện từ việc xây dựng môi trường phù hợp với mục đích GD KNVĐT, lập KH tổ chức HĐg, sử dụng đa dạng các TC, tổ chức GD KNVĐT ở nhiều thời điểm trong ngày, đánh giá sự phát triển KNVĐT và làm tốt công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường.
Đóng góp mới của luận án
Về lý luận
- Kết quả NC sẽ bổ sung và làm phong phú lí luận về KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi và GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN.
- Xác định rõ cấu trúc KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi bao gồm: Phối hợp thị giác
- vận động, sự khéo léo của đôi bàn tay, sử dụng phối hợp hai tay, kiểm soát lực của bàn tay ngón tay và tốc độ của thao tác tay.
- Dựa trên các chỉ báo được xác định, luận án đã dịch thuật, chuyển nghĩa, chuẩn hóa và xây dựng bộ công cụ đánh giá MĐ KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi của Việt Nam.
Về thực tiễn
- Luận án đã xác định được MĐvà biểu hiện KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi qua chơi tại các khu vực trung thành thị và nông thôn. KNVĐT của trẻ đều ở tương đương nhau, không có sự khác biệt.
- Đánh giá được quá trình tổ chức của GD KNVĐT cho trẻ 5- 6 tuổi ở TMN. Xác định những hạn chế, khó khăn và nguyên nhân của thực trạng.
- NC thực trạng MĐ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến sự phát triển KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi qua chơi.
- Luận án đề xuất 07 BP GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN. Các BP đã được kiểm chứng qua quá trình TNSP. Ngoài ra, GV có thể vận dụng sáng tạo các BP này trong HĐ CSGD trẻ ở TMN.
- Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà NC, giảng viên, GVMN, cha mẹ và những người CS trẻ có thể sử dụng trong quá trình NC và tổ chức các HĐ nhằm nâng cao hiệu quả GD KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi.
Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị SP, luận án gồm 4 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận của GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở
TMN.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN.
Chương 3: Biện pháp GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN Chương 4: Thực nghiệm các BP GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở
TMN.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG VẬN ĐỘNG TINH QUA CHƠI CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MN
Tổng quan NC vấn đề
Nghiên cứu về KN vận động tinh của trẻ 5-6 tuổi
Sự phát triển của cơ thể: NC của M Papastergiou, E Pollatou, I
Nghiên cứu về GD kĩ năng vận động tinh cho trẻ 5-6 tuổi
Nghiên cứu về GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi
Khái quát chung về TQ NC
* Những vấn đề kế thừa:
Qua tìm hiểu và tổng hợp tài liệu chúng tôi nhận thấy, các NC đã chỉ ra khái niệm, đặc điểm, vai trò của KNVĐT với sự phát triển trẻ em. Từ đó cho thấy việc GD KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi là một trong những nhiệm vụ quan trọng cần phải được tiến hành từ ngay lứa tuổi MN.
GD KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi có thể thông qua nhiều HĐ như: HĐ tạo hình, HĐ tự phục vụ và Hđ với đồ vật… trong đó vui chơi là một trong những phương tiện đã được nhiều tác giả đề cập đến. Các tác giả đánh giá và nhìn nhận HĐ chơi với vai trò là một phương tiện GD KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi phù hợp với nhu cầu, đặc điểm tâm sinh lý của trẻ.
Luận án kế thừa kết quả NC của các tác giả trong nước và ngoài nước về đặc điểm, cấu trúc của KNVĐT, vai trò, ưu thế của HĐ chơi trong việc GD KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi, đây sẽ là những định hướng cho khung lý thuyết của luận án.
- Những vấn đề còn bỏ ngỏ:
– Thứ nhất, NC của các nhà KH về KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi đã chỉ ra cấu trúc thành phần của KNVĐT tuy nhiên còn chưa mang tính hệ thống. Việc làm rõ về cấu trúc thành phần, biểu hiện KNVĐT sẽ giúp nhà GD, những người làm nhiệm vụ CSGD trẻ có hiểu biết để đánh giá KNVĐT của trẻ em và đưa ra những tác động phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình GD KNVĐT.
- Thứ hai, GD KNVĐT cho trẻ 5 -6 tuổi qua chơi đã được các tác giả quan tâm NC. Tuy nhiên, việc GD KNVĐT qua chơi mới chỉ dừng lại ở tạo điều kiện và cơ hội để trẻ tham gia chơi.
Chúng tôi nhận thấy, GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5 – 6 tuổi là một quá
trình GD với nhiều thành tố từ xác định mục tiêu, lập kế hoạch…đến khâu đánh giá. Luận án xác định làm rõ hơn các thành tố của quá trình GD KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi
- Những tồn tại luận án cần giải quyết:
Từ kết quả NC và nhận định trên luận án xác định những vấn đề cần:
- Làm rõ bản chất về cấu trúc và thành phần, biểu hiện của KNVĐT.
- Kế thừa các NC trong và ngoài nước khẳng định các vai trò của chơi trong việc GD KNVĐT.
– Luận án vận dụng và điều chỉnh Bộ công cụ đánh giá KNVĐT “Fine Motor Growth Assessment” (FINGA) của tác giả Karel Francois Belinda Strooband dựa trên nguyên tắc đảm bảo yếu tố phù hợp với đối tượng trẻ ở 5-6 tuổi và thực tiễn GDMN ở Việt Nam. KQ khảo sát sẽ giúp chúng tôi nhận định sâu hơn về thực trạng làm cơ sở để đề xuất các BP GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN.
– Luận án NC làm rõ quá trình GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN. Từ đó sẽ đề xuất các BP đảm bảo nguyên tắc phát huy ưu thế của HĐ chơi, coi trẻ là chủ thể của quá trình GD, đảm bảo tính phát triển, tính đa dạng và tạo cơ hội để trẻ vận dụng KNVĐT trong nhiều hoàn cảnh chơi khác nhau.
Những KQ NC của luận án với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN. Đồng thời đáp ứng được những yêu cầu đổi mới của GDMN. Tạo điều kiện tốt nhất để giúp trẻ vững vàng, tự tin vào lớp 1.
Kĩ năng vận động tinh của trẻ 5-6 tuổi
Khái niệm kĩ năng vận động tinh của trẻ 5-6 tuổi
Theo tác giả Hoàng Phê (2009) [85, tr.644]: KN là khả năng con người vận dụng kiến thức vào thực tế. Trong Từ điển về Thuật ngữ Tâm lí (2012)
[86]: KN là việc con người vận dụng kiến thức có được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế.
Như vậy, KN được hiểu là việc vận dụng tri thức một cách thành thạo trong những điều kiện khác nhau để thực hiện có KQ một công việc nào đó.
Các NC về KN được tiếp cận theo hai hướng:
Hướng thứ nhất nhìn nhận KN ở mặt kĩ thuật: Tiêu biểu cho hướng NC này có các tác giả: V.A. Kruchetxki (1981) [87], A.V. Petrovxki (1982) [88], Phạm Thành Nghị (2016) [89], Đặng Thành Hưng (2013) [90]. Các tác giả này đều có điểm chung đã nhận định khi con người nắm vững tri thức và hành động đúng về mặt kĩ thuật thì hành động đó sẽ đạt kết quả cao. Muốn nắm được kĩ thuật hành động và thực hiện được hành động nào đó thì cần phải có quá trình học tập và rèn luyện.
Như vậy, theo quan điểm này KN là phương tiện để con người thực hiện một hành động. Muốn có KN thì con người cần nắng vững tri thức về HĐ đó.
Hướng thứ hai nhìn nhận KN là năng lực: Hướng NC này có N.D. Levitov (1972) [91], A.V. Petroxki [88], X.I. Kixegof (1976) [92], Nguyễn Quang Uẩn
(201) [93], Vũ Dũng [86]: KN là năng lực hành động của cá nhân gắn với kết quả và khả năng vận dụng mọi tri thức trong điều kiện nhất định.
Như vậy, nếu quan điểm các tác giả theo hướng NC thứ nhất chỉ coi KN đơn thuần về mặt kĩ thuật thì trong hướng NC thứ hai các tác giả không chỉ coi KN là kĩ thuật của hành động mà còn là biểu hiện của năng lực, KN vừa có tính mềm dẻo, vừa có tính ổn định. Nhờ có tính mềm dẻo mà con người có thể vận dụng sáng tạo trong hoàn cảnh thực tiễn.
Chúng tôi nhận thấy hai hướng NC đều có điểm chung:
- KN của con người có nguồn gốc từ tâm lý được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành động, thao tác. Theo nghĩa hẹp KN là thao tác, là hành động của con người, còn theo nghĩa rộng thì KN là năng lực của con người.
- KN luôn đi liền với tri thức của con người, để thực hiện một hành động nào đó thì con người cần phải có hiểu biết về chúng, tức là có kiến thức sau đó sẽ vận dụng kiến thức đó vào thực hiện các thao tác của hành động trong từng hoàn cảnh cụ thể của thực tiễn.
- KN của một con người có được là nhờ vào quá trình GD và rèn luyện của bản thân, KN thể hiện ở tính đúng đắn, thành thạo, linh hoạt và hiệu quả. Một hành động còn có sự vụng về hoặc khung cứng theo một khuôn mẫu nhất định thì chưa được gọi là KN.
Trong phạm vi NC, luận án không đơn thuần xem xét nhìn nhận KN ở mặt KT mà còn là biểu hiện của năng lực cá nhân, đòi hỏi sự tham gia của nhận thức và thái độ. KN được hiểu như sau: Kĩ năng là năng lực của CN trong việc thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó có KQ trên cơ sở vận dụng linh hoạt những tri thức, kinh nghiệm của bản thân vào những tình huống, hoàn cảnh và điều kiện cụ thể. Như vậy, KN thể hiện ở tính đúng đắn, tính thành thạo, tính linh hoạt và tính hiệu quả của việc triển khai hành động trong thực tiễn đây là tiêu chuẩn để xác định MĐ phát triển của KN.
Khái niệm KN nêu trên với cách tiếp cận KN là năng lực được biểu hiện qua những dấu hiệu sau đây:
Trước tiên KN là sự hiểu biết hay nói cách khác là việc con người nắm được mục đích hành động, cách thức thực hiện và các điều kiện để tiến hành hành động.
Thứ hai KN là việc có KQ một hành động nào đó theo mục đích đã đề ra tức là biết vận dụng tri thức để thực hiện.
Thứ ba KN là việc vận dụng tri thức, hiểu biết để thực hiện có KQ một hành động trong những điều kiện và hoàn cảnh thay đổi. Điều đó cho thấy, để có được KN thì con người cần phải có tri thức và kinh nghiệm. Hay nói cách khác tri thức và kinh nghiệm sẽ là những điều kiện cần thiết để hình thành KN. Việc vận dụng
tri thức, kinh nghiệm vào HĐ thực tiễn sẽ là điều kiện đủ để hình thành KN.
Tóm lại, với cách tiếp cận của luận án KN gồm sự hiểu biết, nắm vững tri thức về hành động và vận dụng các tri thức sự hiểu biết để thực hiện có kết quả một hành động trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. KN cần có sự luyện tâp thì mới trở nên bền vững.
Cơ chế để hình thành KN bản chất là sự hình thành hành động có mục đích tương ứng để đạt được một kết quả nào đó. KN có tính mở vì vậy cấu trúc và thứ tự của các thao tác có thể điều chỉnh hoặc thêm, bớt, điều chỉnh tùy theo hoàn cảnh và hoạt động cụ thể. Tuy nhiên đó là sự chỉ là kĩ thuật, còn bản chất KN không thay đổi.
- Đặc điểm của kĩ năng
Các NC quan niệm KN là một năng lực của CN đại diện có tác giả Nguyễn Quang Uẩn [93] đã chỉ ra KN bao gồm bốn đặc điểm sau:
Thư nhất, tính chính xác: KN được thể hiện ở tất cả các mặt: tri thức, tốc độ thực hiện, thao tác và KT của hành động. Tính chính xác còn được thể hiện ở việc tuân thủ và thực hiện đúng những yêu cầu của nhiệm vụ.
Thứ hai, tính thành thục: Là sự vận động phù hợp các thao tác của KN với mục đích và điều kiện của HĐ. Tính thành thục được thể hiện ở sự thành thạo của các thao tác, tốc độ thực hiện và sự kết hợp một cách hợp lý các thao tác trình tự thực hiện. Như vậy, trong quá trình thực hiện kĩ năng gần như không có những thao tác thừa.
Thứ ba, tính linh hoạt: Là sự ổn định và bền vững, sự sáng tạo của KN trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau. Tính linh hoạt còn được thể hiện ở chỗ chủ thể biết lược bỏ hoặc thay thế những thao tác không phù hợp để thực hiện một hoạt động nào đó có hiệu quả trong một hoàn cảnh cụ thể.
Thứ tư, tính hiệu quả: Là việc thực hiện đạt được MĐ của hoạt động ở các mức độ khác nhau. Như vậy, một con người mặc dù đã có tri thức và kinh
nghiệm nhưng khi vận dụng tri thức đó vào đã có và các thao tác phù hợp sẽ không có ý nghĩa nếu cá nhân không đạt hiệu quả của hành động. Vì vậy, tính hiệu quả được coi là biểu hiện cao nhất của KN, là sự kết hợp của tính đúng đắn, tính thành thục và tính linh hoạt, điều đó cũng có nghĩa KN được bộc lộ dựa trên các tính chất này.
Như vậy, KN và năng lực có MQH mật thiết và tác động qua lại với nhau, KN là một trong những điều kiện quan trọng để hình thành năng lực, năng lực lại chi phối đến sự hình thành và phát triển của KN. Các đặc điểm về KN sẽ là cơ sở để chúng tôi xác định TC, chỉ báo để đánh giá KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi.
Các tác giả J.M Huffman, Callie Fortenberry [29], Hàn Nguyệt Kim Chi, Nguyễn Thị Sinh Thảo và Hoàng Thu Hương [44], Tạ Ngọc Thanh [51], Đặng Hồng Phương [46, tr.18], đều có điểm chung khi nhận định VĐT là vận động các cơ nhỏ của bàn tay, ngón tay trong những HĐ và thao tác đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo.
Mojgan Farahbod Asghar Dadkhah [48], Ying-Chih Wang (2011) [94] đề cập đến VĐT ở khía cạnh tốc độ, tác giả cho rằng VĐT là sự phối hợp của các ngón tay khi thao tác với các đồ vật một cách kịp thời, nhanh chóng.
Cornhill, Case-Smith (1996) [95] nhận thấy ngoài việc kiểm soát VĐ của bàn tay, tốc độ của thao tác, VĐT còn thể hiện ở khía cạnh sử dụng lực hợp lý.
Kế thừa NC của các những tác giả trong và ngoài nước, luận án xác định về khái niệm VĐT như sau: Vận động tinh là sự phối hợp, kiểm soát lực của bàn tay ngón tay, sự khéo léo của đôi bàn tay và tốc độ của thao tác tay để thực hiện có kết quả một hành động.
Khái niệm trên cho thấy nội hàm VĐT được hiểu:
Thứ nhất, VĐT là sự chuyển động, phối hợp cử động của những ngón tay và bàn tay với sự điều khiển của mắt, cơ quan thần kinh.
Thứ hai, VĐT thể hiện tố chất khéo léo trong vận động.
Thứ ba, có thể điều chỉnh tốc độ và lực phù hợp để tạo nên sự khéo léo và đạt hiệu quả trong VĐT.
Từ khái niệm KN, khái niệm VĐT luận án hiểu KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi như sau: KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi là năng lực thực hiện KQ một hành động trên cơ sở phối hợp thị giác – vận động, sự khéo léo và kiểm soát lực của đôi bàn tay, sử dụng phối hợp hai tay và tốc độ của thao tác tay.
Như vậy, nội hàm khái niệm cho thấy:
- KNVĐT thể hiện ở các khía cạnh phối hợp thị giác – vận động, sự khéo léo và kiểm soát lực của đôi bàn tay, sử dụng phối hợp hai tay và tốc độ của thao tác tay.
- KNVĐT của trẻ 5.-6 tuổi được hiểu là năng lực vận dụng tri thức, hiểu biết và kinh nghiệm về hành động thao tác của đôi bàn tay để thực hiện có KQ một hành động.
Cấu trúc thành phần KN vận động tinh của trẻ 5-6 tuổi
KNVĐT được các tác giả nhận định theo nhiều cách khác nhau:
J.M Sorter, M.T Kulp (2003) [96] cho rằng KNVĐT bao gồm khả năng nhận thức thị giác và phối hợp vận động.
Hermito Gidion [6] nhận định KN vận động thị giác là một trong những yếu tố cấu thành nên KNVĐT.
Theo tác giả Karel F.B. Strooband [10] KNVĐT liên quan đến khả năng phối hợp của thị giác và VĐ, sự khéo léo của đôi tay, khả năng viết và vẽ.
Kế thừa nghiên cứu của các tác giả, căn cứ các khái niệm, đặc điểm của KNVĐT luận án xác định cấu trúc thành phần KNVĐT của trẻ 5 -6 tuổi bao gồm: Phối hợp thị giác – VĐ, sự khéo léo cử động của đôi bàn tay, sử dụng phối hợp hai tay, kiểm soát lực của bàn tay ngón tay, tốc độ của thao tác tay, cụ thể:
- Phối hợp thị giác – vận động: Các tác giả S.Shin và cộng sự (2009) [97], C.P Gabbard (2008) [98] nhận định phối hợp thị giác – vận động thể hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, là sự kết hợp của nhận thức thị giác và VĐT dựa trên kết quả của việc não bộ xử lý thông tin khi mắt truyền đến và đưa ra cách thức hành động của đôi bàn tay. Thứ hai, là phối hợp tay và mắt khi thực hiện các thao tác.
Như vậy, thị giác với vai trò là nơi tiếp nhận thông tin ban đầu về đối tượng bao gồm hình dạng, kích thước, vị trí trong không gian và truyền đến não bộ. VĐT (Mục 1.2.1.2) không chỉ thực hiện các thao tác của bàn tay ngón tay, với vai trò của xúc giác – đôi tay còn giúp bổ sung thông tin về đối tượng. Trên cơ sở đó não bộ xử lý thông tin và đưa ra cách thức hành động của đôi bàn tay. Mặt khác, trong quá trình thực hiện thao tác tay và mắt phối hợp nhịp nhàng (phối hợp tay – mắt) giúp trẻ giải quyết được các nhiệm vụ một cách nhanh chóng và chính xác.
- Sự khéo léo của đôi bàn tay:
Là khả năng phối hợp khéo léo của các ngón tay và sự linh hoạt của cổ tay khi thực hiện các thao tác. Đây được coi là nền tảng để trẻ rèn luyện KN viết (phối hợp ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa khi cầm bút), sử dụng ngón cái và ngón trỏ để nhặt, cầm các đồ vật nhỏ, hoặc thao tác cầm nằm và linh hoạt của cổ tay khi xoáy vặn nút chai, vắt khăn mặt…
- Sử dụng phối hợp hai tay:
Là khả năng của trẻ kiểm soát và sử dụng phối hợp hiệu quả hai tay để hoàn thành nhiệm vụ. Cụ thể:
- Hai tay phối hợp đồng thời (Đóng mở cúc áo, bện tóc, buộc dây giày, thao tác xâu luồn…).
- Tay không thuận hỗ trợ tay thuận hoặc duy trì trạng thái cân bằng của cơ thể khi thực hiện nhiệm vụ (Thao tác viết hoặc tô màu, tay thuận trẻ cầm bút, tay còn lại giữ giấy và tạo sự cân bằng cho cơ thể; Tay phải trẻ cầm thìa
xúc cơm, tay trái cầm bát; Hoặc sử dụng kéo để cắt giấy).
- Kiểm soát lực của bàn tay, ngón tay:
Là khả năng kiểm soát lực của bàn tay, ngón tay giúp trẻ sử dụng lực hợp lý trong từng nhiệm vụ. Ví dụ: Khi xếp chồng khối gỗ ở vị trí cao nhất trẻ đặt vật với một lực vùa đủ để tránh làm đổ, hoặc đóng cúc bấm… Việc kiểm soát và sử dụng lực hợp lý còn giúp trẻ tránh mỏi cơ khi thực hiện nhiệm vụ trong thời gian dài điều này rất có ý nghĩa khi trẻ vào lớp 1 với nhiệm vụ học viết.
- Tốc độ của thao tác tay:
Là thời gian trẻ thực hiện hoàn thành có kết quả một nhiệm vụ. Tốc độ nhanh hay chậm của thao tác tay, phụ thuộc vào sự phối hợp thị giác – vận động, khả năng khéo léo của đôi bàn tay, sử dụng phối kết hợp hai của tay và kiểm soát lực của bàn tay và ngón tay.

Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối bởi các thành phần có sự chi phối và đan xen với nhau.
Sự hình thành KN vận động tinh của trẻ 5-6 tuổi
* Cơ sở sinh lý học
Các NC của các tác giả P. Sutapa [54], E.D Vidoni [41], Phạm Thị Minh Đức (2007) [99], R.T Schultz (1998) [100], D.B Willingham (1999) [101], D
Khramtsov và cộng sự (2021) [102] khẳng định sự phát triển KNVĐT phụ thuộc vào sự trưởng thành của HTK, hệ cơ xương.
NC của tác giả H.D Watson (2006) [103], Phạm Thị Minh Đức [99, tr. 435-438] dựa trên phân tích hình ảnh HĐ của não bộ cho thấy 6 vùng não bộ điều khiển KNVĐT bao gồm: Vùng tiền vận động, vùng vận động bổ sung, vùng vận động sơ cấp, rãnh trung tâm, vùng cảm giác sơ cấp, vùng não đỉnh trên, thể chai. Các vùng này được mô tả trong hình ảnh sau:
![]() |
——– Rãnh trung tâm |
Vùng vận động sơ cấp (vùng 4 theo Brodmann) được nằm ngay trước rãnh trung tâm, hơn một nửa của vùng này tham gia điều khiển cử động thao tác của đôi bàn tay và các cơ quan liên quan đến khả năng nói. Vùng tiền vận động điều khiển sự khéo léo của đôi bàn tay, nếu bị tổn thương vùng này trẻ sẽ khó khăn khi viết. Vùng vận động bổ sung nằm phía trước và ở phía trên của vùng tiền vận động, vùng này thực hiện các động tác cầm nắm. Các nhân nền não: chi phối đến tốc độ thực hiện của vận động (Ví dụ: tốc độ viết, cỡ chữ).
NC về chức năng điều khiển của não bộ với VĐ của đôi bàn tay, tác giả Annett M (2002) [104] chỉ ra rằng: VĐ của tay nằm dưới sự kiểm soát của bán cầu não trái và tay trái nằm dưới sự kiểm soát của bán cầu não phải. Bên cạnh đó, tốc độ của thao tác tay còn phụ thuộc vào sự phát triển của hệ cơ, xương,
khớp. Hệ thống các nhóm cơ, xương, khớp giúp cho đôi tay thực hiện những thao tác cụ thể: Khớp nối xương bàn tay thực hiện thao tác gập các ngón tay; Khớp giữa của xương của ngón tay giúp cho các ngón tay thực hiện các động tác cong, hoặc duỗi một cách dễ dàng; Khớp cổ tay tham gia thực hiện các động tác gập cổ tay hoặc duỗi.
Như vậy, bản chất của KNVĐT là những phản xạ về VĐ có điều kiện phức tạp được hình thành theo cơ chế của đường liên hệ tạm thời. Sự hình thành và phát triển KNVĐT còn phụ thuộc vào sự phát triển của HTK, khả năng tri giác, sự linh hoạt của hệ cơ, xương, khớp của đôi bàn tay.
* Cơ sở tâm lý học
Dưới góc độ TL học, KNVĐT hình thành và được rèn luyện phát triển trong HĐ. Vì vậy, KNVĐT còn được thể hiện trong những cấu trúc tâm lý của con người bao gồm nhận thức, hành động và thái độ ba mặt này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Các tác giả M.R Stephani và cộng sự [52], Sebastian Suggate [53] nhận thấy sự phát triển KNVĐT của trẻ còn phụ thuộc yếu tố MT. MT là nơi chứa đựng nhiều yếu tố để trẻ rèn luyện KNVĐT cho trẻ. A.V Antakov-Fomin (1974) [105] cho rằng chuyển động của bàn tay con người không chỉ được xác định về mặt di truyền, mà còn được rèn luyện và hình thành trong quá trình GD, luyện tập, và sự tương tác tích cực với MT. Điều này đã khẳng định vai trò và sự cần thiết của GD trong việc phát triển KNVĐT cho trẻ em.
Như vậy, KNVĐT của trẻ 5-6 tuổi được thể hiện trong cấu trúc TL của con người bao gồm nhận thức, hành động và thái độ cụ thể: Về nhận thức: thị giác, xúc giác là nơi tiếp nhận thông tin, dựa trên những thông tin đó não bộ xử lý và đưa ra cách thức hành động. Về thái độ: KNVĐT không chỉ thể hiện sự hiểu biết, vốn kinh nghiệm mà còn thể hiện cả suy nghĩ và trạng thái cảm xúc của trẻ. Mặt khác, khi có KNVĐT trẻ sẽ tự tin thể hiện bản thân, sẵn sàng tham
gia hoạt động khám phá và thể hiện ý tưởng của mình. Về hành động: KNVĐT là sự kết hợp HĐ của đôi bàn tay cùng với sự phối hợp của thị giác, để thực hiện những HĐ đòi hỏi sự tinh khéo nhằm đạt được mục đích đã đề ra.
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn [93] KN được hình thành qua hai giai đoạn: Giai đoạn nắm vững tri thức về hành động; Giai đoạn tiến hành thực hiện hành động theo các tri thức. Để thực hiện được một hành động có KQ cần quan sát mẫu, tiến hành làm thử và luyện tập. Khi KN trở nên ổn định trẻ sẽ có thể vận dụng KN vào nhiều tình huống khác nhau. Khi nghiên cứu về KN vận động tác giả Đặng Hồng Phương [46] cho rằng KNVĐ được hình thành qua ba giai đoạn: Giai đoạn hình thành KN vận động đầu tiên; Giai đoạn ôn luyện KN vận động; Giai đoạn hoàn thiện KN vận động.
Tác giả Richard Decaprio, Zio Perdana (2017) [106] nhận định KNVĐT được hình thành qua 3 giai đoạn: Giai đoạn nhận thức, giai đoạn luyện tập và giai đoạn hoàn thiện.
Từ những quan điểm trên cho thấy KNVĐT của trẻ 5- 6 tuổi được hình thành trải qua ba GĐ:
GĐ 1: Hiểu biết đầy đủ về mục đích, điều kiện và cách thức để hành động của thao tác tay. Đây là bước mang tính chất định hướng cho những bước tiếp theo. Trong bước này trẻ nhận thức bằng cách QS mẫu hoặc vận dụng vốn hiểu biết để đưa ra cách thức hành động.
GĐ 2: Thực hiện thao tác hành động. Bước này tiến hành hành động của thao tác tay từ việc vận dụng tri thức mà trẻ có giai đoạn 1. Vì vậy, thao tác của trẻ còn chưa nhuần nhuyễn, thiếu sự linh hoạt.
GĐ 3: Luyện tập củng cố. Mục đích của GĐ này là giúp KNVĐT hoàn thiện, ổn định và trở nên bền vững. Giai đoạn này GV cần tạo những cơ hội, môi trường luyện tập để trẻ được vận dụng KNVĐT vào nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Tuy vậy, quá trình GD KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi GD dục không nhất thiết phải tuân thủ theo đúng trình tự của các giai đoạn nêu trên mà nhà GD cần linh hoạt thay đổi dựa trên MĐ phát triển KNVĐT của trẻ.
Phản xạ về KNVĐT có ở trẻ rất sớm, tháng thứ 4 trẻ có phản xạ cầm nắm lấy đồ vật tuy nhiên chưa hoàn toàn làm chủ hành động nắm.
Tháng thứ 6 động tác cầm nắm dần hoàn thiện, trẻ có xu hướng cầm vật bằng các ngón tay. Ngoài 6 tháng, mắt trẻ đã biết hướng nhìn theo tay (phối hợp tay-mắt) để xác định vị trí của vật. Đến một tuổi, khả năng phối hợp thị giác – VĐ của trẻ đã có nhiều thay đổi hơn, khi tri giác một đồ vật trẻ ngầm xác định được hình dạng, kích thước trong đầu và điều khiển các ngón tay mở ra theo hình dạng của đồ vật đó. Động tác cầm nắm của trẻ chính xác hơn, trẻ biết điều chỉnh ngón tay phù hợp với hình dáng của đồ vật (khi cầm bóng trẻ xòe rộng các ngón tay, với đồ vật hình khối vuông trẻ biết đặt các ngón tay vào gờ cạnh để cầm) (2021) [107, tr.106-108].
Sự hình thành, phát triển KNVĐT của trẻ phụ thuộc vào sự trưởng thành của hệ thần kinh, các NC cho thấy KNVĐT của trẻ càng tinh khéo hơn khi trẻ lớn. Tác giả Đặng Hồng Phương [46] khẳng định sự phát triển của HTK, hệ cơ, xương đã giúp trẻ 5-6 tuổi khéo léo hơn. Trẻ biết điều khiển và kiểm soát được VĐ của bàn tay, ngón tay. KNVĐT của trẻ được mô tả qua hình ảnh trẻ cầm nắm, thao tác với đồ vật nhỏ và cầm bút.

Nghiên cứu của các tác giả K.H James, L Engelhardt (2112) [108], F Özkür
(2019) [109], Ö Purtaş, G Duman (2017) [110] cho thấy trẻ 5-6 tuổi có khả năng sao chép chữ cái, vẽ hình người với đầy đủ các chi tiết, có KN tự phục vụ bản thân và biết sử dụng đồ dùng, dụng cụ trong sinh hoạt một cách thành thạo. Trẻ biết cầm bút bằng ngón tay cái, ngón trỏ, ngón giữa và di chuyển bút linh hoạt hơn. Nhặt các vật nhỏ bằng ngón tay cái và ngón tay trỏ một cách thuần thục. Trẻ biết sử dụng kéo để cắt theo đường viền tuy nhiên độ chính xác chưa được cao.
Tác giả F Ferland (2018) [111] nhận định trẻ đã có khả năng sử dụng phối hợp hai tay trong các trường hợp một tay giữ vật này, tay kia giữ vật khác để vặn ốc, xâu chuỗi hạt, cài cúc áo, xỏ dây giày, mặc quần áo, tuy nhiên những cúc áo ở vị trí cổ tay, cúc cổ áo trẻ vẫn còn lúng túng khi thực hiện. F Ferland cũng chỉ ra rằng trẻ đã biết xâu luồn và thắt dây giày tuy nhiên các nút thắt còn lỏng lẻo do chưa biết sử dụng lực hợp lý.
Như vậy, so với độ tuổi trước KN VĐT của trẻ 5-6 tuổi đã thay đổi đáng kể. Các NC đã chỉ ra trẻ 5-6 tuổi có khả năng thực hiện được các VĐ uốn và xoay cổ tay, ngón tay, gập, mở lần lượt từng ngón tay. Phối hợp cử động của đôi bàn tay và tay – mắt trong một số HĐ như vẽ, sao chép, tô đồ, cắt theo nhiều hình dạng của đường viền hoặc nét chấm mờ, xếp chồng theo mẫu từ 12 – 15 khối.
Hoạt động chơi của trẻ 5 -6 tuổi ở trường MN
Khái niệm chơi của trẻ 5-6 tuổi
HĐ chơi là HĐ chủ đạo của trẻ lứa tuổi MG, là phương tiện GD phù hợp với sự phát triển của trẻ.
Khi nghiên cứu về chơi ở trẻ nhỏ, M Briggs, A Hansen (2012) [112] khẳng định “Chơi xuất hiện một cách tự nhiên ở trẻ em và chúng thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của trẻ”.
Tác giả nhà NC Nguyễn Ánh Tuyết [69, tr.9] cho rằng: Chơi là HĐ không
nhằm vào một lợi ích thiết thực. Trong khi chơi các mối quan hệ của con người với TN & XH được mô phỏng lại, nó mang đến cho người chơi một trạng thái tinh thần vui vẻ, thoải mái, dễ chịu. Do đó, chơi thường được gọi là vui chơi.
Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa (2013) [113, tr.160] chơi của trẻ em không phải thật mà là giả vờ, nhưng sự giả vờ ấy lại mang tính chân thực. Trẻ chơi động cơ không phải ở KQ chơi, mà nằm trong hành động chơi, hành động chơi này sẽ kích thích và duy trì hứng thú chơi của trẻ.
Như vậy, luận án cho rằng: Chơi của trẻ 5 – 6 tuổi được hiểu là một hoạt động mang tính tự do, tự nguyện, phản ánh MQH giữa con người với tự nhiên và XH, đem lại trạng thái vui vẻ cho trẻ.
Khái niệm chơi được hiểu như sau: Chơi được xác định là HĐ chủ đạo và nhu cầu của trẻ 5-6 tuổi. Chơi xuất phát từ việc trẻ thích bắt chước những công việc và hành động của người lớn. Chơi giúp cho trẻ tái hiện cuộc sống xung quanh với một tâm trạng vui vẻ và hồn nhiên khi được đảm nhiệm các vai chơi. KQ quá trình chơi không chú trọng việc tạo ra sản phẩm mà chỉ đơn giản là được chơi một cách vui vẻ, vì thế chơi của độ tuổi này mang tính tự do và tự nguyện cao.
Đặc điểm chơi của trẻ 5-6 tuổi
Chơi là nhu cầu của mỗi đứa trẻ, là HĐ chủ đạo của trẻ lứa tuổi MG. HĐ chơi của trẻ giai đoạn này có nhiều đặc điểm thay đổi hơn so với độ tuổi trước.
Trước hết HĐ chơi của ở MG là HĐ không mang tính bắt buộc. Điều này thể hiện ở động cơ chơi của trẻ nằm ở quá trình trẻ chơi, hay nói cách khác đích đến của HĐ chơi không hướng đến mục đích tạo ra SP mà chỉ thỏa mãn nhu cầu chơi và sự hấp dẫn của trò chơi đối với trẻ. Tuy nhiên, đến 5-6 tuổi khi trẻ tham gia vào trò chơi động cơ chơi của trẻ đã có sự thay đổi so với các độ tuổi trước, động cơ chơi của trẻ lúc này đã thể hiện ở cả trong KQ chơi. Ví dụ: Trò chơi “Cửa hàng ăn uống” ở độ tuổi trước trẻ tham gia trò chơi chỉ với mục đích
được thực hiện các thao tác nấu ăn của bác đầu bếp thì đến giai đoạn 5-6 tuổi KQ chơi của trẻ là còn những món ăn theo yêu cầu của khách hàng. Mặt khác, trẻ 5-6 tuổi do sự phát triển của hành động ý chí ở trẻ đã tương đối bền vững vì vậy trẻ có biểu hiện nỗ lực, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ để đạt được KQ chơi.
Khác với các HĐ học tập và lao động HĐ chơi của trẻ 5-6 tuổi mang tính tự lập và tự điều khiển. Điều này thể hiện ở việc trẻ tự lựa chọn TC, ND chơi, bạn cùng chơi, trẻ tự thiết lập các mối quan hệ trong TC và tự rút khỏi TC khi không còn hứng thú mà không phụ thuộc vào người lớn. Trong quá trình chơi, trẻ đã biết phối hợp giữa các bạn trong nhóm chơi, giữa các nhóm để làm cho giờ chơi trở nên sôi nổi hơn, hứng thú hơn. Vì vậy, HĐ chơi của trẻ còn thể hiện tính sáng tạo và giàu cảm xúc.
Về ND chơi, vốn sống của trẻ 5-6 tuổi đã phong phú hơn chính vì thế ND chơi, hành động chơi, MQH trong khi chơi của trẻ rất đa dạng. Ví dụ: TC dạy học không chỉ có cô giáo và trẻ mà còn có thêm nhiều vai chơi như ông bà, cô, dì, bác bảo vệ… Như vậy, trẻ 5-6 tuổi ND chơi đa dạng, trẻ đã có khả năng phát triển nội dung, liên kết của các vai chơi, nhóm chơi.
Chơi của trẻ là sự mô phỏng những gì mà trẻ QS, điều đó cũng có nghĩa là hành động và thao tác chơi bắt nguồn từ những hành động thực tế trẻ quan sát được. Tuy nhiên, chơi ở trẻ 5 -6 tuổi mang tính chất ký hiệu – tượng trưng vì vậy hành động chơi xuất phát từ tình hình thực tế của đồ dùng đồ chơi và ngược lại. Như tác giả Đinh Văn Vang đã nhận định “Nhờ có tính ước lệ và khái quát của đồ chơi mà nó trở nên linh hoạt, năng động, phong phú về chức năng sử dụng vào các trò chơi” [70, tr.32].
Về phương tiện, nguyên vật liệu chơi của trẻ 5-6 tuổi đa dạng bao gồm đồ chơi có sẵn như lego, mảnh ghép hoặc đá sỏi, cành cây, lá cây, cát, nước… để chơi một mình hoặc chơi cùng nhau. Trẻ 5 – 6 tuổi đã biết lựa chọn đồ vật thay thế, ví dụ như khi lắp ghép thiếu khối chữ nhật trẻ sẽ thay thế bằng vỏ
bao thuốc lá. Ngoài ra trẻ còn sáng tạo ND chơi dựa trên đồ dùng nguyên vật liệu và đồ chơi sẵn có. Điều đó cũng thể hiện ở việc trẻ vận dụng sáng tạo KNVĐT để giải quyết các vấn đề phát sinh trong khi chơi có liên quan đến phương tiện, đồ chơi cần thiết với mỗi trò chơi của trẻ.
Tóm lại, chơi là hoạt động mang tính tự do, tự nguyện, phản ánh những MQH của trẻ với TGXQ. Trong quá trình chơi, trẻ là chủ thể của HĐ độc lập, tích cực, sáng tạo thiết lập các mối quan hệ, mở rộng ND chơi, thay thế đồ dùng đồ chơi. Như vậy, HĐ chơi tác động đến tất cả các mặt phát triển của trẻ, góp phần trong việc hình thành và phát triển nhân cách, chuẩn bị những điều kiện cần thiết về tâm lý, nhận thức, vận động cần thiết để trẻ tham gia HĐ học tập ở bậc học tiếp theo.
Ưu thế của chơi trong GD kĩ năng vận động tinh cho trẻ 5 -6 tuổi
Trong HĐ chơi, một trong những nguyên tắc để HĐ chơi diễn ra đúng nghĩa đó là không có sự áp đặt của người lớn – đó là tính tự do và tự điểu khiển. Tuy nhiên, người lớn khéo léo lồng ghép ND GD, biến nội dung GD thành ND của TC và chuẩn bị các điều kiện, phương tiện để đạt được mục đích GD đã đề ra. Với ý nghĩa đó, HĐ chơi được coi là phương tiện rất hiệu quả để GD trẻ nói chung và GD KNVĐT nói riêng.
Chơi đem lại cảm xúc vui vẻ, sử dụng HĐ chơi để GD KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi giúp trẻ tiếp thu kiến thức, thực hành KNVĐT một cách nhẹ nhàng và hứng thú. Chính cảm xúc tích cực của trẻ trong khi chơi là một trong những yếu tố giúp nâng cao hiệu quả của quá trình GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5 – 6 tuổi ở TMN.
Chơi ở trẻ em đa dạng với nhiều TC: TCĐVTCĐ; TC ghép hình, LGXD, TC đóng kịch; TC vận động; TC dân gian; Trò chơi với phương tiện công nghệ hiện đại [1]. Mỗi TC có những thao tác chơi khác nhau, vì vậy GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5 đến 6 tuổi sẽ tạo nên những điều kiện cần thiết để trẻ được thao tác sử dụng KNVĐT trong nhiều hoàn cảnh chơi. Trò chơi LGXD là TC
thể hiện rõ nét các thao tác KNVĐT, trong khi chơi trẻ sử dụng khả năng phối hợp tay và mắt, sự khéo léo của đôi bàn tay trẻ để lựa chọn các nguyên vật liệu như khối hình, mảnh ghép. Việc lặp lại nhiều lần các thao tác KNVĐT để tháo, lắp xoắn và vặn, xếp đặt các mảnh ghép, các khối hình có trong từng TC sẽ giúp cho đôi bàn tay của trẻ trở nên linh hoạt, thuần thục, khéo léo và linh hoạt hơn.
Chơi của trẻ 5-6 tuổi, ở TMN được tổ chức vào nhiều thời điểm trong ngày: Chơi tự do ở giờ đón trẻ, chơi và HĐ ở các góc, chơi ngoài trời, chơi HĐ theo ý thích của giờ HĐ chiều, chơi tự do trong giờ trả trẻ… Ngoài ra, GV còn lồng ghép TC, yếu tố chơi có mục đích GD KNVĐT vào nhiều HĐ khác của trẻ ở TMN. Chính sự lặp đi lặp lại KNVĐT vào nhiều thời điểm trong này sẽ giúp KNVĐT của trẻ được phát triển và nâng cao.
Ngoài ra trong quá trình chơi, trẻ tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, phối hợp, trao đổi để giải quyết nhiệm vụ chơi đây sẽ là cơ hội đẻ trẻ học hỏi lẫn nhau từ đó KNVĐT được điều chỉnh một cách kịp thời và chủ động.
Quá trình GD kĩ năng vận động tinh qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trườngMN
Khái niệm GD kĩ năng vận động tinh qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi
Luân
án GD hiểu là quá trình tác động, sư phạm có KH, có MĐ, ND, hình
thức, PP, phương tiện nhằm hình thành cho người học năng lực vận dụng kiến thức, kinh nghiệm vào các tình huống của cuộc sống một cách hiệu quả.
Từ khái niệm KNVĐT, khái niệm GD, luận án xác định khái niệm “GD KNĐT cho trẻ 5-6 tuổi” và “GD KNĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi” như sau:
GD KNVĐT cho trẻ 5.6 tuổi được hiểu là quá trình tác động của GV đến trẻ nhằm giúp trẻ thực hiện có KQ một hành động, trên cơ sở phối hợp thị giác
– VĐ, sự khéo léo và kiểm soát lực của đôi tay, sử dụng phối hợp hai tay và tốc độ của thao tác tay.
GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5. 6 tuổi là quá trình tác động sư phạm có MĐ, có KH của GV thông qua việc tổ chức HĐ chơi giúp trẻ vận dụng KNVĐT giải quyết nhiệm vụ chơi. Từ đó hình thành năng lực sử dụng hiệu quả KNVĐT trong những hoàn cảnh và điều kiện khác nhau.
Thao tác hóa khái niệm GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi cho thấy: Thứ nhất chơi được sử dụng là phương tiện để GD KNVĐT cho trẻ 5-6 tuổi.
Thứ hai trong quá trình chơi trẻ là chủ thể tích cực của quá trình hoạt động trẻ sử dụng phối hợp thị giác – VĐ, sự khéo léo của đôi bàn tay, sử dụng phối hợp hai tay, kiểm soát lực của bàn tay ngón tay và tốc độ của thao tác tay để giải quyết nhiệm vụ chơi.
Thứ ba kết quả của quá trình GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi là bên cạnh việc giải quyết nhiệm vụ chơi, KNVĐT của trẻ trở nên bền vững, trẻ có thể sử dụng thành thạo, linh hoạt KNVĐT vào các tình huống và hoàn cảnh chơi khác nhau.
* Biện pháp GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi
Theo Từ điển tiếng Việt, BP là “cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [85] là những tác động mang tính cụ thể lên một đối tượng nào đó để đạt được mục tiêu đã đề ra.
Như vậy, biện pháp GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6tuổi ở TMN được hiểu là cách làm cụ thể từ GV nhằm GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi. MĐ của BP là phát triển KNVĐT, giúp trẻ vận dụng KNVĐT vào cuộc sống. Để quá trình GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5 đến 6 tuổi ở TMN có hiệu quả, nhà GD cần nắm được các thành tố của quá trình GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5- 6 tuổi ở TMN, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này để có những tác động phù hợp.
Mục tiêu GD kĩ năng vận động tinh qua chơi cho trẻ 5.6 tuổi
Luận án XĐ mục tiêu GD KNVĐTcho trẻ 5-6 tuổi qua chơi ở TMN:
- Trẻ hiểu và nắm được các thao tác của KNVĐT.
- Rèn luyện, phát triển ở trẻ khả năng phối hợp thị giác – VĐ, sự khéo léo của đôi tay, sử dụng phối hợp hai tay, kiểm soát lực của bàn tay ngón tay và tốc độ của thao tác tay.
- Trẻ biết vận dụng những thao tác KNVĐT trong hoàn cảnh mới.
- Hỗ trợ trẻ trong các giai đoạn của hoạt động chuyển tiếp và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho trẻ vào lớp 1.
Nội dung GD KN vận động tinh qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi
Từ cấu trúc, đặc điểm của KNVĐT luận án xác định ND GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN như sau:
– Trẻ nắm được kĩ thuật thao tác của KNVĐT, biết lựa chọn và đưa ra cách thức hành động của thao tác KNVĐT phù hợp với nhiệm vụ chơi.
– Rèn cho trẻ khả năng: Phối hợp thị giác – VĐ, sự khéo léo của đôi tay, sử dụng phối hợp hai tay, kiểm soát lực của bàn tay ngón tay và tốc độ của thao tác tay.
– GD trẻ có thái độ tích cực, sẵn sàng tham gia chơi, kiên trì, nỗ lực vận dụng KNVĐT để giải quyết nhiệm vụ đã đề ra.
Phương pháp GD kĩ năng vận động tinh qua chơi cho trẻ 5.6 tuổi
- Nhóm PP trực quan: Chính xác cho trẻ các thao tác KNVĐT thông qua việc làm mẫu, sử dụng phương tiện TQ như tranh ảnh, video… Những đồ dùng này không chỉ để làm tăng hứng thú mà còn góp phần phát huy hiệu quả của quá trình GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở TMN.
- Nhóm PP dùng lời: GV dùng lời nói hướng dẫn, giải thích, thảo luận, khơi gợi trẻ suy nghĩ, chia sẻ bộc lộ ý tưởng vận dụng các thao tác KNVĐT để đạt được MĐ chơi. Từ đó, GV điều chỉnh chuẩn cho trẻ thao tác KNVĐT để trẻ vận dụng KNVĐT giải quyết nhiệm vụ chơi một cách hiệu quả. Ngoài ra, PP dùng lời còn sử dụng để khuyến khích, động viên, đánh giá KNVĐT của trẻ. Khi sử dụng PP dùng lời GV kết hợp với các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt để tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn trẻ khi nghe cô nói và sự thân thiện, gần gũi với trẻ.
- Nhóm PP thực hành, trải nghiệm: GV tổ chức HĐ chơi, sử dụng tình
huống chơi, tạo cơ hội để trẻ vận dụng KNVĐT trong các điều kiện chơi khác nhau.
Từ các PP nêu trên, căn cứ vào đặc điểm tình hình thực tế của nhóm lớp, căn cứ đặc điểm và khả năng của trẻ GV lựa chọn PP, biện pháp GD KNVĐT qua chơi cho trẻ 5 -6 tuổi phù hợp nội dung và mục tiêu đã đề ra.
Hình thức GD KN vận động tinh qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\ĐẠI HỌC SƯ PHẠM\Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi qua chơi tại các trường mầm non thuộc địa bàn Quận Hải Châu – TP Đà Nẵng\New folder/ Giáo dục kĩ năng vận động tinh qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN
Giáo dục kĩ năng vận động tinh qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN
Giáo dục kĩ năng vận động tinh qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN
Giáo dục kĩ năng vận động tinh qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN
Giáo dục kĩ năng vận động tinh qua chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN



