Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các Trường Trung học phổ thông tỉnh Phú Thọ theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
- Trong giai đoạn đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay, để đáp ứng một trong những yêu cầu đổi mới giáo dục “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành; lý luận gắn liền với thực hiện” việc đổi mới công tác quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học (CSVC và TBDH) trong các nhà trường theo hướng ứng dụng công thông tin (CNTT) đang trở thành xu hướng tất yếu.
- Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để có thể phát triển, mọi lĩnh vực KT-XH đều phải chú ý đến cơ sở hạ tầng. Đối với ngành giáo dục và đào tạo thì cơ sở hạ tầng đó chính là cơ sở vật chất và thiết bị dạy học của các trường học, bao gồm: Đất; nhà và công trình xây dựng; các máy móc, trang thiết bị phục vụ cho các hoạt động dạy – học và các tài sản cố định vô hình… Đó là những điều kiện quan trọng góp phần để bảo đảm chất lượng giáo dục của nhà trường bên cạnh các điều kiện bảo đảm khác như đội ngũ giáo viên, chương trình và nội dung tài liệu học tập.
- Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học là một trong những nội dung quan trọng của quản lý giáo dục và việc ứng dụng CNTT trong quản lý CSVC và TBDH sẽ giúp cho việc giải quyết các vấn đề nhanh chóng và hiệu quả hơn.
- Trong thời gian qua, CNTT đã được ngành giáo dục các cấp quan tâm đầu tư, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giảng dạy và học tập trong nhà trường. Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT trong quản lý trường học vẫn còn nhiều bất cập như: nhận thức của cán bộ, giáo viên chưa theo kịp với sự phát triển của CNTT và xã hội, cơ sở vật chất CNTT còn nghèo nàn, tin học hoá còn chiếm tỷ trọng thấp, phần mềm dạy học chưa được sử dụng thường xuyên, chưa có một hệ thống thông tin quản lý toàn ngành (trong đó có phần mềm quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học), trình độ CNTT của cán bộ còn yếu, đầu tư còn bất hợp lý…
- Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông của Bộ GD&ĐT cũng đã đánh giá: “CSVC và TBDH của nhiều trường học chưa đáp ứng được yêu cầu giáo dục toàn diện. Các trường có phòng thí nghiệm, thư viện, nhà tập thể dục thể thao chiếm tỉ lệ rất nhỏ. Thiết bị giáo dục vừa thiếu vừa lạc hậu, hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục rất thấp. Công tác quản lý thiết bị trường học còn yếu, số lượng cán bộ chuyên trách về thiết bị ít và thường là giáo viên kiêm nhiệm nên không phát huy được hiệu quả sử dụng thiết bị ở các cơ sở trường học” [7, tr.25].
- Trong khi đó, việc quản lý CSVC và TBDH của các trường học chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều tiểu học trên địa bàn tỉnh Phú Thọ việc quản lý CSVC và TBDH được thực hiện bằng sổ sách ghi chép, tổng hợp dẫn đến khó khăn trong việc lưu giữ, tìm kiếm, phân tích, tổng hợp dữ liệu về CSVC và TBDH phục vụ cho hoạt động giáo dục và các lĩnh vực liên quan. Công tác bảo quản, bảo trì còn bị coi nhẹ, dẫn đến tình trạng CSVC và TBDH xuống cấp nhanh chóng. Việc ứng dụng CNTT trong quản lý CSVC và TBDH của ngành giáo dục tỉnh Phú Thọ nói chung, trong đó có các tiểu học nói riêng còn nhiều bất cập, hạn chế, làm ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục.
- Với mong muốn khắc phục những bất cập trong quản lý CSVC và TBDH để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các tiểu học trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các Trường Trung học phổ thông tỉnh Phú Thọ theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin” làm luận văn tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý giáo dục, quản lý cơ sở vật chất
– thiết bị dạy học và thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý cơ sở vật chất – thiết bị dạy học ở các Trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Phú Thọ để đề xuất các giải pháp quản lý cơ sở vật chất – thiết bị
dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các Trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Phú Thọ theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục của các tiểu học trên địa bàn tỉnh.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở các tiểu học.
Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở các Trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Phú Thọ theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin.
Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian nghiên cứu và trong khuôn khổ luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý CSVC, TBDH ở các tiểu học trên địa bàn tỉnh Phú Thọ theo hướng ứng dụng CNTT.
Việc khảo sát thực trạng được thực hiện ở 9 trường sau đây: THPT Việt Trì, THPT KT Việt Trì, THPT Hùng Vương (ở địa bàn thành phố, thị xã); THPT Phong Châu, THPT Phù Ninh, THPT Lâm Thao (ở vùng đồng bằng); THPT Minh Đài, THPT Yên Lập, THPT Hương Cần (ở vùng miền núi khó khăn); Thông quá việc nghiên cứu hồ sơ quản lý, trao đổi, xin ý kiến của 200 người (cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học và học sinh) của các trường này.
Giả thuyết khoa học
Ứng dụng CNTT trong quản lý nhà trường nói chung và trong quản lý CSVC và TBDH là một xu thế phổ biến, cần thiết trong điều kiện hiện nay. Trong những năm qua, việc quản lý CSVC và TBDH ở các tiểu học trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã đạt được một số kết quả. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý CSVC và TBDH chưa nhiều; trong các nội dung đã thực hiện còn những hạn chế nhất định. Nếu đề xuất được các giải
pháp quản lý CSVC và TBDH theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin một cách có hệ thống và phù hợp thực tiễn, tập trung khắc phục các bất cập thì sẽ quản lý tốt cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý CSVC và TBDH ở các tiểu học theo hướng ứng dụng CNTT;
- Khảo sát thực trạng quản lý CSVC và TBDH ở các tiểu học trên địa bàn tỉnh Phú Thọ theo hướng ứng dụng CNTT;
- Đề xuất các giải pháp quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở các Trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Phú Thọ theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, đọc, nghiên cứu, phân tích, khái quát hóa, tổng hợp hóa các tài liêu khoa học có liên quan đến quản lý trường học, quản lý CSVC và TBDH nhằm xây dựng hoặc chuẩn hóa các khái niệm, các thuật ngữ; xác định cơ sở lý luận trong quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học trong các tiểu học theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
– Phương pháp quan sát, nghiên cứu sản phẩm hoạt động:
Người nghiên cứu tiếp cận và xem xét hoạt động quản lý của đội ngũ CBQL tiểu học trên địa bàn. Mục đích chính của việc sử dụng phương pháp này là tìm hiểu về thực trạng chất lượng các mặt hoạt động quản lý theo chức năng và nhiệm vụ của CBQL tiểu học; đồng thời nhờ phương pháp này, người nghiên cứu có thể khẳng định thực trạng việc quản lý CSVC và TBDH ở tiểu học tỉnh Phú Thọ theo hướng ứng dụng CNTT.
– Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Bằng việc xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra theo những nguyên tắc và nội dung chủ định của người nghiên cứu; phương pháp này được sử dụng với mục đích chủ yếu là thu thập các số liệu nhằm xác định các minh chứng về thực trạng quản lý CSVC và TBDH ở tiểu học tỉnh Phú Thọ theo hướng ứng dụng CNTT.
– Phương pháp chuyên gia
Bằng việc soạn thảo hệ thống các câu hỏi gửi tới các chuyên gia (các CBQL tiểu học; Lãnh đạo, chuyên viên Phòng giáo dục trung học, Sở GD&ĐT; cán bộ quản lý và chuyên viên làm công tác CNTT của Sở GD&ĐT và lãnh đạo của Sở GD&ĐT,…) để xin ý kiến của các chuyên gia về tính hợp lý và khả thi của các giải pháp quản lý được đề xuất.
Phương pháp thống kê toán học
Bằng việc sử dụng một số thuật toán thống kê toán học áp dụng trong nghiên cứu giáo dục; phương pháp này được sử dụng với mục đích xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, làm cơ sở cho việc đưa ra các nhận định về thực trạng hay đề xuất việc quản lý CSVC và TBDH thuộc phạm vi nghiên cứu.
Những đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần cụ thể hóa một số vấn đề lý luận về khoa học giáo dục, quản lý giáo dục và quản lý CSVC và TBDH trong trường phổ thông, quản lý CSVC và TBDH theo hướng ứng dụng CNTT.
Khảo sát một cách có hệ thống để đánh giá tổng quan về thực trạng quản lý CSVC và TBDH ở các tiểu học trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, khẳng định những kết quả đạt được, nhận diện cụ thể những bất cập, theo đó đề xuất một số giải pháp quản lý CSVC và TBDH theo hướng ứng dụng CNTT, nhằm quản lý và khai thác tốt CSVC và TBDH góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục theo yều cầu đổi mới giáo dục ở các tiểu học giai đoạn hiện nay.
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho CBQL các tiểu học trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà trường; các giải pháp được đề xuất trong luận văn có thể vận dụng ở những trường phổ thông có điều kiện tương tự.
Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý CSVC và TBDH trong trường trung học phổ thông.
Chương 2: Thực trạng việc quản lý CSVC và TBDH ở các tiểu học tỉnh Phú Thọ theo hướng ứng dụng CNTT.
Chương 3: Các giải pháp quản lý CSVC và TBDH đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các tiểu học tỉnh Phú Thọ theo hướng ứng dụng CNTT.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
Cơ sở vật chất và TBDH
Theo tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn đã viết: “CSVC và TBDH là những hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ thuật khác nhau được sử dụng để phục vụ việc giáo dục và đào tạo toàn diện HS trong nhà trường. Đó là những đồ vật, những của cải vật chất và khung cảnh tự nhiên xung quanh nhà trường” [11].
Hệ thống CSVC và TBDH trong nhà trường đó là các khối công trình, nhà cửa, sân chơi, thư viện, dụng cụ thí nghiệm, bản đồ, tranh ảnh và các trang thiết bị khác… được trang bị riêng cho nhà trường, và chia làm 3 bộ phận: trường sở, TBGD và thư viện do nhà trường trực tiếp quản lý và sử dụng.
- Trường sở: Là nơi tiến hành dạy học và giáo dục. Đó là những tòa nhà, sân chơi, vườn trường… và quang cảnh tự nhiên bao quanh trường. Là một trong ba bộ phận quan trọng hình thành nên CSVC và TBDH của trường học, bao gồm các khối, khu công trình: Khối phòng học, phòng học bộ môn; khối phục vụ học tập;khối phòng hành chính; khu sân chơi bãi tập; khu vệ sinh; khu để xe,…
- Thiết bị dạy học:bao gồm các thiết bị dùng chung, các thiết bị trực quan, thực nghiệm và các thiết bị kỹ thuật (Các phương tiện nghe nhìn). Thiết bị dạy học các bộ môn được sử dụng thường xuyên nhất, chúng trực tiếp tham gia vào quá trình giảng dạy và học tập, gắn liền với nội dung và phương pháp trong từng tiết học. Các thiết bị giảng dạy và học tập tại lớp, thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị thể dục thể thao, thiết bị nhạc – họa và các thiết bị khác trong xưởng trường, vườn trường, phòng truyền thống,… nhằm đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.
- Thư viện: Sách báo,sách giáo khoa và sách tham khảo là thành phần chính của thư viện trường học, đó là sách được Bộ giáo dục và Đào tạo cho phép sử dụng trong trường học, phòng đọc và cho mượn, kho sách, là loại CSVC trọng yếu, cung cấp tài liệu, thông tin cần thiết phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu của GV, HS trong nhà trường,là nguồn tri thức quan trọng của học sinh và giáo viên.
Như vậy có thể quan niệm CSVC và TBDH là tất cả các phương tiện vật chất được huy động vào việc giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính giáo dục khác để đạt được mục đích giáo dục.
Quản lý
Đã có nhiều tác giả đưa ra khái niệm quản lý theo những cách tiếp cận với các góc độ khác nhau:
- Theo Frederick Winslow Taylor (1856 -1915) cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [20, tr.89]. Đây cũng là tư tưởng cơ bản của ông về quản lý và ông đã đề xuất thuyết quản lý khoa học dựa trên các luận điểm về chuyên môn hoá lao động, xây dựng tiêu chuẩn định mức trong lao động để làm cơ sở cho tuyển chọn, huấn luyện, phân công lao động; thực hiện chế độ trả lương theo sản.
- Theo Henry Fayol (1841-1925), là cha đẻ của thuyết quản lý hành chính quan niệm rằng: “Quản lý hành chính là dự báo và lập kế hoạch, tổ chức và điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [20, tr.103]. Trong học thuyết quản lý của mình, ông đưa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý:
- Dự báo và lập kế hoạch.
- Tổ chức thực hiện.
- Điều khiển.
- Phối hợp.
- Kiểm tra.
- Theo Mary Parker Pollet (1868-1933) cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác”. Tư tưởng quản lý của Follet gồm một số điểm dựa trên việc giải quyết mối quan hệ con người không phải bằng áp chế, thỏa hiệp mà bằng sự thống nhất. Các tư tưởng của Bà mở ra hướng tiếp cận và khai phá một số nội dung của thuyết quan hệ con người. Follet cho rằng, trong công việc quản lý, cần chú trọng tới những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, bao gồm cả yếu tố kinh tế, tinh thần và tình cảm. Con người luôn gắn liền với nhau trong một tổ chức nhất định mà sự hòa hợp, thống nhất giữa họ sẽ tạo ra nền tảng của các tổ chức và trở thành động lực cho tổ chức phát triển và đó cũng là thực chất của quản lý [20, tr.112].
- Theo Harold Koontz, được coi là cha đẻ của lý luận quản lý hiện đại, đã viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi tập thể là phải đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [20, tr.115].
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song đều nhấn mạnh đến sự tác động, phối hợp các thành viên trong tổ chức trong thực hiện các công việc chung để đạt được mục tiêu đã định. Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm Quản lý theo nghĩa hiểu là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã đề ra.
Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
- Quản lý giáo dục
Các nhà lý luận về quản lý giáo dục Liên Xô (cũ) đã đưa ra một số định nghĩa về quản lý giáo dục, cụ thể như M.M.Mechti Zađe cho rằng: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính, cung tiêu…) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng” [24, tr.34].
Theo tác giả Nguyễn Thị Tính, trong cuốn Lý luận chung về quản lý và quản lý giáo dục đã viết: “Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục, nhằm bảo đảm hệ thống giáo dục vận hành, phát triển, thực hiện mục tiêu giáo dục” [21, tr.23].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi
người. Cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [4, tr.30].
Từ ý kiến, của các nhà khoa học quản lý trên, có thể quan niệm quản lý giáo dục là: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có hướng đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm vận hành, phát triển quy mô, số lượng và nâng cao chất lượng để thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hoàn thiện nhân cách công dân.
- Quản lý nhà trường
Nhà trường là bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà trường là nơi tổ chức thực hiện quá trình giáo dục. Quá trình này được thực hiện bởi hai chủ thể, người được giáo dục (người học) và người giáo dục (người dạy). Trong quá trình giáo dục, hoạt động của người học và hoạt động của người dạy luôn gắn bó tương tác hỗ trợ nhau tựa vào nhau để thực hiện mục tiêu giáo dục theo yêu cầu xã hội.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thệ hệ trẻ và từng học sinh” [25].
Theo tác giả Nguyễn Thị Tính: “Quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường giúp cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện mục tiêu, tính chất của nhà trường Việt Nam đó là hình thành phát triển nhân cách người học theo yêu cầu xã hội” [21, tr.23-24].
Như vậy quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của hiệu trưởng đến con người (giáo viên, cán bộ, nhân viên, học sinh) để khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (CSVC, TBDH, tài chính, thông tin…) nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục, tiến tới mục tiêu giáo dục hợp với quy luật.
Quản lý CSVC và TBDH
Quản lý CSVC, TBDH là một trong những nhiệm vụ của cán bộ quản lý trường học. Trong luận văn này,quản lý CSVC và TBDH được hiểu là sự tác động có mục đích của người quản lý nhằm xây dựng, phát triển và sử dụng có hiệu quả hệ thống CSVC và TBDH phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục và làm cho CSVC và TBDH trở thành công cụ, phương tiện góp phần thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”.
Khái niệm CSVC và TBDH mở rộng đến đâu thì tầm quản lý cũng phải rộng và sâu tương ứng, kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ ra rằng: CSVC và TBDH chỉ phát huy tác dụng tốt trong quá trình giáo dụckhi được quản lý tốt. Do đó đi đôi với việc đầu tư trang thiết bị, phải chú trọng hơn đến việc tổ chức sử dụng CSVC và TBDH trong nhà trường. Do CSVC và TBDH là một lĩnh vực vừa mang đặc tính kinh tế – giáo dục vừa mang đặc tính khoa học – giáo dục nên việc quản lý phải khoa học, tuân thủ các yêu cầu chung về quản lý kinh tế, quản lý giáo dục.
Người quản lý cần nắm vững cơ sở lý luận và thực tiễn về lĩnh vực quản lý, các chức năng và nội dung quản lý, biết phân lập và phối hợp các nội dung quản lý, các mặt quản lý (trường sở, sách – thư viện, thiết bị dạy học), hiểu rõ đòi hỏi của chương trình giáo dục và điều kiện vật chất cần thiết để thực hiện chương trình, có ý tưởng đổi mới và thực hiện ý tưởng bằng một kế hoạch khả thi, có giải pháp tập trung tiềm năng vật chất vào một hướng thống nhất và đảm bảo CSVC và TBDH để nâng cao chất lượng giáo dục.
Ứng dụng CNTT trong quản lý
- CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông, nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. CNTT phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế – xã hội khác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. CNTT được phát
triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ Điện tử – Tin học – Viễn thông và tự động hóa.
- Khái niệm về ứng dụng CNTT trong quản lý: Là việc sử dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý của người quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động này.
Cơ sở vật chất và thiết bị trong trường học
Hệ thống cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
Hệ thống cơ sở vật chất và thiết bị dạy học bao gồm: Trường sở; sách và thư viện; thiết bị dạy học;…
Trường sở là nơi thực hiện việc giáo dục, dạy học. Do đòi hỏi của quá trình phát triển giáo dục, đặc biệt là do yêu cầu của việc thực hiện các phương pháp dạy học, trường học cũng có những thay đổi nhất định để phù hợp. Môi trường xung quanh trường học không tác động xấu đến việc giảng dạy, học tập và sự an toàn của giáo viên, học sinh.
Sách và thư viện là loại cơ sở vật chất đặt biệt, là phương tiện cần thiết phục vụ cho việc học tập và giảng dạy trong nhà trường, đồng thời là nguồn tri thức quan trọng của giáo viên và học sinh.
TBDH bao gồm các thiết bị dùng chung, thiết bị dạy học tối thiểu theo từng cấp học, thiết bị phòng học bộ môn, các thiết bị trực quan, thực nghiệm và các thiết bị kỹ thuật, các phương tiện nghe – nhìn. Các thiết bị dạy học được sử dụng thường xuyên và trực tiếp tham gia vào quá trình giảng dạy và học tập, gắn liền với nội dung và phương pháp. Số lượng và chất lượng của thiết bị dạy học bộ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của học sinh.
Các phương tiện nghe – nhìn như: Máy chiếu bản trong, máy chiếu dương bản, máy chiếu trực tiếp, máy chiếu vật thể, máy chiếu phim, video, máy tính nối mạng Internet,… đã trở nên phổ biến trên thị trường và đã có mặt trong các trường học, cơ quan. Các phương tiện kỹ thuật này với ưu thế về mặt sư phạm góp phần rất lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường. Nhờ có các phương tiện kỹ thuật, một lượng thông tin lớn của bài học có thể được hình ảnh hóa, mô hình hóa, trực quan hóa, phóng to, thu nhỏ, làm nhanh hơn hay chậm lại đem lại cho người học một không gian học tập mang tính mục đích và hiệu quả cao.
Sự phát triển nhanh chóng CSVC và TBDH đã và đang tạo ra tiềm năng sư phạm to lớn cho quá trình dạy học và việc ứng dụng có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại đã đem lại chất lượng mới cho các phương pháp dạy học.
Hệ thống CSVC- TBDH trong nhà trường có thể tóm tắt theo sơ đồ sau:
Cơ sở vật chất
Thiết bị dạy và học
Trường sở
Đồ gỗ
Thiết bị chung
SGK và các TL học tập
Các phương tiện kỹ thuật DH
Các
PTTN và LĐSX
Các PT và
TL trực quan
Khu học tập
Khu LĐTH, Khu TDTT,
Khu PVụ HT, Khu PVụ SH,
Khu sân chơi bãi tập, ruộng…
Bàn,
Ghế, Bục, Tủ, Giá,
Bảng…
.
Micro,
Ampli, Loa PT, Trống, Trường, T.bị VP,
T.bị điện, T.bị nước,
Các tài
liệu học tập cho HS
Phương
tiện Nghe nhìn
Phương
tiện Nghe nhìn
Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
| Máy móc | Dụng cụ | Hoá chất | Mô hình | Tranh ảnh | Bản đồ | Mẫu vật | Phim | Phim đèn chiếu | Bản trong | Băng đĩa ghi âm | Đĩa mềm vi tính | Máy chiếu phim | Máy chiếu đa năng | Máy đèn chiếu | Máy chiếu qua đầu | Máy ghi âm | Máy thu hình | Máy vi tính | Máy chiếu hình | Máy thu thanh | Máy kiểm tra | Máy dạy học |
Hình 1.1. Sơ đồ hệ thống CSVC và TBDH
Có thể thấy CSVC, TBDH là một hệ thống đa dạng về chủng loại và có một số bộ phận tương đối và phức tạp về mặt kỹ thuật. Tính đa dạng và phong phú của hệ thống tạo ra không ít trở ngại trong quản lý và sử dụng.
Vai trò, chức năng của CSVC và TBDH trong trường học
- Vai trò của CSVC và TBDH trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục – đào tạo
CSVC và TBDH là thành tố cơ bản trong cấu trúc của quá trình giáo dục
- dạy học. Thành tố này có vai trò, tầm quan trọng như các thành tố nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, lực lượng giáo dục – dạy học và môi trường. Mối quan hệ giữa các thành tố cấu thành của quá trình dạy học trong đó CSVC và TBDH là thành tố không thể tách rời. Như vậy, CSVC và TBDH là bộ phận của nội dung, phương pháp, chúng có thể vừa là phương tiện để nhận thức, vừa là đối tượng chứa nội dung cần nhận thức.
Là nhân tố minh chứng khách quan cho việc xây dựng các lý luận và áp dụng lý luận vào thực tiễn.
Là phương tiện giúp cho nhận thức của người học được thực hiện đúng luật: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và tư duy trừu tượng đến thực tiễn.
Là điều kiện cần thiết mang tính thiết yếu để các lực lượng giáo dục trong nhà trường trong đó chủ yếu là người dạy và người học thực hiện được các nhiệm vụ và chức năng của họ.
CSVC và TBDH đầy đủ, đúng quy cách sẽ tổ chức được các hình thức dạy học, giáo dục đa dạng, linh hoạt, như: dạy trong lớp, ngoài lớp, trên hiện trường gắn với thực tiễn, dạy học sinh nghiên cứu,…
CSVC và TBDH là kết nối các hoạt động trong nhà trường với nhau và kết nối các hoạt động của trường và các cơ quan hữu quan.
- Chức năng của cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
* Chức năng thông tin:
- Nhận biết thông tin giáo dục – dạy học: CSVC và TBDH là phương tiện nhận biết những thông tin về chế định giáo dục và đào tạo, mục đích, nội dung,
chương trình, kế hoạch; giáo dục – dạy học; mặt khác nhờ có nó mà người học nhận biết các thông tin chứa đựng trong nội dung dạy học (thông tin dạy học).
- Nhờ có CSVC và TBDH mà các thông tin giáo dục – dạy học trong nội dung dạy học được người học nhận biết, chọn lọc, sắp xếp chính xác và logic.
- Chuyển tải thông tin giáo dục – dạy học, thể hiện ở hai mặt: (i) Nhờ có CSVC và TBDH mà người dạy truyền tải được nội dung giáo dục có kết quả tốt nhất. (ii) Mặt khác một số CSVC và TBDH lại chính là phương tiện chuyển tải các thông tin quản lý của trường (trong nội bộ nhà trường và giữa nhà trường với ngoài nhà trường).
- Chức năng phục vụ các hoạt động giáo dục – dạy học:
- Phục vụ trực tiếp việc thực hiện con đường giáo dục cơ bản nhất (hoạt động dạy học) nhằm thực hiện mục đích tổng thể.
Phục vụ các lực lượng giáo dục – dạy học, thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình (tiếp xúc thực tế, đi lại, tinh thần vật chất và thực hiện những con đường giáo dục khác).
- Chức năng giáo dục:
- CSVS và TBDH chính là một bộ phận cấu thành cơ sở giáo dục (trường học) cho nên nó đã tự mang theo chức năng giáo dục.
- CSVS và TBDH tiên tiến có tác dụng giáo dục gián tiếp người học không những về mặt khoa học mà còn cả về thẩm mỹ, tình cảm với nhà trường.
Tính chất của CSVC và TBDH
- Tính đa dạng phức tạp: Thể hiện ở mặt CSVC và TBDH có nhiều loại hình, nhiều vật thể và thể hiện ở nhiều hoạt động khác nhau,…
- Tính thường trực và liên tục: Thể hiện ở chỗ CSVC và TBDH có mặt thường xuyên trong trường để phục vụ quá trình giáo dục – dạy học, nó tồn tại lâu dài trong trường học.
- Tính khoa học: Thể hiện ở chỗ CSVC và TBDH đã chứa đựng trong nó những tri thức lý luận và thực tiễn; mặt khác nó là một trong những điều kiện tất yếu để tìm ra chân lý, các luật tự nhiên và xã hội.
- Tính tiêu chuẩn: CSVC và TBDH được thiết kế, thi công và sản xuất theo chuẩn phù hợp với tính sư phạm và các chuẩn đó thường xuyên được nâng cao để thích ứng với các giai đoạn phát triển giáo dục nhằm chuẩn hóa các hoạt động của nhà trường.
- Tính hiệu quả giáo dục và hiệu quả kinh tế: CSVC và TBDH giúp nâng cao mức độ kết quả quá trình giáo dục nói chung và dạy học nói riêng; khi sử dụng đúng mục đích, tận dụng công suất của mỗi loại CSVC và TBDH sẽ mang lại hiệu quả giáo dục và hiệu quả kinh tế trong hoạt động giáo dục – dạy học.
Yêu cầu về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở tiểu học
Theo Thông tư 42/2012/TT-BGD&ĐT ngày 23/11/2012 của Bộ GD&ĐT Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông; Thông tư số 47/2012/TT- BGD&ĐT ngày 07/12/2012 Quy chế công nhận trường trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quy định về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học đối với tiểu học như sau [26]:
- Khuôn viên nhà trường được xây dựng riêng biệt, có tường rào, cổng trường, biển trường theo quy định Điều lệ trường trung học; các khu vực trong nhà trường được bố trí hợp lý, luôn sạch, đẹp. Đủ diện tích sử dụng để đảm bảo tổ chức các hoạt động quản lý, dạy học và sinh hoạt. (Các trường nội thành, nội thị có diện tích sử dụng ít nhất từ 6m2/học sinh; Các trường khu vực nông thôn có diện tích sử dụng ít nhất từ 10m2/học sinh);
- Sân chơi, bãi tập: Có diện tích ít nhất bằng 25% tổng diện tích sử dụng của trường, khu sân chơi có hoa, cây bóng mát và đảm bảo vệ sinh; khu bãi tập có đủ thiết bị luyện tập thể dục thể thao và đảm bảo an toàn.
- Có đầy đủ cơ sở vật chất theo quy định hiện hành của Điều lệ trường trung học, cụ thể:
+ Phòng học, bàn ghế cho giáo viên, học sinh: Có đủ số phòng học cho mỗi lớp học (không quá 2 ca mỗi ngày); diện tích phòng học, bàn ghế học sinh, bàn ghế giáo viên, bảng đúng quy cách; phòng học thoáng mát, đủ ánh sáng, an toàn.
+ Phòng học bộ môn: Có các phòng học bộ môn đạt tiêu chuẩn theo quy định hiện hành (diện tích làm việc tối thiểu cho một học sinh là 2,00 m2, đối với môn Vật lí, Hoá học, Sinh học và Công nghệ phải có phòng chuẩn bị với diện tích từ 12 m2 đến 27 m2 mỗi phòng và được bố trí liền kề, liên thông với phòng học bộ môn); phòng thiết bị dạy học, phòng thí nghiệm với đầy đủ trang thiết bị dạy học.
+ Khối phòng, trang thiết bị văn phòng phục vụ công tác quản lý, dạy và học: Có phòng làm việc của Hiệu trưởng, phòng làm việc của từng phó Hiệu trưởng, văn phòng nhà trường, phòng họp hội đồng giáo dục nhà trường, phòng họp từng tổ bộ môn; phòng truyền thống, phòng làm việc của Công đoàn, phòng hoạt động của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, phòng thường trực, kho; có các loại máy văn phòng (máy tính, máy in) phục vụ công tác quản
lý và giảng dạy, máy tính nối mạng internet phuc̣ đáp ứ ng yêu cầu.
vu ̣ các hoaṭ
đôṇ g giáo duc̣
+ Phòng y tế: Có trang thiết bị y tế tối thiểu và tủ thuốc với các loại thuốc
thiết yếu theo quy định;
+ Thư viện: Đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, hoc̣
tập củ a cán bộ, giáo viên,
nhân viên và hoc̣
sinh. Thư viện đạt tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông theo
quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; được bổ sung sách, báo và tài liêụ
tham
khảo hằng năm; Hoạt động của thư viện đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, dạy học của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh;
+ Khu vệ sinh được bố trí hợp lý, riêng cho giáo viên, học sinh nam, học sinh nữ, không làm ô nhiễm môi trường ở trong và ngoài nhà trường;
+ Có khu để xe cho giáo viên, cho từng khối lớp hoặc từng lớp trong khuôn viên nhà trường, đảm bảo trật tự, an toàn;
+ Có đủ nước sạch cho các hoạt động dạy học, nước sử dụng cho giáo viên, học sinh; có hệ thống thoát nước hợp vệ sinh;
+ Có hệ thống công nghệ thông tin kết nối internet đáp ứng yêu cầu quản lý và dạy học; có Website thông tin trên mạng internet hoạt động thường xuyên, hỗ trợ có hiệu quả cho công tác dạy học và quản lý nhà trường.
– Phải có thiết bi ̣daỵ
hoc, đồ dùng dạy học tối thiểu phục vụ giảng dạy và
học tập; Việc sử duṇ g thiết bi ̣dạy học trong các giờ lên lớ p và tư ̣ làm một số đồ
dù ng daỵ
hoc̣
của giáo viên đảm bảo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Quản lý CSVC và TBDH trong trường phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Yêu cầu quản lý CSVC và TBDH đáp ứng đổi mới giáo dục
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục thì trước tiên đổi mới công tác quản lý giáo dục, đào tạo; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng. Trong đó đối với quản lý CSVC và TBDH được nhấn mạnh:
- Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội;
- Nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo, tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học; có chính sách hỗ trợ để có mặt bằng xây dựng trường.
- Từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin.
- Đứng về mặt nội dung và phương pháp dạy học thì CSVC và TBDH đóng vai trò hỗ trợ tích cực cho các hoạt động giáo dục, vì có CSVC và TBDH tốt thì mới có thể tổ chức được quá trình dạy học khoa học, đưa người học tham gia thực sự vào quá trình này, tự khai thác và tiếp nhận tri thức dưới sự hướng dẫn của người dạy. Do đó phải đầu tư CSVC và TBDH đủ và phù hợp với nội dung, chương trình đổi mới giáo dục mới triển khai được các phương pháp dạy học một cách hiệu quả.
Quản lý CSCV và TBDH là một nội dung quan trọng của quản lý giáo dục, để thực hiện mục tiêu đổi mới công tác quản lý giáo dục có chất lượng hiệu quả, người quản lý phải tìm ra và sử dụng nhiều phương pháp khác nhau cho mục đích này và theo đó việc quản lý CSVC và TBDH trong các nhà trường cũng phải đổi mới để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Nội dung quản lý CSVC, TBDH
Quản lý và sử dụng CSVC và TBDH thực chất là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá việc quản lý và sử dụng CSVC và TBDH nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả sử dụng của chúng. Để làm được việc đó thì CBQL phải thực hiện những nội dung sau:
- Tuyên truyền, giáo dục mọi bộ phận, mọi thành viên trong nhà trường nắm vững các yêu cầu chuẩn về CSVC và TBDH của trường học, đồng thời nhận thức đúng và sâu sắc về việc khai thác, sử dụng và bảo quản CSVC và TBDH hiện có tại trường.
- Lập kế hoạch xây dựng, khai thác, sử dụng CSVC và TBDH, trong đó bao gồm các công việc:
- Triển khai thực hiện rà soát, tổng hợp, đánh giá hiện trạng CSVC và TBDH;
- Lập kế hoạch đầu tư bổ sung, nâng cấp CSVC và TBDH: Để nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC và TBDH phải tiến hành đầu tư xây dựng đúng hay lựa chọn CSVC và TBDH phải phù hợp với mục tiêu giáo dục của nhà trường, đồng thời đáp ứng được yêu cầu chuẩn hóa và hiện đại hóa.Phải có kế hoạch lâu dài, kế hoạch hàng năm về xây dựng, cải tạo, mua sắm CSVC và TBDH; kế hoạch huy động các nguồn lực để tăng cường kinh phí cho xây dựng CSVC và THDH đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục;
- Lập kế hoạch bảo trì, bảo dưỡng, tu sửa TBDH;
- Chỉ đạo giáo viên lập kế hoạch sử dụng TBDH theo môn học phù hợp với chuong trình giáo dục và yêu cầu phát triển năng lực học sinh.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch xây dựng, khai thác sử dụng CSVC, TBDH , thông qua các hoạt động cụ thể như:
- Phát triển bộ máy tổ chức và nguồn nhân lực (thiết lập bộ máy quản lý, nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ cho đội ngũ) và điều hành có hiệu quả đội ngũ nhân lực tham gia quản lý, xây dựng, mua sắm, trang bị, sửa chữa và bảo quản CSVC và THDH theo hướng chuẩn hóa hiện đại hóa từng nhà trường.
- Xây dựng và ban hành các qui định về qui trình sử dụng, bảo quản CSVC, TBDHđể đảm bảo sử dụng hiệu quả CSVC, TBDH phục vụ hoạt động giáo dục một cách tốt nhất, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng dạy họcgiáo dục; ban hành định mức tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá về sử dụng và bảo quản CSVC và TBDH làm tiêu chuẩn thi đua để đánh giá CB và GV.
Trong các qui định và tổ chức thực hiện phải đảm bảo đúng các qui định về chế độ quản lý tài sản của Nhà nước theo quy chế quản lý tài sản, mua sắm tài sản theo quy định tài chính.
- Chỉ đạo khai thác, sử dụng TBDH: Thông qua tổ chuyên môn đôn đốc, hướng dẫn GV đăng ký sử dụng TBDH trong quá trình dạy học, giáo dục.
Chỉ đạo thực hiện bảo trì, bảo dưỡng, tu sửa CSVC và TBDH đáp ứng yêu cầu dạy học giáo dục. Đối với quản lý CSVC, TBDH phải thực hiện tốt chế độ kiểm tra, kiểm kê hàng năm. Bảo quản theo chế độ kỹ thuật đối với dụng cụ, vật tư khoa học kỹ thuật máy móc, phương tiện thiết bị bao gồm: Bảo dưỡng thường xuyên, bảo dưỡng đột xuất, bảo dưỡng định kỳ theo đúng quy trình của nhà chế tạo và có kinh phí cho công tác bảo dưỡng.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá và rút kinh nghiệm trong việc quản lý và sử dụng CSVC theo các mục tiêu đã đề ra. Tập trung vào:
- Xây dựng chuẩn kiểm tra để thực hiện.
- Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn.
- Điều chỉnh hoạt động (khi thấy có sự chênh lệch) hoặc trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh mục tiêu.
Như vậy, hoạt động quản lý CSVC và TBDH đối với một tiểu học phải thực hiện những nội dung cơ bản là lập kế hoạch xây dựng, khai thác, sử dụng CSVC, TBDH; tổ chức và chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch; kiểm kê, bảo trì, bảo dưỡng CSVC, TBDH thường xuyên; kiểm tra đánh giá việc thực hiện theo các mục tiêu đã đề ra.
Quản lý CSVC và TBDH theo hướng ứng dụng CNTT
Quản lý CSVC và TBDH theo hướng ứng dụng CNTT
Quản lý CSVC và TBDH theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin: Ngoài việc sử dụng công nghệ thông tin (Phần mềm quản lý máy tính, máy chiếu, máy in, mạng internet,…) vào hoạt động quản lý CSVC thì trong các khâu của quản lý CSVC và TBDH đều hướng tới việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và dạy học trong các nhà trường như:
- Nâng cao nhận thức, trình độ cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về nhiệm vụ, hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong quản lý.
- Xây dựng kế hoạch mua sắm, TBDH chú trọng mua sắm thiết bị ứng dụng CNTT trong dạy học như: máy tính, máy chiếu, máy in, các thiết bị hỗ trợ mạng internet, phần mềm quản lý, phần mềm dạy học (thí nghiệm ảo, thí nghiệm biểu diễn).
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá trong việc quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học sử dụng CNTT để thực hiện.
Như vậy theo tác giả, quản lý CSVC và TBDH theo hướng ứng dụng CNTT chính là quá trình chủ thể quản lý (CBQL, GV, NV) sử dụng CNTT thực hiện các chức năng quản lý một cách có mục đích đối với các mặt cụ thể của quản lý CSVC và TBDH (việc nâng cao nhận thức cho đội ngũ, xây dựng kế hoạch, kiểm tra giám sát, đánh giá, sử dụng phương tiện kỹ thuật, các phần mềm quản lý,..).
Vai trò của ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý CSVC và TBDH
- CNTT có vai trò đặc biệt quan trọng, nó vừa là công cụ cần thiết phục vụ hiệu quả các quy trình quản lý trong nhà trường, vừa là tài sản của người quản lý. Hiện nay, CNTT được xem là công cụ đắc lực nhất hỗ trợ đổi mới giáo dục, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục.
- Lợi ích của CNTT mang lại cho người quản lý: CNTT giúp thông tin được lưu trữ, xử lý, chia sẻ đến tất cả các thành viên trong nhà trường một cách liên tục và nhanh chóng, nhờ đó Ban giám hiệu trường quản lý được mọi nguồn lực và có thể đưa ra những quyết định chính xác, kịp thời. Nhờ bản chất minh bạch, CNTT giúp các tiêu chí trong nhà trường được dịch chuyển từ định tính sang định lượng, những mặt có vấn đề sẽ được thể hiện rõ nét và nguyên nhân, cách khắc phục cũng dễ dàng được xác định được.
- Những ứng dụng CNTT cơ bản trong quản lý nhà trường: Qua việc ứng dụng CNTT và mạng Internet giúp hiệu trưởng thực hiện gửi công văn, giấy từ, thông báo, báo cáo,…; phân công giảng dạy, lập thời khóa biểu cho toàn bộ giáo viên và lớp học; lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá; quản lý hoạt động dạy học của giáo viên và kết quả học tập của học sinh; quản lý học sinh; quản lý tài chính; quản lý CSVC và TBDH; quản lý thư viện; quản lý nhân sự,…
- Ứng dụng CNTT trong quản lý trường học nói chung và quản lý CSVC và TBDH giúp công tác quản lý thực hiện nhanh chóng, chính xác, khoa học và hiệu quả đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và giáo dục và đào tạo.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý CSVC và TBDH
Để ứng dụng CNTT trong công tác quản lý nói chung và quản lý CSVC và TBDH ở các tiểu học đạt hiệu quả thì ngoài khả năng quản lý CSVC và TBDH cần có các yếu tố sau:
- Máy tính, phần mềm ứng dụng và mạng internet là một công cụ chủ yếu trong CNTT: Máy tính thực hiện những phép tính toán rất nhanh và chính
xác. Công nghệ truyền thông đã dần tiến tới trình độ hoàn thiện ở mức độ cao nên thông tin được truyền đi nhanh chóng, rộng khắp. Phần mềm máy tính là một sự kết hợp của các chương trình máy tính, thủ tục và tài liệu tương ứng có tác dụng thực hiện một hay nhiều nhiệm vụ trên máy tính. Phần mềm rất đa dạng và do các hãng phần mềm thiết kế. Muốn máy tính thực hiện một công việc cụ thể nào đó, thì cần phải cài đặt phần mềm tương ứng lên máy tính đó. Như vậy phần mềm rất quan trọng trong việc ứng dụng CNTT vào công việc nói chung và quản lý CSVC và TBDH.
- Ứng dụng CNTT trong quản lý nói chung và quản lý CSVC – TBDH nói riêng đạt hiệu quả như mong muốn hay không, trước hết phụ thuộc vào nhận thức, trình độ tổ chức và năng lực triển khai trong thực tiễn của CBQL, giáo viên, nhân viên quản lý CSVC và TBDH: CBQL phải am hiểu về CNTT và ứng dụng CNTT trong lĩnh vực chuyên môn của mình, để có thể làm mẫu, hướng dẫn người dưới quyền thực hiện, CBQL phải là người có trình độ tổ chức và năng lực triển khai ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tại đơn vị, biết tổ chức học tập và tổng kết kinh nghiệm để nhân ra diện rộng. Giáo viên, nhân viên quản lý CSVC và TBDH chưa có nhận thức đúng về ứng dụng CNTT trong quản lý CSVC và TBDH thì sẽ không thực hiện tốt công việc này. Mặt khác, để ứng dụng CNTT trong quản lý CSVC và TBDH cần phải có trình độ tin học nhất định và những kỹ năng CNTT cần thiết. Nếu giáo viên, nhân viên kỹ thuật có trình độ tin học thấp, kỹ kỳ năng ứng dụng CNTT yếu thì hiệu quả việc ứng dụng CNTT trong quản lý CSVC và TBDH không đạt được mục tiêu của nhà quản lý đề ra.
- Ứng dụng CNTT trong quản lý CSVC, TBDH là phương thức được CBQL trường học áp dụng phần mềm để thực hiện các nội dung cơ bản trong quản lý CSVC, TBDH. Vì vậy, để triển khai thực hiện tốt việc ứng dụng CNTT trong quản lý CSVC và TBDH cần thực hiện tốt nội dung sau:
- Thực hiện tốt công tác tuyền truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức đến toàn thể cán bộ giáo viên trong ngành và cán bộ quản lý các cơ quản lý giáo
dục, các cơ sở giáo về nhiệm vụ ứng dụng CNTT theo chủ trương của Đảng “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học. Phát huy vai trò của công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại trong quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo. Từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin” [13, tr.1]. Tăng cường giáo dục nhận thức cho mọi đối tượng về vai trò quan trọng của CNTT, tạo nên sự phối hợp đồng bộ, thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau giữa các cấp quản lý, giữa lãnh đạo và giáo viên, nhân viên.
- Đẩy mạnh ứng dụng các phần mềm cho việc quản lý trường học, quản lý CSVC và TBDH. Trong đó triển khai phần mềm quản lý CSVC, TBDH theo các nội dung:
- Quản lý trang thiết bị và đồ dùng dạy học:
+ Nhập trang thiết bị và đồ dùng dạy học theo mô hình, theo môn học.
+ Quản lý quá trình sử dụng: mượn – trả thiết bị dạy học.
+ Sổ theo dõi nhập thiết bị đồ dùng dạy học.
+ Sổ theo dõi tình hình sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học.
+ Đăng ký và quản lý lịch mượn phòng chức năng.
+ Các biểu mẫu báo cáo thống kê về trang thiết bị dạy học.
- Báo cáo thống kê:
+ Thống kê danh sách thiết bị, đồ dùng dạy học trong trường.
+ Danh sách thiết bị, đồ dùng dạy học đang được sử dụng, chưa được sử dụng hoặc bị hư hỏng.
+ Danh sách thiết bị, đồ dùng dạy học theo từng giáo viên mượn.
+ Kiểm tra tình hình mượn và sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học, mượn và sử dụng phòng chức năng của giáo viên.
+ Thống kê tình hình sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học theo giáo viên, tổ chuyên môn…
- Trang bị đầy đủ những thiết bị cần thiết cho việc thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin như máy tính, máy chiếu đa năng, máy in, mạng Internet, phần mềm quản lý CSVC và TBDH đồng bộ trong các nhà trường.
- Tổ chức các khóa tập huấn cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về cách sử dụng máy tính, cài đặt và ứng dụng phần mềm trong công tác quản lý trường học, khai thác mạng Internet,…
- Tổ chức nhiều chuyên đề, hội thảo, xây dựng các mô hình điểm,… về ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, quản lý CSVC và TBDH từ đó nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục ở các trường học.
Trong mỗi trường học, để việc ứng dụng CNTT trong quản lý CSVC và TBDH được tốt, từ CBQL đến GV và nhân viên cần có nhận thức đầy đủ và đúng về ứng dụng CNTT trong quản lý; chú trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật tin học, lựa chọn, khái thác sử dụng các phần mềm quản lý, xây dựng mạng cục bộ, kết nối Internet, xây dựng các cơ sở dữ liêu, xây dựng hệ thống thông tin quản lý với cơ chế vận hành phù hợp; bố trí nguồn nhân lực có nhận thức, năng lực, trình độ triển khai nội dung ứng dụng CNTT quản lý CSVC và TBDH.
Như vậy quản lý CSVC và TBDH trong các tiểu học theo hướng ứng dụng CNTT chính là quá trình CBQL trường học thực hiện các chức năng quản lý đối với các mặt cụ thể của công tác CSVC và TBDH, thông qua việc sử dụng phù hợp các phần mềm quản lý. Có thể hình dung theo bảng sau:
Bảng 1.1. Nội dung cơ bản của quản lý CSVC, TBDH
| Hoạt động quản lý | Nội dung quản lý CSVC, TBDH | ||
| Xây dựng, mua sắm, bổ sung CSVC, TBDH | Khai thác, sử dụng CSVC, TBDH | Kiểm tra, kiểm kê, bảo trì, bảo dưỡng CSVC, TBDH | |
| Lập kế hoạch | Lập kế hoạch dài hạn và hàng năm, đầu tư theo hướng hiện đại, dựa trên thống kê nhu cầu sử dụng, thống kê hiện trạng CSVC, TBDH của nhà trường hàng năm | Xây dựng kế hoạch của trường, tổ chuyên môn và của từng GV | Kế hoạch định kỳ |
| Tổ chức, chỉ đạo | Phân công người phụ trách từng công việc Chỉ đạo, đôn đốc, giám sát việc thực hiện theo kế hoạch | Phân công CB phụ trách TBDH, Thư viện Xây dựng qui định sử dụng TBDH, thư viện, phòng bộ môn, nhà đa năng,.. Phối hợp giữa CB phụ trách với GV- HS trong mượn- sử dụng – trả (đăng ký mượn – trả trên phần mềm, xây dựng thư viện số… ) | Chỉ đạo nhập dữ liệu về CSVC, TBDH vào phần mềm, theo dõi hàng ngày, thống kê định kỳ, kiểm kê theo qui định; Thực hiện qui trình bảo trì, bảo dưỡng TBDH… |
| Kiểm tra, đánh giá | Kiểm tra đánh giá tiến độ thực hiện kế hoạch và kết quả | Kiểm tra định kỳ, đột xuất Đánh giá hiệu quả việc khai thác, sử dụng… | Kiểm tra đánh giá kết quả bảo trì, bảo sưỡng; Đánh giá tài sản, thực hiện khấu hao, Thanh lý theo qui định… |
Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lý CSVC, TBDH nhà trường theo hướng ứng dụng CNTT, có thể kể đến một số yếu tố cơ bản sau:
Trình độ, năng lực của đội ngũ CBQL trường học
- CBQL là người chịu trách nhiệm trước Đảng và nhà nước về chất lượng và hiệu quả mọi hoạt động của trường mình. Sự ứng dụng CNTT trong quản lý nói chung và quản lý CSVC và TBDH nói riêng đạt hiệu quả như mong muốn hay không, trước hết phụ thuộc vào nhận thức, trình độ tổ chức và năng lực triển khai trong thực tiễn của CBQL.
- CBQL phải là người am hiểu về CNTT và ứng dụng CNTT trong ít nhất trong lĩnh vực chuyên môn của mình, để có thể làm mẫu, hướng dẫn người dưới quyền thực hiện.
- CBQL phải là người có trình độ tổ chức và năng lực triển khai ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tại đơn vị, biết tổ chức học tập và tổng kết kinh nghiệm để nhân ra diện rộng.
- Ngoài ra, uy tín của CBQL trong tập thể sư phạm có tác dụng như chất xúc tác thúc đẩy sự phát triển ứng dụng CNTT vào công tác quản lý nói chung và quản lý CSVC và TBDH nói riêng.
Trình độ năng lực của đội ngũ giáo viên, nhân viên
- Giáo viên, nhân viên chưa có nhận thức đúng về ứng dụng CNTT trong quản lý CSVC và TBDH thì sẽ không thực hiện tốt công việc này. Mặt khác, để ứng dụng CNTT trong quản lý CSVC và TBDH cần phải có trình độ tin học nhất định và những kỹ năng CNTT cần thiết.
- Giáo viên, nhân viên có trình độ tin học thấp, kỹ năng ứng dụng CNTT yếu thì hiệu quả việc ứng dụng CNTT trong quản lý CSVC và TBDH không đạt được mục tiêu của nhà quản lý đề ra.
- Việc xác định những năng lực ứng dụng CNTT cần có ở người giáo viên, nhân viên sẽ giúp CBQL thấy được thực trạng trình độ CNTT của đội ngũ
giáo viên, nhân viên, từ đó có những biện pháp bồi dưỡng giáo viên, nhân viên hợp lý. Do đó đây là nhân tố ảnh hưởng không ít đến việc ứng dụng CNTT vào quản lý CSVC và TBDH.
Điều kiện cơ sở hạ tầng
Quản lý CSVC và TBDH theo hướng ứng dụng CNTT gắn liền với những yêu cầu về thiết bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại và phần mềm quản lý. Để đáp ứng được điều này đòi hỏi nhà trường có nguồn kinh phí để đầu tư xây dựng, mua sắm thiết bị, phương tiện kỹ thuật và phần mềm ứng dụng quản lý CSVC và TBDH. Vì vậy, CBQL phải có kế hoạch xây dựng CSVC (phòng học, phòng học bộ môn, thí nghiệm thực hành) và mua sắm trang thiết bị (máy tính, máy chiếu, máy in, mạng Internet, phần mềm quản lý,…); có giải pháp thực hiện huy động nguồn lực, hỗ trợ kinh phí để trang bị đồng bộ, từng bước chuẩn hóa hệ thống CSVC, thiết bị theo hướng ứng dụng CNTT vào quản lý CSVC và TBDH.
Kết luận chương 1
Qua việc nghiên cứu lịch sử vấn đề, làm rõ một số khái niệm cơ bản, tìm hiểu nội dung và yêu cầu của quản lý CSVC và TBDH theo hướng ứng dụng CNTT, thấy rằng:
CSVC và TBDH là điều kiện quan trọng không thể thiếu của quá trình dạy học; quản lý và sử dụng CSVC và TBDH là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá việc đầu tư, xây dựng, khai thác,sử dụng CSVC và TBDH theo hướng hiện đại, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả sử dụng của chúng.
Lập kế hoạch đầu tư xây dựng đúng hay lựa chọn CSVC và TBDH phải phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường, đồng thời đáp ứng được yêu cầu chuẩn hóa và hiện đại hóa; phát triển bộ máy tổ chức và nguồn nhân lực: thiết lập bộ máy quản lý, nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ cho đội ngũ và điều hành có hiệu quả đội ngũ nhân lực tham gia quản lý; chỉ đạo tốt việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, sử dụng các phần mềm để quản lý TBDH; thực hiện tốt bảo quản, khai thác sử dụng CSVC và TBDH một cách hiệu qủa; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá và rút kinh nghiệm trong việc quản lý và sử dụng CSVC và TBDH. Triển khai áp dụng phần mềm để quản lý CSVC và TBDH sẽ giúp thống kê nhanh, chính xác hiện trạng CSVC và TBDH của nhà trường, theo dõi, giám sát, kết nối việc khai thác sử dụng CSVC và TBDH hiệu quả hơn.
Đây là những luận cứ quan trọng để tác giả xem xét đánh giá thực trạng quản lý CSVC và TBDH ở các tiểu học trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và đề xuất giải pháp quản lý trong các chương tiếp theo của luận văn.
Chương 2
THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT
VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TIỂU HỌC TỈNH PHÚ THỌ THEO HƯỚNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Khái quát về tỉnh Phú Thọ và giáo dục trên địa bàn
Giới thiệu về tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Phú Thọ
Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi trung du phía bắc, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc (vị trí địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây – Đông – Bắc). Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh: 3.533,3 km2, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 982,85 km2 chiếm tỷ lệ 27,8% diện tích đất. Toàn tỉnh có 13 đơn vị hành chính cấp huyện và 277 đơn vị hành chính cấp xã (trong đó có 247 xã nông thôn); 218 xã miền núi (trong đó: có 72 xã ĐBKK, an toàn khu; 224 thôn ĐBKK); dân số 1.340.813 người, mật độ dân số bình quân: 379,5 người/km2, hơn 90% dân số thuộc khu vực nông thôn.
Tình hình chính trị – xã hội tiếp tục ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm 2011-2015 ước đạt 5,85%, quốc phòng, an ninh được giữ vững; cùng với những kết quả đạt được trong những năm qua, sự nghiệp GD&ĐT tỉnh Phú Thọ luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sắc của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh; sự phối, kết hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành và tổ chức đoàn thể; sự đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân đã giúp sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh từng bước phát triển đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ và phát triển kinh tế – xã hội, bồi dưỡng nhân tài.
Tuy nhiên, do tốc độ phát triển kinh tế chậm, là một tỉnh nghèo chưa tự cân đối thu – chi ngân sách (hàng năm ngân sách Trung ương hỗ trợ khoảng 80%) nên nguồn lực đầu tư cho giáo dục còn gặp nhiều khó khăn, do đó các
điều kiện đảm bảo để nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là giáo dục chất lượng cao và giảm chênh lệch khoảng cách giáo dục giữa các vùng miền chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của xã hội; đời sống và điều kiện làm việc của một bộ phận giáo viên nhất là giáo viên hợp đồng, giáo viên công tác ở vùng sâu vùng xa còn gặp nhiều khó khăn.
Khái quát về giáo dục đào tạo tỉnh Phú Thọ
– Mạng lưới trường học: Mạng lưới trường, lớp tiếp tục được duy trì, củng cố, điều chỉnh phù hợp với quy hoạch phát triển giáo dục giai đoạn 2011- 2020. Hiện nay, mỗi xã, phường, thị trấn có ít nhất một trường mầm non, trường tiểu học; hầu hết các xã, phường đã có trường THCS; mỗi huyện, thị, thành phố có từ 02 tiểu học trở lên và ít nhất 01 trung tâm GDTX. Cụ thể, theo báo cáo thống kê của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú thọ tính đến tháng 12/2015, toàn tỉnh có:
+ Mầm non: có 313 trường, trong đó: có 298 trường công lập và 15 trường tư thục.
+ Tiểu học: có 299 trường.
+ TH&THCS: có 5 trường.
+ THCS: có 254 trường (trong đó có 4 trường phổ thông dân tộc nội trú).
+ Trung học phổ thông: có 44 trường, trong đó: có 35 trường công lập (có 01 tiểu học chuyên và 01 trường PTDTNT); 9 trường tư thục; Số trường đạt chuẩn quốc gia 17 trường.
+ Trường phổ thông (cấp1-2-3): có 1 trường (trường Phổ thông Herman).
+ Trung tâm GDNN-GDTX, GDTX, KTTH-HN: có 16 trung tâm, trong đó có 13 trung tâm GDNN-GDTX; 01 trung tâm GDTX tỉnh 01 trung tâm KTTH-HN và 01 trung tâm Ngoại ngữ – Tin học.
+ Giáo dục đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp: Tỉnh có 01 trường Đại học, 02 trường cao đẳng và 02 trường trung cấp chuyên nghiệp.
- Về đầu tư xây dựng cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất trường lớp học trên địa bàn tỉnh đang từng bước được đầu tư theo hướng kiên cố hóa; cơ sở vật chất trong các nhà trường từng bước khang trang, sạch đẹp và chuẩn hóa, hiện đại hóa. Việc đầu tư cơ sở vật chất từng bước đáp ứng điều kiện để tăng cường huy động học sinh đến trường, tổ chức các hoạt động giáo dục và gắn với thực hiện xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, xây dựng nông thôn mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Tuy nhiên,cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu dạy học vẫn còn rất khó khăn đó là: Số lượng phòng học bộ môn, thư viện, thí nghiệm chủ yếu mới chỉ có ở các trường đạt chuẩn quốc gia, hầu hết các trường trung học phổ thông chỉ có phòng học bộ môn tin học; nhà điều hành, thư viện chủ yếu là nhà bán kiên cố đã xuống cấp, các trường hầu hết chưa có nhà đa năng, sân chơi bãi tập, khuôn viên, hệ thống các công trình vệ sinh nước sạch đạt chuẩn chưa có nguồn lực đầu tư.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\TÀI LIỆU NĂM 2022\NĂM 2022 KHO SỐ 2\THIẾT BỊ DẠY HỌC SỐ THPT
Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các Trường Trung học phổ thông tỉnh Phú Thọ theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các Trường Trung học phổ thông tỉnh Phú Thọ theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các Trường Trung học phổ thông tỉnh Phú Thọ theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin


