Quản lí hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường tiểu học huyện Bàu Bàng tỉnh Bình Dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

Quản lí hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường tiểu học huyện Bàu Bàng tỉnh Bình Dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

Quản lí hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường tiểu học huyện Bàu Bàng tỉnh Bình Dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

1. Lý do chọn đề tài

Đảng và nhà nước ta xác định Giáo dục – Đào tạo là “Quốc sách hàng đầu”. Trong công cuộc đổi mới đất nước, những quan điểm, tư tưởng, phương hướng phát triển giáo dục được xác định từ Đại hội IX cho đến Đại hội XII luôn khẳng định, nhất quán. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI) đã thông qua Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”. Xác định đây là một kế sách, tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cho tương lai.

Quan điểm đổi mới chương trình giáo dục phổ thông tại Thông tư 32/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 nêu rõ về xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm tiếp cận phát triển năng lực người học, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và thế giới. Xây dựng thời lượng chương trình trường Tiểu học tổ chức hoạt động dạy học 2buổi/ngày để có điều kiện thuận lợi cho học sinh được học tập, sinh hoạt và vui chơi cả ngày trong những ngày đến trường, nơi đó HS được chăm sóc giáo dục toàn diện, được đáp ứng các yêu cầu phát triển cá nhân trong một môi trường lành mạnh, an toàn.

Hiện nay, các nước trong khu vực và trên thế giới có điều kiện kinh tế phát triển, có nền giáo dục tiên tiến đều thực hiện dạy học 2 buổi/ngày đối với học sinh tiểu học. Nước ta, không nằm ngoài xu thế đó. Tuy vậy, với điều kiện vốn có, với quỹ thời gian học tập hiện hành khó để giải quyết được khối lượng kiến thức được hệ thống, tích hợp ngày càng lớn. Vì vậy, việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày là tất yếu, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng giáo dục thế hệ trẻ tương lai của đất nước. Là điều kiện để chuẩn hóa hệ thống nhà trường, tạo điều kiện đưa giáo dục Việt Nam hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới.

Là một huyện mới thành lập từ năm 2014, trong những năm qua, GD&ĐT huyện Bàu Bàng nói chung, các trường Tiểu học của huyện nói riêng đã chú trọng việc tăng cường, xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp đáp ứng nguyện vọng học 2 buổi/ngày cho học sinh. Hiện nay đã có 10/11 trường Tiểu học tổ chức dạy học 2 buổi/ngày và đã mang lại nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của giáo dục huyện nhà. Tuy nhiên, muốn đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đối với giáo dục Tiểu học hiện nay, các đơn vị nhà trường phải tập trung đổi mới tổ chức quản lý hoạt động dạy học, đặc biệt là hoạt động dạy học 2 buổi/ngày và các hoạt động bán trú, nuôi dạy trẻ cả ngày. Đây là hoạt động trọng tâm, cơ bản của các trường Tiểu học, có ảnh hưởng to lớn, trực tiếp đến chất lượng giáo dục, mang tính cấp thiết, là nhiệm vụ quan trọng để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài luận văn “Quản lí hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường tiểu học huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” để vận dụng lí luận quản lí giáo dục vào giải quyết thực tiễn.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát, đánh giá thực trạng về công tác quản lý hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường Tiểu học huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, luận văn đề xuất các biện pháp lý hoạt hoạt động dạy học 2 buổi/ngày cho Hiệu trưởng ở các trường Tiểu học huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở trường Tiểu học.

3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt hoạt động 2 buổi/ngày ở các trường Tiểu học huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lí hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường Tiểu học.

4.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường Tiểu học huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

4.3. Đề xuất biện pháp quản lí hoạt động dạy học 2 buổi/ngày cho HT các trường Tiểu học huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đánh giá công tác quản lí hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường Tiểu học huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 2015 – 2020 và đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động dạy học 2 buổi/ngày cho Hiệu trưởng ở các trường Tiểu học huyện Bàu Bàng giai đoạn 2020 – 2025.

6. Giả thuyết khoa học

Hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường Tiểu học huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương chưa thực sự hiệu quả, chưa đồng bộ giữa các trường, nề nếp dạy học chưa ổn định, việc tổ chức ăn trưa, nghỉ trưa tại trường chưa đảm bảo. Đề tài đánh giá khách quan thực trạng để đề xuất và thực hiện đồng bộ các biện pháp phù hợp với thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu; phân loại tài liệu liên quan đến đề tài nhằm xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở trường tiểu học.

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

– Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi để khảo sát thực trạng quản lí hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường tiểu học huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương và thu thập thêm các thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Đối tượng điều tra là giáo viên, hiệu trưởng. Kết quả điều tra được xử lý, phân tích, so sánh để tìm thông tin cần thiết theo hướng nghiên cứu đề tài.

– Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Tiến hành trao đổi với các giáo viên và cán bộ quản lí tại các trường tiểu học.

– Phương pháp nghiên cứu hồ sơ: Tiến hành nghiên cứu các Quyết định, Báo cáo, … Phòng, Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), trường tiểu học có liên quan đến công tác quản lí hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường tiểu học.

– Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tiến hành sưu tầm, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các kinh nghiệm về quản lý hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường tiểu học qua đó tìm ra các nhân tố phù hợp để đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường tiểu học huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.

– Phương pháp chuyên gia: Thu thập ý kiến của các chuyên gia về các vấn đề đánh giá thực trạng, tính hợp lý, khả thi của các biện pháp được đề xuất.

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS thông qua điều tra bằng bảng hỏi nhằm xử lý kết quả nghiên cứu. Trên cơ sở đó có nhận định, đánh giá đúng đắn, chính xác các kết quả nghiên cứu.

8. Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm 3 phần

* Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài, mục đích, khách thể, đối tượng nghiên cứu, giả thuyết khoa học, phạm vi đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu.

* Phần nội dung: Gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dạy học 2 buổi/ngày ở trường tiểu học.

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường tiểu học huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường tiểu học huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

* Phần kết luận: Kết luận và khuyến nghị

Quản lí hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường tiểu học huyện Bàu Bàng tỉnh Bình Dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
Quản lí hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở các trường tiểu học huyện Bàu Bàng tỉnh Bình Dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

 

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

DẠY HỌC 2 BUỔI/NGÀY Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2. Nghiên cứu ở trong nước

1.2. Các khái niệm chính

1.2.1. Quản lý

Khái niệm quản lý được các nhà nghiên cứu đưa ra gắn với từng lĩnh vực quản lý và từng lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu cụ thể. Nhưng có sự thống nhất về bản chất hoạt động quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý.

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định.
Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ  thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển”. Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ thống sẽ phát triển không bền vững. Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho hoạt động của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng. Sự quản lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau.

Quản lý là tác động của chủ thể lên đối tượng theo mục tiêu nhất định. Trong đời sống xã hội, quản lí xuất hiện khi có hoạt động chung của con người. Quản lí điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành hoạt động chung thống nhất của tập thể hướng tới mục tiêu đã định trước. Để thực hiện hoạt động quản lí cần phải có tổ chức và quyền uy. Tổ chức phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt động chung; quyền uy đem lại khả năng áp đặt ý chí của chủ thể quản lí đối với các đối tượng quản lí, bảo đảm sự phục tùng của cá nhân đối với tổ chức. Quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lí điều khiển, chỉ đạo cũng như bắt buộc các đối tượng quản lí thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của mình.

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”. [33, tr 45]. Chủ thể quản lí là cá nhân hay tổ chức, những đại diện có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lí.

Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát: quản lý là tác động có định hướng, vận dụng 4 chức năng cơ bản đó là: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức.

1.2.2. Quản lý giáo dục

Theo M.I.Kônđacôp: Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ quản lý ở các cấp khác nhau, đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em.

Theo P.V.Khuđôminxky (nhà lý luận Xô Viết): quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ [29].

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội” [12, tr 27].

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [33, tr 56].

Như vậy, quản lý giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực nhằm đưa hoạt động sư phạm của tổ chức đơn vị quản lý đi đến mục tiêu giáo dục của Đảng, Nhà nước đặt ra. Mà giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển xã hội, thể hiện thông qua các chức năng giáo dục. Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội, là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi phát triển nền giáo dục ngày càng tiến bộ hơn. Vì vậy, để các cơ sở giáo dục được tồn tại và phát triển thì phải có quản lý giáo dục bởi vì quản lý giáo dục là nhiệm vụ sống còn của một nhóm, tập thể đơn vị giáo dục.

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh…” [18, tr 24].

Từ những quan niệm trên chúng ta có thể khái quát rằng: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Trong hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động. Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý. Mọi hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, bởi vậy con người là nhân tố quan trọng nhất trong quản lý giáo dục.

Nhiều nhà nghiên cứu thống nhất rằng, quản lý giáo dục có nhiều cấp độ và có thể phân ra hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Việc phân chia quản lý vĩ mô và vi mô chỉ là tương đối.

Đối với cấp độ vĩ mô: Quản lý giáo dục cấp độ vĩ mô được nhìn nhận ở góc độ quản lý nhà nước về giáo dục của các cơ quan quản lý giáo dục. Luật Giáo dục (2019) nêu rõ: “Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục”.

Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý giáo dục trong việc huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) nhằm đạt tới mục tiêu phát triển của cả hệ thống giáo dục và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Đối với cấp vi mô: Quản lý giáo dục cấp độ vi mô được nhìn nhận ở góc độ quản lý giáo dục tại các cơ sở giáo dục (trường học) và được thực hiện bởi chủ thể quản lý của các cơ sở đó (gọi chung là quản lý nhà trường) theo Bùi Việt Phú (Chủ biên 2019) – Trần Xuân Bách – Lê Quang Sơn trong Công tác quản lý của tổ trưởng chuyên môn trường tiểu học [32].

Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý giáo dục đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ và góp phần đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến.

1.2.3. Hoạt động dạy học

Hoạt động dạy học là quá trình gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh nhằm hướng tới các mục tiêu dạy học. Dạy học là hoạt động đặc thù nhất, điển hình nhất, đồng thời có tác động chi phối mạnh mẽ đến tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường. Trong đó, dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên, người học tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học. Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy của giáo viên có vai trò chủ đạo, hoạt động học của học sinh có vai trò tự giác, chủ động, tích cực. Nếu thiếu một trong hai hoạt động, quá trình dạy học không được diễn ra.

Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội tích luỹ được để biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân” [18, tr 38].

Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt quan niệm: “Quá trình dạy học là một quá trình sư phạm bộ phận, một phương tiện trao đổi học vấn, phát triển giáo dục và phẩm chất giáo dục, nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo, nhận thức và thực hành” [22, tr 25].

Theo Đặng Quốc Bảo: “hoạt động dạy học là hoạt động đặc trưng cho bất cứ loại hình nhà trường và xét theo quan điểm tổng thể dạy học chính là con đường giáo dục tiêu biểu nhất”[12].

Theo tác giả Lê Quang Sơn (2011) “Dạy học là sự tác động qua lại giữa người dạy và người học với mục đích là người dạy truyền thụ cho người học kinh nghiệm xã hội. Quá trình dạy học bao gồm hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh, trong đó mối quan hệ “giáo viên – học sinh” mang tính chất tích cực” [35, tr. 98].

Như vậy, hoạt động dạy học là quá trình tương tác giữa người dạy và người học, trên cơ sở người dạy tổ chức, điều khiển, thiết kế các hoạt động của người học để người học tự giác, tích cực, chủ động tìm tòi, khám phá chiếm lĩnh tri thức thông qua các hoạt động học tập, giúp người học lĩnh hội một cách sáng tạo tri thức của nhân loại, tự hình thành các phẩm chất, năng lực và hoàn thiện nhân cách của mình. Hoạt động dạy học bao gồm hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Hai hoạt động này có sự tác động qua lại với nhau, thống nhất và quy định lẫn nhau.

Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ biến chứng, thể hiện ở mối quan hệ tương tác, đồng thời diễn ra giữa các thành tố: mục tiêu, nội dung, chương trình, PP, phương tiện (cơ sở vật chất & thiết bị dạy học) của hoạt động dạy và hoạt động học.

1.2.4. Hoạt động dạy học 2 buổi/ngày

Dạy học 2 buổi/ngày được hiểu là hình thức tổ chức cho học sinh đến trường để rèn luyện và học tập 2 buổi trong ngày (buổi sáng và buổi chiều), tùy theo điều kiện mà có thể tổ chức học 2 buổi/ngày ở một số ngày hoặc tất cả các ngày học trong tuần. Nếu tính theo đơn vị là buổi học thì mỗi tuần có thể học từ 7 đến 10 buổi. Mục tiêu của dạy học 2buổi/ngày nhằm giảm bớt căng thẳng, mỏi mệt, giãn thời gian học tập cho học sinh từ 1 buổi (sáng hoặc chiều) trong ngày thành 2 buổi học. Đồng thời, có thêm thời gian giáo viên tổ chức cho học sinh hoàn thành các nhiệm vụ học tập ngay tại lớp, dạy học thêm một số nội dung tự chọn, tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tạo cơ hội thuận lợi để phát triển một số năng lực, phẩm chất cho học sinh và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

1.2.5. Quản lý hoạt động dạy học 2 buổi/ngày

Quản lý hoạt động dạy học 2 buổi/ngày là quá trình tác động của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến khách thể quản lý (cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học) nhằm tổ chức, chỉ đạo vận hành quá trình dạy học trong nhà trường đạt tới mục tiêu nhiệm vụ dạy học đã định với chất lượng và hiệu quả cao nhất, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục nói chung, giáo dục Tiểu học nói riêng. Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường là quản lý toàn bộ việc giảng dạy, giáo dục của thầy, việc học tập của trò theo nội dung giáo dục toàn diện nhằm thực hiện mục tiêu và đường lối giáo dục của Đảng. Do đó, những tác động của nó lên hệ thống phải là những tác động kép, tác động lên hoạt động dạy, đồng thời phải chuyển hoá hoạt động đó thành hoạt động học để đạt tới mục tiêu giáo dục. Và chính trong quá trình thực hiện sự chuyển hoá đó sẽ phải có sự điều hành, phối hợp tác động của các lực lượng khác, nhằm tạo ra một sức mạnh tổng hợp tác động đến hoạt động dạy học.

Đặc điểm của quản lý hoạt động dạy học là điều khiển, điều chỉnh hoạt động này vận hành một cách có kế hoạch, có tổ chức và được chỉ đạo, kiểm tra giám sát thường xuyên, nhằm từng bước hướng vào thực hiện các nhiệm vụ dạy học để đạt được mục đích dạy học. Quản lý hoạt động dạy học mang tính chất quản lý hành chính, sư phạm, khoa học và tính xã hội hoá cao:

* Tính chất hành chính: quản lý theo pháp luật và những quy chế, nội dung, quy định, có tính chất bắt buộc đối với hoạt động dạy học.

* Tính sư phạm: quản lý chịu sự quy định của các quy định đối với hoạt động dạy học diễn ra trong môi trường sư phạm, lấy hoạt động và quan hệ của thầy với trò làm đối tượng quản lý.

* Tính đặc trưng của khoa học quản lý: Vận dụng có hiệu quả các chức năng quản lý, sử dụng sáng tạo các nguyên tắc và phương pháp quản lý trong quản lý hoạt động dạy học.

* Tính xã hội hoá: quản lý hoạt động dạy học chịu sự chi phối của các điều kiện kinh tế xã hội và có mối quan hệ tương tác, thường xuyên với xã hội.

Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường Tiểu học có những điểm riêng, mang tính phức tạp hơn, khó khăn hơn so với trường dạy học 1buổi/ngày về quản lí thời gian, nội dung, phương pháp, điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật, phát triển thể chất, thể lực … Vì vậy, người quản lý phải có tư duy sáng tạo, linh hoạt, năng động, phải định hướng lập kế hoạch hoạt động, sắp xếp thời khóa biểu, lựa chọn nội dung các môn học tự chọn, lựa chọn các hoạt động trải nghiệm cho học sinh, lựa chọn phương pháp tổ chức cho phù hợp điều kiện nguồn lực nhà trường, vừa phù hợp với đặc điểm địa phương, nhu cầu của học sinh, phụ huynh, vừa đạt mục tiêu giáo dục toàn diện và phát triển nhà trường phù hợp với sự phát triển xã hội. Các điều kiện cần quan tâm như: Cơ sở vật chất và thiết bị nhà trường, nguồn tài chính hiện có của nhà trường, đội ngũ nhà giáo, nhân viên để đảm bảo tăng thời gian học tập, tăng thời gian vui chơi, sinh hoạt, trải nghiệm …

Yêu cầu cơ bản đối với quản lý hoạt động dạy học là phải đảm bảo tính pháp lý, đảm bảo tính khoa học, đảm bảo tính thực tiễn trong quản lý hoạt động dạy học, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học trong nhà trường.

Trong khuôn khổ của luận văn, công tác quản lí về việc tổ chức, sắp xếp để thực hiện dạy học 2 buổi/ngày được đề cập đến như là nội dung cốt lõi.

1.3. Lý luận về tổ chức dạy học 2 buổi/ngày ở trường tiểu học

1.3.1. Trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân

Tại Điều 3, Điều lệ trường Tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 28/2020/TT-BGDĐT ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định nhiệm vụ và quyền hạn của trường Tiểu học:

“1. Công khai mục tiêu, chương trình, kế hoạch giáo dục, điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, kết quả đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục; tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng đáp ứng mục tiêu, yêu cầu cần đạt theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

2. Thực hiện giáo dục bắt buộc, phổ cập giáo dục và xóa mù chữ tại địa bàn. Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động và tạo điều kiện cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đến trường. Nhận bảo trợ và quản lý các hoạt động giáo dục của cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền.

3. Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo , gắn với điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương; xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục đáp ứng mục tiêu, yêu cầu cần đạt theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học.

4. Triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; thực hiện lựa chọn sách giáo khoa theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; triển khai thực hiện sách giáo khoa và nội dung giáo dục của địa phương theo quyết định của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); thực hiện tự chủ chuyên môn trong tổ chức các hoạt động giáo dục tại trường tiểu học.

5. Thực hiện tự kiểm định chất lượng và đảm bảo chất lượng giáo dục theo quy định.

6. Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh.

7. Quản lý và sử dụng đất, tài chính và tài sản của nhà trường theo quy định của pháp luật.

8. Phối hợp chặt chẽ với cha mẹ hoặc người giám hộ học sinh, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện các hoạt động giáo dục. Tổ chức cho giáo viên, người lao động và học sinh tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương.

9. Xây dựng môi trường văn hoá – giáo dục trong nhà trường, tham gia xây dựng môi trường văn hoá – giáo dục ở địa phương.

10. Được tiếp nhận các khoản tài trợ, viện trợ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với nhà trường theo quy định của pháp luật.

11. Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật” [3]

Luật Giáo dục 2019, điều 30 nêu: “Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh nền tảng phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội; có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có nhận thức đạo đức xã hội; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật” [43]. Như vậy, giáo dục Tiểu học có một vị trí đặc biệt quan trọng, bởi đây là bậc học “nền móng” đối với mỗi con người, trong quá trình trưởng thành và phát triển. Trường Tiểu học là nơi con người chính thức được tổ chức học tập rèn luyện một cách chính quy.

  • Mục tiêu của hoạt động dạy học 2 buổi/ngày

Thông tư 32/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 ban hành chương trình giáo dục phổ thông nêu rõ: Mục tiêu giáo dục Tiểu học bao gồm những phẩm chất, những năng lực chủ yếu cần hình thành cho học sinh Tiểu học để góp phần vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho giai đoạn hội nhập và phát triển của đất. Mục tiêu giáo dục Tiểu học được cụ thể hoá thành mục tiêu của các môn học và các hoạt động khác trong chương trình giáo dục Tiểu học. Đặc biệt, mục tiêu giáo dục Tiểu học đã được cụ thể hoá thành các yêu cầu cơ bản và kiến thức, kỹ năng, thói quen, niềm tin, thái độ, hành vi, định hướng…

Như vậy, có thể khẳng định được tầm quan trọng và vai trò, vị trí đặc biệt của giáo dục tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân, bởi chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt.

1.3.2. Tầm quan trọng của dạy học 2 buổi/ngày ở trường tiểu học

Theo chủ trương của Bộ GD&ĐT về việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày cho học sinh tiểu học, ngoài việc giãn các nội dung, thời lượng học tập (các môn học chính khoá theo quy định) chỉ tập trung học 1 buổi chuyển thành 2 buổi, để học sinh bớt căng thẳng, nâng cao chất lượng dạy học; còn có thêm thời gian để giáo viên hướng dẫn học sinh hoàn thành các yêu cầu học tập ngay ở trường, được học các môn tự chọn, tham gia hoạt động ngoại khoá, năng khiếu, sinh hoạt tập thể, rèn luyện kỹ năng sống, phát triển năng lực cho trẻ; học sinh được đảm bảo an toàn trong thời gian bố mẹ phải tham gia lao động, sản xuất, tạo sự yên tâm cho phụ huynh.

Học sinh học 2 buổi/ngày dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các nhiệm vụ học tập sẽ hoàn thành ngay tại lớp. Hơn nữa, giáo viên là người có chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm sư phạm, có hiểu biết nhất định về tâm lý, điều kiện hoàn cảnh của học sinh, biết lựa chọn hình thức dạy học đảm bảo tính vừa sức, tính phù hợp với nội dung, phương pháp dạy học trên từng đối tượng học sinh cụ thể. Nhờ đó, có thể hạn chế tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan. Học sinh có điều kiện được tiếp xúc nhiều với giáo viên, bạn bè, góp phần tích cực hoá mối quan hệ trong lớp học, giúp học sinh tự tin hơn, được phát triển toàn diện hơn. Tạo nên sự yên tâm cho phụ huynh học sinh.

Dạy học 2 buổi/ngày còn là điều kiện thuận lợi để nhà trường tổ chức bán trú, can thiệp được chế độ dinh dưỡng nâng cao thể trạng, thể lực cho học sinh. Học sinh tiểu học được học cả ngày, ăn uống, nghỉ ngơi hợp lí, có thời gian sinh hoạt vui chơi với bạn cùng lứa tuổi, cùng đặc điểm tâm sinh lí để phát triển. Học sinh được tham gia vào các hoạt động học tập đa dạng, phát huy được các khả năng và sở thích cá nhân, học sinh yếu có nhiều cơ hội được quan tâm giúp đỡ hơn để đạt chuẩn chương trình, góp phần tạo sự bình đẳng về quyền lợi học tập cho trẻ em ở những vùng, miền khác nhau.

Như vậy, học sinh học 2 buổi/ngày tại trường được tăng thời lượng học tập, giãn nội dung dạy học ra 2 buổi học; có thời gian tham gia các hoạt động tập thể, ngoại khoá, vui chơi, rèn luyện về âm nhạc, thể dục, mĩ thuật,… được học các môn tự chọn như tin học, ngoại ngữ, hiểu biết thêm kiến thức thực tế, rèn kĩ năng sống, có điều kiện gần gũi với thầy cô, bạn bè; nâng cao chất lượng dạy học; đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh và nguyện vọng của phụ huynh, góp phần tích cực trong quá trình thực hiện chất lượng giáo dục toàn diện, phù hợp với xu thế phát triển xã hội hiện nay.

1.3.3. Nội dung và kế hoạch dạy học 2 buổi trên ngày ở trường tiểu học

Hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở trường Tiểu học được hiểu là hình thức tổ chức các hoạt động dạy học, giáo dục học sinh cả buổi sáng và buổi chiều các ngày học trong tuần (từ 7 buổi – 10 buổi/tuần), tạo điều kiện thuận lợi giải quyết “quá tải” khi thực hiện nội dung chương trình hiện hành (nếu chỉ học trong 1 buổi). Mặt khác, dạy 2 buổi/ngày có thêm thời gian để học thêm một số môn học, hoạt động tự chọn nhằm giáo dục phát triển toàn diện và rèn luyện kĩ năng, năng khiếu…

Theo quy định Chương trình giào dục Phổ thông cấp Tiểu học, ban hành kèm theo Thông tư 32/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 ban hành Chương trình giáo dục phổ thông của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT số tiết cụ thể như sau:

Bảng 1.1. Tổng hợp kế hoạch giáo dục cấp tiểu học

Lớp 1Lớp 2Lớp 3Lớp 4Lớp 5
Môn học bắt buộc
Tiếng Việt420350245245245
Toán105175175175175
Ngoại ngữ 1140140140
Đạo đức3535353535
Tự nhiên và Xã hội707070
Lịch sử và Địa lí7070
Khoa học7070
Tin học và Công nghệ707070
Giáo dục thể chất7070707070
Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật)7070707070
Hoạt động giáo dục bắt buộc
Hoạt động trải nghiệm105105105105105
Môn học tự chọn
Tiếng dân tộc thiểu số7070707070
Ngoại ngữ 17070
Tổng số tiết/năm học (không kể các môn học tự chọn)87587598010501050
Số tiết trung bình/tuần (không kể các môn học tự chọn)2525283030

Như vậy, thời gian thực học trong một năm học tương đương 35 tuần. Các cơ sở giáo dục tổ chức dạy học 1 buổi/ngày và 2 buổi/ngày đều phải thực hiện nội dung giáo dục bắt buộc chung thống nhất đối với tất cả cơ sở giáo dục trong cả nước. Hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ngoài việc tạo điều kiện nền tảng thuận lợi cho việc hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc mà học sinh còn có điều kiện tiếp xúc, trao đổi, giao tiếp, học tập với bạn học, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng học tập chính đáng của các em.

1.3.4. Về hình thức tổ chức dạy học 02 buổi/ngày

Việc tổ chức dạy học 02 buổi/ngày theo mô hình 4-3, buổi sáng 4 tiết chương trình chính khóa; buổi chiều 03 tiết chủ yếu dạy các tiết tăng cường, cũng cố kiến thức đã học hoặc phân nhóm đối tượng học sinh. Căn cứ kế hoạch giáo dục nhà trường để giáo viên chủ động xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với đối tượng học sinh nhưng đảm bảo theo yêu cầu chung:

Buổi học thứ nhất: Chỉ đạo dạy học theo kế hoạch giáo dục và thực hiện chương trình, sách giáo khoa quy định cho mỗi lớp, theo chương trình giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo mỗi  buổi học không quá 4 tiết, 05 buổi/ tuần. Chỉ đạo GV dạy đảm bảo yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng cơ bản các môn học. Lựa chọn phương pháp dạy học linh hoạt, đảm bảo tính vừa sức, không gây áp lực, tạo điều kiện cho học sinh được thể hiện mình, với phương châm nhẹ nhàng, hiệu quả.

Buổi thứ hai: (5 buổi /tuần – 3 tiết/buổi). Nội dung dạy học buổi 2 chú trọng thực hành kiến thức đã học, tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động, tổ chức các buổi hoạt động ngoài giờ, Dạy học phân hóa đối tượng học sinh nhằm bồi dưỡng học sinh năng khiếu, giúp HS chậm tiến bổ sung những thiếu hụt về kiến thức, dạy học các môn tự chọn, hoạt động ngoài giờ…. Giáo viên phải tạo điều kiện cho học sinh thảo luận nhóm, sắm vai, sưu tầm, mạnh dạn tự tin phát biểu, tăng cường trò chơi học tập để HS không phải ngồi học thụ động dễ gây mệt mỏi. Giáo viên phải sáng tạo, linh hoạt hơn về hình thức tổ chức dạy học.

Riêng buổi học thứ hai, để giúp HS bổ sung những thiếu hụt về kiến thức đồng thời cũng để phát hiện năng khiếu của chính các em, thầy cô cần phải biết cá thể hóa học sinh trong từng tiết dạy như chia nhóm thực hành hoạt động theo đối tượng và hướng dẫn kiến thức cho phù hợp với trình độ của từng nhóm.

1.3.5. Điều kiện tổ chức dạy học 2 buổi trên ngày Điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị tổ chức dạy học 02 buổi/ngày

Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đóng vai trò hỗ trợ tích cực cho quá trình dạy – học. Bởi vì, có cơ sở vật chất, thiết bị dạy học tốt thì chúng ta mới có thể tổ chức được quá trình dạy học khoa học, huy động được đa số người học tham gia thực sự vào quá trình này. Như vậy, thiết bị dạy học phải đủ và phù hợp mới triển khai được các phương pháp dạy học một cách hiệu quả. Do vậy cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là bộ phận quan trọng của nội dung và phương pháp, chúng có thể vừa là phương tiện để nhận thức, vừa là đối tượng chứa nội dung cần nhận thức.

Cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật dạy học được xem như một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục – đào tạo. Sự phát triển nhanh chóng của cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đã và đang tạo ra tiềm năng sư phạm to lớn cho việc dạy học có hiệu quả. Các phương tiện dạy học hiện đại đã đem lại chất lượng mới cho các phương pháp dạy học.

Phương tiện dạy học là các đối tượng – vật chất do giáo viên hoặc học sinh sử dụng dưới sự chỉ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học, tạo những điều kiện cần thiết nhằm đạt được mục đích, mục tiêu dạy học.

Chức năng chủ yếu của phương tiện dạy học là tạo điều kiện cho học sinh nắm vững chính xác, sâu sắc kiến thức, phát triển năng lực nhận thức và hình thành nhân cách của học sinh. Trong quá trình dạy học, phương tiện dạy học đã chứng tỏ vai trò to lớn của mình ở tất cả các khâu: tạo động cơ, hứng thú học tập của học sinh; cung cấp các cứ liệu thực nghiệm nhằm khái quát hoá hoặc kiểm chứng các kiến thức về các khái niệm, định luật vật lý, mô phỏng các hiện tượng, quá trình vật lý vi mô, đề cập các ứng dụng của các kiến thức vật lý trong đời sống và kỹ thuật; sử dụng trong việc ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá kiến thức, kỹ năng của học sinh, sinh viên; hỗ trợ việc kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng…

Về danh mục thiết bị tối thiểu cho lớp 1 đã được Bộ GD&ĐT quy định tại Thông tư số 05/2019/TT-BGĐT.

Nguồn kinh phí thực hiện dạy học 02 buổi/ngày: Việc thu, chi và sử dụng kinh phí buổi thứ 2 cho giáo viên được thực hiện theo quy định của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. Phụ huynh tự đóng góp hoặc sử dụng kinh phí theo Nghị định 116/ 2015/NĐ-CP về việc hỗ trợ kinh phí 40% mức lương tối thiểu cho học sinh ở xa điểm trường không có khả năng đi về trong ngày.

1.4. Quản lí hoạt động dạy học 2 buổi/ngày ở trường tiểu học

1.4.1. Quản lý mục tiêu dạy học 02 buổi/ ngày

Mục tiêu dạy học 02 buổi/ ngày ở các trường tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học tốt ở bậc Trung học cơ sở. Do vậy, việc quản lý để đạt mục tiêu trên là nhiệm vụ quan trọng của Hiệu trưởng, phải biết được mục tiêu của nhà trường đi đến đâu trong từng khối lớp để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.

Theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông 2018: Yêu cầu cần đạt là phát triển toàn diện về phẩm chất và năng lực của học sinh

Về phẩm chất: Trong tiếng Việt, phẩm chất được hiểu là cái làm nên giá trị của con người hay vật. Tâm lý học phân biệt phẩm chất tâm lý – những đặc điểm thuộc tính tâm lý, nói lên mặt đức (theo nghĩa rộng) của một nhân cách – với phẩm chất trí tuệ- những đặc điểm bảo đảm cho hoạt động nhận thức của một người đạt kết quả tốt, bao gồm những phẩm chất của tri giác (óc quan sát), của trí nhớ (nhớ nhanh, chính xác,) của tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ và chú ý [30, tr 35].

Về năng lực: Dựa vào kết quả nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế thì “năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…thực hiện một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [9, Tr 37].

Yêu cầu “phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực “là sự tiếp nối truyền thống xây dựng con người toàn diện có đức có tài, vừa hồng vừa chuyên của dân tộc.

Vì vậy, mục tiêu của dạy học 02 buổi/ ngày không nằm ngoài mục tiêu chung của chương trình giáo dục phổ thông là xây dựng theo định hướng phẩm chất và năng lực của học sinh, tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp học sinh phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức, trách nhiệm trong học tập, có đầy đủ kỹ năng cần thiết trong các hoạt động giáo dục của nhà trường, có tính sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân để tiếp tục học lên lớp trên, dần hình thành những phẩm chất và năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

1.4.2. Quản lý nội dung, kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày

Điều 30 Luật Giáo Dục số 43/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 của nước ta nêu rõ yêu cầu nội dung chương trình Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh nền tảng phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội; có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có nhận thức đạo đức xã hội; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật; Thực hiện chương trình dạy học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, trong đó quy định về mục tiêu dạy học của từng môn theo khối lớp.

Chương trình dạy học là cơ sở để giáo viên thiết kế kế hoạch dạy học của bản thân. Thực hiện chương trình theo quy định của Bộ GD&ĐT mang tính pháp lệnh Nhà nước. Đây là căn cứ cho các cấp quản lý giáo dục tiến hành chỉ đạo, giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động dạy học của nhà trường, của giáo viên. Vì vậy, Hiệu trưởng không những phải nắm vững mà còn phải tổ chức cho giáo viên nghiên cứu, nắm vững chương trình dạy học của từng môn học, nội dung, phạm vi kiến thức, phương pháp dạy học đặc trưng, các điều kiện để thực hiện dạy học từng môn học, lớp học, cấp học. Trên cơ sở đó, Hiệu trưởng chỉ đạo thực hiện nghiêm túc chương trình dạy học.

Hiệu trưởng quản lý việc thực hiện nội dung, kế hoạch dạy học là chỉ đạo, tổ chức để giáo viên thực hiện đúng và đầy đủ yêu cầu, nội dung tiến độ của chương trình dạy theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, là cơ sở để Hiệu trưởng lập kế hoạch, nội dung, chương trình dạy học, định hướng phương pháp dạy học của từng môn học, tường khối lớp và các cấp học.

Ngoài ra, nhằm hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt. Hiệu trưởng cần quản lý việc thiết kế chương trình tổ chức hoạt động dạy học 2buổi/ngày, trong đó chú trọng giáo dục kiến thức địa phương, các hoạt động trải nghiệm và phát triển năng khiếu để có điều kiện thuận lợi cho học sinh được học tập, sinh hoạt và vui chơi cả ngày trong những ngày đến trường.

Điều 89 Luật Giáo số 43/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định “Nhà trường có trách nhiệm thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục, quy tắc ứng xử; chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để tổ chức hoặc tham gia các hoạt động giáo dục theo kế hoạch của nhà trường, bảo đảm an toàn cho người dạy và người học; thông báo về kết quả học tập, rèn luyện của học sinh cho cha mẹ hoặc người giám hộ”.

Thực hiện dạy học 2 buổi/ ngày các trường được chủ động lựa chọn nội dung, chương trình, kế hoạch dạy học các tiết học ngoài quy định bắt buộc (chính khoá) còn có nội dung, môn học tự chọn (ngoài chính khoá) cho mỗi khối lớp, đảm bảo tính cân đối, hài hoà giữa phát triển kiến thức kỹ năng với phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh, phù hợp với thực tiễn đơn vị như: Tiếng Anh, Tin học và các hoạt động ngoài giờ lên lớp, bồi dưỡng năng khiếu, tổ chức các câu lạc bộ,… tăng cường rèn luyện một số kỹ năng, hoạt động trải nghiệm phù hợp lứa tuổi, góp phần phát triển năng lực người học, giúp học sinh phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phù hợp xu thế hội nhập.

Vì vây, Hiệu trưởng phải có định hướng, chỉ đạo việc lựa chọn, sắp xếp, bố trí, triển khai thực hiện linh hoạt, sáng tạo, phong phú về hình thức và nội dung, chương trình. Có như vậy, mới có được sự chuyển biến tích cực góp phần tạo nên sự khác biệt, tính ưu việt của 2 buổi/ngày.

1.4.3. Quản lý việc tổ chức, sắp xếp đội ngũ giáo viên dạy học 2 buổi/ngày

Phân công giảng dạy cho đội ngũ giáo viên là công việc khó khăn nhất trong quản lý nhân sự, nhất là trong dạy học 2 buổi/ngày. Việc phân công giảng dạy cho giáo viên có tác động trực tiếp quyết định chất lượng dạy học. Căn cứ vào khả năng, năng lực, tâm tư, nguyện vọng, chuyên môn đã được đào tạo của từng giáo viên để có sự phân công đảm bảo tính khoa học, hợp lí, cần đối, hài hoà giữa các bộ phận, phù hợp với chuyên môn, năng lực, sở trường của đội ngũ giáo viên.

Phân công giảng dạy cho giáo viên phải đặt quyền lợi học tập của học sinh lên hàng đầu, nhưng cần chú ý để bảo đảm tính công bằng về quyền, nghĩa vụ của cá nhân giáo viên; tạo sự thống nhất, đoàn kết, thân ái, yêu thương, thông cảm, chia sẻ lẫn nhau mới phát huy được sức mạnh của tập thể sư phạm.

1.4.4. Quản lý hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh ở buổi thứ 2

1.4.4.1. Quản lý hoạt động dạy của giáo viên

Trong dạy học, hoạt động dạy của giáo viên đóng vai trò chủ đạo, là một hoạt động quan trọng có tính chất quyết định hiệu quả, chất lượng dạy học. Vì vậy, quản lý các công việc có liên quan đến hoạt động giảng dạy của giáo viên là một nhiệm vụ cơ bản trong quản lý hoạt động dạy học, cụ thể, quản lý việc phân công giảng dạy; việc chuẩn giờ lên lớp; thực hiện giờ lên lớp; hoạt động tổ chuyên môn.

* Quản lý việc chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên:

Trên cơ sở kế hoạch dạy học 02 buổi/ ngày của nhà trường, của tổ chuyên môn đã được Hiệu trưởng phê duyệt, giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học của mình theo lớp chủ nhiệm hoặc giáo viên được phân công giảng dạy các môn tin học, ngoại ngữ, thể dục, âm nhạc, hoạt động ngoài giờ,….trong năm học, học kỳ và từng bài cụ thể theo tuần, tháng, đặt biệt là chú ý đến kế hoạch các tiết tăng cường ở buổi thứ hai (buổi chiều) nhưng phải tuân thủ theo chương trình từng môn đã được quy định.

Việc soạn giáo án của giáo viên đối với tiết chính khóa được thực hiện theo nội dung, kiến thức, mục tiêu bài dạy. Dạy 02 buổi/ ngày ở buổi thứ hai chủ yếu tập trung vào đặc điểm, tình hình học sinh mỗi lớp để tổ chức ôn tập, bồi dưỡng, củng cố phần kiến thức đã học ở buổi thứ nhất, khắc sâu nội dung bài học; Đồng thời, dựa vào trình độ tiếp thu kiến thức của lớp mà phân hóa đối tượng học sinh để phù đạo học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh giỏi ở lớp mình phụ trách, làm sao học sinh chủ động tiếp thu tại trường, không mang bài tập về nhà.

Vì vậy, việc chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên là khâu cần thiết và là điều kiện bắt buộc đối với mỗi giáo viên. Bởi vì, việc dạy học luôn luôn mang tính sáng tạo vừa khoa học, vừa mang tính nghệ thuật, đòi hỏi giáo viên phải có tính nghiên cứu cao, nếu không áp dụng đúng đắn sẽ làm chệch hướng mục tiêu cần đạt.

Quản lý sự chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên, người Hiệu trưởng quản lý dạy 02 buổi/ ngày nói chung, ở buổi thứ hai nói riêng là việc quản lý lựa chọn nội dung dạy học sao cho phù hợp với đối tượng học sinh ở lớp học theo 04 đối tượng là giỏi, khá, trung bình, yếu. Từ đó mới có hướng theo dõi, điều chỉnh đảm bảo phương pháp, hình thức, nội dung bài dạy, tránh trùng lặp nội dung ở buổi chính khóa gây nhàm chán, mất hứng thú học tập của học sinh.

* Quản lý hoạt động giảng dạy trên lớp:

Giờ lên lớp của giáo viên có vai trò quyết định đến chất lượng và mục tiêu giáo dục. Giáo viên phải thực hiện các nội dung đã chuẩn bị như kế hoạch bài giảng, vừa giải quyết các vấn đề diễn ra trong giờ học một cách linh hoạt, vừa quan sát các đối tượng học sinh trong lớp sao cho có hiệu quả, sinh động, tạo nguồn cảm hứng cho học sinh trong học tập. Nó đúc kết được năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm của giáo viên. Không phải giờ lên lớp nào cũng nhất nhất theo kế hoạch, theo nội dung giáo án mà giáo viên đã chuẩn bị mà phải linh hoạt sáng tạo trong thời lượng tiết dạy; nhất là ở buổi thứ hai, giáo viên cần nắm chắc đối tượng để có kế hoạch giúp học sinh hoàn thành kiến thức ở buổi thứ hai.

Hiêu trưởng quản lý việc giờ dạy lên lớp là xem xét việc thực hiện của giáo viên về thời gian của mỗi tiết dạy, về nội dung, phương pháp, sử dụng đồ dùng dạy học sẵn có và tự làm, sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Quản lý việc chấm bài, chữa bài, giáo dục kỹ năng cho học sinh,…ở trên lớp so với kế hoạch, mục tiêu bài dạy.

1.4.4.2. Quản lý hoạt động học của học sinh

* Quản lý nền nếp, kỷ cương trong học tập:

Như chúng ta đã biết, ở đơn vị nào, cơ quan nào có nền nếp, kỷ cương thì cơ quan, đơn vị đó đạt năng suất lao động cao. Kết quả học tập của học sinh phụ thuộc rất lớn vào nền nếp, kỷ cương trong học tập của lớp. Vậy việc quản lý nền nếp kỷ cương trong học tập của học sinh của Hiệu trưởng là quản lý việc thực hiện nội quy đối với học sinh về chuyên cần, việc học tập trên lớp, sinh hoạt thường xuyên ở trường, sinh hoạt lớp, kỹ năng sống và các hoạt động vui chơi, giải trí, hoạt động ngoài giờ lên lớp,…

* Quản lý việc học tập ở trường:

Học sinh học tập cả ngày ở trường tiểu học dạy 02 buổi/ ngày nên quản lý việc học tập ở trường của học sinh là nhiệm vụ then chốt của khâu quản lý, đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng giáo duc của nhà trường.

Nội dung quản lý học tập tại trường là quản lý sự việc thực hiện nội quy, quy chế của nhà trường, quy định của các cấp quản lý; quản lý việc học của học sinh, công tác kiểm tra, các hoạt động giáo dục khác đối với học sinh, kịp thời khen thưởng hoặc xử lý vi phạm của học sinh. Trong dạy học 02 buổi/ ngày cần quan tâm nhiều đến hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục kỹ năng sống trong dạy học.

* Quản lý hoạt động tự học:

Trong giảng dạy, học sinh phải có tính tự giác trong học tập, khi giáo viên giao nhiệm vụ, học sinh biết tự lực tìm tòi nghiên cứu trong sách, ngoài xã hội để tự tiếp thu kiến thức ngay tại lớp.

Tự học rất quan trọng và không thể thiếu được trong quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo. thông qua việc học tập trong các tiết tự học, học sinh bồi dưỡng, rèn luyện tinh thần trách nhiệm trong học tập, phát huy tính tự lực, khắc phục khó khăn để chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức tại trường.

Thông qua kế hoạch, bằng cách kiểm tra, dự giờ, quan sát thái độ học tập của từng lớp kịp thời. Quản lý các nhiệm vụ học tập của học sinh như kiểm tra bài cũ, làm bài tập, nghiên cứu sách giáo khoa, sách tham khảo để chuẩn bị cho bài học mới, quan sát sự tiến bộ của học sinh qua từng tháng, học kỳ,… Giáo dục học sinh có thói quen tự giác rèn luyện tự học ngay tại trường.

* Quản lý việc dạy học phân hóa và bồi dưỡng năng khiếu

Theo công văn 3316/ BGD ĐTGDTH ngày 7/7/2016 về việc hướng dẫn triển khai dạy học cả ngày ở trường tiểu học thực hiện chương trình các tiết dạy theo Quyết định 16/2006/BGD ĐT, ở buổi thứ hai tập trung vào nội dung chưa dạy xong ở buổi thứ nhất (đối với tiết học có nội dung dài và khó), thực hành kiến thức đã học giúp học sinh chưa hoàn thành vươn lên hoàn thành yêu cầu học tập; học sinh năng khiếu các môn học phát huy sở trường; Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, cho học sinh tham gia các hoạt động thực tế ở địa phương, tham quan dã ngoại, tổ chức dạy học các môn học và nội dung tự chọn được quy định trong chương trình, hoạt động các câu lạc bộ môn học, câu lạc bộ sở thích. Lựa chọn nội dung thích hợp để học sinh nghiên cứu, trãi nghiệm và hình thành các kỹ năng trong cuộc sống và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh;

Phụ đạo học sinh chưa hoàn thành: là tổ chức dạy học cho những học sinh trong quá trình học tập nhưng không nắm được chuẩn kiến thức, kỹ năng các môn học nhằm bổ sung những kiến thức mà một số đối tượng học sinh chưa tiếp thu được để rèn luyện các học sinh này theo kịp với trình độ với các bạn trong lớp.

Bồi dưỡng học sinh năng khiếu là phát hiện và tổ chức dạy học cho học sinh tìm hiểu sâu hơn về kiến thức đã học môn toán, tiếng Việt; học sinh có năng khiếu ở các môn học Âm nhạc, Mỹ thuật, Ngoại ngữ, tin học, Thể dục…nhằm giúp học sinh phát huy sở trường năng khiếu của mình.

Việc phụ đạo học sinh chưa hoàn thành kiến thức, kỹ năng, bồi dưỡng học sinh năng khiếu được diễn ra thường xuyên suốt quá trình năm học; không những trong giờ chính khóa mà phân hóa đối tượng học sinh ở buổi thứ hai; Đây là hoạt động cần phải quan tâm và được chú trọng đúng mức.

Muốn vậy, ngay từ đầu năm học Hiệu trưởng quản lý bằng cách bàn giao lớp của giáo viên chủ nhiệm lớp trước với giáo viên chủ nhiệm lớp sau, khảo sát chất lượng đầu năm, phân loại học sinh ngay từ đầu năm của từng khối lớp, có kế hoạch để sắp xếp, bố trí thời khóa biểu của buổi thứ hai của giáo viên sao cho phù hợp trong giảng dạy.

* Quản lý công tác bán trú cho học sinh:

Với mô hình dạy học 02 buổi/ ngày của trường tiểu học, học sinh được học tập cả ngày tại trường, nên việc theo dõi, phục vụ cho công tác bán trú là cần thiết; phụ huynh tin tưởng và gửi con em mình cả ngày cho nhà trường; Với xu thế phát triển như hiện nay, điều kiện làm việc của phụ huynh hàng ngày là không có thời gian chăm sóc con cái nên gửi ăn ở tại trường là nhu cầu thiết yếu; vì vậy, ngoài kết quả học tập phụ huynh còn mong muốn các em có sức khỏe, được chăm sóc chu đáo về khẩu phần ăn, giấc ngủ.

Người Hiệu trưởng phải đặt biệt chú tâm đến công tác bán trú; hiệu quả của công tác này vừa nâng cao chất lượng học tập mà còn giúp các em có nền nếp trong sinh hoạt tập thể, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh về nhiều mặt.

Quản lý công tác bán trú, người quản lý phải chú trọng đến công tác vệ sinh an toàn thực phẩm. có kế hoạch kiểm tra thường xuyên, đột xuất khâu vệ sinh, bếp ăn và chất lượng bữa ăn. Công tác y tế học đường phải đặt biệt chú trọng và xử lý kịp thời các vấn đề liên quan đến sức khỏe học sinh. Phải thành lập ban quản lý bán trú và giám sát chặt chẽ sao cho đảm bảo theo quy định về chuyên môn, sức khỏe, nghiệp vụ, có tình thương yêu con trẻ.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\GIAO DUC HOC\THAY HOANG DHSP\K38BD_LUAN VAN SAU BAO VE\K38BD_LUAN VAN SAU BAO VE\10. NGUYEN THI LUU

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *