Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh

Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh

Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh

1. Tính cấp thiết của đề tài

Việc sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp là điều kiện cần thiết, là chìa khóa mở ra thế giới tri thức, là công cụ để thu nhận thông tin, là phương tiện phát triển các mối quan hệ quốc tế trong bối cảnh hiện nay. Do vậy, việc nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy tiếng Anh trong các nhà trường, các trung tâm ngoại ngữ hiện nay đặt ra cho các nhà lãnh đạo, quản lý giáo dục các cấp là cần thiết để đáp ứng được xu thế phát triển của đất nước. Thêm vào đó, theo Luật giáo dục của Việt Nam – điều 7 quy định rằng “Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần bảo đảm để người học được học liên tục và có hiệu quả” . “Việc hình thành trung tâm ngoại ngữ khu vực là do nhu cầu về đào tạo ngoại ngữ nói chung, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực ngoại ngữ và đổi mới phương pháp giảng dạy cho giáo viên nói riêng ở các vùng kinh tế trong cả nước, trước mắt tập trung xây dựng các trung tâm có đội ngũ giảng viên có trình độ cao và có nguồn lực làm nòng cốt hỗ trợ cho việc phát triển các trung tâm ở vùng kinh tế khác” Trong thời gian qua, theo Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Thành phố Hồ Chí Minh (Tp. HCM), Tp. HCM hiện có hơn 900 các cơ sở và Trung tâm dạy ngoại ngữ nói chung và 86 Trung tâm ngoại ngữ ở quận 12 nói riêng. Quận 12 là một quận ngoại ô của Thành phố Hồ Chí Minh với khá nhiều trung tâm ngoại ngữ đang giảng dạy các chương trình tiếng Anh khác nhau. Khi tình tình các trung tâm mọc lên hàng loạt, kinh doanh phát triển, số lượng học viên phát triển một cách nhanh chóng các trung tâm ngoại sẽ gặp phải nhiều vấn đề khác nhau, việc dạy và học, việc quản lý dạy và học tiếng Anh ở các trung tâm ngoại ngữ bên cạnh những ưu điểm thì còn nhiều bất cập…..Để có thể góp phần tìm các biện pháp Quản lý khắc phục bất cập còn tồn đọng tôi chọn đề tài “ Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Giáo dục.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

*Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh. Trên cơ sở đó đề xuất hệ thống các biện pháp nhằm quản lý hiệu quả hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

*Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đề xuất hệ thống biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu:

Hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

4. Phương pháp nghiên cứu

*Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Sử dụng phương pháp thu thập các tài liệu liên quan và tham khảo các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ nhằm hệ thống hóa các cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu.

Sử dụng các phương pháp phân tích, phân loại, tổng hợp, xác định các khái niệm cơ bản về quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ.

*Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

– Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp Giáo viên, Cán bộ quản lý, học viên ở 04 trung tâm ngoại ngữ thuộc địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh nhằm bổ sung cho kết quả điều tra bằng phiếu hỏi.

– Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến: Đề tài đã xây dựng hai loại phiếu trưng cầu ý kiến dành cho cán bộ quản lý, giáo viên và học viên trên cơ sở lý luận và mục tiêu của đề tài

– Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Nghiên cứu báo cáo tổng kết kinh nghiệm giảng dạy, báo cáo Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Dự kiến đóng góp mới của luận văn

Về lí luận: Luận văn hệ thống lí luận về quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ

Về thực tiễn: Khảo sát, đánh giá được thực trạng công tác Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên đìa bàn Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Đề xuất được biện pháp Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên đìa bàn Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

6. Cấu trúc của luận văn

* Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo

* Phần nội dung: Gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ

Chương 2: Thực trạng Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Biện pháp Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh
Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh

 

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH TẠI CÁC TRUNG TÂM NGOẠI NGỮ

1.1.1. Tình hình nghiên cứu nước ngoài

1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Dạy học

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang (2000) đã viết “học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực, chiếm lĩnh khái niệm khoa học (nội dung học) dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên”. Như vậy học là một hoạt động với đối tượng, trong đó HV là chủ thể, khái niệm khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh. Cũng theo Nguyễn Ngọc Quang: “ Dạy là sự điều khiển tối ưu hóa quá trình HV chiếm lĩnh nội dung học, trong và bằng cách đó phát triển và hình thành nhân cách (năng lực và phẩm chất)” [39, tr.32]. Nhân cách ở đây được hiểu là tri thức, kĩ năng và thái độ.

Từ khái niệm dạy và học trên sẽ đưa tới khái niệm dạy học. Dạy học là hai mặt của một quá trình luôn luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau, quyết định lẫn nhau thông qua hoạt động cộng tác nhằm tạo cho HV khả năng phát triển trí tuệ, góp phần hoàn thiện nhân cách. “Là khái niệm chỉ hoạt động chung của người dạy vàHV, hai hoạt động này song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất. Quá trình này là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục tổng thể” [21, tr.39], trong đó:

Vai trò cùa nhà sư phạm là định hướng tổ chức, thực hiện việc truyền thụ tri thức. Kĩ năng và kĩ xảo đến HV một cách hợp lí, khoa học – do đó luôn luôn có vai trò và tác động chủ đạo.

HV ý thức, tổ chức quá trình tiếp thu một cách độc lập, sáng tạo các hệ thống kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo, hình thành năng lực và thái độ đúng đắn, tạo ra động lực cho việc học với tư cách là chủ thể sáng tạo, hình thành nhân cách của bản thân.

1.2.2. Hoạt động dạy học

1.2.2.1. Hoạt động dạy

Hoạt động dạy của giáo viên: Theo quan điểm lý thuyết về dạy học hiện đại, HĐDH bao gồm hoạt động của thầy và trò. Nhà tâm lý học A.Mentriskaia viết: “Hai hoạt động của thầy và trò là hai mặt của một hoạt động”.

Lí luận giáo dục hiện đại đã chỉ ra tính đặc thù của HĐDH. Hoạt động dạy học là hoạt động tương tác. Xem xét hoạt động của thầy đều có liên quan đến hoạt động của trò và ngược lại. Nhìn từ góc độ tính chủ thể của hoạt động sư phạm, để hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS được tiến hành thì không thể thiếu vai trò của chủ thể. Trong HĐDH, chủ thể hoạt động là người dạy (GV) và HV. Người học là chủ thể của hoạt động học, người dạy là chủ thể của hoạt động dạy. Thầy và trò là những chủ thể cùng nhau hoạt động, duy trì, tiếp nối hoạt động. Đối tượng của hoạt động học tập là lĩnh hội các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Mục tiêu của HĐDH là hình thành và phát triển nhân cách, năng lực của người học. HĐDH của GV mang ý nghĩa là phương tiện, là công cụ hỗ trợ thúc đẩy hoạt động học của HS đúng hướng và hiệu quả. “Năng lực người GV là khả năng thực hiện các HĐDH với chất lượng cao” (Trần Bá Hoành).

1.2.2.2. Hoạt động học

Hoạt động học của HV: Hoạt động học: Là hoạt động đặc thù của con người, là quá trình lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng bằng những cách thức, những phương pháp khác nhau nhằm hình thành và phát triển nhân cách người học.

Hoạt động học không chỉ hướng HV, vào việc lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và cách ứng xử mà còn hướng đến việc lĩnh hội phương thức của chính hoạt động học (Phương pháp học).

Muốn hoạt động học diễn ra có kết quả cao, HV phải biết cách học (có phương pháp học). Có phương pháp học tập, HV không phải mò mẫm, học lỏm; đồng thời các em có sự phát triển tâm lí trong quá trình tiến hành hoạt động học.

Cấu trúc của hoạt động học gồm: Động cơ học tập, nhiệm vụ học tập và hành động học tập. Nếu có động cơ học tập đúng đắn H sẽ thực hiện tốt nhiệm vụ học tập, từ đó có những hành động nghiêm túc trong học tập.

1.2.3. Quản lý

1.2.3.1. Quản lý

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình gây tác động của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt mục tiêu chung”.[4, tr.16]

Tác giả Trần Hồng Quân cũng nhấn mạnh: “Quản lí là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. [28, tr.176].

F.W.Taylo (1856-1915), người đề xuất thuyết “Quản lý khoa học” cho rằng: Quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Hoạt động QL ở bất kỳ tổ chức nào cũng đều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lý thông tin.

Theo Perter Drucker (1999) trong tác phẩm “Những thách thức QL đối với thế kỷ 21” đưa ra luận cứ: “Quản lý là một thực thể, một cơ quan chức năng cụ thể và phân biệt rõ ràng của bất kỳ tổ chức nào, dù đó là đơn vị sản xuất, kinh doanh, cơ quan chính phủ, trường học, bệnh viện hay nhà hát…Theo Drucker phải thực hành những nguyên tắc sau để đảm bảo đúng tinh thần xuyên suốt của quản lý: phải có yêu cầu cao về kết quả công việc, không chấp nhận kết quả kém hay tầm thường, chế độ phải dựa vào kết quả công việc”.

1.2.3.2. Chức năng của Quản lý

Tùy theo cách phân chia mà QL có các chức năng khác nhau. Thông thường Quản lý có 4 chức năng cơ bản sau:

– Chức năng kế hoạch hoá: Soạn thảo thông qua được những quy định về chủ chương QL quan trọng trên cơ sở những yêu cầu cơ bản kết hợp với thực tiễn để đưa ra những phương hướng kế hoạch cho phù hợp và có tính khả thi cao.

– Chức năng tổ chức: Thực hiện các quyết định, chủ trương bằng cách xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng QL, tạo dựng mạng lưới quan hệ tổ chức, tuyển chọn, sắp xếp, bồi dưỡng cán bộ, làm cho mục tiêu trở nên có ý nghĩa, tăng tính hiệu quả về mặt tổ chức.

– Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn, vận động, điều chỉnh và phối hợp với các lực lượng tích cực, chủ động theo sự phân công như kế hoạch đã định.

– Chức năng kiểm tra: Là chức năng liên quan đến mọi cấp QL để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống. Nó thực hiện việc xem xét tình hình thực hiện công việc đối chiếu với yêu cầu để có đánh giá đúng đắn.

Các chức năng tạo thành một chu trình QL của một hệ thống, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau.

1.2.4. Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của nhà QL trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động này có tính khoa học đến nhà trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch trong việc dạy và học theo mục tiêu đào tạo chung.

1.2.5. Hoạt động dạy học tiếng Anh

Trong nghiên cứu này chúng tôi đưa ra khái niệm dạy học môn tiếng Anh như sau: Dạy học môn tiếng Anh là quá trình giáo viên tiến hành các thao tác có tổ chức, có định hướng và học sinh bằng hoạt động của bản thân, từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các kiến thức, các kĩ năng trong chương trình môn tiếng Anh đáp ứng mục tiêu dạy học môn tiếng Anh.

1.3. Nội dung, hình thức dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ

1.3.1.Trung tâm ngoại ngữ

Theo quyết định số 31/2007/QĐ-BGDĐT ngày 04 tháng 6 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về Tổ chức và hoạt động của trung tâm ngoại ngữ – tin học [6]. Trung tâm ngoại ngữ – tin học là loại hình trung tâm giáo dục thường xuyên chuyên về đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học của hệ thống giáo dục quốc dân. Trung tâm ngoại ngữ – tin học có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng .

1.3.2.Chức năng của Trung tâm ngoại ngữ

Trung tâm ngoại ngữ có chức năng đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ thực hành và tin học ứng dụng theo hình thức vừa làm vừa học, học từ xa, tự học có huớng dẫn.

1.3.3. Hình thức học tập của Trung tâm ngoại ngữ:

Hình thức học tập của trung tâm ngoại ngữ rất đa dạng, linh hoạt, mang tính xã hội hóa cao, dịch vụ thuận lợi, nhằm góp phần nâng cao dân trí, nâng cao trình độ hiểu biết, kỹ năng sử dụng ngoại ngữ, tin học cho mọi tầng lớp nhân dân, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

1.3.4. Nhiệm vụ của Trung tâm ngoại ngữ:

Điều tra nhu cầu học ngoại ngữ, tin học, công nghệ thông tin – truyền thông trên địa bàn, trên cơ sở đó đề xuất với cơ quan quản lý cấp trên kế hoạch mở lớp đào tạo, bồi dưỡng, đáp ứng nhu cầu của người học.

Tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục: Chương trình ngoại ngữ trình độ A, B, C; Các chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học khác đáp ứng nhu cầu của người học; Tổ chức các lớp bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, công nghệ thông tin – truyền thông cho giáo viên của trung tâm và các cơ sở giáo dục khác trên địa bàn khi có nhu cầu; Thực hiện các công việc khác có liên quan đến ngoại ngữ như biên dịch, phiên dịch hoặc liên quan đến tin học như lập trình, cài đặt phần mềm; Tổ chức kiểm tra, cấp chứng chỉ cho các học viên của trung tâm đã hoàn thành chương trình theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Liên kết với các trung tâm, các cơ sở ngoại ngữ – tin học khác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, kiểm tra và cấp chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, công nghệ thông tin truyền thông; Nghiên cứu, tổng kết, rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động của trung tâm, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học, công nghệ thông tin – truyền thông.

1.3.5. Nội dung dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ

Môn Tiếng Anh ở Trung tâm ngoại ngữ được dạy học theo các giáo trình chuẩn của các trung tâm đã được Bộ GD&ĐT thông qua và phân phối chương trình do Bộ quy định. Hệ thống chủ điểm và chủ đề là cơ sở hình thành và phát triển các khả năng ngôn ngữ. Các khả năng ngôn ngữ được hình thành và phát triển song song với việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ: ngữ âm, từ ngữ và ngữ pháp:

+ Rèn luyện kỹ năng các kỹ năng Tiếng Anh như nghe, nói, đọc, viết.

+ Cung cấp các chương trình phù hợp với đầu ra chuẩn quốc tế: Cambridge English: Young Learners, TOEIC, TOFLE, IELTS.

+ Cung cấp những tri thức về văn hóa.

+ Bồi dưỡng tư tưởng đạo đức.

1.3.6. Hình thức dạy học môn tiếng Anh tại trung tâm ngoại ngữ:

Hình thức dạy học ở các Trung tâm ngoại ngữ theo hướng phát triển năng lực của HV, tổ chức theo các hình thức sau đây:

+ Tổ chức hình thức học tập đa dạng; chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, hội thi, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học.

+ Hình thức dạy học khai thác các điều kiện bên ngoài Trung tâm ngoại ngữ như tham quan thực tế.

+ Sử dụng các nguồn lực trên máy tính và Internet như thí nghiệm ảo, bài giảng điện tử, Elearning…

+ Các hình thức dạy học thực hiện theo tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập.

+ Các hình thức dạy học ở Trung tâm ngoại ngữ bên cạnh sử dụng PPDH truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập, giáo viên cần áp dụng các cách khác như: dạy học giải quyết vấn đề; dạy theo tình huống… ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin vào phương pháp và trang thiết bị…Hình thức dạy học tập trung bằng việc giáo viên của Trung tâm trực tiếp dạy học các kỹ năng, các nội dung, các phương pháp cho HV kết hợp với hình thức dạy học trực tuyến thông qua việc giao bài tập về nhà và hỗ trợ dạy học qua Internet để kết nối trực tuyến giữa giáo viên và HV trong việc luyện tập các kỹ năng.

1.3.7. Phương pháp dạy học môn tiếng Anh tại trung tâm ngoại ngữ

+ Phương pháp “Active Learning” (Học tập chủ động

+ Phương pháp “Critical thinking” (Tư duy phản biện)

+ Phương pháp “Integrated Curriculum Approach” (Phối hợp đồng thời giữa các môn học)

+ Phương pháp “Learning by teaching” (HV làm giáo viên)

+ Phương pháp dạy học đa giác quan

1.4. Nội dung quản lý dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ

Từ việc trình bày một số khái niệm cơ bản của luận văn như: quản lý, hoạt động dạy học, hoạt động dạy học môn tiếng Anh, Trung tâm ngoại ngữ, cho thấy quản lý dạy học môn tiếng Anh tại trung tâm ngoại ngữ là những tác động hướng đích của người quản lý đến khách thể và đối tượng quản lý nhằm đảm bảo HĐDH môn tiếng Anh được diễn ra đúng quy chế, thực hiện thành công mục tiêu, nhiệm vụ dạy học môn học này ở trung tâm ngoại ngữ. Theo đó có các nội dung quản lý sau:

1.4.1. Quản lý mục tiêu, chương trình dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ

Quản lý mục tiêu dạy học môn tiếng Anh nhằm đảm bảo mục tiêu dạy học được xây dựng hợp lý và được thực hiện trọn vẹn. Mục tiêu dạy học môn tiếng Anh phải phản ánh một cách cô đọng, đầy đủ, thực tiễn và khả thi. Quản lý mục tiêu dạy học phải được thường xuyên rà soát, bổ sung, điều chỉnh kịp thời. CBQL phải xây dựng kế hoạch định kỳ nhằm so sánh, đối chiếu mục tiêu với kết quả đạt được để đánh giá một cách toàn diện hoạt động đào tạo, tìm ra mặt mạnh, mặt yếu, có biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh.

CBQL thực hiện quản lý mục tiêu dạy học phải đảm bảo người học sau khi học môn học tiếng Anh phải đạt được các kỹ năng chủ yếu sau:

– Khả năng nói và diễn đạt để người khác hiểu được trong giao tiếp thông thường và trong môi trường làm việc.

– Khả năng nghe và hiểu thông tin người khác diễn đạt trong giao tiếp thông thường và trong môi trường làm việc.

– Khả năng đọc và hiểu thông tin trong giao tiếp thông thường và trong môi trường làm việc.

– Khả năng viết và diễn đạt để người khác hiểu trong giao tiếp thông thường và trong môi trường làm việc.

– Các khả năng chủ yếu nói trên tương ứng với từng cấp độ sử dụng tiếng Anh dựa trên thang điểm của kỳ thi tiếng Anh dùng trong giao tiếp (Test of English for International Communication-TOEIC ), IELTS (International English Language Testing System),TOEFL (Test of English as a Foreign language ) được quy định chi tiết trong nội dung chương trình. Quản lý mục tiêu dạy học môn tiếng Anh nhằm đảm bảo nội dung, chương trình dạy học môn tiếng Anh ở các Trung tâm ngoại ngữ đòi hỏi các CBQL ở các Trung tâm ngoại ngữ phải tổ chức xây dựng chương trình dạy học cho các ngành và chuyên ngành của trung tâm ngoại ngữ trên cơ sở nội dung dạy học và chương trình khung do Bộ LĐTBXH ban hành. Chương trình dạy học phản ánh mục tiêu dạy học cụ thể của trung tâm ngoại ngữ, đồng thời hướng đến đáp ứng các nhu cầu về chất lượng nguồn nhân lực của xã hội. Chương trình dạy học phải đảm bảo tính mềm dẻo, được cập nhật thường xuyên.

1.4.2. Quản lý việc dạy học môn Tiếng Anh của giáo viên tại các trung tâm ngoại ngữ

Để quản lý tốt việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học môn tiếng Anh của giáo viên, giám đốc TT cần phải chỉ đạo cấp dưới trong việc triển khai nội dung chỉ đạo chương trình dạy học tiếng Anh theo các khoá học trong năm học. Kết hợp và giao nhiệm vụ cho các Phó Giám Đốc phụ trách chuyên môn, tổ trưởng chuyên môn những nội dung sau:

– Nghiên cứu chương trình dạy học môn tiếng Anh của các lớp mà trung tâm tổ chức dạy học.

– Dự kiến trước những vấn đề này sinh trong việc thực hiện chương trình dạy học môn tiếng Anh và những giải pháp có thể thực thi, những điều kiện vật chất kỹ thuật cần cung cấp để việc thực hiện chương trình không bị trở ngại.

– Xây dựng các công cụ để quản lý theo dõi việc thực hiện chương trình dạy học môn tiếng Anh của giáo viên thông qua các loại hồ sơ giáo viên. Theo dõi giáo viên thực hiện thời khóa biểu, xây dựng các biểu mẫu báo cáo hàng tuần, tháng, học kỳ và việc thực hiện ngày giờ công, dạy thay, dạy bù của giáo viên trong việc thực hiện tiến độ chương trình.

– Quản lý việc hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch soạn bài ( giáo án), phổ biến những yêu cầu của việc chuẩn bị bài giảng, qui định chất lượng một bài soạn đối với từng thể loại bài của môn tiếng Anh.Soạn bài là khâu quan trọng nhất trong việc chuẩn bị của giáo viên cho giờ lên lớp. Cần quan tâm một số yêu cầu đối với giáo viên trong thực hiện đổi mới Soạn bài lên lớp là: Đổi mới việc thiết kế và chuẩn bị bài dạy học; cải tiến các PPDH truyền thống; kết hợp đa dạng các PPDH; lựa chọn và sử dụng hợp lý PTDH và CNTT trong dạy học; sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của HV; lựa chọn và sử dụng các PPDH phù hợp đặc thù bộ môn; chú trọng bồi dưỡng phương pháp học tập cho HV; đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HV .

– Quản lý việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học của giáo viên. Để nâng cao chất lượng dự giờ, phân tích sư phạm bài học, cần thường xuyên tổ chức các chuyên đề về dự giờ lên lớp, trao đổi nội dung và phương pháp dạy học, xây dựng dạy mẫu, tổ chức dạy thử, tổ chức học tập, thao giảng… nhằm giúp giáo viên nắm vững lý thuyết, rút kinh nghiệm về phương pháp dạy học, về các bước dự giờ và phân tích bài dạy…

– Quản lý giờ dạy trên lớp của giáo viên. Chủ thể quản lý quan tâm tới chất lượng của giờ lên lớp và chất lượng quá trình dạy học môn tiếng Anh trước tiên cần phải quản lý tốt chất lượng việc chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên. Sự chuẩn bị của giáo viên càng chu đáo thì kết quả dạy học càng ít sai sót. Đây là một hoạt động quản lý hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả của việc dạy và học môn tiếng anh, chủ thể quản lý cần chỉ đạo quản lý việc soạn bài ở nhà của giáo viên, chuẩn bị đồ dùng dạy học, các loại sổ sách chuyên môn. Giờ học là yếu tố quan trọng cơ bản có tính chất quyết định chất lượng của hoạt động dạy học môn tiếng Anh trong Trung tâm ngoại ngữ. Do vậy, chủ thể quản lý giáo dục phải làm thế nào để quản lý tốt giờ lên lớp của giáo viên.

1.4.4. Quản lý việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Anh của giáo viên.

Trong nội dung quản lý dạy học môn tiếng Anh, chủ thể quản lý còn phải chú trọng vào việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh để đạt được chất lượng và hiệu quả. Đây chính là nội dung quản lý dạy học môn tiếng anh vừa có tính lâu dài, vừa có tính thường xuyên của mỗi cơ sở giáo dục hiện nay. Quá trình thực hiện đổi mới này có thành công và thu được kết quả như mong đợi hay không phụ thuộc phần lớn vào công tác quản lý của chủ thể quản lý. Việc quản lý thực hiện đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh ở Trung tâm ngoại ngữ của giáo viên gồm có các nội dung sau: Quản lý giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HV theo hướng đổi mới phương pháp; Quản lý công tác bồi dưỡng cho giáo viên các phương pháp dạy học môn tiếng Anh hiện đại và hiệu quả.

1.4.4. Quản lý hoạt động học môn Tiếng Anh của học viên tại các Trung tâm ngoại ngữ

Vấn đề quản lý học tập môn tiếng Anh ở Trung tâm ngoại ngữ của người học đặt ra với Giám Đốc và tổ trưởng chuyên môn không phải chỉ trên bình diện khoa học giáo dục mà còn là một đòi hỏi có ý nghĩa về tinh thần trách nhiệm của người quản lý. Thể hiện qua một số công việc sau đây :

– Tổ chức xây dựng và thực hiện nội quy học tập cho người học ;

– Phát động phong trào thi đua học tập môn tiếng Anh ở Trung tâm ngoại ngữ;

– Giám Đốc, tổ trưởng chuyên môn chỉ đạo công tác phối hợp giữa các tổ chức trong Trung tâm để quản lý hoạt động học môn tiếng Anh ở Trung tâm ngoại ngữ của người học.

– Phối hợp giữa CBQL lớp, giáo viên cố vấn học tập và các lực lượng theo dõi, thúc đẩy, khuyến khích học viên phát huy các yếu tố tích cực, khắc phục các yếu tố tiêu cực, phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập, rèn luyện ngày càng cao.

1.4.5. Quản lý cơ sở vật chất phục vụ dạy và học môn tiếng Anh

Cơ sở vật chất phục vụ dạy và học là các công cụ mà giáo viên và học viên sử dụng trong quá trình dạy và học môn tiếng Anh, đó là các thiết bị dạy học và giáo dục: phòng dạy học, bàn ghế, các phương tiện kỹ thuật,… Tất cả những trang thiết bị này góp phần lớn đối với quá trình nhận thức của HV, đối với việc rèn kỹ năng thực hành, làm tăng năng suất hoạt động của người dạy học và HV, làm thay đổi phong cách tư duy và hành động được thể hiện qua những công việc sau:

– Có kế hoạch xây dựng thêm phòng học và áp dụng quy trình quản lý phòng học, trang thiết bị phù hợp. “Trung tâm phải có trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học tiếng Anh như âm li, cassette, máy đèn chiếu, băng hình, và các giáo cụ trực quan như vật thật, tranh ảnh hình cắt từ tạp chí, bưu thiếp, các tấm bìa hình, bản đồ, bảng biểu, phiếu khai…”[3, tr 12].

– Phát động thi đua sử dụng hệ thống cơ sở vật chất, kết hợp với các phương pháp dạy học tiên tiến hiện đại, tổ chức thi làm đồ dùng dạy học và có khen thưởng cho người đạt giải cao.

– Thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kĩ thuật sử dụng hệ thống cơ sở vật chất của trung tâm ngoại ngữ cho giáo viên qua nhiều hình thức.

– Xây dựng những quy trình sử dụng hệ thống cơ sở vật chất Trung tâm ngoại ngữ và yêu cầu mọi người phải thực hiện.

– Cần đưa ra quy chế sử dụng hệ thống cơ sở vật chất Trung tâm ngoại ngữ và cần phải xử phạt những ai không theo đúng quy định.

1.5. Các yếu tổ ảnh hưởng tới quản lý dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ

1.5.1. Các đặc điểm văn hóa xã hội của từng địa phương

Điều kiện địa lí có ảnh hưởng đến đến chất lượng đội ngũ giáo viên. Ví dụ như: vùng có địa lí thuận lợi cho việc giao thông, thông thương, trình độ năng lực của giáo viên cao hơn những vùng có hoàn cảnh địa lí tự nhiên khó khăn. Điều kiện kinh tế xã hội cũng là yếu tố có mức độ ảnh hưởng cao, liên quan đến chỉ số phát triên con người. Bên cạnh đó, các quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ, lối sống, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa địa phương, sự quan tâm của xã hội, trình độ học vấn của cộng đồng dân cư cũng là những yếu tố có tác động lớn đến việc phát triển năng lực của giáo viên tiểu học nói chung và giáo viên dạy tại các Trung tâm ngoại ngữ dành cho HV bậc tiểu học nói riêng.

1.5.2. Đặc điểm HV theo học tại các Trung tâm ngoại ngữ

Đặc điểm HV theo học tại các trung tâm ngoại ngữ chia thành:

+ Lứa tuổi HV trải rộng từ tuổi thiếu nhi đến tuổi vị thành niên, thâm chí vẫn có học viên đã lớn tuổi nhưng vẫn muốn học tiếng Anh, nâng cao trình độ tiếng Anh;

+ Kiến thức từ căn bản đến cần nâng cao: HV vẫn còn học ở các trường TH và THPT, sinh viên ở các trường Đại học và người đi làm, nội trợ,… có những trình độ kiến thức về tiếng Anh khác nhau và nhu cầu cần tiếng Anh khác nhau.

Vì thế, một trong những nội dung đạt chuẩn của giáo viên là phải có những hiểu biết về đặc điểm tâm lý, sinh lý của HV, kể cả HV khuyết tật, HV có hoàn cảnh khó khăn; vận dụng được các hiểu biết đó vào hoạt động giáo dục và giảng dạy phù hợp với đối tượng HV tại các Trung tâm ngoại ngữ. Ngoài ra, nắm được kiến thức về tâm lý học lứa tuổi sẽ giúp giáo viên sử dụng các kiến thức đó để lựa chọn phương pháp giảng dạy, cách ứng xử sư phạm trong giáo dục phù hợp với HV ở các Trung tâm ngoại ngữ.

1.5.3 Năng lực sư phạm và điều kiện hoạt động của giáo viên

Năng lực này được quy định tại Quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học, ban hành theo Quyết định số 14/2007/QĐ- BGDĐT số ngày 04 tháng 5 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT. Có một số nhân tố ảnh hưởng đến việc đáp ứng các chuẩn này: trình độ đào tạo, độ tuổi, giới tính của GV…

Trước hết là trình độ đào tạo: trình độ đào tạo, đạt chuẩn hay trên chuẩn, đào tạo theo hình thức chính quy hay không chính quy, chất lượng và uy tín của cơ sở giáo dục đào tạo nói chung và Trung tâm ngoại ngữ nói riêng. Bên cạnh đó, độ tuổi của giáo viên, thâm niên làm việc trong Trung tâm ngoại ngữ cũng tác động không nhỏ đến trình độ, năng lực của giáo viên.

Hơn nữa, quá trình đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng giáo viên. Đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên đòi hỏi rất cao ở tính sáng tạo và linh hoạt.

Cuối cùng là phẩm chất chính trị đạo đức lối sống, năng lực tự học của giáo viên để đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của xã hội nói chung và sự phát triển của các Trung tâm ngoại ngữ nói riêng.

1.5.4. Năng lực và trình độ Quản lý của người giám đốc trung tâm

Theo thông tư số 21/2018/TT-BGDĐT, Giám đốc trung tâm là người đáp ứng các tiêu chuẩn sau: Có nhân thân tốt; Có năng lực quản lý; Tốt nghiệp đại học ngoại ngữ hoặc tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ ngoại ngữ tối thiểu bậc 3 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc tương đương (đối với giám đốc trung tâm ngoại ngữ); Tốt nghiệp đại học tin học hoặc tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản theo Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin hoặc tương đương theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Thông tin và Truyền thông (đối với giám đốc trung tâm tin học); Có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.

– Phải biết phấn đấu cho lợi ích chung, đi đầu trong mọi lĩnh vực, quản lí Trung tâm ngoại ngữ bằng năng lực, uy tín của bản thân, nắm vững đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo đúng hướng, đúng mục tiêu giáo dục của cấp học.

– Phải có trình độ nghiệp vụ quản lý chắc chắn, vững vàng, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nắm vững nguyên lí giáo dục của Đảng, năng động sáng tạo.

– Phải không ngừng học tập nâng cao trình độ; Phải hiểu rõ Chuẩn nghề nghiệp, ý nghĩa của Chuẩn, sự khác biệt giữa đánh giá GV theo Chuẩn và các kênh đánh giá khác đang được sử dụng trongtrung tâm . Giám đốc trung tâm ngoại ngữ phải có kế hoạch chỉ đạo công tác đánh giá chuẩn một cách linh hoạt, cùng tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của GV trong quá trình đánh giá để dảm bảo tính chính xác, độ tin cậy của việc đánh giá.

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 này, tác giả đã hệ thống được khung lí thuyết nghiên cứu Quản lý dạy học môn Tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ. Trong đó gồm có các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn. Khái niệm công cụ chính của luận văn được xác định như sau: Quản lý HĐDH môn tiếng Anh tại trung tâm ngoại ngữ là những tác động hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đảm bảo HĐDH môn tiếng Anh được diễn ra đúng hướng, thực hiện thành công mục tiêu, nhiệm vụ dạy học môn học này. Trên cơ sở khái niệm công cụ chính của đề tài luận văn, tác giả luận văn đã xác định được nội dung cụ thể của quản lý dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ. Tác giả luận văn cũng đã nghiên cứu và phân tích lí luận về các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động này. Từ kết quả nghiên cứu ở chương 1 là cơ sở để đề tài triển khai điều tra, phân tích thực trạng Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ và đề xuất những biện pháp Quản lý dạy học môn Tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh ở các chương 2 và chương 3 tiếp theo của luận văn.

Chương 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI CÁC TRUNG TÂM NGOẠI NGỮ QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Tình hình chung về Giáo dục và đào tạo Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Quận 12 được công bố thành lập ngày 01 tháng 04 năm 1997 theo Nghị định 03/CP, ngày 06 tháng 01 năm 1997của Chính phủ trên cơ sở toàn bộ diện tích các xã Thạnh Lộc, An Phú Đông, Tân Thới Hiệp, Đông Hưng Thuận, Tân Thới Nhất, một phần xã Tân Chánh Hiệp; một phần xã Trung Mỹ Tây thuộc huyện Hóc Môn trước đây [36]. Quận 12 nằm về phía tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh, được bao quanh một phần Quốc lộ 1A, quận là cửa ngõ giao thông khá quan trọng của thành phố nối liền với các tỉnh miền Đông Nam Bộ [36].

Hiện quận 12 đang có 86 trung tâm đang hoạt động dạy học Tiếng Anh. Với đội ngũ 774 người, trong đó có 678 giáo viên

2.2. Khái quát chung về các trung tâm ngoại ngữ quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh

Quận 12 tuy không phải là quận trung tâm của TP.HCM nhưng vẫn tập trung rất nhiều học sinh, sinh viên và thu hút các trung tâm Ngoại ngữ chất lượng thành lập cũng như mở chi nhánh tại đây. Tuy nhiên trong nội dung của nghiên cứu này, tôi sẽ lựa chọn 04 trung tâm tiếng Anh: Trung tâm Anh ngữ Á Châu ACE; Trung tâm ngoại ngữ Việt Âu Mỹ; Trung tâm ngoại ngữ Đông Phương Mới; Trung tâm Anh ngữ Âu Việt để nghiên cứu.

Hàng năm, công tác tuyển sinh ở các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh luôn được các CBQL ở các Trung tâm quan tâm sát sao và có những bước tiến trong các chương trình khuyến học, ngoại khóa và các buổi hội thảo, hội thao nhằm thực hiện chủ trương “chơi mà học, học mà chơi”, “lấy học sinh làm chủ đạo”.

Các Trung tâm ngoại ngữ hiện nay đang tuyển sinh đào tạo hai loại chương trình chủ yếu là Cambridge English và Toeic chuẩn đầu ra của các trường Đại học.

Trong 04 trung tâm dạy tiếng Anh được khảo sát thì giáo viên bản xứ dạy chiếm tới 80% thời gian dạy học, do đó thu hút được nhiều phụ huynh cho con em mình xin học để cải thiện giọng nói chuẩn bản xứ.

Trong 04 trung tâm này thì tỷ lệ giáo viên nước ngoài chiếm tỷ lệ cao là người nước ngoài là trung tâm Á Châu với tỷ lệ hơn 30%, đây là trung tâm có số lượng giáo viên nước ngoài ổn định trong 04 trung tâm.

Như vậy, số lượng giáo viên dạy tiếng anh tại 04 trung tâm này số với số lượng học sinh theo học tại 04 trung tâm là tương đối phù hợp. Số lượng giáo viên đáp ứng đủ nhu cầu học sinh các lớp, các trình độ đào tạo tại trung tâm. Tất cả 04 trung tâm được nghiên cứu đều có cả giáo viên nước ngoài và cả giáo viên Việt Nam. Đây là điều kiện rất quan trọng về chất lượng giáo viên dạy tiếng Anh tại các trung tâm.

2.3. Phương pháp nghiên cứu thực trạng

*Xây dựng công cụ nghiên cứu

Công cụ nghiên cứu thực trạng được xác định, gồm: phiếu hỏi, các số liệu thống kê và báo cáo thứ cấp, quản lý hoạt động dạy và học của các trung tâm ngoại ngữ quận 12, thành phố Hồ Chí Minh như các bản kế hoạch, bản đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch,…

a) Xây dựng các mẫu phiếu điều tra

* Xây dựng mẫu phiếu điều tra bằng bảng hỏi:

01 phiếu hỏi dành cho CBQL giáo dục và giáo viên của 4 trung tâm ngoại ngữ về các nội dung cụ thể như:

+ Thực trạng hoạt động dạy và học của các trung tâm ngoại ngữ quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

+ Thực trạng quản lý hoạt động dạy và học của các trung tâm ngoại ngữ quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

+ Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy và học của các trung tâm ngoại ngữ quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

b) Chọn mẫu khảo sát

+ Việc chọn mẫu được tiến hành theo phương pháp chọn mẫu từ danh sách các của các trung tâm ngoại ngữ quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

+ Tổng số khách thể được chọn ra để khảo sát là: 100 người. Trong đó, cán bộ quản lý (Giám đốc, Phó giám đốc, tổ trưởng chuyên môn) của 04 Trung tâm là 08; Giáo viên của 04 Trung tâm tiếng Anh là 42; học viên 50.

c) Tổ chức khảo sát

+ Thu thập thông tin qua phiếu hỏi: phát phiếu hỏi đến 100 người. Trong đó, cán bộ quản lý (Giám đốc, Phó giám đốc, tổ trưởng chuyên môn) của 04 Trung tâm là 08; Giáo viên của 04 Trung tâm tiếng Anh là 42; học viên 50.

2.4. Thực trạng hoạt động dạy học tiếng Anh tại các trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

2.4.1.Thực trạng hoạt động dạy môn tiếng Anh của giáo viên tại các trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Thực hiện đánh giá các nội dung: Nắm vững nội dung chương trình dạy học; Thực hiện kế hoạch giảng dạy theo đúng tiến độ; Giáo viên truyền đạt còn học viên ghi nhận và tiếp thu kiến thức; Sửdụngvàphối hợp nhuần nhuyễn các phương pháp đặc thù trong dạy học tiếng Anh; Luôn khuyến khích sự tranh luận, phát biểu của học viên trong lớp; Dạy học theo hướng cá nhân hoá, phát huy hết khả năng của mỗi học viên; Thường xuyên sử dụng các trang thiết bị đồ dùng trong dạy học; ỨngdụngCNTT trong dạy học theo thang mức độ thực hiện Tốt, Khá, Trung bình, Chưa tốt.

Đa số khách thể nghiên cứu của đề tài đánh giá mức độ thực hiện hoạt động giảng dạy của giáo viên tiếng Anh ở mức độ khá, và thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau. Trong đó, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục có xu hướng đánh giá giáo viên là người “Thực hiện kế hoạch giảng dạy theo đúng tiến độ”

2.4.2. Thực trạng hoạt động học môn tiếng Anh của học viên tại các trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Thực hiện đánh giá các nội dung: Thực hiện tốt nội quy, quy định của trung tâm; Đảm bảo chuyên cần

trong học tập; Có tinh thần thái độ học tập nghiêm túc; Trung thực trong học tập, có ý thức chống lại những hành vi sai trái trong học tập; Có ý thức tự giác trong học tập; Sử dụng, bảo vệ và chuẩn bị đồ dùng học tập tốt theo thang mức độ thực hiện Tốt, Khá, Trung bình, Chưa tốt.

Chất lượng hoạt động học của HV đạt ở mức khá, có 1 tiêu chí đạt ở mức độ tốt là yêu cầu “Thực hiện tốt nội quy,quy định của trung tâm”. Đây là điều kiện rất là quan trọng đối với HV khi đến trung tâm học tập. Khi thực hiện tốt các quy định này thì các em sẽ có kết quả học tập tốt.

Như vậy, HV học tập trung tâm được nghiên cứu đã chấp hành khá tốt những nội quy, quy định của trung tâm, có tinh thần học tập nghiêm túc, ý thức trách nhiệm cao trong học tập, đa số HV đã biết chủ động trong học tập như tìm hiểu, huy động các kiến thức, kỹ năng cần thiết để học tốt.

2.5. Thực trạng Quản lý dạy học môn Tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

2.5.1. Thực trạng quản lý mục tiêu dạy học môn tiếng Anh tại các trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Thực hiện đánh giá các nội dung: Quản lý mục tiêu về kiến thức; Quản lý mục tiêu về kỹ năng; Quản lý mục tiêu về thái độ; Quản lý mục tiêu về nội dung theo thang mức độ thực hiện Tốt, Khá, Trung bình, Chưa tốt.

Mức độ thực hiện nội dung quản lý mục tiêu dạy học môn tiếng Anh của chủ thể quản lý tại các trung tâm ngoại ngữ được nghiên cứu đạt mức độ Khá. Điều này có nghĩa là chủ thể quản lý đã bước đầu thực hiện đúng các nội dung quản lý mục tiêu về kiến thức; mục tiêu về kỹ năng; mục tiêu về thái độ; mục tiêu về nội dung, phương pháp dạy học.

2.5.2. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh của giáo viên tại Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

2.5.2.1.Thực trạng quản lý nội dung, chương trình dạy học môn tiếng Anh của giáo viên

Thực hiện đánh giá các nội dung: Quản lý giáo viên thực hiện kế hoạch giảng dạy; Quản lý việc thực hiện giảng dạy, soạn bài; Kiểm tra thực hiện nội dung, chương trình giảng dạy của giáo viên; Quản lý mục tiêu về nội dung giảng dạy; Sử dụng kết quả thực hiện nội dung, chương trình giảng dạy trong đánh giá, xếp loại thi đua của giáo viên theo thang mức độ thực hiện Tốt, Khá, Trung bình, Chưa tốt.

Hai nội dung quan trọng của nội dung quản lý: Kiểm tra thực hiện nội dung chương trình giảng dạy của giáo viên; Sử dụng kết quả thực hiện nội dung, chương trình giảng dạy trong đánh giá, xếp loại thi đua của giáo viên này đã được đánh giá mức độ thực hiện tốt. Điều này khẳng định, chủ thể quản lý đã có những biện pháp quản lý phù hợp, đã rất chú trọng vào việc quản lý việc giảng dạy của giáo viên về kiến thức, nội dung theo đúng quy định hay không? Đây là điều kiện và cơ sở rất quan trọng để hiệu quả hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại các trung tâm ngoại ngữ được nghiên cứu đạt chất lượng tốt.

2.5.2.2. Quản lý giờ dạy trên lớp của giáo viên và việc vận dụng các phương pháp, phương tiện dạy học của giáo viên

Thực hiện đánh giá các nội dung: Xây dựng quy định cụ thể việc thực hiện giờ lên lớp của GV; Có kế hoạch quản lý việc thực hiện quy định nêu trên; Thường xuyên kiểm tra đối chiếu sổ báo giảng với kế hoạch giảng dạy; Tổ chức dạy thay, dạy bù kịp thời theo thang mức độ thực hiện Tốt, Khá, Trung bình, Chưa tốt.

Mức độ quản lý giờ dạy lên lớp và vận dụng các phương pháp, phương tiện dạy học của giáo viên tại trung tâm đạt mức độ khá, Điều này khẳng định, chủ thể quản lý tại các trung tâm này đã thực hiện có hiệu quả nhất định đối với nội dung quản lý này. Trong đó, các nội dung xem xét thuộc nội dung quản lý này được thực hiện đạt mức độ khá (4/4 nội dung). Có thể nói, chủ thể quản lý tại các trung tâm ngoại ngữ được nghiên cứu đã quan tâm và có các biện pháp quản lý phù hợp và bước đầu cho thấy có hiệu quả với các nội dungvề quy định cụ thể việc thực hiện giờ lên lớp của GV, chú trọng tới việc chỉ đạo bồi dưỡng năng lực sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học hiện đại cho giáo viên.

2.5.2.3. Quản lý thực hiện đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh của giáo viên

Thực hiện đánh giá các nội dung: Triển khai hướng dẫn việc đổi mới phương pháp giảng dạy; Tổ chức các chuyên đề tập huấn, sử dụng trang thiết bị dạy học hiện đại; Tổ chức thao giảng mẫu về đổi mới phương pháp dạy học; Quản lý việc duy trì đổi mới phương pháp dạy học theo thang mức độ thực hiện Tốt, Khá, Trung bình, Chưa tốt.

Đã thực hiện mức độ khá đối với nội dung quản lý này. Cả 4 nội dung xem xét của nội dung quản lý này đều được đánh giá mức độ thực hiện khá và tốt

2.5.2.4. Quản lý việc giáo viên thực hiện quy chế kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn tiếng Anh đối với học viên

Thực hiện đánh giá các nội dung: Chỉ đạo GV thực hiện nghiêm túc quy chế kiểm tra, thi; Quản lý việc ra đề kiểm tra, đề thi; Quản lý việc chấm, trả bài; Phân tích kết quả điểm thi của HV theo thang mức độ thực hiện Tốt, Khá, Trung bình, Chưa tốt.

Chủ thể quản lý đã thực hiện tốt nhất nội dungxem xét của nội dung quản lý này như: ”Quản lý việc ra đề kiểm tra, đề thi” và “Chỉ đạo GV thực hiện nghiêm túc quy chế kiểm tra, thi”. Đa số CBQL và GV cho rằng công tác quản lý kiểm tra ra đề thi diễn ra nghiêm túc, đúng quy chế

2.5.3. Quản lý hoạt động học môn tiếng Anh của học viên tại các trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Thực hiện đánh giá các nội dung: Tạo động lực và thái độ học tập của học sinh trong giờ học; Bồi dưỡng các PP học tập tích cực cho học sinh; Xâydựng những quy định cụ thể về nề nếp học tập trên lớp cho học sinh; Quản lý nề nếp trên lớp chặt chẽ nhưng đúng với tinh thần; Khen thưởng, kỷ luật kịp thời về việc thực hiện nề nếp học tập; Phối kết hợp các lực lượng trong trung tâm theo dõi nề nếp họctập của học sinh theo thang mức độ thực hiện Tốt, Khá, Trung bình, Chưa tốt.

Chủ thể quản lý đã thực hiện mức độ khá nội dung quản lý này. Trong 6 nội dung xem xét của nội dung quản lý này thì có 4 nội dung được đánh giá mức độ thực hiện loại khá đó là: ”Tạo động lực và thái độ học tập của HV trong giờ học”; ”Xây dựng những quy định cụ thể về nề nếp học tập trên lớp cho HV”; ”Quản lý nề nếp trên lớp chặt chẽ nhưng đúng với tinh thần phương pháp học ngoại ngữ”; ”Phối kết hợp các lực lượng trong trung tâm theo dõi nề nếp học tập của HV”.

2.5.4. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất phục vụ dạy và học môn tiếng Anh tại các trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Thực hiện đánh giá các nội dung: Quản lý lớp học, bàn ghế, dụng cụ; Quản lý các trang thiết bị phục vụ dạy học; Quản lý hoạt động các phòng chức năng; Quản lý phòng đọc sách; Quản lý đồ dùng học tập HV theo thang mức độ thực hiện Tốt, Khá, Trung bình, Chưa tốt.

Mức độ thực hiện nội dung quản lý cơ sở vật chất, đồ dùng phục vụ dạy học các trung tâm tiếng Anh đạt mức độ khá. Điều này chứng tỏ chủ thể quản lý tại các Trung tâm tiếng anh quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh có sự quan tâm đầu tư vào cơ sở vật chất, quản lý thư viện, tủ sách và phương tiện phục vụ cho việc dạy học môn tiếng Anh, để hỗ trợ hoạt động dạy học đạt hiệu quả.

2.6. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Để tìm hiểu thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan tới quản lý dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, so với khung lý luận ở chương 1, tác giả tiến hành khảo sát. Với câu hỏi 4 mức độ , mỗi biện pháp được trả lời “Rất ảnh hưởng”, “Ảnh hưởng”, “ Ít ảnh hưởng” “Không ảnh hưởng”: Mục tiêu và nội dung dạy học; Môi trường kinh tế-xã hội; Năng lực của giáo viên và cán bộ quản lý; Đối tượng tuyển sinh đầu vào; CSVC và các điều kiện phục vụ dạy học.

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dạy học môn tiếng Anh, từ các yếu tố thuộc về chủ thể quản lý, đến đối tượng quản lý, đến môi trường quản lý. Muốn nâng cao chất lượng quản lý dạy học Trung tâm ngoại ngữ cần phải có biện pháp khắc phục mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này.

2.7. Đánh giá chung về Quản lý dạy học môn Tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Mức độ thực hiện nội dung quản lý dạy học môn tiếng Anh tại các trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh qua các nội dung Quản lý: Quản lý mục tiêu dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh của giáo viên tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Quản lý hoạt động học môn tiếng Anh của học viên tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Quản lý cơ sở vật chất phục vụ dạy và học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ việc phân tích thực trạng chung về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi nêu ra những ưu điểm và chỉ ra những hạn chế cũng như nguyên nhân dẫn tới hạn chế để từ đó có cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động này tốt hơn. Những nội dung này được phân tích cụ thể dưới đây:

2.7.1. Những ưu điểm

Có sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức của đa số CBQL, GV và học viên đối với việc đổi mới nội dung chương trình, PPDH, hình thức lên lớp, cách thức sử dụng phương tiện trong dạy học tiếng Anh. Đa số CBQL và GV đã nhận thức được tính tất yếu và tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp học tiếng Anh và coi đây là một trong những hoạt động trong tâm của của trung tâm. Từ những nhận thức đó, các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng và đưa vào áp dụng một số biện pháp quản lý cụ thể và đã có được kết quả tốt ở một số khâu của từng nội dung quản lý dạy học tiếng Anh. Về phía GV môn tiếng Anh, đa số cho thấy ý thức tự học, tự rèn để nâng cao trình độ, đổi mới PPGD, tiếp cận những PPDH mới thông qua việc tham gia tích cực các lớp ngoại khóa.

Các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã chú trọng việc cụ thể hóa nhiệm vụ năm học thành các văn bản hướng dẫn và các quy định cụ thể đối với bộ môn tiếng Anh. Điều này giúp cho việc thực hiện chương trình dạy học cũng như kiểm tra đánh giá việc thực hiện tương đối dễ dàng.Với xu hướng dạy học tích cực hiện nay, ban lãnh đạo các Trung tâm ngoại ngữ đã chỉ đạo GV dùng nhiều biện pháp để nâng cao dần chất lượng dạy học môn tiếng Anh của HV, tạo cơ hội cho các em dần hướng tới sự tự học.

Quản lý hoạt động đánh giá HV cũng được CBQL các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh quan tâm, trong đó việc quán triệt các văn bản, công văn về quy chế đánh giá HV được nhận thức và thực hiện triệt để.Làm tốt công tác bồi dưỡng GV theo chu kỳ, xây dựng tập thể đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau nâng cao trình độ sư phạm.Về quản lý học tập tiếng Anh của HV, CBQL rất quan tâm và làm rất tốt việc phối kết hợp với các lực lượng khác trong Trung tâm.

Đội ngũ GV tiếng Anh trẻ nhiệt tình, có trách nhiệm, yêu nghề, ham học hỏi những kiến thức và phương pháp dạy học mới; gắn bó với Trung tâm, mong muốn Trung tâm phát triển; chất lượng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm đa số đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục.

2.7.2. Những tồn tại hạn chế

Bên cạnh những việc đã làm được thì kết quả khảo sát cũng cho thấy một số hạn chế trong công tác quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là: Việc xây dựng kế hoạch chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát hoạt động quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các Trung tâm còn chưa đồng bộ và không thường xuyên dẫn đến chất lượng của việc đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các Trung tâm còn chưa cao. CBQL và GV chưa có sự chủ động trong việc lập kế hoạch cho việc đổi mới. Các Trung tâm cũng chưa chủ động trong việc lập kế hoạch, quy hoạch đào tạo hoặc bồi dưỡng, hướng dẫn, tập huấn GV tiếng Anh thực hành sử dụng các trang thiết bị dạy học hiện đại cũng như tiếp cận và áp dụng các PPDH tiên tiến.

Một bộ phận GV và cả CBQL còn thụ động, chậm đổi mới, thiếu ý chí cầu tiến và còn nhận thức chưa đúng đắn về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động dạy môn tiếng Anh. CSVC, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học tiếng Anh còn thiếu và chưa được đầu tư đúng mức và đồng bộ so với yêu cầu. Nguồn tài chính dành cho công tác ngoại khóa, sinh hoạt câu lạc bộ tiếng Anh của các Trung tâm còn hạn hẹp, chủ yếu vẫn do GV và HV tự bỏ thời gian và công sức để tổ chức, thực hiện chứ không cứ sự chủ động từ phía ban lãnh đạo của trung tâm.

Tiểu kết chương 2

Trong chương 2, tác giả tập trung vào việc phân tích thực trạng hoạt động dạy và học; Thực trạng quản lý hoạt động dạy và học; Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy và học tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy:

Về thực trạng hoạt động dạy và học của các trung tâm ngoại ngữ tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh khi đánh giá trên 2 khía cạnh mức độ thực hiện hoạt động dạy học của giáo viên và mức độ thực hiện hoạt động học của học sinh cho thấy: Cả hai khía cạnh này đều được thực hiện ở mức độ khá. Giáo viên đã cố gắng dạy tốt và hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy của mình tại trung tâm, đáp ứng mục tiêu dạy học đề ra, đáp ứng được nội dung chương trình, phương pháp dạy học và chất lượng dạy học. Học sinh đã thực hiện hoạt động học tập ở mức độ khá. Khi kết thúc khoa học, học sinh đều đạt được mục tiêu khoá học đề ra.

Về thực trạng quản lý hoạt động dạy và học tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: chủ thể quản lý các trung tâm ngoại ngữ được nghiên cứu đã thực hiện ở mức độ khá hoạt động dạy học môn tiếng Anh. Cả 4 khía cạnh xem xét trong nội dung quản lý hoạt động này đều được khách thể nghiên cứu của đề tài đánh giá mức độ thực hiện loại khá. Trong đó, có 2 nội dung quản lý có mức độ thực hiện tốt hơn các nội dung khác đó là: ”Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh của giáo viên tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh”; ”Quản lý cơ sở vật chất phục vụ dạy và học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh”. Bên cạnh đó, chủ thể quản lý cũng cần phải chú ý hơn tới các nội dung quản lý như: ”Quản lý mục tiêu dạy học môn tiếng Anh tại trung tâm ngoại ngữ quận Ba Đình, Hà Nội” và ”Quản lý hoạt động học môn tiếng Anh của học sinh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh” để thực hiện hiệu quả nhất hoạt động này tại trung tâm.

Về thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động dạy và học tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, các yếu tố được nghiên cứu đều có mức độ ảnh hưởng nhất định đến quản lý hoạt động này. Trong đó, các yếu tố có ảnh hưởng nhiều hơn đó là: Năng lực của giáo viên và cán bộ quản lý; Đối tượng tuyển sinh đầu vào; CSVC và các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học. Những kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng trên là cơ sở thực tiễn quan trọng để tác giả đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tại chương 3.

Chương 3

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI CÁC TRUNG TÂM NGOẠI NGỮ QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1. Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính pháp lý

Các biện pháp quản lý các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cần dựa trên các văn bản Luật, các quy định do cơ quan quản lý nhà nước ban hành. Biện pháp của đề tài cần phải đảm bảo tính pháp lý và căn cứ vào các văn bản sau: Các văn bản, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Nghị định của Chính phủ về Giáo dục, các chiến lược phát triển giáo dục, mục tiêu giáo dục và yêu cầu đổi mới giáo dục; Luật Giáo dục, Điều lệ Trung tâm ngoại ngữ và các văn bản quy định của Bộ, Sở Giáo dục và Đào tạo TP. HCM.

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống

Tính hệ thống được hiểu, mọi sự vật đều được cấu thành từ các phần tử nhỏ hơn và các phần tử có mối quan hệ biện chứng với nhau.

Với ý nghĩa đó, kết quả khảo sát thực trạng quản lý dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cho CBQL các trường nhận thức để nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý HĐDH nói chung, quản lý HĐDH môn Sinh học theo hướng tích hợp nói riêng thì đòi hỏi các biện pháp phải phối hợp chặt chẽ với nhau, từng biện pháp phải có giá trị tác động tích cực đến các lực lượng tham gia. Chủ thể quản lý phải triển khai các biện pháp một cách đồng bộ, khi đó sẽ tạo ra hiệu ứng tốt cho các biện pháp quản lý. Điều này phản ánh ý nghĩa, nội dung nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống của các biện pháp đề xuất.

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quản lý dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đòi hỏi CBQL phải tìm ra các biện pháp quản lý của mình. Tính thực tiễn của các biện pháp đòi hỏi phải tìm các biện pháp quản lý phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện, tận dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực…), môi trường của Trug tâm , đặc thù của bộ môn tiếng Anh, trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt các quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi và hiệu quả

Yêu cầu này đòi hỏi các biện pháp được đề xuất có khả năng áp dụng vào thực tiễn hoạt động quản lý dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh một cách thuận lợi, trở thành hiện thực và đem lại hiệu quả cao trong việc thực hiện các chức năng quản lý của CBQL (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra). Để đạt được điều này, khi xây dựng biện pháp phải đảm bảo tính khoa học, trong quy trình với các bước tiến hành cụ thể, chính xác. Các biện pháp phải được kiểm chứng, khảo nghiệm một cách có căn cứ khách quan và có khả năng thực hiện cao. Các biện pháp, phải được thực hiện một cách rộng rãi và được điều chỉnh, để ngày càng hoàn thiện.

3.2. Biện pháp Quản lý dạy học môn Tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

3.2.1. Nâng cao nhận thức của đội ngũ Cán bộ quản lý, giáo viên, học viên về tầm quan trọng trong dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Ở các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Giám đốc Trung tâm là người có trách nhiệm và thẩm quyền cao nhất về quản lý chuyên môn, tổ chức, hành chính trong TT, trực tiếp tổ chức, điều khiển các hoạt động giáo dục, quản lý, chỉ đạo việc thực hiện các công tác của TT theo đường lối, quan điểm, mục tiêu giáo dục. Muốn thực hiện tốt các nhiệm vụ đó, Giám đóc và đội ngũ GV phải nắm vững nghiệp vụ về QLGD, quản lý TT, các chủ trương, chính sách liên quan đến TT.

3.2.2. Xây dựng kế hoạch dạy học dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Giám đốc trung tâm có nhiệm vụ chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch chung của cả năm học; chỉ đạo CBQL chuyên môn hướng dẫn GV cụ thể hóa kế hoạch năm học thành kế hoạch dạy học của riêng mỗi cá nhân.

CBQL chuyên môn có trách nhiệm quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch dạy học, phân phối chương trình và các quy định khác. Khi duyệt kế hoạch cá nhân của GV tổ trưởng chuyên môn cần lưu ý những vấn đề cơ bản sau: Nội dung và tiến độ của chương trình của từng lớp được phân công dạy học, kế hoạch và nội dung tự bồi dưỡng, kế hoạch bồi dưỡng những HV có nghiên cứu khoa học cuối khóa và phụ đạo cho những HV chưa đạt, kế hoạch học tập nghiên cứu sử dụng các trang thiết bị dạy học hiện đại…

3.2.3.Chỉ đạo bồi dưỡng năng lực, chuyên môn cho giáo viên các trung tâm ngoại ngữ tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Tổ chức các hình thức bồi dưỡng đa dạng, phong phú, bồi dưỡng tập trung, bồi dưỡng thường xuyên, tự bồi dưỡng….đáp ứng nhu cầu thực sự của giáo viên đứng lớp.

Có định hướng, nội dung và kế hoạch bồi dưỡng giáo viên cụ thể cho từng hoạt động, từng giai đoạn nhằm tăng cường đổi mới PPDH.

Tổ chức các cuộc hội thảo giao lưu với các giáo viên khác và các trung tâm khác để tăng cường việc giao lưu học hỏi trau dồi kinh nghiệm dạy học môn tiếng anh.

3.2.4. Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Các trung tâm cần tăng cường tổ chức và tạo điều kiện cho GV tham gia các buổi hội thảo, tập huấn về đổi mới PPDH. Nâng cao nhận thức, yêu cầu về đổi mới PPDH cho GV. Đổi mới PPDH phải hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Quan trọng là người GV phải nhận thức được sự cần thiết phải đổi mới PPDH.

Cần đẩy mạnh dạy học tiếng anh theo hướng tăng cường ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ; đặc biệt là công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý giáo dục của Trung tâm. Trong đó đặc biệt chú ý đến việc ứng dụng công nghệ trong việc thiết lập, sử dụng phương tiện dạy học hiện đại để đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học.

Tổ chức quá trình dạy học phải hướng tới 4 mục tiêu kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Nhiều khi khó tách bạch việc dạy nghe ra khỏi dạy nói, đọc, viết và tương tự với các kỹ năng còn lại bởi lẽ khi nghe thì phải nói lên điều mình nghe thấy, nếu nghe theo định hướng thì phải đọc hướng dẫn và nhiều khi phải viết kết quả nghe được. Tuy nhiên, khi rèn kỹ năng tùy theo loại kỹ năng định rèn lấy đó làm trọng tâm. GV cần đa dạng hóa các loại bài tập thực hành tiếng như cho HV học tiếng Anh qua con đường đọc chuyện, xem phim, kể chuyện bằng tiếng Anh, đọc tài liệu tiếng Anh để HV phát huy tính tích cực của họ trong học tập.

3.2.5. Quản lý việc sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị phương tiện dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

có của Trung tâm nhằm phục vụ cho hoạt động dạy và học tiếng Anh. Đồng thời có kế hoạch mua sắm mới các thiết bị hiện đại phù hợp với điều kiện nguồn lực của Trung tâm. Ngày nay các phương tiện trực quan, phương tiện nghe nhìn, máy móc điện tử phát triển mạnh; người ta đã tận dụng những “thế mạnh” của chúng để thực hiện hàng loạt các thao tác, quy trình day học trên lớp với một tốc độ rất nhanh, với sự trực quan tối đa cùng với tính chính xác, tính hấp dẫn lớn.

3.2.6. Tăng cường quản lý kiểm tra đánh giá hoạt động dạy của GV và học của HV môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Lãnh đạo Trung tâm cần tổ chức cho GV học tập, nghiên cứu các văn bản hướng dẫn về công tác chuyên môn, quy chế chuyên môn; nâng cao nhận thức cho cán bộ GV về mục đích, ý nghĩa, vai trò của hoạt động kiểm tra đánh giá; thống nhất kế hoạch, nội dung và hình thức kiểm tra đánh giá chuyên môn, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của người kiểm tra và đối tượng kiểm tra; xây dựng được chuẩn đánh giá cho từng hoạt động cụ thể của GV, đồng thời quán triệt việc tổ chức thực hiện cho toàn thể hội đồng sư phạm Trung tâm.

Kiểm tra trình độ nghiệp vụ, năng lực sư phạm thông qua việc dự giờ và phân tích sư phạm công khai. Kiểm tra việc thực hiện các quy chế chuyên môn, thực hiện ngày giờ công, sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn, sinh hoạt chuyên đề, tham gia các hoạt động tập thể ngoại khóa….

3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp

Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi các biện pháp quản lý HĐDH

3.3.5.1. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp đề xuất

6 biện pháp: Chỉ đạo bồi dưỡng năng lực, chuyên môn cho giáo viên các trung tâm ngoại ngữ; Đẩy mạnh việc quản lý xây dựng kế hoạch dạy học và chuẩn bị giáo án trước khi lên lớp; Tăng cường quản lý nề nếp, nội quy, quy chế và mục tiêu, nội dung thực hiện chương trình dạy học; Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh; Tăng cường tổ chức bồi dưỡng phương pháp học tập chủ động, tích cực và sáng tạo cho học sinh; Tổ chức bồi dưỡng khả năng tự học tiếng Anh cho học sinh trên là rất cần thiết đối với quản lý hoạt động dạy học tại các trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

3.3.5.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất

Phần lớn đối tượng khảo nghiệm cho rằng 06 biện pháp quản lý: Chỉ đạo bồi dưỡng năng lực, chuyên môn cho giáo viên các trung tâm ngoại ngữ; Đẩy mạnh việc quản lý xây dựng kế hoạch dạy học và chuẩn bị giáo án trước khi lên lớp; Tăng cường quản lý nề nếp, nội quy, quy chế và mục tiêu, nội dung thực hiện chương trình dạyhọc; Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh; Tăng cường tổ chức bồi dưỡng phương pháp học tập chủ động, tích cực và sáng tạo cho học sinh; Tổ chức bồi dưỡng khả năng tự học tiếng Anh cho học sinh là rất khả thi.

Tiểu kết chương 3

Trong chương 3 này tác giả đã tập trung vào việc đề xuất được 06 nhóm biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay đó là:

Chúng tôi cũng đã tiến hành khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý dạy học của các Trung tâm ngoại ngữ tại quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả khảo sát cho thấy, các biện pháp đề xuất trong luận văn là có cơ sở khoa học, có tính thực tiễn và tính khả thi cao. Vấn đề đặt ra là nghiên cứu, vận dụng linh hoạt các biện pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng Trung tâm trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Điều quan trọng hơn cả là sự năng động và tích cực của đội ngũ CBQL Trung tâm ngoại ngữ trong việc tổ chức chỉ đạo thực hiện các biện pháp trên trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.

Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục và đào tạo, việc áp dụng triển khai các biện pháp vào thực tiễn quản lý dạy học ở địa phương là cần thiết và mang tính khả thi cao.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

1.1. Về mặt lý luận

Luận văn đã xây dựng được khung lí thuyết nghiên cứu Quản lý dạy học môn Tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ. Trong đó gồm có các khái niệm: Quản lý; Hoạt động dạy học tiếng Anh; Trung tâm ngoại ngữ; Quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ. Khái niệm công cụ chính của luận văn được xác định như sau: Quản lý HĐDH môn tiếng Anh tại trung tâm ngoại ngữ là những tác động hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đảm bảo HĐDH môn tiếng Anh được diễn ra đúng hướng, thực hiện thành công mục tiêu, nhiệm vụ dạy học môn học này. Trên cơ sở khái niệm công cụ chính của đề tài luận văn, tác giả luận văn đã xác định được nội dung cụ thể của quản lý dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ đó là: Quản lý mục tiêu hoạt động dạy học môn Tiếng Anh; Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh của giáo viên; Quản lý hoạt động học môn tiếng Anh của HV; Quản lý cơ sở vật chất phục vụ dạy học môn Tiếng Anh. Tác giả luận văn cũng đã nghiên cứu và phân tích lí luận về các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động này. Cụ thể là các yếu tố như: Sự quan tâm của Trung tâm; Tổ chức quản lý của Trung tâm đối với bộ môn tiếng Anh; Người dạy; Người học.

1.2. Về thực trạng

Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy và học của các trung tâm ngoại ngữ của quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy:

– Các hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tại các trung tâm đã được chú trọng và quan tâm; cập nhật mới chương trình, đổi mới phương pháp quản lý giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút người học, đáp ứng nhu cầu chuẩn hóa đội ngũ, mang lại cơ hội giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm chuyên sâu và hữu ích đồng thời thực hiện đúng và hiệu quả các quy định của ngành Giáo dục và Đào tạo.

– Công tác đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới tự kiểm tra gắn với đánh giá kết quả đào tạo theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của học viên đã được các trung tâm quan tâm thực hiện, nhằm giúp học viên phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng ngôn ngữ và kỹ năng vào thực tiễn cuộc sống. Công tác giám sát việc tổ chức thực hiện các hoạt động giảng dạy, sinh hoạt chuyên môn định kỳ của tổ giáo viên được hình thành ngày càng nền nếp, chấp hành tốt các quy định của Nhà nước và của ngành.

Về thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động dạy và học của các trung tâm ngoại ngữ của quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, các yếu tố được nghiên cứu đều có mức độ ảnh hưởng nhất định đến quản lý hoạt động này. Trong đó, các yếu tố có ảnh hưởng nhiều hơn đó là: Năng lực của giáo viên và cán bộ quản lý; Đối tượng tuyển sinh đầu vào; CSVC và các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học.

Kết quả khảo sát đã mô tả bức tranh tổng thể về thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh, thực trạng quản lý dạy học môn tiếng Anh, những điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức.

1.3 Về đề xuất các biện pháp

Căn cứ vào cơ sở lý luận đã được nghiên cứu, căn cứ vào thực trạng ở Trung tâm tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tác giả đề xuất các biện pháp quản lý như sau:

1)Chỉ đạo bồi dưỡng năng lực, chuyên môn cho giáo viên các trung tâm ngoại ngữ

2)Đẩy mạnh việc quản lý xây dựng kế hoạch dạy học và chuẩn bị giáo án trước khi lên lớp

3)Tăng cường quản lý nề nếp, nội quy, quy chế và mục tiêu, nội dung thực hiện chương trình dạy học

4)Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh

5)Tăng cường tổ chức bồi dưỡng phương pháp học tập chủ động, tích cực và sáng tạo cho học sinh

6)Tổ chức bồi dưỡng khả năng tự học tiếng Anh cho học sinh

7)Tăng cường quản lý kiểm tra đánh giá hoạt động dạy môn tiếng Anh

8)Quản lý việc sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị phương tiện dạy học tiếng Anh.

Vẫn biết rằng thực tế còn nhiều khó khăn, trở ngại và không phải thực hiện tất cả những biện pháp trên đều dễ dàng và mang lại hiệu quả cao ngay. Cần phải có thời gian và đặc biệt là đội ngũ CBQLvà giáo viên phải có tinh thần trách nhiệm cao để quản lý dạy –học tiếng Anh ngày một chất lượng đảm bảo mục tiêu đào tạo của Trung tâm trong xu thế hội nhập.

2. Khuyến nghị

Từ thực trạng thu được về công tác quản lý dạy học môn tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ quận 12, Thành phố Hồ Chí Minhvà các biện pháp quản lý được đề xuất, tác giả xin đề xuất một số kiến nghị sau:

2.1. Đối với Sở GD&ĐT Thành phố Hồ Chí Minh

Cần tiếp tục quan tâm tạo điều kiện tốt nhất cho các Trung tâm ngoại ngữ trên địa bàn Quận 12 hoạt động tốt hơn.

2.2. Đối với CBQL các Trung tâm ngoại ngữ

Thường xuyên quan tâm đến chất lượng dạy và học tiếng Anh tại trung tâm của mình quản lý.

2.3. Đối với GV tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ

– GV phải hiện đại hóa các phương pháp, sử dụng phương pháp dạy học phù hợp cho từng lớp, từng đối tượng, chuyển đổi từ cách dạy-học thụ động sang dạy-học tích cực

– GV khuyến khích HV đọc báo tiếng Anh trên lớp, điều này cũng góp phần tăng động cơ và rèn luyện kỹ năng đọc hiểu của HV.

– GV phải tự trang bị cho mình những kiến thức, các thao tác sử dụng các phương tiện, đồ dùng dạy học hiện đại để có thể sử dụng thành thạo, có hiệu quả các trang thiết bị, phương tiện dạy học hiện đại.

– GV tổ chức các câu lạc bộ tiếng Anh, các buổi sinh hoạt tiếng Anh như hát tiếng Anh, đóng kịch nói tiếng Anh, trò chơi bằng tiếng Anh, ngày hội nói tiếng Anh… tạo điều kiện thường xuyên tổ chức các buổi ngoại khóa, trại hè để cho HV luyện tập kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\GIAO DUC HOC\THAY HOANG DHSP\K38BD_LUAN VAN SAU BAO VE\K38BD_LUAN VAN SAU BAO VE\8. HUYNH MINH KHANH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *