QSDĐ nông nghiệp ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn

QSDĐ nông nghiệp ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Hiện nay, cơ cấu kinh tế của Việt Nam đang chuyển dịch theo xu hướng giảm

tỷtrọng ngành nông nghiệp; tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và ngành dịch vụ. Theo số liệu thống kê thì năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉcòn chiếmtỷ trọng 14,57% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,28%; khu vực dịch vụ chiếm 41,17% [157]. Tuy nhiên, với hơn 65% dân số sinh sống ở vùng nông thôn và lực lao động lớn đang hoạt động trong ngành (năm 2018, với38,21% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 55,12 triệu người [17]) thì Việt Nam vẫn đang là một quốc gia có nền kinh tếphụthuộc nhiều vào ngành nông nghiệp.

Nghị quyếtsố23-NQ/TW ngày 22/3/2018củaBan Chấp hành Trung ương ĐảngCộngsảnViệt Nam đãxácđịnhmụctiêu:“Đếnnăm 2030, Việt Nam hoàn thành mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực ASEAN về công nghiệp, trong đó một số ngành công nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trịtoàn cầu”. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ không thể không dựa vào những nguồn lực từ nông nghiệp và cũng không thể không tránh khỏi việc giải quyết những vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Do vậy, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã xác định rõ vấn đề này:“Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phảiđược giảiquyếtđồng bộ, gắn vớiquá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước.Công nghiệp hoá,hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá,hiện đạihoá đấtnước”.

Đểcông nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành nông nghiệp bên cạnh việc phảiđầu tư về vốn,máy móc, khoa học công nghệ, nâng cao trình độ lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp… thì việc khai thác hiệu quả ĐNN làmột yếu tốmang tính chất quyếtđịnh.Bởilẽ:“Đấtđai là nguồn vốn tiềm ẩn của mỗi quốc gia” [144], cụ thể hơn, ĐNN làyếu tốđầu vào không thể thiếu và cũng không thể thay thế cho sản xuất nông nghiệp mà chúng ta đã được thiên nhiên ưu ái ban tặng. Nếu đặt trong sự so sánh với Israel là một quốc gia có ngành nông nghiệp rất phát triển vớiđấtđai chủ yếu là sa mạc khô cằn, khí hậu khắc nghiệtbắtbuộc phảicó vốn đầu tư rấtlớn để cải

tạo đất sa mạc khô cằn thành đất có thể canh tác nông nghiệp và kèm theo đó làhệthống tưới tiêu hiện đại, thì với quỹ ĐNNtương đốilớn (hơn 27 triệu ha, chiếm hơn 80% diện tích đất tự nhiên của cả nước [8]), đa dạng về thổ nhưỡng và khí hậu nên thích hợp với canh tác cả cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản… thì rõ ràng chúng ta đã có ưu thế để phát triển nông nghiệp hơn rất nhiều. Vấn đề mấu chốtđể pháthuy ưu thế này đòi hỏi chúng ta phải có chính sách phù hợp, pháp luật về ĐNN phải được hoàn thiện để tạo cơ sở vững chắc cho các chủ thể yên tâm đầu tư vào nông nghiệp và có thể khai thác hết được những giá trị to lớn của ĐNN.

Ở nước ta, đất đai nói chung và ĐNN nói riêng thuộc SHTD do Nhà nước làmđại diện chủsởhữu. Các chủthểkhông có quyền sởhữu đối với ĐNN màchỉcó QSDĐ thông qua việc Nhà nước giao đất, cho thuêđất và công nhận QSDĐ hoặc nhận chuyển QSDĐ theo quy định của pháp luật. Đây là sự khác biệt, đặc thù của Việt Nam so với nhiều quốc gia trên thế giới có chế độ sở hữu tư nhân về đất đai. QSDĐ được xác định trên quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam:“Là một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt, nhưng không phải là quyền sở hữu,được xác định cụ thểphù hợp với từng loại đất, từng đối tượng và hình thức giao đất, cho thuê đất” [2]. Thể chế hoá quan điểm này thành các quy định pháp luật để thi hành hiệu quả trên thực tế là việc không hề đơn giản. Theo đó, cần phải dựa trên cơ sở lý thuyết khoa học pháp lý vững chắc nhằm nhận diện một cách chính xác bản chất pháp lý của QSDĐ, tạo nền móng bền chặt cho toàn bộ các quy định pháp luật được xây dựng và hoàn thiện. Chỉ có như vậy thì các quy định pháp luật về QSDĐ khi được triển khai trên thực tế mới có thể đảm bảo được quyền và lợi ích của các chủ thể trong khai thác, sử dụng đất đai trong nền kinh tế thị trường; giải quyết hài hoà về mặt lợi ích trong mối quan hệ giữa Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu với các chủ thể chỉ có QSDĐ… Nếu như thiếu đi sự vận dụng lý thuyết khoa học pháp lý, bản chất pháp lýcủa QSDĐ không được nhận diện một cách chính xác thì dù có sửa đổi, bổ sung nhiều lần đi nữa thì khó có thể hoàn thiện được các quy định pháp luật về QSDĐ.

Trong khoa học pháp lý, lý thuyết vật quyền chính là một thành tựu và là tinh hoa của nhân loại. Nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển như cộng hoà Pháp, cộng

hoà Liên bang Đức, Nhật Bản, Liên bang Nga, Bang Quebec (Canada)… đã vận dụng để xây dựng pháp luật tài sản của mình với tính ổn định cao và vận hành hiệu quả tạo cơ sở vững chắc phát triển kinh tế, ổn định xã hội. SHTDvề đất đai làmột đặc thù của nước ta nhưng nếu có sự nghiên cứu một cách nghiêm túc, thấu đáo và vận dụng lý thuyết vật quyền xây dựng các quy định pháp luật về QSDĐ thì những yêu cầu đã nêu ở trên chắc chắn thể đảm bảo được quyền và lợi ích của các chủ thể trong khai thác, sử dụng đất đai trong nền kinh tế thị trường; giải quyết hài hoà về mặt lợi ích trong mối quan hệ giữa Nhà nước với tư cách làđại diện chủ sở hữu với các chủ thểchỉ có QSDĐ…

Kể từ khi ra đời cho đến nay, các quy định pháp luật về QSDĐ nói chung và QSDĐ nông nghiệp nói riêng đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần theo hướng mở rộng quyền cho các chủ thể, mở rộng hạn mức nhận chuyển QSDĐ nông nghiệp cho cá nhân và HGĐ, kéo dài thời hạn sử dụng ĐNN… nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn kinh tế, xã hội của đất nước. Sự phát triển của ngành nông nghiệp nước ta trong thời gian qua như: từ chỗ phải nhập khẩu lương thực để giải quyết nhu cầu trong nước trởthành nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế giới; kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ nông nghiệp như cà phê, hồ tiêu, thuỷ sản đạt giá trị nhiều tỷ Đô la Mỹ (USD); sản xuất được những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao theo quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP)… là những minh chứng rõ ràng cho việc sửa đổi, bổ sung này là có đạt được hiệu quả trong thực tiễn.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, các quy định pháp luật hiện hành về QSDĐ nông nghiệp đã và đang bộc lộ hàng loạt hạn chế, bất cập như: tình trạng manh mún, phân mảnh ĐNN cản trở sản xuất nông nghiệp quy mô lớn; tình trạng nông dânbỏhoang đất trồng lúa ngày càng tăng gây lãng phí rất lớn trong khi các doanh nghiệp lại không có đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư; Luật Đất đai năm 2013 vẫn còn nhiều rào cản cho doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài tiếp cận,sửdụng ĐNNđểthực hiện dựán đầu tư;sựbảo hộcủa Nhà nước với quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể có QSDĐ nông nghiệp chưa đủ mạnh; giá ĐNN quá thấp dẫn đến hàng loạt hệ quả xấu như làm thất thu ngân sách nhà nước, ĐNN trở thành mảnh đất màu mỡ cho cán bộ, công chức vì lợi ích cá nhân mà cấu kết với các chủ đầu thu hồi ĐNN bồi thường với mức giá rẻ mạt để thực hiện các dự án xây dựng khu đô thị sau đó chuyển nhượng với chênh lệch giá hàng ngàn lần… Tất cả những hạn chế, bất cập này là hết sức nóng bỏng, nếu không được khẩn trương giải quyết thì sẽ là rào cản rất lớn cho sự phát triển của nông nghiệp và cũng sẽ lànguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, bất ổn xã hội của nước ta trong thời gian tới. Đồng thời, điều này dường như cũng đã cho thấy việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về QSDĐ cũng như về QSDĐ nông nghiệp thời gian qua mới chỉ giải quyết được những vấn đề phát sinh mang tính ngắn hạn mà chưa thật sự đi vào chiều sâu,gốc rễcủa vấn đề đã nêu.

Nhận thức được tầm quan trọng của nông nghiệp trong giai đoạn công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước để vươn đến mục tiêu:“Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng đã đặt ra; tiềm năng, giá trị to lớn của ĐNN chưa được khai thác hiệu quả do vướng mắc, bất cập của các quy định pháp luật hiện hành; tầm quan trọng, hiệu quả của việc vận dụng thành tựu khoa học pháp lý của nhân loại trong giải quyết những điểm đặc thù của chế độ SHTD về đất đai ở nước ta, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “QSDĐ nông nghiệp ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”làm luận án tiến sĩ luật học.

2. Mục đích nghiên cứu

Luận án “QSDĐ nông nghiệp ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” được thực hiện với các mục đích nghiên cứu sau đây:

– Góp phần bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận về sở hữu toàn toàn dân về đất đai, QSDĐ và QSDĐ nông nghiệp.

– Phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được và những vướng mắc, bất cập tồn tại của các quy định pháp luật hiện hành.

– Đề xuất được nhữngđịnh hướng,giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về QSDĐ nông nghiệp và các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quảthi hành các quy định pháp luật về QSDĐ nông nghiệp trong thực tiễn.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

Đểđạt được các mục đích nghiên cứu đã nêu ở trên thì tác giảđặtra nhiệmvụ nghiên cứu của luận án như sau:

– Tập trung phân tích, làm rõ bản chất của các khái niệm về sở hữu toàn dân vềđấtđai, QSDĐ, QSDĐ nông nghiệp.

– Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến QSDĐ nông nghiệp và quá trình ra đời và phát triển của QSDĐ nông nghiệp ở Việt Nam.

– Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành vềQSDĐ nông nghiệp về khách thể, chủ thể và nội dung của quyền.

– Phân tích làm rõ định hướng hoàn thiện quy định pháp luật và đề xuất các giải pháp sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật hiện hành về QSDĐ nông nghiệp và các giải pháp cụ thể nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về QSDĐ nông nghiệp.

4. Phạm vivà đốitượng nghiên cứu 4.1. Phạm vi nghiên cứu

Vớiđềtài“QSDĐ nông nghiệp ởViệt Nam–Những vấn đềlý luận và thực tiễn”thì luận án có phạm vi nghiên cứu như sau:

-Vềphạm vi không gian: Luận án nghiên cứu những vấn đềlý luận và thực trạng về các quy định pháp luật về QSDĐ nông nghiệp ở Việt Nam.

– Về phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu các quy định pháp luật về QSDĐ nông nghiệp từ năm 1987 đến thời điểm hiện tại.

– Về phạm vi văn bản quy phạm pháp luật: Luận án nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan đến tài sản, quyền tài sản, QSDĐ nói chung và QSDĐ nông nghiệp nói riêng được quy định trong Hiến pháp, BLDS, Luật Đất đai, Luật Đầu tư… và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, Luật Đầu tư…

4.2.Đối tượng nghiên cứu

Vớiđềtài“QSDĐ nông nghiệp ởViệt Nam–Những vấn đềlý luận và thực tiễn”thì luận án có đối tượng nghiên cứu như sau:

– Đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về hoàn thiện pháp luật đất đai và về phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong giaiđoạn hiện nay.

– Lý thuyết vật quyền với các nội dung: khái niệm vật quyền, nguyên tắc của vật quyền, các loại vật quyền.

– Các quy định pháp luật hiện hành về tài sản, quyền tài sản và quy định pháp luật hiện hành về QSDĐ, QSDĐ nông nghiệp, gồm có: về khách thể là các loại ĐNN, thời hạn sử dụng đất, hạn mức sử dụng đất, giá ĐNN; về chủ thể là cá nhân, HGĐ, tổchức kinh tế (hợp tác xã và doanh nghiệp trong nước), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; về nội dung gồm quyền chung, nghĩa vụ chung và quyền, nghĩa vụ theo hình thức sử dụng đất.

– Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về tài sản, quyền tài sản và về QSDĐ nông nghiệp.

QSDĐ nông nghiệp ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn
QSDĐ nông nghiệp ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn

5. Phương pháp nghiên cứu

Luận án “QSDĐ nông nghiệp ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” được thực hiện dựa trên việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

– Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử

của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.

– Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, quy nạp, diễn giải, bình luận, lập luận, đánh giá, suy luận logic… đều được tác giả sử dụng xuyên suốt quá trình trình bày luận án.

Trong từng chương của luận án, tác giả lại sử dụng linh hoạt các phương pháp nghiên cứu khác nhau để làm rõ các vấn đề, nội dung của chương đó,cụ thể:

– Chương 1: Luận án sử dụng phương pháp thống kê để phát hiện, hệ thống hoá các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến luận án; phương pháp phân tích đểđánh giá những nội dungđãđược làm rõ, những vấn đềcòn bỏngỏhoặc chưa

6

được giải quyết thấu đáo trong những công trình nghiên cứu này. Trên cơ sởđó, phương pháp tổng hợp được sử dụng để đưa lý thuyết nghiên cứu, giả thiết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu của luận án và kết luận về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.

– Chương 2: Luận án đã sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá, tổng hợp, khái quát, diễn giải… để làm rõ nội dung các khái niệm về sở hữu toàn dân về đấtđai, vật quyền, QSDĐ nông nghiệp. Phương pháp lịch sử cụ thể cũng được sử dụng để làmrõ về quá trình ra đời, phát triển của QSDĐ nông nghiệp ở nước ta.

– Chương 3: Luận án sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp, suy luận logic để đánh giá một cách khách quan, toàn diện thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành quyền dụng ĐNN hiện nay.

– Chương 4: Luận án sử dụng phương pháp bình luận, tổng hợp, suy luận logic, so sánh, lập luận để xác định định hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về QSDĐvà đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành về QSDĐnông nghiệp và các giải pháp cụ thể nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về QSDĐ nông nghiệp.

6. Những đóng góp mới của Luận án

Luận án “QSDĐ nông nghiệp ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” được thực hiện dự kiến sẽ có những đóng góp mới sau đây:

– Làm rõ sự ra đời của QSDĐ trong hệ thống pháp luật Việt Nam là sự sáng tạo pháp lý nhằm thực hiện sở hữu toàn dân về đất đai và khẳng định một cách có cơ sởkhoa học QSDĐ là một vật quyền hạn chế.

– Phân tích, giải mã nội hàm khái niệm QSDĐ nông nghiệp, những yếu tố ảnh hưởng đến QSDĐ nông nghiệp, các nguyên tắc, nội dung của chế định QSDĐ nông nghiệp.

– Đánh giá một cách toàn diện ưu điểm, hạn chế của quy định luật hiện hành về QSDĐ nông nghiệp và thực tiễn thi hành.

– Phân tích một cách toàn diện các định hướng quan trọng khi hoàn thiện quy định pháp luật về QSDĐ nông nghiệp.

– Đề xuất một cách đồng bộ, khả thi các giải pháp cụ thể, khoa học nhằm mục đích hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành về QSDĐ nông nghiệp và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi QSDĐ nông nghiệp trong thực tiễn.

7.Kếtcấu của luận án

Ngoài Mục lục, Mởđầu,Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu thành 04 chương như sau:

7

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài. Chương 2: Những vấn đề lý luận về quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất

nông nghiệp.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luậtvề quyền sử dụng đấtnông nghiệpở ViệtNam hiện nay.

8

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ

THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tính tới nay,đãcó rất nhiều công trình nghiên cứu khoahọckhác nhau vềcác đềtài liên quan đến QSDĐ nói chung và QSDĐ nông nghiệp nói riêng. Trong quá trình nghiên cứu các công trình đó, nghiên cứu sinh đã tổng hợp, hệ thống hoá được những công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án như sau:

1.1.1. Những công trình nghiên cứu về sở hữu toàn dânvề đất đai

1.1.2. Những công trình nghiên cứu liên quanđếnquyềnsửdụngđấtnông nghiệp

1.2. Cơ sở lý thuyếtcủa đề tài 1.2.1. Lý thuyết nghiên cứu

Luận án đượcthực hiện trên các cơ sở lý thuyết nghiên cứu cơ bản sau đây:

– Lý thuyết về vật quyền nhằm khẳng định một cách có cơ sở khoa học QSDĐnói chung và QSDĐ nông nghiệp nói riêng là một loạivậtquyền hạn chế ở nước ta.Đồng thời, trên cơ sở lý thuyết vật quyền, QSDĐ nông nghiệp được phân tích làm rõtrên các khía cạnh là chủ thể, khách thể và nội dung của quyền. Cùng vớiđó,những đặc trưng của vật quyền sẽ được vận dụng để hoàn thiện quy định pháp luật về QSDĐnông nghiệp.

– Lý luận Nhànướcvà pháp luật theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm giải quyết những vấn đề lý luận về QSDĐ nông nghiệp, thực trạng quy định pháp luật về QSDĐ nông nghiệp, các giải pháp hoàn thiện quyđịnh pháp luật hiện hành về QSDĐ nông nghiệp và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quy định pháp luật về QSDĐ nông nghiệp.

– Lý thuyết kinh tế học nhằm đánh giá và giải quyết các quy định liên quan đến khách thể, chủ thể và nội dung của QSDĐ nông nghiệp như: giá ĐNN; hạn mức nhận chuyển QSDĐ nông nghiệp; những ưu đãi, hỗ trợ trong tiếp cận, sử dụng ĐNN của Nhà nước để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp… nhằm biến QSDĐ nông nghiệp trở thành tài sản có giá trị và thúc đẩy sự phát triển của thị trường QSDĐ nông nghiệp.

– Lý thuyết “phát triển bền vững” trong kinh tế, xãhộivà môi trường nhằm đánh giá mức độ hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về khách thểnhư về vấn đề quản lý,sử dụng đốivớiđấttrồng lúa,đấtlâm nghiệp…; chủ thể như cộng đồng dân cưsửdụng đấtlâm nghiệp, tổ chức kinh tế sử dụng nông nghiệp… và nội dung QSDĐ nông nghiệp như QSDĐ nông nghiệp được sự bảo vệ của Nhà nước, nghĩa vụ sử dụng ĐNN đúng mục đích… Đồng thời, cũng chỉdướigócđộ củalý thuyết “phát triển bền vững”,thì mới đánh giá đúng những kếtquả đạtđược trong thực tiễn thi hành để phát

34

hiện được những thiếu sót, bất cập còn tồn tạiđể khắc phục.Từ đó làm cơ sở đểđềxuất những giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật hiện hành.

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu

Luận án đượctriển khai với những câu hỏi nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất, tại sao QSDĐ nói chung và QSDĐ nông nghiệp nói riêng được rađờitrong hệ thống pháp luật Việt Nam và lý thuyếtvậtquyền cần được vận dụng như thế nào để khẳng định một cách có cơ sở khoa học QSDĐ là một loại vật quyền hạn chế?

Thứ hai,vớitư cách là một loạivậtquyền hạn chế, QSDĐ nông nghiệp theo nghĩa chủ quan, nghĩa khách quan và các yếu tố cấu thành của QSDĐ với tư cách là một chế định pháp luật về một loại vật quyền là như thế nào?

Thứ ba,nộidung quy định pháp luật hiện hành về QSDĐ nông nghiệp và thực tiễn thi hành đã đạt được kết quả ra sao? Đã bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể và cũng như của Nhà nước chưa? Từ thực tiễn thi hành pháp luật có những vướng mắc,bấtcập còn tồn tại cần phải khắc phục hay không?

Thứ tư, hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành cần phải thực hiện trên những định hướng nào và giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành như thế nào? Để nâng cao hiệu quả thi hành quy định pháp luật về QSDĐ cần phải thực hiện những giải pháp cơ bản nào?

1.2.3. Các giả thuyết nghiên cứu

Từ những câu hỏinghiên cứu đã nêu ở trên, luận án đặtra những giả thuyết nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất,sự ra đờicủa QSDĐ trong hệ thống pháp luật Việt Nam chưa được luận giải một cách khoa học trong mối tương quan với SHTD về đất đai.

Thứ hai, nhìn nhận QSDĐ là mộtnộidung được tách ra từ quyền SHTDvề đấtđai và QSDĐ là quyền tài sản là chưa đúng và chưa đầy đủ nên dẫn đến những khó khăn trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Do vậy, cần phải nhìn nhận QSDĐnói chung và QSDĐ nông nghiệp nói riêng là một loạivậtquyền hạn chế.

Thứ ba, QSDĐ nông nghiệp theo quy định pháp luật hiện hành về cơ bản là đầyđủ nhưng chưa thật sự hoàn thiện nên cần phải nghiên cứu làm rõ nội dung của quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành để ghi nhận những kếtquả đã đạtđược, phát hiện những vướng mắc,bấtcập, thiếu sót làm cơ sở để hoàn thiện pháp luật.

Thứ tư, hoàn thiện quy định pháp luật về QSDĐ nông nghiệp theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể khai thác tối đa những lợi ích của ĐNN, đảm bảo một cách vững chắc QSDĐ nông nghiệp của các chủ thể và phát triển nền nông nghiệp

35

theo hướng hiện đại, quy mô hàng hoá. Hoàn thiện quy định pháp luật về QSDĐ nông nghiệp dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn một cách khoa học.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Từ việc hệthống hoá các công trình khoahọckhác nhau có liên quan đến đề tài luận án đã được công bố trong nước thời gian qua, có thể đưa ra mộtsố kếtluận sau đây:

Thứ nhất, về phương pháp nghiên cứu

Hầu hếtcác tác giả đều sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như phương

pháp luận khoa học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; phương pháp thu thập, phân tích số liệu, xử lý thông tin, chắt lọc thông tin (từ thông tin xã hội đến thông tin các bài báo, bài viết, các quan điểmcủa Đảng, các văn bản

quy phạm pháp luật…); phương pháp tổng hợp, phân tích, bình luận, thống kê cũng được áp dụng vớitần suất khá nhiều để đưa ra những đánh giá về quan điểm, cách tiếp cận, nhìn nhận vấn đề cần nghiên cứu, làm rõ. Đây là những phương pháp chính được nhiều tác giả sử dụng nhất khi nghiên cứu các vấn đề về đất đai nói chung và về quyền sử dụng đấtnói riêng. Đối với các nghiên cứu do các học giả nước ngoài thực hiện, phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồmphương pháp định lượng, phương pháp khảo sát thực tiễn, phương pháp phỏng vấn người dân và chuyên gia, phương pháp SWOT (phân tích điểm mạnh,điểmyếu, cơ hội, thách thức)… Chính vìvậy, các số liệu thu thập được ở dạng sơ cấp, các nhận định có độ tin cậy cao.

Thứ hai,về nộidung nghiên cứu

Nhìn chung, mặc dù tiếp cận theo các cách thức khác nhau với những nội dung khác nhau nhưng những công trình của các tác giả đều thể hiện quan điểm của mình về vấn đề cần nghiên cứu, bình luận. Đi sâu vào nội dung của những công trình nghiên cứu đã hệ thống hoá ở trên, có thể thấy một số vấn đề cần chú ý sau:

– Các công trình đã làm rõ được những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chế độ SHTDvề đấtđai ở nước ta. Nhìn chung, các công trình đều khẳng định sự cần thiết của việc tiếp tục duy trì chế độ SHTDvề đấtđai và nhấn mạnh những bất cập, hạn chế của thời gian qua chủ yếu xuất phát từ khâu xây dựng và thi hành pháp luậtđấtđai. Bên cạnh đó, có không ít công trình đã nhận định QSDĐ chính là phương thức hoặc hình thức hay là biện pháp để thực hiện quyền SHTDvề đấtđai ở nước ta.

– Có nhiều công trình đã đi sâu nghiên cứu và đưa ra những cơ sở lý luận, khoa học cho khái niệm QSDĐ và các vấn đề xã hội xoay quanh khái niệm QSDĐ. Khôngít các công trình cũng đã bước đầu làm sáng tỏ mối quan hệ giữa quyền SHTDvề đất

36

đai và QSDĐ, mối quan hệ giữa nhà nước và người sử dụng đất, quan hệ giữa nhà nước,ngườiđang sử dụng đất và chủ đầu tư… Tuy nhiên, các công trình mớichỉdừng lại ở việc đưa ra những định nghĩa, khái niệm về quyền sử dụng đất mang tính truyền thống của Việt Nam trên cơ sở tiếp cận quy định của pháp luật thực định và thực tiễn diễn ra.Hầu hếtcác học giả nghiên cứu trong nước đều cho rằng, QSDĐ vừa là một quyền năng được nhà nước trao cho các chủ thể là cá nhân,tổ chức, HGĐ, vừa là quyền tài sản. Đồng thời, QSDĐ cũng được hiểu là một tập hợp các quy phạm pháp luật quy định về căn cứ phát sinh; cơ chế quản lý nhà nước đối với loại tài sản đặc biệt này và các quyền năng cụ thể xoay quanh QSDĐ (baogồmquyền chuyển nhượng, chuyển đổi,cho thuê, thế chấp, góp vốn, để lạithừa kế…)… Do vậy, khái niệm về QSDĐ chưa thực sự thuyết phục, thậm chí nó chỉ mang tính cá biệt, đặc trưng chỉcó ở ViệtNam. Không ít học giả đã cho rằng, QSDĐ là một loại vật quyền nhưng

lại chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu về vấn đề này.

– Quá trình hội nhập quốc tế một cách toàn diện về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đã khiến cho việc các quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến đất đai cần phảiđặttrong mối tương quan so sánh với các quốc gia nước ngoài, với khu vực và với toàn cầu. Do đó, việc xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật về tài sản nói chung và về quyền sử dụng đất, QSDĐ nông nghiệp nói riêng cần phải tiếp thu những kinh nghiệm, thành tựu, tinh hoa khoa học pháp lý nhân loại. Các công trình đã công bố dường như chưa thậtsự chú trọng đến vấn đề này khiến cho quyền sử dụng đấtở nước ta được nhìn nhận một cách tách biệt và khó hiểu đối với thế giới.

– Phần lớn các công trình nghiên cứu quy định pháp luật về các vấn đề như bồi thường khi NhànướcĐNN, thời hạnsửdụng ĐNN, giá ĐNN… và các giao dịch QSDĐ nói chung và QSDĐ nông nghiệp như tặng cho, chuyển nhượng, góp vốn, thế

chấp…. Nhìn mộtcách tổng thể, có thể thấy, các công trình mớichỉnghiên cứu chuyên sâu về mộtnộidung hoặc mộtvài khía cạnh liên quanđếnQSDĐ nông nghiệp. Do vậy thiếu vắng một công trình nghiên cứu một cách bao quát, toàn diện, có tính hệ thống, chuyên sâu về QSDĐ nông nghiệp với các khía cạnh về khách thể, chủ thể và nội dung của quyền.

– Hiện nay, vẫn chưa có công trình khoa học nào đưa ra các kiến nghị, giải pháp một cách tổng thể nhằm hoàn thiện pháp luật về QSDĐ nông nghiệp cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện lĩnh vực pháp luật này trên thực tế mà mới chỉ là những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện một hoặc số khía cạnh liên quan đếnnộidung về khách thể, chủ thể và nội dung của QSDĐ nông nghiệp. Do vậy, nếuđược sắpxếpmột cách

37

hợp lý, logic, bao quát và toàn diện thì các nội dung nàysẽ cóý nghĩa hơn trong việc giải quyết các vấn đề lý luận, thực tiễn của QSDĐ nông nghiệp Việt Nam.

Tóm lại, có khá nhiều công trình nhưđã kể trên nghiên cứu về vấn đề QSDĐ dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau. Vì vậy, các công trình, nêu trên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, làm cơ sở để luận án tham khảo và phát triển những kiến nghị mới,đầy đủ,toàn diện và xác đáng hơn. Đặc biệt, những nội dung bỏ ngỏ hoặc chưa được giải quyếttriệt đểsẽ là những gợi mở quan trọng để tác giả định hướng cho những vấn đề nghiên cứu tiếp theo mà tác giả sẽ thực hiện.

38

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ

QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

2.1. Lý luận về quyền sử dụngđất

2.1.1. Quyềnsử dụng đất – Công cụ pháp lý nhằm thực hiện sở hữu toàn dân về đất đaiở ViệtNam

Trướchết, cần phải nhấn mạnh rằng, sựra đời của khái niệm QSDĐđể chỉnhững quyền năng của các chủthể đốivớiđấtmà không phải là quyền sở hữu trong hệ thống pháp luật Việt Nam gắn liền với việc xác lập một chế độ sở hữu duy nhấtđốivớiđấtđai đó là SHTD.

Vềmặt lịch sử, trước khi Hiến pháp năm 1980 xác lập chế độ SHTD về đất đai thì trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khái niệm“QSDĐ” chưa được sửdụng để chỉnhững quyền năng của cá nhân, HGĐ, tổ chức đối với đất đai mà khái niệm“Quyền sở hữu”ruộng đất vẫn được sử dụng trong các văn bản pháp lý.Cụ thể:

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới được thành lập đã phảiđương đầu vớinhững khó khăn, thử thách rất nghiêm trọng.Đấtnước bịkẻ thù bao vây từ nhiều phía, thù trong giặc ngoài câu kết vớinhau phá hoại nền cộng hòa non trẻ.

Ngày 09/11/1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập được ban hành. Quyền sở hữu tài sản nói chung và quyền sở hữu đốivớiruộng đấtnói riêng của công dân được công nhận bằng quy định ngắn ngọn tại Điều 12 Hiến pháp 1946:

“Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Namđược bảo đảm”.

Ngày 04/12/1953, Quốc hội đã thông qua Luật Cải cách ruộng đất. Đây là văn bản vô cùng quan trọng trong chính sách ruộng đất của nước ta. Mục đích và ý nghĩa của cảicách ruộng đấtđược quy định tạiĐiều 1 LuậtCảicách ruộng đất năm 1953 là: “Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâmlược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếmhữu ruộng đấtcủa giaicấp địa

chủ,để thực hiện chế độ sở hữu ruộng đấtcủa nông dân…”.

Vềnội dung, quyền sở hữu đối với tài sản nói chung và sở hữu ruộng đất nói riêng trong thời kỳ này cũng được hiểu gồm ba quyền năng của chủ sở hữu là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Trong đó,quyền sử dụng đượchiểu là quyền được khai thác những thuộc tính có ích của tài sản để thoả mãn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và bao gồm cả quyền được hưởng hoa lợi do tài sản mang lại cho chủ sở hữu và: “Ba quyền chiếm hữu,sử dụng và định đoạtkể trên có mối quan hệ chặt

39

chẽ lẫn nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Người ta không thể sử dụng tài sản nếu không có tài sản đó trong tay, nói cách khác quyền chiếm hữu tạo khả năng cho chủ sở hữu thực hiện quyền sử dụng tài sản. Khi chủ sở hữu đã di chuyển quyền chiếm hữu và quyền sử dụng cho người khác thìquyền định đoạtcủa mình cũng bịhạn chế” [132].

Như vậy, khi ruộng đất có thể thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, của tập thểhoặc của cá nhân thì QSDĐ là một quyền năng, cùng với quyền chiếm hữu và quyền định đoạttạo thành quyền sở hữu ruộng đất.

Với chiến thắng ngày 30/4/1975, chế độ Việt Nam Cộng hoà ở miền nam bị lậtđổ,đấtnước ta hoàn toàn được thống nhất về lãnh thổ cũng như về chính quyền nhà nước.Trước bốicảnh mớicủa đấtnước,Hiến pháp năm 1980 đã được ban hành thay thế cho Hiến pháp năm 1959 nhằm nhanh chóng xây dựng thành công chủ nghĩa xãhộiở ViệtNamvớiđường lốicơ bản là:“Nắmvững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động” [47]. Theo quy định tại Điều 19 Hiến pháp 1980,mộtchế độ sở hữu duy nhấtđốivớiđấtđaiở ViệtNamđã được xác lập,đó là chế độ công hữu vớitên gọi“SHTD”. Để thực hiện các quy định của Hiến pháp năm 1980 về quản lý và sử dụng đất đai, LĐĐ năm 1987 được ban hành và khái niệm QSDĐ được chính thức sử dụng mộtcách độc lập để chỉcác quyền năng của các chủ thể trong xã hội đối với đất đai mà không phải là quyền sở hữu.

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và Hiến pháp năm 2013 làcác bản Hiến pháp được ban hành trong bối cảnh thựchiện đường lốiđổimớitoàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từĐại hội đại biểu toàn quốclầnthứVI (12/1986) trên quanđiểmchủđạo: “Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuấtmớiphù hợp với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất”[48], trong đó nhấnmạnh đếnviệc: “Đổimới cơchế quản lý kinh tế vớinộidung chủ yếu là xoá bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, sửa đổicác chính sách đòn bẩy kinh tế” [48]. Đối với vấn đề sở hữu đấtđai, các bản Hiến pháp này tiếp tục duy trì chế độ SHTD. Trên cơ sở hiến định, các LĐĐ năm 1993, LĐĐ năm 2003 và LĐĐ năm 2013 lần lượtđượcban hành để quy định cụ thểvềchếđộ sở hữu đấtđai, quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu,chế độ quản lý và sử dụng đốivớicác loạiđấtkhác nhau, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được trao QSDĐ.

Thứ hai, QSDĐ là một sáng tạo pháp lý và là công cụ pháp lý nhằm thực hiện quyền SHTDvề đấtđai ở nước ta.

40

Theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013 thì đất đai thuộc SHTD. Trên cơ sở này, Điều 5 LĐĐ năm 2013 và Điều 197 BLDS năm 2015 tiếp tục quy định đấtđai là thuộc SHTD.

Việc tiếp tục duy trì quyền SHTD đối với đất đai ở nước ta hiện nay là cần thiết, bởilẽ:“ViệtNam là mộtđấtnướchoàn toàn khácvớinhiều nước.Ba mươi năm trong lịch sử hiện đại không có nước nào có chiến tranh dài như Việt Nam và đây cũng là đặc thù của Việt Nam. Từng mảnh đất là thành quả của đấu tranh cách mạng của bao thế hệ người và không phải tự nhiên mà chúng ta tuyên bố là thuộc SHTD. Xuất phát từ hoàn cảnh Việt Nam đó là từng tấcđấtđều thấmmồ hôi, nướcmắtcủa cả dân tộc. Việc này là phù hợp, đất đai phải là tài sản của toàn dân, do nhà nước đạidiện thống nhấtvà quản lý”[81]. Ở khía cạnh khác,đấtđai vừa là lãnh thổ gắn vớichủ quyền quốc gia dân tộc thiêng liêng bất khả xâm phạm, vừa là nền tảng của toàn bộ hoạt động vật chất và tinh thần của con người mà không có gì thay thế được. Với tính chất đặc biệt như vậy nên đất đai không thể thuộc về một cá nhân, tổ chức nào một cách tuyệtđốinhư những loại tài sản khác mà luôn luôn tồn tại sự quản lý và điều tiết của Nhà nước ngay cả ở những quốc gia duy trì chế độ sở hữu tư nhân đốivớiđấtđai [11]. Vídụ như ở Hoa Kỳ mặc dù đấtđai là thuộc sở hữu tư nhân nhưng hiện nay đã xuất hiện quan điểm xây dựng một hệ thống chính sách pháp luật mới trên cơ sở QSDĐ thay cho quyền sở hữu với đất đai. Quan điểm này được đưa ra dựa trênlậplà không ai cóthể “làmra” đất đai, nên không aicó thể sở hữu đấtđai. Mặt khác, đất đai là bất động sản, và việc khai thác đất đai sẽ ảnh hưởng đến nhiều thế hệ, nên không thể không có sự can thiệp của xã hội vào việc sử dụng đất đai của mỗi cá nhân [215].

Đểquyền SHTDvề đấtđai được thực hiện trên thực tế pháp luật đã quy định cho Nhà nước tư cách pháp lý là đại diện chủ sở hữu. Đây là sự uỷ quyền mang tính chất luật định của chủ sở hữu “toàn dân” cho duy nhất một chủ thể là Nhà nước thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu mà không có một chủ thể nào khác được phép thực hiện những quyền năng này. Điều này là hoàn toàn phù hợp bởi lẽ chủ thể quyền SHTDvềđất đai là “toàn dân”, có nghĩa là tấtcả ngườidân Việt Namlạimang tính chung chung, trừu tượng không được xác định rõ ràng cụ thể và thậm chí đó còn là một khái niệm làrất “mơ hồ”không thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luậtvề sở hữu đấtđai [146]. Có thể thấy, trong đời sống xã hội thuật ngữ “toàn dân” được sử dụng phổ biến trong các khẩu hiệu vận động,cổ động mọicá nhân,tổchức thực hiện một chủ trương, chính sách nào đó như: “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; “toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới”;… hoặc trong các văn kiện

41

chính trịcủa Đảng.Rõ ràng thuật ngữ“toàn dân”mang ý nghĩa chính trị – xã hội hơn là mang tính chất pháp lý. Do vậy,“toàn dân”không thể tự mình thực hiện quyền sở hữu được mà bắtbuộc phải thông qua một chủ thể khác mang tính xác định,cụ thể và có đủ khả năng thực thi các quyền năng của chủ sở hữu.Chỉmộtchủ thể duy nhấtđáp ứng được khả năng này, đó chính là Nhà nước. Vì vậy, Khoản 1 Điều 198 BLDS năm 2015 đã quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namlà đạidiện, thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc SHTD”. Điều này cũng là phùhợp khi mà Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Khoản 1 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 xác định có bản chất: “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”nên lợi ích giữa Nhà nước và nhân dân là có sự thống nhất.

Với tư cách là đại diện chủ sở hữu, Nhà nước thực hiện các quyền năng của chủsở hữu được quy định tạiĐiều 13 LĐĐ năm 2013 gồm có:

– Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; quyết định mục đích sử dụng đất;

– Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất; – Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất;

– Quyết định giá đất;

– Quyết định trao QSDĐ cho người sử dụng đất;

– Quyết định chính sách tài chính về đất đai; quy định quyền và nghĩa vụ của ngườisử dụng đất.

Những quyền năng này được Nhà nước thực hiện thông qua hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan hành chính nhà nước ở cấp trung ương và địa phương. – Đối với cơ quan quyền lực nhà nước thì Quốc hội ban hành luật, nghị quyết

về đấtđai; quyết định quy hoạch,kế hoạch sử dụng đấtcấp quốc gia; thực hiện quyền giám sáttốicao đốivớiviệc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vicả nước;Hộiđồng nhân dân các cấp thực hiện quyền thông qua quy hoạch,kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình trước khi trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; thông qua bảng giá đất, việc thu hồiđấtthực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng của địa phương theo thẩm quyền; giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương.

– Đối với cơ quan hành chính nhà nước, theo quy định tại Điều 23 LĐĐ năm 2013 thì Chính phủ thống nhấtquản lý về đấtđai trong phạm vi cả nước và UBND các cấp tỉnh, huyện, xã quản lý đấtđấtđai ở địa phương mình với các nội dung là ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý,sử dụng đấtđai, khảo sát, đo đạc,lập bản đồ địa chính,bản đồ hiện trạng sử dụng đấtvà bản đồ quy

42

hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất; đăng ký đấtđai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ,…

Tuy nhiên,nếu chỉdừng ở việc Nhànướclà đạidiện chủ sở hữu thực hiện những quyền năng ở trên thì quyền SHTD vẫn chưa được hiện thực hoá.Bởilẽđất đai vẫn chưa được đưa vào khai thác, sử dụng để tạo ra những lợi ích thoả mãn cho nhu cầu vậtchất và tinh thần của các cá nhân, HGĐ, tổ chức trong xã hội.

Theo PGS.TS Phạm Duy Nghĩa “Sáng tạo ra khái niệm QSDĐ của người Việt Nam và người Trung Quốc dường như đã tạo ra một khái niệm sở hữu kép, một khái niệm sở hữu đa tầng:Đấtđai thuộc SHTD, song QSDĐ lại thuộc về cá nhân hoặc tổchức”[125]. Thật vậy,sự ra đờicủaQSDĐ trong hệ thống pháp luật nước ta không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là mộttấtyếu khách quan, là một sự sáng tạo pháp lý nhằm thực hiện chế độ SHTDvề đấtđai ở nước ta,đồng thờilà một công cụpháp lý để giúp Nhà nước thực hiện được quyền năng của chủ sở hữu của mình. Kết luận này được dựa vào những căn cứ sau đây:

Một là,vớitư cách là đại diện chủ SHTDvề đấtđai, Nhà nướccó đầy đủ ba quyền năng của bấtcứ mộtchủ sở hữu nào, đó là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạtđốivớiđấtđai. Trên thực tế,Nhà nước đã và đang thực hiện những quyền năng này nhưng mang tính chất gián tiếp và ở tầm quản lý vĩ mô [126]. Nhà nước với chức năng cơ bản là “Thaymặtcho xã hội quản lý cácmặtkhác nhau của cuộc sống, bảo đảmsựổn định, trậttự xã hội, quyền lợi của cả cộng đồng xã hội”[50], không thể đứng ra để trực tiếp khai thác,sử dụng từng thửa đấtđể sản sinh ra lợi ích. Trong khi đó, để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, rất nhiều chủ thể trong xã hội đang hàng ngày, hàng giờ cần đến đất nhưmộttài sản không thể thiếu. Để có được đất thì các chủ thể cần được Nhà nước giao đất. Tuy nhiên, được giao đất mà không có quyền năng gìđốivớiđấtđược giao thì các chủ thể cũng không thể có tác động gì đối với đất để thỏa mãn các nhu cầu của mình. Do vậy, các chủ thể phải có những quyền năng nhấtđịnh đốivớiđấtđai và các quyền năng này phảiđược Nhà nước thông qua pháp luật mà ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Có như vậy, các chủ thể trực tiếp sửdụng đấtmớicó thể yên tâm khai thác lâu dài và bỏ vốn, công sức đầu tư cảitạo đất.

Bên cạnh đó, ghi nhận những quyền năng của các chủ thể trựctiếp sử dụng đất sẽ tạo cơ sở cho việc quản lý đất đai hiệu quả, tránh tình trạng hoang hoá, lãng phíđấtđai và điều tiết những lợi ích do đất đai mang lại nhằm phát triển kinh tế, xã hội của đấtnước. Những quyền năng mà Nhà nước trao cho các chủ thể sửdụng đấtlà khác nhau nhưng tấtcả đều được kháiquátdướimộtkhái niệm chung là “QSDĐ”.

43

Khái niệm “QSDĐ” ở đây không phải là một trong ba quyền năng của chủ sở hữu mà là một khái niệm tổng hợp được dùng để chỉ tập hợp những quyền năng mà Nhànước trao cho người có đất. Như vậy,“QSDĐ” đấtlà phát sinh từ quyền SHTDvề đấtđai, tồn tại song song và có sự độc lập nhấtđịnh vớiquyền SHTDvề đấtđai.

Hai là, về mặtpháp lý, trên mỗi tài sản chỉ có một quyền sở hữu của một chủsở hữu được thiếtlập lên, đây chính là tính chất độc quyền và tuyệtđốicủa quyền sở hữu tàisản[59]. Nếu thừa nhận đồng thời nhiều quyền sở hữu của các chủ thể khác nhau trên một tài sản sẽ dẫn đến tình trạng xung đột gay gắt về quyền và lợi ích giữa các chủ thể, sẽ là gốc rễ của sựbấtổn định kinh tế, xã hộicủa đấtnước. Do vậy, pháp luật đã quy định đất đai thuộc SHTD do Nhà nước làmđạidiện chủ sở hữu thì không thể quy định các chủ thể khác trong xã hội đồng thời cũng có quyền sở hữu đối với đấtđai. Cần thiết phải có một khái niệm pháp lý mới để ghi nhận một cách chắc chắn và hợp lý những quyền năng của các chủ thể trực tiếp sử dụng đất và sự khác biệt của quyền này với quyền SHTDvề đấtđai. Trong ba quyền năng của quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng là quyền mang ý nghĩa kinh tế và thiết thực nhất nên việc sử dụng khái niệm“QSDĐ”cũng là sự lựa chọn hợp lý của các nhà lập pháp Việt Nam [17]. Tóm lại, sự ra đời của khái niệm QSDĐ với tư cách là một khái niệmđể chỉ

những quyền năng của các chủ thể đốivớiđấtmà không phải là quyền sở hữu là một sự sáng tạo pháp lý và là công cụ pháp lý nhằm thực hiện quyền SHTD.

2.1.2. Bản chất pháp lý của quyền sửdụng đất

2.1.2.1. Các quan điểm chủ yếu về quyền sửdụng đấthiện nay

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

QSDĐ nông nghiệp ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn QSDĐ nông nghiệp ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *