QLNN về biên giới quốc gia từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình

QLNN về biên giới quốc gia từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình

QLNN về biên giới quốc gia từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình

1. Tính cấp thiết của đề tài

Biên giới quốc gia có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng – an ninh và đối ngoại đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay. Tỉnh Quảng Bình có cả biên giới đất liền và biên giới biển. Thời gian qua, hoạt động QLNN về biên giới quốc gia tại tỉnh Quảng Bình đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập. Việc đánh giá đúng thực trạng QLNN về biên giới quốc gia tại tỉnh Quảng Bình là yêu cầu cơ bản, quan trọng, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm tăng cường QLNN trong lĩnh vực này.

Với mong muốn tìm hiểu toàn diện hơn lĩnh vực này, học viên chọn đề tài “QLNN về biên giới quốc gia từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình”làm luận văn thạc sĩ.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Luận văn đưa ra dự báo và xây dựng hệ thống giải pháp tăng cường công tác QLNN về biên giới quốc gia trong tình hình hiện nay.

3.2. Nhiệm vụ của luận văn

Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận QLNN về biên giới quốc gia; khảo sát, đánh giá thực trạng QLNN về biên giới quốc gia tại tỉnh Quảng Bình; đề xuất phương hướng, giải pháp góp phần tăng cường QLNN về biên giới quốc gia thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu lý luận và thực tiễn QLNN về biên giới quốc gia tại tỉnh Quảng Bình.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động QLNN về biên giới quốc gia trong phạm vi tỉnh Quảng Bình.

– Phạm vi về thời gian: Chủ yếu từ năm 2011 đến nay.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Luận văn nghiên cứu đề tài QLNN về biên giới quốc gia trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề nhà nước, pháp luật và quản lý, chủ yếu dưới góc độ quản lý hành chính nhà nước.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh; chuyên gia và khảo sát thực tế.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm các vấn đề lý luận và thực tiễn QLNN về biên giới quốc gia; tổng kết thực tiễn QLNN về biên giới quốc gia tại Quảng Bình; đề xuất những giải pháp tăng cường QLNN về biên giới quốc gia giai đoạn hiện nay.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể được sử dụng phục vụ nghiên cứu, ứng dụng trong thực tiễn QLNN về biên giới quốc gia cho các cơ quan QLNN; là tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, học tập tại Học viện khoa học xã hội.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có kết cấu gồm 3 chương như sau:

Chương 1. Những vấn đề lý luận QLNN về biên giới quốc gia.

Chương 2. Thực trạng QLNN về biên giới quốc gia tại tỉnh Quảng Bình.

Chương 3. Yêu cầu và giải pháp tăng cường QLNN về biên giới quốc gia.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BIÊN GIỚI QUỐC GIA

1.1. Khái niệm biên giới quốc gia và quản lý nhà nước về biên giới quốc gia

1.1.1. Khái niệm biên giới quốc gia

Biên giới quốc gia được cấu thành bởi bốn bộ phận cơ bản: biên giới quốc gia trên đất liền, biên giới quốc gia trên biển, biên giới quốc gia trong lòng đất và biên giới quốc gia trên không. Biên giới quốc gia trên đất liền là biên giới phân chia chủ quyền lãnh thổ đất liền của một quốc gia với quốc gia khác; Biên giới quốc gia trên biển là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo của Việt Nam, được xác định theo Công ước về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan; Biên giới quốc gia trên không là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển lên vùng trời; Biên giới quốc gia trong lòng đất là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển xuống lòng đất.

Nghiên cứu các quy định của pháp luật, kết hợp với khảo sát, đối chiếu thực tiễn về biên giới quốc gia, có thể nêu khái niệm về biên giới quốc gia:

Biên giới quốc gia là hàng rào pháp lý xác định giới hạn vùng đất, vùng nước, vùng biển, vùng trời và lòng đất thuộc chủ quyền quốc gia; là giới hạn ngăn cách lãnh thổ của một quốc gia này với quốc gia khác, ngăn cách lãnh hải với vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của một quốc gia. Trong phạm vi không gian lãnh thổ đó, quốc gia là chủ nhân được áp dụng và thực thi một hệ thống các quy tắc pháp lý của nhà nước đó. Mỗi một quốc gia đều có quyền xác định biên giới quốc gia của mình trên cơ sở các yếu tố về lịch sử, pháp lý và tiến hành các hoạt động kiểm soát, bảo vệ, thực thi các quyền của quốc gia đối với biên giới và KVBG trong phạm vi lãnh thổ của mình.

1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về biên giới quốc gia

QLNN là sự tác động có tổ chức, có hệ thống, bằng pháp luật nhằm điều chỉnh có hiệu lực, hiệu quả các quan hệ xã hội theo ý chí của Nhà nước. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức, được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước. QLNN được đề cập trong đề tài này là khái niệm theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc thực hiện hoạt động quản lý cần thiết, được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật.

QLNN về biên giới quốc gia là lĩnh vực quản lý nằm trong tổng thể hoạt động QLNN nói chung. Có thể hiểu, QLNN về biên giới quốc gia là hoạt động của tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc xây dựng, sử dụng phương tiện pháp luật để tác động và điều chỉnh các quá trình kinh tế – xã hội và hoạt động của con người nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh trật tự, an toàn xã hội và phát triển kinh tế – xã hội KVBG, các vùng biển, đảo, bảo vệ và thực thi chủ quyền, các quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích quốc gia trên biên giới đất liền, trên vùng trời, vùng biển, lòng đất và đáy biển.

QLNN về biên giới quốc gia có các mục tiêu, yêu cầu, đặc điểm và nguyên tắc cơ bản cần được nghiên cứu và tuân thủ thực hiện.

1.2. Chủ thể quản lý nhà nước về biên giới quốc gia

Chính phủ thống nhất QLNN về biên giới quốc gia; các bộ, ngành, địa phương tiến hành quản lý theo sự phân công của Chính phủ, theo đó, Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi trách nhiệm của các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có biên giới quốc gia và sự phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ trong thực hiện quản lý nhà nước về biên giới quốc gia

1.3. Nội dung quản lý nhà nước về biên giới quốc gia

1.3.1. Ban hành văn bản pháp luật về biên giới quốc gia

Hoạt động xây dựng và ban hành pháp luật về biên giới quốc gia chia được làm hai loại cơ bản:

* Ký kết hoặc gia nhập các điều ước quốc tế về biên giới quốc gia: việc ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế về biên giới quốc gia là hoạt động thuộc nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội, Chủ tịch nước và Chính phủ.

* Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý. Theo đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trình để Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết quản lý nhà nước về biên giới quốc gia; ban hành nghị quyết, nghị định, chiến lược, chương trình quốc gia về biên giới.

1.3.2. Quản lý nhà nước về kinh tế, văn hoá – xã hội ở khu vực biên giới

* Quản lý nhà nước về kinh tế ở KVBG: QLNN về kinh tế ở KVBG quốc gia là sự tác động có tổ chức, bằng pháp luật và thông qua một hệ thống các chính sách, trong đó có cả các chính sách đặc biệt đối với KVBG, với các công cụ quản lý kinh tế lên nền kinh tế ở KVBG nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế đã đặt ra.

* QLNN về văn hoá – xã hội: là việc nhà nước ban hành và sử dụng các chính sách, pháp luật để quản lý nhằm ổn định trật tự xã hội, giữ gìn nét đẹp của văn hoá truyền thống, xây dựng nếp sống văn hoá mới. Ở KVBG với điều kiện về trình độ văn hoá của người dân thấp, hiểu biết về pháp luật hạn chế nên hoạt động QLNN về văn hoá – xã hội có những đặc thù nhất định.

1.3.3. Quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh và trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới

Quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội trong KVBG là quá trình Nhà nước điều hành bằng pháp luật, chính sách, kế hoạch và các công cụ khác trong mọi lĩnh vực, có quan hệ đến việc giữ gìn, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh trật tự trong KVBG, do hệ thống các cơ quan của bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành theo chức năng nhiệm vụ, phạm vi quyền hạn của mỗi cơ quan.

1.3.4. Kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm pháp luật và khen thưởng thành tích về xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia

Kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm pháp luật về biên giới quốc gia do các cơ quan chức năng của nhà nước tiến hành theo quy định của pháp luật đối với từng lĩnh vực. Với tình hình biên giới biển đảo ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp, hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm cần được quan tâm thực hiện một cách nghiêm túc, có kế hoạch và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan. Bên cạnh đó, hoạt động khen thưởng, cũng được quan tâm thực hiện để ghi nhận công lao của các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là đối với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đã có những đóng góp tích cực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ biên giới.

1.3.5. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về biên giới quốc gia

Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về biên giới quốc gia chính là truyền tải những thông tin, yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật về biên giới quốc gia đến với người dân, giúp cho người dân đặc biệt là người dân trong KVBG, những người vốn có trình độ văn hoá thấp dễ dàng hiểu biết, nắm bắt pháp luật kịp thời, không mất nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập. Đó chính là phương tiện hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật về biên giới quốc gia cho nhân dân trong xã hội nói chung và nhân dân trong KVBG nói riêng.

1.3.3. Hợp tác quốc tế trong quản lý nhà nước về biên giới quốc gia

Hợp tác quốc tế trong QLNN về biên giới quốc gia có ảnh hưởng lớn đến chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Tuỳ mối quan hệ với từng quốc gia láng giềng khác nhau và từng giai đoạn lịch sử khác nhau để xây dựng các nội dung hợp tác phù hợp điều kiện và yêu cầu thực tế.

Hợp tác quốc tế về biên giới quốc gia chủ yếu trên các lĩnh vực: hoạch định phân giới cắm mốc; quản lý, bảo vệ biên giới; quản lý người, hàng hoá qua lại biên giới; quản lý tài nguyên xuyên biên giới, môi trường sinh thái; phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội trong KVBG; đàm phán, giải quyết các tranh chấp, các vụ việc phát sinh trong quá trình quản lý, bảo vệ biên giới, v.v…

1.4. Phương pháp quản lý nhà nước về biên giới quốc gia

Bên cạnh những phương pháp quản lý chung (thuyết phục, cưỡng chế), thường sử dụng các phương pháp quản lý chủ yếu như: phương pháp giáo dục về chính trị, tư tưởng; phương pháp tổ chức hành chính; phương pháp kinh tế; phương pháp ngoại giao; phương pháp vũ trang; phương pháp khoa học, kỹ thuật.

Kết luận Chương 1

Tại chương này, luận văn đã tập trung phân tích một số vấn đề lý luận cơ bản về QLNN về biên giới quốc gia như: khái niệm biên giới quốc gia, khái niệm QLNN về biên giới quốc gia; nội dung QLNN về biên giới quốc gia; chủ thể QLNN về biên giới quốc gia; phương pháp QLNN về biên giới quốc gia. Những vấn đề lý luận cơ bản này là cơ sở nhận thức chủ yếu để luận văn triển khai các nghiên cứu tại Chương 2.

QLNN về biên giới quốc gia từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình
QLNN về biên giới quốc gia từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ BIÊN GIỚI QUỐC GIA TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH

2.1. Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về biên giới quốc gia tại tỉnh Quảng Bình

2.1.1. Đặc điểm khu vực và trong nước

2.1.2. Đặc điểm biên giới tỉnh Quảng Bình

2.1.2.1. Đặc điểm biên giới đất liền

2.1.2.2. Đặc điểm biên giới biển

2.2. Quản lý nhà nước về biên giới quốc gia tại tỉnh Quảng Bình thời gian qua

2.2.1. Cơ sở pháp lí quản lý nhà nước về biên giới quốc gia

Có thể phân chia các loại văn bản pháp luật về biên giới quốc gia thành các nhóm chính như sau:

* Quy định của pháp luật quốc tế: các Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia, các Hiệp định về Quy chế biên giới quốc gia và các Thoả thuận giải quyết những vấn đề liên quan đến biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Lào; Công ước về Luật biển năm 1982; các Hiệp định giữa Việt Nam và Trung Quốc về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ; về hợp tác nghề cá.

* Quy định của pháp luật Việt Nam:

Về quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân được quy định trong Hiến pháp, Luật Biên giới quốc gia, các Luật liên quan khác như: Bộ luật Hàng hải, Luật cư trú, Luật Quốc tịch, Luật biển, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, v.v..

Về hành vi vi phạm pháp luật và chế tài, hình thức xử lý tương ứng được quy định trong Bộ luật hình sự, Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định 167/2013/NĐ-CP, v.v…

Ngoài ra, trên cơ sở thẩm quyền thực hiện QLNN về biên giới quốc gia tại địa phương, UBND tỉnh Quảng Bình đã ban hành nhiều văn bản để thực hiện QLNN về biên giới quốc gia tại địa phương.

2.2.2. Hoạt động quản lý nhà nước về biên giới quốc gia tại tỉnh Quảng Bình

2.2.2.1. Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội ở khu vực biên giới

Triển khai các chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội, như: giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc ổn định sản xuất; hỗ trợ tín dụng cho đồng bào dân tộc phát triển sản xuất lâm nghiệp; các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội như: Chương trình 135, Chương trình Nghị quyết số 30a, Chương trình bố trí dân cư theo Quyết định số 1776/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; áp dụng Chương trình miễn thuế cho nhân dân có chứng minh thư biên giới; Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo (với số vốn 1.500 triệu đồng); Chương trình mục tiêu quốc gia về Dân số – KHH Gia đình (Đề án kiểm soát dân số các vùng biển, đảo và ven biển với số vốn 2.085 triệu đồng); Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững (Dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo: 17.000 triệu đồng/17 xã); Chương trình củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển và hệ thống đê sông với số vốn 35 tỷ đồng; hỗ trợ khu neo đậu và tránh trú bão cho tàu thuyền 14 tỷ đồng; Chương trình đầu tư hạ tầng thủy sản với số vốn 15 tỷ đồng. Xây dựng hạ tầng khu kinh tế Hòn La với số vốn 125 tỷ đồng.

Tăng cường quản lý và có những chính sách ưu đãi về thủ tục, phí và lệ phí đối với xuất – nhập khẩu hàng hoá qua các cửa khẩu đường bộ và cảng biển trên địa bàn tỉnh. Từ 2011 đến hết tháng 6/2016, kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu biên giới Việt Nam – Lào đạt 6.800.810 USD; qua cảng biển Hòn La đạt 338.607.297 USD.

Triển khai các chương trình, dự án quản lý tài nguyên – môi trường vùng ven biển: Dự án “Điều tra hiện trạng, phân loại các nguồn thải vùng cửa sông, ven biển”, Kế hoạch ứng phó với sự cố tràn dầu và bản đồ nhạy cảm môi trường đường bờ tỉnh Quảng Bình, Dự án “Thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển tỉnh Quảng Bình”; đề xuất với Bộ Khoa học Công nghệ nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học và pháp lý phục vụ quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu các vùng lãnh thổ, biển và hải đảo hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị theo hướng phát triển kinh tế bền vững đảm bảo an ninh quốc phòng”, v.v…

Thực hiện Nghị định số 67/2015/NĐ-CP trên một số nội dung như: cho ngư dân vay vốn đóng mới tàu khai thác hải sản, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ, nâng cấp tàu cá và các chính sách phát triển thủy sản, đến nay toàn tỉnh có 1.167 tàu cá khai thác xa bờ theo tinh thần Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, v.v… để kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Triển khai các hoạt động tái tạo nguồn lợi thuỷ sản, thả bổ sung giống thuỷ sản về tự nhiên được tăng cường thực hiện. Thành lập các tổ, đội sản xuất trên biển, toàn tỉnh đã có 88 Tổ hợp tác khai thác thủy sản với 3.426 lao động; có 158 Tổ đoàn kết sản xuất trên biển.

Quan tâm hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân vốn khuyến công và xúc tiến thương mại triển khai các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh trên lĩnh vực công nghiệp, thương mại tại các xã ven biển.

Văn hoá – xã hội ở KVBG từng bước cải thiện, chất lượng các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hoá thông tin phục vụ nhân dân trong KVBG được nâng cao. 100% xã biên giới có trạm y tế và có bác sĩ. Hoạt động phòng chống dịch bệnh được quan tâm đẩy mạnh, quản lý tốt giá thuốc chữa bệnh và giá các dịch vụ y tế, bảo đảm người nghèo, đối tượng chính sách được khám, chữa bệnh theo đúng chế độ quy định của Nhà nước. 100% xã biên giới đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, các chế độ chính sách ưu đãi cho giáo viên đến công tác tại vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới được quan tâm thực hiện tốt. Hàng năm đã giải quyết việc làm cho khoảng hơn 8.000 lao động KVBG biển, tạo việc làm cho hơn 4000 lao động thiếu việc làm, đưa tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực này đến nay xuống dưới 1,7%.

QLNN về tôn giáo có nhiều chuyển biến tích cực, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo cơ bản đúng quy định; tạo điều kiện cho bà con giáo dân, tín đồ phật giáo tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước, “sống tốt đời đẹp đạo”, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.

2.2.2.2. Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh; trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới

* QLNN về quốc phòng – an ninh

Tỉnh Quảng Bình đã xây dựng hoàn thành trên thực địa hệ thống mốc quốc giới Việt Nam – Lào trên địa bàn tỉnh với số lượng 61 cột mốc và 01 cọc dấu; tiến hành quản lý chặt chẽ các công trình xây dựng trong phạm vi 100m tính từ đường biên giới; tổ chức khảo sát, cắm hệ thống biển báo, biển cấm trong KVBG theo quy định; quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng để nâng cấp cửa khẩu trên địa bàn tỉnh; xây dựng và triển khai Kế hoạch hiệp đồng huy động, tiếp nhận lực lượng, phương tiện dân sự tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo; tỉnh tiến hành khảo sát, trùng tu, sửa chữa các công trình chiến đấu ven biển trên địa bàn tỉnh; rà soát nắm chắc nhân lực tàu thuyền để sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện, tàu thuyền làm nhiệm vụ.

Thực hiện tốt các giải pháp về xây dựng KVBG vững mạnh, kết hợp thế trận biên phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. Từ năm 2011 – tháng 6/2016, các lực lượng đã tổ chức 251 đợt/1.207 lượt chiến sĩ tuần tra bảo vệ biên giới đất liền, tổ chức 82 đợt/132 lượt tàu/1.208 lượt chiến sĩ tuần tra bảo vệ chủ quyền trên biển.

Tình hình biển Đông ngày càng diễn biến phức tạp, Trung Quốc gia tăng các hoạt động xâm phạm chủ quyền, xua đuổi tàu cá của ngư dân ta dẫn đến tình trạng mất ổn định trên biển. UBND tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương tích cực triển khai các đối sách cần thiết như: lực lượng Biên phòng tăng cường công tác tuần tra bảo vệ chủ quyền, duy trì thường xuyên chế độ thông tin, thông báo tình hình và phối hợp xử lý, giải quyết kịp thời, có hiệu quả các vụ việc xảy ra trên biển với các lực lượng hiệp đồng như: Bộ Tư lệnh Vùng 3 Hải quân, Cảnh sát biển Vùng 1, Hải đoàn 48 Biên phòng, Biên phòng Hà Tĩnh, Quảng Trị; Sở Ngoại vụ phối hợp chặt chẽ với Cục Lãnh sự – Bộ Ngoại giao trao đổi, nắm tình hình tàu cá của ngư dân bị phía nước ngoài bắt giữ để tiến hành các biện pháp dấu tranh ngoại giao, bảo hộ công dân.

Hoạt động quản lý xuất – nhập cảnh về người và phương tiện và quản lý người nước ngoài trong KVBG được triển khai thực hiện tốt. Trong 5 năm từ 2011 – 2015, Công an tỉnh đã thẩm định và cấp giấy phép vào KVBG cho 1.625 lượt người nước ngoài (không áp dụng cấp phép cho khách du lịch nước ngoài vào các khu du lịch trong KVBG biển). Các lực lượng chức năng đã chủ động phòng ngừa, phát hiện và kịp thời ngăn chặn, xử lý các vi phạm.

* QLNN về trật tự, an toàn xã hội trong KVBG:

Thường xuyên phát động phong trào Toàn dân tham gia phòng chống tội phạm, đảm bảo an ninh, trật tự trong các cơ quan, đơn vị; tuyên truyền, vận động nhân dân ở các địa bàn trọng điểm, vùng đồng bào DTTS nâng cao ý thức, chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cảnh giác, tự bảo vệ, chủ động phòng ngừa, tích cực tố giác tội phạm và vi phạm pháp luật. Tổ chức ký cam kết không tham gia các hoạt động vi phạm pháp luật với người dân. Tổ chức các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ như rà soát, xác định tuyến, địa bàn, mục tiêu, lĩnh vực trọng điểm trong KVBG.

KVBG tỉnh Quảng Bình ngày càng thu hút đông người từ nhiều nơi đến làm ăn, sinh sống, tạo sự biến động theo hướng gia tăng về dân số, đặt ra khó khăn cho công tác quản lý cư trú. Các lực lượng chức năng và chính quyền địa phương tổ chức tuyên truyền cho nhân dân trên địa bàn thực hiện các quy định của pháp luật về cư trú; chủ động thực hiện công tác quản lý hộ khẩu, nhân khẩu, tạm trú, tạm vắng, lưu trú; tổ chức các điểm khai báo tạm trú, tạm vắng tại UBND xã để kịp thời phát hiện, xử lý các trường hợp vi phạm. Công tác quản lý cư trú, kiểm tra, rà soát nhân khẩu, hộ khẩu,

Tuyên truyền, vận động cán bộ, nhân dân thực hiện các quy định của Nhà nước; tổ chức cho nhân dân, các hộ buôn bán, giáo viên, học sinh trên địa bàn biên giới ký cam kết không mua bán, đốt pháo trong dịp Tết cổ truyền; xây dựng và triển khai các kế hoạch tuyên truyền, vận động toàn dân thu hồi vũ khí và vật liệu nổ.

Phổ biến về Luật giao thông đường bộ, đường thuỷ; tăng cường quản lý phương tiện giao thông và người điều khiển phương tiện giao thông; thực hiện quy định phân cấp công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm giao thông từ cấp tỉnh đến cấp xã; phối hợp Sở Giao thông Vận tải tổ chức khảo sát những yếu tố gây mất an toàn giao thông, phát hiện và kiến nghị cấp có thâm quyền giải quyết một số “điểm đen” về tai nạn giao thông trên quốc lộ 12A và trong KVBG.

Với diện tích rừng lớn, chủ yếu nằm trong KVBG đất liền, hàng năm UBND tỉnh ban hành chỉ thị phòng chống cháy rừng, triển khai hoạt động phòng cháy chữa cháy trên tất cả các mặt như xây dựng các kế hoạch huy động lực lượng, khoanh vùng các khu vực rừng dễ cháy, diễn tập các phương án chữa cháy giả định, v,v… Bên cạnh đó, thường xuyên kiểm tra phòng cháy chữa cháy với các công trình dân sinh, các cơ sở cho thuê lưu trú, … Tổ chức thẩm duyệt, nghiệm thu phòng cháy chữa cháy đối với các công trình theo đúng quy định. Những năm gần đây, ngày càng ít xảy ra các vụ cháy trên địa bàn KVBG. Một số vụ cháy được kiểm soát tốt nên thiệt hại không đáng kể.

2.2.2.3. Thực trạng hoạt động kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm pháp luật; khen thưởng thành tích quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia

* Kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm pháp luật trong KVBG

Kết quả thực hiện từ năm 2011 đến tháng 6/2016 như sau:

Vi phạm trật tự – an toàn xã hội: Xảy ra 1.029 vụ/1.736 đối tượng; vi phạm Quy chế KVBG đất liền: 103 vụ/354 đối tượng; vi phạm các quy định buôn bán, vận chuyển vật liệu nổ ở KVBG đất liền: 102 vụ/155 đối tượng; vi phạm quy định về quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản: 374 vụ; tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý: phát hiện 12 vụ/15 đối tượng; vượt biên trái phép (tcó cả các đối tượng do phía Lào bắt giữ và trao trả): 32 vụ/78 đối tượng; vi phạm quy định về xuất, nhập cảnh: 385 vụ/491 đối tượng; vi phạm TTATXH: 113 vụ/320 đối tượng; vi phạm các quy định về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ: 17 vụ/34 đối tượng; tàu thuyền nước ngoài vi phạm chủ quyền: 1.089 lượt tàu nước ngoài vi phạm chủ quyền vùng biển Việt Nam thuộc tỉnh Quảng Bình, bắt giữ, xử lý và phóng thích trên biển 11 tàu.

* Khen thưởng thành tích xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia

Hoạt động thi đua khen thưởng về thành tích xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia tại địa phương được Chính phủ, các Bộ và UBND tỉnh quan tâm thực hiện. Đối tượng khen thưởng ngoài cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan nhà nước còn có các tổ chức, cá nhân khác. Ngoài ra, tỉnh Quảng Bình cũng rất quan tâm trong công tác khen thưởng đối ngoại cho các tập thể, cá nhân của các tỉnh Khăm Muộn, Sa-vẳn-na-khẹt – CHDCND Lào về những đóng góp xuất sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ biên giới Việt Nam – Lào thuộc địa bàn tỉnh Quảng Bình.

2.2.2.4. Thực trạng hoạt động tuyên truyền pháp luật về biên giới quốc gia

Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về biên giới quốc gia được thực hiện có trọng tâm, dưới nhiều hình thức phong phú, nội dung đa dạng phù hợp với từng loại đối tượng. Tập trung vào 04 (bốn) nhóm đối tượng chính: Cán bộ các sở, ban, ngành, địa phương từ cấp xã đến cấp tỉnh; cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang; các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động kinh tế – xã hội và quần chúng nhân dân sinh sống trong KVBG.

2.2.2.5. Thực trạng hợp tác quốc tế trong quản lý nhà nước về biên giới quốc gia

* Hợp tác với các tỉnh của Lào được triển khai toàn diện trên các mặt từ chính trị, quốc phòng – an ninh, kinh tế, xã hội được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động đối ngoại của tỉnh qua các thời kỳ, với mục tiêu xuyên suốt là đảm bảo về quốc phòng, an ninh trên tuyến biên giới đất liền nhằm giữ vững chính trị và phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

* Hợp tác với các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam nhằm thực hiện hoạt động bảo hộ công dân, cung cấp thông tin, tuyên truyền cho ngư dân về chính sách xử lý của các nước đối với ngư dân nước ngoài vi phạm vùng biển của nước họ; hướng dẫn ngư dân các ứng xử phù hợp khi có va chạm xảy ra trên biển; bảo hộ công dân khi bị phía nước ngoài bắt giữ

* Hợp tác với các tổ chức quốc tế, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ nước ngoài để vận động các nguồn viện trợ cho nhân dân các xã biên giới còn nhiều khó khăn ngày càng được triển khai thực hiện và quản lý có hiệu quả. Hiện nay, Quảng Bình có 35 chương trình dự án do các tổ chức nước ngoài tài trợ đang triển khai hoạt động tại tỉnh, trong đó 12 chương trình hoạt động tại KVBG.

2.3. Đánh giá thực tiễn quản lý nhà nước về biên giới quốc gia tại Quảng Bình

2.3.1. Ưu điểm

Thứ nhất, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã làm tốt hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong thực hiện công tác QLNN về biên giới quốc gia; triển khai đồng bộ giữa chính sách phát triển kinh tế – xã hội với đảm bảo an ninh, quốc phòng; các chương trình đầu tư phát triển kinh tế – xã hội ở KVBG có trọng tâm, đúng hướng.

Thứ hai, các cấp, các ngành trong tỉnh đã nắm vững và thực hiện nghiêm túc các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong QLNN về biên giới quốc gia; tích cực tham mưu cho lãnh đạo tỉnh ban hành và triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch dài hơi, có tính chiến lược trong việc phát triển kinh tế – xã hội cũng như đảm bảo về QP-AN ở KVBG.

Thứ ba, hoạt động QLNN về biên giới quốc gia vừa được đảm bảo chuyên sâu theo ngành, lĩnh vực, vừa đảm bảo quản lý toàn diện theo địa bàn, đơn vị hành chính. Thực hiện hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị, lực lượng liên quan để thực hiện tốt nhiệm vụ QLNN về biên giới, lãnh thổ quốc gia.

Thứ tư, hoạt động nêu gương điển hình, khen thưởng, đối với cán bộ và nhân dân đã có những đóng góp tích cực cho hoạt động xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới đã được các cấp chính quyền, các cơ quan, đơn vị quan tâm thực hiện và tuyên truyền lên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thứ năm, hợp tác quốc tế trong QLNN về biên giới quốc gia ngày càng được tỉnh chú trọng triển khai thực hiện, đặc biệt là hợp tác với CHDCND Lào với chủ trương giúp bạn chính là giúp mình. Nội dung hợp tác quốc tế về biên giới quốc gia đã được Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đưa vào chương trình hoạt động đối ngoại hàng năm của tỉnh và ưu tiên đảm bảo kinh phí thực hiện.

2.3.2. Tồn tại, hạn chế

Bên cạnh kết quả đạt được, vẫn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế:

Thứ nhất, về cơ chế, chính sách, pháp luật

Thứ hai, năng lực thực hiện QLNN về biên giới quốc gia của các cấp, các ngành, lực lượng chức năng

Thứ ba, về nguồn lực phục vụ công tác quản lý

Thứ tư, về tác hợp tác quốc tế

2.3.3. Nguyên nhân tồn tại, hạn chế

Kết luận Chương 2

Chương 2 đã tập trung đánh giá thực trạng QLNN về biên giới quốc gia tại tỉnh Quảng Bình, địa phương đã có nhiều cố gắng và đạt được nhiều kết quả khả quan trong QLNN về kinh tế – xã hội cũng như quan lý, đảm bảo về chủ quyền, an ninh chính trị và TTATXH trong KVBG. Tuy vậy, hoạt động QLNN về biên giới quốc gia tại Quảng Bình cũng đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục. Việc đánh giá về những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân là cơ sở chủ yếu để luận văn đề xuất các giải pháp tại Chương 3.

QLNN về biên giới quốc gia từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình
QLNN về biên giới quốc gia từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình

CHƯƠNG 3

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BIÊN GIỚI QUỐC GIA

3.1. Yêu cầu tăng cường quản lý nhà nước về biên giới quốc gia

3.1.1. Yêu cầu tuân thủ pháp luật về biên giới quốc gia

3.1.2. Yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội khu vực biên giới

3.1.3. Yêu cầu bảo đảm quốc phòng – an ninh trong khu vực biên giới

3.1.4. Yêu cầu hợp tác quốc tế trong xây dựng, quản lý biên giới quốc gia

3.2. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về biên giới quốc gia

3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động quản lý nhà nước về biên giới quốc gia

Thứ nhất, Tỉnh uỷ cần có nghị quyết toàn diện về công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc, trên cơ sở đó chỉ đạo các cấp xây dựng và ban hành chương trình, kế hoạch cụ thể về các nhiệm vụ quản lý, xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia.

Thứ hai, tập trung củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức cơ sở đảng; phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cấp uỷ trong việc quán triệt, thực hiện các Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về biên giới quốc gia.

Thứ ba, tăng cường phối hợp giữa các tổ chức cơ sở đảng của các lực lượng vũ trang với các tổ chức cơ sở đảng các cơ quan hành chính để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ QLNN về biên giới quốc gia.

Thứ tư, các cấp uỷ đảng cần thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, nắm tình hình để có quyết định lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, kịp thời trong quá trình xử lý các vấn đề nảy sinh liên quan đến quốc phòng – an ninh biên giới nói chung và QLNN về biên giới quốc gia nói riêng tại địa phương.

3.2.2. Hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước về biên giới quốc gia

Thứ nhất, tập trung nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để sớm xây dựng, ban hành Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia; trên cơ sở đó, xây dựng chương trình dài hạn hoàn thiện hệ thống pháp luật về biên giới quốc gia và QLNN về biên giới quốc gia trong tình hình mới.

Thứ hai, tập trung rà soát các văn bản pháp luật về biên giới quốc gia hiện hành để sửa đổi, bổ sung những văn bản pháp luật đã lổi thời, văn bản chưa phù hợp với thực tiễn đời sống và ban hành mới văn bản pháp luật còn thiếu để đảm bảo điều chỉnh trong lĩnh vực này.

Thứ ba, Nhà nước cần xem xét, luật hóa các văn bản quy phạm pháp luật về các lực lượng quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia (như Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển…) thành Luật về Biên phòng và Luật về bảo vệ biên giới quốc gia, làm cơ sở để xây dựng các lực lượng quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia ngày càng vững mạnh.

Thứ tư, trong quá trình xây dựng văn bản pháp luật về biên giới quốc gia, phải làm cho các điều ước quốc tế được nội luật hóa bằng hệ thống pháp luật của Việt Nam để bảo đảm có thể thực thi trên thực tế, đồng thời làm cho pháp luật Việt Nam ngày càng phù hợp hơn với pháp luật quốc tế, giúp cho việc hội nhập quốc tế nói chung và hợp tác quốc tế trong QLNN về biên giới quốc gia càng thuận lợi.

Thứ năm, đối với một số Bộ, ngành, tập trung xây dựng và hoàn thiện các quy chế phối hợp trong QLNN về biên giới quốc gia, nhất là quy chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Ngoại giao. Đối với tỉnh Quảng Bình, Quy chế phối hợp quản lý biên giới lãnh thổ quốc gia trên địa bàn tỉnh ban hành 2006, đến nay đã qua 10 năm triển khai thực hiện, một số nội dung không còn phù hợp pháp luật hiện hành cũng như tình hình quản lý tại địa phương. UBND tỉnh cần tổng kết 10 năm thực hiện Quy chế, đồng thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành Quy chế mới phù hợp hơn.

3.2.3. Thực hiện các chính sách phát triển kinh tế – xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng – an ninh trong khu vực biên giới

Triển khai có hiệu quả chính sách phát triển kinh tế – xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng – an ninh ở KVBG. Chú trọng thực hiện Nghị quyết 30a và Chương trình 135 của Chính phủ về xóa đói giảm nghèo; chính sách ưu đãi, thu hút các dự án đầu tư phát triển kinh tế ở KVBG.

Dành ngân sách thích đáng, kết hợp với huy động mọi nguồn vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở KVBG, nhất là trên các tuyến trọng điểm. Xây dựng hệ thống đường giao thông, đường tuần tra biên giới, mạng lưới y tế, bưu điện và hệ thống thủy lợi,… từng bước hình thành các cụm dân cư dọc biên giới; hỗ trợ, mở các đường dân sinh, xây dựng hạ tầng đảm bảo nhằm phát triển kinh tế kết hợp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới và đấu tranh phòng chống tội phạm.

Chú trọng quy hoạch, xây dựng các công trình phòng thủ về quân sự, dân sự ở KVBG; củng cố, xây dựng mới hệ thống đồn, trạm biên phòng; hệ thống đài quan sát và trinh sát kỹ thuật; hệ thống công sự trận địa trên từng tuyến biên giới, vùng biển, phân cấp bảo vệ, kiểm tra và tu bổ thường xuyên, bảo đảm tuổi thọ của các công trình.

Tiếp thu, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, và có kế hoạch cụ thể đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động quản lý, nghiên cứu, khai thác rừng, biển. Gắn khai thác nguồn lợi về rừng, biển với quản lý biên giới, bảo vệ môi trường sinh thái.

Tiếp tục có những chính sách hỗ trợ ngư dân sản về các điều kiện vật chất, cơ chế ưu đải trong hoạt động khai thác trên biển, đảm bảo cho ngư dân được tự do, an toàn trong vùng biển của Việt Nam.

Chính sách xã hội cần tập trung vào giáo dục đào tạo, nâng cao trình độ dân trí, ý thức chấp hành pháp luật của cư dân biên giới, bài trừ hủ tục lạc hậu, tập quán du canh du cư của đồng bào DTTS

Tăng cường trang bị phương tiện, kỹ thuật cho lực lượng Biên phòng, Công an, Cảnh sát biển, nhất là các phương tiện vận tải, tuần tra, kiểm soát, cơ động lực lượng trên bộ, trên biển; phương tiện trinh sát thám không, thông tin liên lạc để nâng cao khả năng chỉ huy, chỉ đạo tác chiến và xử trí kịp thời, có hiệu quả các tình huống phức tạp, đột xuất trên biên giới và biển, đảo.

3.2.4. Đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về biên giới quốc gia

* Về nội dung: Tuyên truyền, giáo dục làm cho đồng bào ở biên giới thấy được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào để đồng bào xác định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm công dân của mình, chống lại các luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch, đóng góp công sức vào việc xây dựng địa bàn mình sinh sống. Khơi dậy truyền thống đấu tranh cách mạng của đồng bào các dân tộc ở biên giới, lòng tự hào dân tộc, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của đồng bào.

Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho cán bộ, Đảng viên và nhân dân về ý thức quốc gia, tinh thần yêu nước, mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Lào; giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác để quần chúng nhân dân tự đề kháng, không nghe và làm theo các luận điệu tuyên truyền, kích động của kẻ địch và đấu tranh với chúng, kịp thời phát hiện,cung cấp tin tức có liên quan cho cơ quan chức năng.

* Về hình thức, phương pháp tuyên truyền: Cần có các hình thức, phương pháp phong phú, linh hoạt, phù hợp với đặc điểm tâm lý, trình độ nhận thức, điều kiện, hoàn cảnh, môi trường sinh hoạt và phong tục tập quán của từng vùng, từng dân tộc… kết hợp giữa tuyên truyền với các cuộc vận động chính trị và các phong trào khác như: xóa đói,giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa… Phải có sự phân loại đối tượng để có hình thức, phương pháp tuyên truyền phù hợp.

Chú trọng đến công tác vận động quần chúng tham gia bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia mà hạt nhân là xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ ở địa bàn biên giới.

3.2.5. Tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý nhà nước về biên giới quốc gia

Thứ nhất, tăng cường công tác đối ngoại biên phòng, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại của Đảng; đa dạng hóa các hình thức quan hệ hợp tác với các nước về kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng – an ninh;

Thứ hai, giải quyết các vấn đề về biên giới quốc gia thông qua đàm phán, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau. Chú trọng giữ gìn mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tìm ra điểm tương đồng để phát huy, chọn điểm khác biệt để cùng nhau thương lượng, giải quyết; lấy việc bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia là mục tiêu cao nhất, tuyệt đối không vì lợi ích địa phương, lợi ích kinh tế mà quên đi chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc;

Thứ ba, xác định rõ phạm vi trách nhiệm và thẩm quyền của từng cấp đối với từng nội dung đàm phán, giải quyết về biên giới, lãnh thổ để vận dụng các hình thức đối ngoại cho phù hợp; trong đó, kết hợp chặt chẽ giữa ngoại giao nhà nước với đối ngoại nhân dân và đẩy mạnh các hoạt động phối hợp giữa lực lượng chuyên trách của các bên, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội hai bên biên giới.

Tại tỉnh Quảng Bình cần lưu ý một số điểm như sau:

Một là, cần nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về vai trò, ý nghĩa của công tác hợp tác với các tỉnh bạn Lào. Quán triệt quan điểm “giúp bạn là tự giúp mình”, “vừa giúp, vừa hợp tác với bạn”. Hợp tác với bạn là cơ sở để triển khai các kế hoạch, biện pháp nghiệp vụ nhằm chủ động phòng ngừa và bảo vệ từ xa.

Hai là, phối hợp trao đổi thông tin, kinh nghiệm nghiệp vụ đấu tranh phòng chống các thế lực thù địch và các loại tội phạm; phối hợp xây dựng, triển khai các phương án, kế hoạch tại các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia, các tuyến trọng điểm, dự án kinh tế lớn.

Ba là, chủ động giúp đỡ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác bảo vệ biên giới của các tỉnh bạn Lào.

Bốn là, tăng cường giao lưu, thúc đẩy quan hệ với các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài, các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài để phối hợp xử lý các vấn đề nảy sinh trong quá trình QLNN về biên giới, lãnh thổ quốc gia.

Kết luận Chương 3

Xuất phát từ thực trạng hoạt động QLNN về biên giới quốc gia tịa địa phương, đề tài đã đưa ra 05 nhóm giải pháp cơ bản, bao gồm cả những giải pháp chung của Trung ương và giải pháp cụ thể của tỉnh Quảng Bình để thực hiệu quả hơn công tác QLNN về biên giới quốc gia.

KẾT LUẬN

Luận văn đã phần nào tổng hợp, đánh giá được thực tiễn hoạt động này tại địa phương, đồng thời phần đề xuất các giải pháp tăng cường hoạt động này trong thời gian tới, cụ thể:

1. Làm rõ được những luận cứ cơ bản làm cơ sở nghiên cứu công tác QLNN về biên giới quốc gia.

2. Đánh giá những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân, trong đó trước hết là sự bất cập của hệ thống pháp luật chưa theo kịp yêu cầu và tình hình thực tiễn; những hạn chế trong chính sách quản lý và phát triển kinh tế xã hội trên KVBG, trong thực hiện quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, lực lượng chức năng, trong hợp tác quốc tế …

3. Từ thực tiễn hoạt động QLNN về biên giới quốc gia tại Quảng Bình, đề tài đã đưa ra một số yêu cầu và giải pháp góp phần tăng cường QLNN về biên giới quốc gia trên cả nước nói chung và tại tỉnh Quảng Bình nói riêng trong thời gian tới.

QLNN về biên giới quốc gia là hoạt động phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành và toàn thể nhân dân. Để thực hiện tốt đòi hỏi sự thống nhất cao và sức mạnh tổng hợp từ Trung ương đến địa phương ./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HANH CHINH\NGUYEN THI HUONG GIANG\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *