Phòng ngừa các tội phạm về tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn nạn tham nhũng diễn ra không chỉ ở một quốc gia, dân tộc nào mà nó mang tính toàn cầu. Nó làm suy đồi đạo đức của không ít đội ngũ cán bộ nhà nước; kéo theo sự trì trệ về kinh tế, xã hội của đất nước, gây thiệt hại, tổn thất về kinh tế của quốc gia, giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. PCTN, lãng phí nói chung, tội phạm về tham nhũng nói riêng là nhiệm vụ hết sức quan trọng, thường xuyên, lâu dài của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với sự quyết tâm, nỗ lực của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, công tác PCTN, lãng phí ở nước ta trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực cả về nhận thức lẫn hành động, đem lại những kết quả bước đầu quan trọng, nhất là trong phòng ngừa, công khai, minh bạch hóa, cải cách hành chính, quản lý tài sản công. Trên một số lĩnh vực, tham nhũng, lãng phí từng bước được kiềm chế, kiểm soát.
Tuy nhiên, công tác PCTN, lãng phí trong những năm qua vẫn chưa đạt yêu cầu, mục tiêu đề ra là ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí. Tệ nạn tham nhũng, lãng phí vẫn còn diễn biến phức tạp và nghiêm trọng, gây bức xúc trong xã hội, vẫn đang là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý của Nhà nước.
Tại tỉnh Quảng Ngãi, sau hơn 9 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 Khóa X đã tạo những chuyển biến tích cực trong các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể trong tỉnh; ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị cùng cán bộ, đảng viên và nhân dân được nâng lên rõ rệt. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phòng, chống tham nhũng và tội phạm về tham nhũng ở Quãng Ngãi thời gian qua cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, hiệu quả còn thấp, chưa đạt yêu cầu và mục tiêu đề ra. Tình trạng tham nhũng, tội phạm về tham nhũng vẫn tiềm ẩn và diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực như: quản lý sử dụng đất đai, khoáng sản, đầu tư xây dựng cơ bản, cấp giấy phép, công tác cán bộ…
Nhằm nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng và góp phần hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, tác giải chọn đề tài “Phòng ngừa các tội phạm về tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” để làm Luận văn Thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng đến mục đích nhằm bổ sung, hoàn thiện các giải pháp tăng cường công tác phòng ngừa tình hình tội phạm về tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đưa ra những nhận định, phân tích thực trạng, tính chất của tình hình tội phạm tham nhũng và đánh giá những biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng thời gian qua; làm rõ thực trạng về mục đích, ý nghĩa, nguyên tắc, nội dung và các giải pháp phòng ngừa cũng như thực trạng áp dụng các giải pháp phòng ngừa phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Đưa ra các kiến nghị, đề xuất nhằm bổ sung, hoàn thiện các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tình hình tội phạm về tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi bao gồm: thực trạng, diễn biến của tình hình tội phạm về tham nhũng; các giải pháp phòng ngừa và đánh giá kết quả thực hiện các giải pháp đó.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tình hình tội phạm về tham nhũng dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm. Thống kê về tình hình tội phạm về tham nhũng của các cơ quan nhà nước, cơ quan bảo vệ pháp luật ở Quảng Ngãi, giai đoạn 2011 – 2015 và một số bản án hình sự sơ thẩm.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
5.2.Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn, thống kê hình sự, phân tích, so sánh và nghiên cứu các vụ án điển hình để thu thập, phân tích và xử lý thông tin.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện lý luận phòng, chống tình hình tội phạm về tham nhũng nói riêng, hoàn thiện lý luận về tội phạm học nói chung; là tài liệu tham khảo trong các cơ sở đào tạo luật.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Sẽ góp phần làm sáng tỏ thực trạng của tình hình tội phạm và thực trạng áp dụng các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Đó là cơ sở lý luận để đưa ra các kế hoạch, giải pháp phòng ngừa đối với tệ nạn tham nhũng ở Quảng Ngãi.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng
Chương 2: Thực trạng phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA
TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THAM NHŨNG
Khái niệm, đặc điểm của hành vi tham nhũng
1.1.1. Khái niệm hành vi tham nhũng
Từ các định nghĩa, khái niệm về tham nhũng trong nước và quốc tế, có thể hiểu “Tham nhũng là hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để sách nhiễu, tham ô, nhận hối lộ hay cố ý làm trái chính sách, chế độ, thể lệ, quy định chung của Nhà nước, của cơ quan, của tổ chức chính trị, xã hội, hay của đơn vị kinh tế, tài chính vì động cơ vụ lợi”.
1.1.2. Đặc điểm của hành vi tham nhũng
– Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn
– Tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi
– Động cơ của hành vi tham nhũng là vì vụ lợi
1.2. Khái niệm, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng
1.2.1. Khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng
Việc phòng ngừa các tội phạm về tham nhũng theo nghĩa đen, tức là việc khắc phục hoặc làm vô hiệu các nguyên nhân và điều kiện của các tội phạm về tham nhũng trước khi nó gây ra việc thực hiện tội phạm đóng vai trò cơ bản, quan trọng trong việc đấu tranh với tình hình tham nhũng. Với nghĩa đó, phòng ngừa tham nhũng bao hàm tất cả các hoạt động phòng và chống tội phạm tham nhũng.
1.2.2. Ý nghĩa phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng
1.2.2.1. Ý nghĩa về mặt chính trị
Phòng ngừa tội phạm là hoạt động để thực hiện đúng và nghiêm chỉnh các nghị quyết của Đảng, quy định của pháp luật.
1.2.2.2. Ý nghĩa về mặt kinh tế
Phòng ngừa tội phạm có ý nghĩa tiết kiệm một khoản rất lớn về chi phí, tiền của và sức lực cho nhà nước và xã hội.
1.2.2.3. Ý nghĩa về mặt xã hội
Phòng ngừa tội phạm mang tính xã hội cao, huy động sức mạnh tổng thể của toàn xã hội tham gia.
1.2.2.4. Ý nghĩa về mặt văn hóa, truyền thống
Phòng ngừa tội phạm có ý nghĩa giáo dục, hướng những người phạm tội trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội.
1.3. Mục đích, các nguyên tắc phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng
1.3.1. Mục đích
Loại trừ các hiện tượng tiêu cực do hành vi tham nhũng gây ra; đề ra giải pháp tổng thể và hệ thống; kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
1.3.2. Nguyên tắc phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng
Việc phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng cũng phải tuân thủ các nguyên tắc của phòng ngừa tình hình tội phạm. Đó là:
1.3.2.1. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Hoạt động phòng ngừa tội phạm phải có cơ sở pháp luật, phải phù hợp với các quy định của pháp luật.
1.3.2.2. Nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa
Hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm phải có sự tham gia của toàn xã hội tham gia.
1.3.2.3. Nguyên tắc nhân đạo
Phải kết hợp hài hòa, đúng mực giữa biện pháp cưỡng chế với thuyết phục theo hướng tăng cường sự giáo dục, thuyết phục.
1.3.2.4. Nguyên tắc khoa học và tiến bộ
Các biện pháp, tổ chức hệ thống và các chủ thể phòng ngừa tham nhũng phải được xây dựng trên cơ sở lý luận và thực tiễn.
1.3.2.5. Nguyên tắc đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất và đồng bộ trong hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm giữa các chủ thể tiến hành các hoạt động phòng ngừa
1.4. Nội dung phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng
1.4.1. Nghiên cứu, xác định rõ nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm
1.4.1.1. Những nguyên nhân xuất phát từ hệ thống pháp luật và việc thực hiện các chính sách
Nước ta vẫn thực hiện chính sách độc quyền và cơ chế “xin – cho”. Tham nhũng trong lĩnh vực tư nhân chưa được điều chỉnh. Sự mâu thuẫn, chồng chéo trong các quy định của pháp luật.
1.4.1.2. Nguyên nhân trong việc quản lý, điều hành nền kinh tế và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội
– Việc phân công trách nhiệm, quyền hạn giữa các chủ thể quản lý còn mâu thuẫn, chồng chéo
– Sự bất hợp lý trong chính sách quản lý, điều hành kinh tế
– Hạn chế trong cải cách hành chính
1.4.1.3. Nguyên nhân từ việc phát hiện và xử lý tham nhũng
– Việc khuyến khích tố giác tham nhũng chưa được quan tâm.
– Hạn chế trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức của tỉnh về phòng, chống tham nhũng .
1.4.1.4. Nguyên nhân xuất phát từ nhận thức, tư tưởng của cán bộ, công chức cũng như trong hoạt động bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ
1.4.1.5. Hạn chế trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về tham nhũng
1.4.1.6. Nguyên nhân thuộc nhân thân người phạm tội
1.4.2. Nghiên cứu, soạn thảo đề ra các chủ trương, giải pháp, biện pháp thích hợp nhằm từng bước xóa bỏ nguyên nhân, điều kiện của tội phạm về tham nhũng
1.4.3. Tổ chức tiến hành các hoạt động phòng ngừa tội phạm
1.5. Chủ thể phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng
1.5.1. Đảng Cộng sản Việt Nam
Với vị trí, vai trò là người tổ chức và lãnh đạo trên tất cả các mặt đời sống của nhân dân ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn được ghi nhận là chủ thể quan trọng của hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung và tham nhũng nói riêng.
1.5.2. Hội đồng nhân dân các cấp
Được thể hiện dưới các hình thức sau như: ban hành các nghị quyết; thành lập và lãnh đạo các tổ chức chuyên trách thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm…
1.5.3. Các cơ quan chấp hành của Nhà nước từ trung ương đến địa phương (các cơ quan quản lý hành chính, quản lý kinh tế)
Hoạt động bằng các hình thức như: quản lý, giáo dục cán bộ, nhân viên; thanh tra, kiểm tra… theo chức năng, nhiệm vụ của mình.
1.5.4. Các cơ quan bảo vệ pháp luật: Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án, cơ quan thi hành án, cơ quan tư pháp
Vai trò của các cơ quan này được thể hiện ở chức năng, nhiệm vụ của của từng cơ quan.
1.5.5. Các tổ chức kinh tế – xã hội, các tập thể lao động và công dân là chủ thể của việc phòng ngừa
1.6. Các loại biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng
1.6.1. Các biện pháp trước mắt
1.6.1.1. Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị
Việc công khai, minh bạch cần tập trung một số lĩnh vực như: mua sắm công và xây dựng cơ bản; quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản; tài nguyên môi trường, công tác cán bộ; báo cáo phòng, chống tham nhũng; công khai trong hoạt động thanh tra, kiểm toán…
1.6.1.2. Thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước
1.6.1.3. Xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn
1.6.1.4. Thực hiện đúng quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức
1.6.1.5. Thực hiện việc kê khai minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức
1.6.1.6. Chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng
1.6.1.7. Cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán.
1.6.2. Các biện pháp căn bản, lâu dài
1.6.2.1. Biện pháp kinh tế
Đó là việc phát triển sản xuất, nâng cao mức sống của nhân dân, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất của nhân dân.
1.6.2.2. Biện pháp mang tính chất chính trị
Hoàn thiện cơ cấu nhà nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ, lôi cuốn mọi người vào hoạt động quản lý nhà nước, xã hội; nâng cao ý thức giác ngộ chính trị xã hội, ý thức tôn trọng pháp luật.
1.6.2.3. Biện pháp tổ chức quản lý
Là việc hình thành hệ thống tổ chức quản lý xã hội chặt chẽ, thống nhất từ trung ương đến địa phương.
1.6.2.4. Các biện pháp pháp luật
Hoàn thiện hệ thống pháp luật để không còn “lỗ hổng pháp luật” có thể bị lợi dụng để tham nhũng.
Kết luận Chương 1

Chương 2
THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1. Thực trạng nhận thức về mục đích, ý nghĩa, các nguyên tắc, nội dung phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã chỉ đạo các ngành, các cấp quán triệt và ban hành các chương trình, kế hoạch chỉ đạo, triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN, Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020, Chương trình hành động của Chính phủ về PCTN, Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng… từ đó công tác phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trong cán bộ và nhân dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã được triển khai rộng khắp, có chiều sâu.
Trong giai đoạn 2011-2015, phòng ngừa tình hình tội phạm về tham nhũng được các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh ngày càng quan tâm; có sự phối hợp chặt chẽ, thông nhất giữa các cơ quan có liên quan. Vì vậy, việc phòng ngừa tình hình tội phạm về tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi được tiến hành đồng bộ, hiệu quả với sự tham gia nghiêm túc của các chủ thể. Qua đó nhận thức về phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở tỉnh ngày càng được nâng cao.
Bên cạnh những kết quả nêu trên, nhận thức về phòng ngừa các tội phạm về tham nhũng trên địa bàn tỉnh vẫn còn những hạn chế nhất định như: một số tổ chức, cá nhân ít quan tâm, cho rằng công tác phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng là việc của cơ quan Công an, thanh tra… Một bộ phận cán bộ, công chức và nhân dân có tâm lý “ai chống – chống ai” nên thiếu tin tưởng vào việc PCTN của cơ quan chức năng; có thái độ không hợp tác hoặc bỏ mặc, sợ bị đe dọa, trả thù. Thực trạng đó đã phần nào ảnh hưởng, hạn chế đến hiệu quả công tác PCTN.
2.2. Thực trạng các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
2.2.1. Thực trạng triển khai các giải pháp
Xác định mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng nên Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, các nhân có trách nhiệm thực hiện có hiệu quả công tác phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng. Các cơ quan trong tỉnh đã tổ chức triển khai thực hiện đúng kế hoạch đã đề ra.
Từ năm 2005 đến năm 2015, Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã tổ chức 7 hội nghị cấp tỉnh để triển khai quán triệt và ban hành các chương trình, kế hoạch chỉ đạo thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN, Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020, Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng… Qua đó, đã góp phần nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân về PCTN. Điển hình như: Chương trình hành động số 10-CTr/TU, ngày 24/11/2006 về thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 Khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Kế hoạch số 42-KH/TU ngày 16/11/2012 về thực hiện Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/5/2012 của BCHTW Đảng khóa XI về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 Khóa X; Quyết định số 18/2006/QĐ-UBND, ngày 10/4/2006 của UBND tỉnh kèm theo Kế hoạch hành động thực hiện Luật PCTN; Kế hoạch số 549/KH-UBND ngày 02/3/2012 về triển khai thực hiện Quyết định 4061/QĐ-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về phê duyệt Đề án: “Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN, Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh từ 2012-2016”… Một số kết quả nổi bật trong việc triển khai công tác PCTN như:
– Toàn tỉnh đã tổ chức 885 lớp tập huấn, tuyên truyền, quán triệt về PCTN với sự tham gia của hơn 140.000 lượt cán bộ, đảng viên; tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật về PCTN với 47.997 bài viết dự thi và cuộc thi “Tiểu phẩm tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng”. Các tổ chức thành viên của Mặt trận đã phối hợp với chính quyền lồng ghép phổ biến các quy định của Đảng, Nhà nước về PCTN.
– Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh, Đài truyền thanh và phát lại truyền hình các huyện, thành phố đã đưa 1.504 tin, 369 bài, phỏng vấn, phóng sự, 131 lượt nội dung giới thiệu về công tác PCTN, 494 trả lời pháp luật, 27 phim tài liệu và phim truyện có nội dung tuyên truyền về PCTN; Báo Quảng Ngãi in đăng 195 tin, bài, ảnh, văn bản pháp luật liên quan đến công tác nội chính và PCTN, xây dựng các chuyên đề: giải pháp nâng cao hiệu quả công tác PCTN; làm gì để nâng cao hiệu quả công tác kê khai tài sản cá nhân trên báo Quảng Ngãi điện tử (www.baoquangngai.vn), lượng độc giả truy cập vào tin, bài liên quan đến tuyên truyền, phổ biến pháp luật về PCTN với hơn 18.000 lượt. Công tác triển khai thực hiện đưa nội dung PCTN vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng theo Quyết định số 137/QĐ-TTg ngày 02/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án đưa nội dung PCTN vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng (Đề án 137), Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 12/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ đã được UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 4565/KH-UBND ngày 7/11/2013 để thực hiện. Đến nay, tất cả các cơ sở giáo dục, đào tạo trực thuộc UBND tỉnh đã đưa nội dung công tác PCTN vào trong chương trình giảng dạy cho học sinh, sinh viên. Trường Đại học Phạm Văn Đồng là đơn vị được chọn triển khai thí điểm theo Đề án 137 vào tháng 12/2011 đã xây dựng Kế hoạch số 191/KH-ĐHPVĐ ngày 27/12/2011 để thực hiện.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nêu trên, công tác phòng ngừa tình hình tội phạm về tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định như:
Thứ nhất, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu; một số cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa nêu gương về đạo đức, lối sống.
Thứ hai, tính công khai, minh bạch, dân chủ trong xã hội và trong hoạt động của hệ thống chính trị còn hạn chế; cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế – xã hội còn nhiều sơ hở, bất cập, thiếu công khai, minh bạch và nhất quán, dễ bị lợi dụng.
Thứ ba, một số biện pháp phòng ngừa tham nhũng còn mang tính hình thức, hiệu quả thấp, nhất là việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức.
Thứ tư, các cơ quan có chức năng chống tham nhũng vừa yếu về chuyên môn vừa thiếu về số lượng và phương tiện vật chất.
Thứ năm, chưa huy động được sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Thiếu cơ chế giám sát có hiệu lực, hiệu quả đối với hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và hoạt động PCTN nói riêng; chưa có quy định cụ thể bảo vệ người tố cáo tham nhũng và xử lý hành vi đe dọa, trả thù người tố cáo.
Thứ sáu, tổ chức và hoạt động của cơ quan có chức năng PCTN chưa thật hợp lý, còn nhiều bất cập; công tác quản lý, giáo dục cán bộ, trong đó có việc kiểm tra, giám sát, PCTN trong nội bộ các cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra, kiểm sát và tòa án chưa được chú trọng.
2.2.2.Thực trạng các giải pháp phòng ngừa tham nhũng
2.2.2.1. Thực hiện công tác cải cách hành chính
Công tác cải cách hành chính được triển khai đồng bộ, bao gồm cải cách thể chế và nâng cao chất lượng công tác xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật. Việc cải cách tổ chức bộ máy hành chính; chế độ công vụ, công chức theo quy định của Chính phủ. Đặc biệt là công tác cải cách TTHC – một trong những biện pháp phòng ngừa tham nhũng hiệu quả nhất. Tính đến năm 2015, UBND tỉnh đã ban hành 25 quyết định công bố TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của 14 sở, ngành và 14 UBND cấp huyện, 184 UBND cấp xã. Tổng số TTHC công bố là 946. Đến cuối năm 2015, toàn tỉnh có 19/22 sở, ban, ngành tỉnh; 14/14 huyện, thành phố, 169/184 xã, phường, thị trấn thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thong; xây dựng và đưa vào sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 với 07 nhóm dịch vụ, hơn 84 TTHC.
Tuy các TTHC đã được rà soát và loại bỏ một phần nhưng việc thực hiện cải cách TTHC vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, còn gây nhiều khó khăn, bất cập cho người dân và doanh nghiệp.
2.2.2.2. Công tác tổ chức, cán bộ góp phần phòng ngừa tham nhũng
Công tác tổ chức, cán bộ được Tỉnh ủy, UBND tỉnh rất quan tâm chỉ đạo thực hiện nhằm phát huy tối đa năng lực của đội ngũ cán bộ đồng thời góp phần phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng từ góc độ công tác cán bộ. Công tác thi tuyển, thi nâng ngạch công chức được tiến hành theo đúng quy định, đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh, công bằng, công khai, minh bạch, chất lượng. Tỉnh đã thực hiện chuyển đổi vị trí công tác đối với 856 cán bộ, công chức, viên chức. Tu nhiên, công tác cán bộ còn một số hạn chế như: chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức không đều; việc đào tạo bồi dưỡng có trường hợp chưa thực hiện theo quy hoạch, còn có tư tưởng chạy theo bằng cấp, chưa chú ý đến năng lực thực tiễn; tư tưởng cục bộ, bản vị địa phương, phe cánh trong công tác quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ vẫn tiếp tục diễn ra.
2.2.2.3. Xử lý trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị để xảy ra tham nhũng; việc tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khi có dấu hiệu tham nhũng
Quyền hạn, trách nhiệm giữa các chủ thể quản lý trong xã hội còn mâu thuẫn, chồng chéo nên tính chịu trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức không cao. Tài sản của Nhà nước được giao cho một số người có quyền hành rất lớn, nhưng chế độ trách nhiệm lại không rõ ràng. Từ năm 2011 đến 2015, tỉnh Quảng Ngãi đã phát hiện 136 vụ việc, với 267 người có hành vi liên quan đến tham nhũng, đã xem xét làm rõ trách nhiệm đối với 25 trường hợp là người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trực tiếp vi phạm.
2.2.2.4. Xây dựng và thực hiện chế độ chính sách; thực hiện quyền tự chủ về tài chính, biên chế và giao khoán kinh phí hoạt động cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị có đủ điều kiện
Tỉnh Quảng Ngãi đã chỉ đạo và tổ chức thực hiện Luật PCTN và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chỉ đạo việc đẩy mạnh rà soát để sửa đổi, bổ sung 137 văn bản, ban hành mới 114 văn bản quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn theo thẩm quyền. Đến nay hệ thống tiêu chuẩn và các chế độ, định mức đã được xây dựng ban hành đồng bộ và ngày càng hoàn thiện. Từ năm 2011 đến 2015, đã tiết kiệm chi với tổng số tiền tiết kiệm là 631,209 tỷ đồng; tổ chức hội nghị trực tuyến đã tiết kiệm được 89,884 tỷ đồng; qua công tác quyết toán vốn đầu tư đã tiết kiệm được 236,229 tỷ đồng. Thông qua việc giao quyền tự chủ, các cơ quan, đơn vị đã thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, biên chế hợp lý và hiệu quả, đã tiết kiệm được 294,370 tỷ đồng.
2.2.2.5. Thực hiện quy định về kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập
Tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức thực hiện công tác kê khai tài sản, thu nhập và dần đưa công tác này đi vào nề nếp theo Nghị định số 78/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Theo tổng hợp số liệu kết quả kê khai tài sản thu nhập năm năm 2014 có 9.014 người phải kê khai, đã thực hiện kê khai 9.076 người, đạt tỷ lệ 99,6%; thực hiện công khai 9.076 bản kê khai, đạt tỷ lệ 100%.
2.2.2.6. Thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan đơn vị
UBND tỉnh, các sở ngành và UBND các huyện, thành phố đã chủ động cung cấp kịp thời các thông tin cho các cơ quan truyền thông theo đúng quy định; mọi hoạt động đã công khai trên trang thông tin điện tử (trừ tài liệu mật). Tuy nhiên, các quy định về quản lý kinh tế như việc cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản; thủ tục cấp hạn ngạch xuất, nhập khẩu; thủ tục đấu thầu; quy định về cấp giấy phép, duyệt dự án… vẫn chưa thật sự công khai, minh bạch.
2.2.2.7. Xây dựng và thực hiện các quy tắc ứng xử, quy tắc đạo dức nghề nghiệp, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức
Tỉnh Quảng Ngãi đã xây dựng quy chế, tổ chức thực hiện quy định ứng xử của cán bộ, công chức. Tuy nhiên, nhiều cán bộ, công chức trong tỉnh vẫn còn thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu gây khó khăn cho người dân … Kết quả khảo sát của tác giả trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cho thấy, có 29,18% số người được hỏi cho rằng họ đã có một lần bị gây khó dễ và 57,72% số người được hỏi cho rằng đã có nhiều lần bị gây khó dễ khi đi làm các thủ tục tại cơ quan nhà nước. Trong số này có đến 10,9% đưa phong bì để nhờ cán bộ thụ lý hồ sơ giúp giải quyết nhanh thủ tục, 26,18% nhờ “dịch vụ” giải quyết.
2.2.2.8. Thực hiện quy định về trách nhiệm giải trình
Thực hiện Nghị định số 59/2013/NĐ-CP quy định về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao các cơ quan trên địa bàn tỉnh đã triển khai thực hiện. Tuy nhiên, đây là quy định mới nên người dân và tổ chức chưa thật sự quan tâm về vấn đề này.
2.2.2.9. Hoàn thiện và thực hiện các quy định về quản lý kinh tế – xã hội phục vụ công tác PCTN được đẩy mạnh
Tính từ năm 2006 đến 2015, tỉnh Quảng Ngãi ban hành trên 673 văn bản quy phạm pháp luật (trong đó có trên 400 văn bản liên quan trực tiếp đến công tác PCTN) để xác lập cơ chế, chính sách, cơ chế điều hành phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.Tuy nhiên, nhiều quy định của pháp luật trong quản lý tài sản công, đất đai, nhà cửa, xây dựng, đấu thầu, cấp phát vốn đầu tư, cổ phần hóa… còn nhiều bất cập, chưa rõ ràng, minh bạch.
2.2.2.10. Việc thực hiện các giải pháp đổi mới công nghệ quản lý và hạn chế tiêu dùng tiền mặt
Quảng Ngãi triển khai thực hiện Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan trên toàn tỉnh; thực hiện quy định của Trung ương về cơ chế, chính sách kiểm soát chặt chẽ việc tiêu dùng tiền mặt trong các cơ quan nhà nước, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tiết kiệm kinh phí của nhà nước và người dân; giảm thiểu các hiện tượng gây khó khăn, vòi vĩnh khi thực hiện công vụ.
2.3. Thực trạng áp dụng các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
2.3.1. Tình hình phát hiện hành vi tham nhũng và xử lý hành vi tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Trong giai đoạn từ năm 2011 – 2015, qua công tác tự kiểm tra nội bộ, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, điều tra đã phát hiện 136 vụ việc tham nhũng với số đối tượng có hành vi liên quan đến tham nhũng là 267 người. Tổng số vụ việc tham nhũng đã được xử lý hành chính 86 vụ, với 204 người đã được xử lý kỷ luật theo quy định của Đảng và Nhà nước. Thiệt hại do tham nhũng gây ra từ năm 2005 – 2015 cho ngân sách nhà nước hơn 11,280 tỷ đồng và 192.439m2 đất. Đã thu hồi tài sản và khắc phục thiệt hại do tham nhũng được 6,794 tỷ đồng.
2.3.2. Thực trạng áp dụng các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Thực hiện Luật PCTN, các nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện, tạo được những chuyển biến tích cực.Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các biện pháp PCTN vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế và bất cập như:
Một là, một số văn bản, quy định nhằm thực hiện cơ chế, chính sách về PCTN chưa được ban hành đúng thời gian đã đề ra; một số quy định đã bộc lộ hạn chế, vướng mắc nhưng chậm được sửa đổi.
Hai là, việc tuyên truyền, giáo dục về PCTN hiệu quả chưa cao.
Ba là, việc công khai, dân chủ một số mặt hoạt động vẫn còn nhiều hạn chế. Việc xác minh để bảo đảm tính trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập còn ít.
Bốn là, việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Năm là, một số cơ quan chưa thấy hết được ý nghĩa, tầm quan trọng công tác cải cách hành chính. Các TTHC vẫn còn thiếu tính liên thông và phối hợp trong thực hiện.
Sáu là, công tác phát hiện và xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng còn hạn chế, chưa tương xứng tình hình tham nhũng hiện nay.
Bảy là, tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, địa vị pháp lý của một số cơ quan PCTN chưa rõ ràng, chưa độc lập cần thiết. Có hiện tượng “tham nhũng ngay trong cơ quan phòng chống tham nhũng”.
Tám là, việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng thiếu sự quyết liệt.
Chín là, quy định về một số giải pháp phòng ngừa tham nhũng còn thiếu tính khả thi, chưa phù hợp với thực tế.
Mười là, Một số cơ quan, đơn vị còn bị động trong công tác PCTN; một số cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Kết luận Chương 2

Chương 3
TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
THAM NHŨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI
3.1. Tăng cường nhận thức về mục đích, ý nghĩa, các nguyên tắc, nội dung trong phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
3.1.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 Khoá X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Gắn chặt công tác PCTN với việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đơn vị trong PCTN. Tiếp tục chủ động phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi tham nhũng ngay trong từng cơ quan.
3.1.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng chống tham nhũng
Công tác tuyên truyền, giáo dục về PCTN phải thực hiện thường xuyên, liên tục và đảm bảo chất lượng để mọi tầng lớp nhân dân; cán bộ, công chức nhận thức đầy đủ, toàn diện và sâu sắc.Tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm kết quả việc triển khai thí điểm theo Đề án 137 của tỉnh tại Trường Đại học Phạm Văn Đồng để triển khai nhân rộng.
3.2. Hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
3.2.1. Hoàn thiện công tác cải cách hành chính
Cải cách hành chính đảm bảo yêu cầu quản lý của nhà nước đối với đời sống xã hội, đồng thời phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các hoạt động trong đời sống xã hội diễn ra bình thường. Phải thay thế cơ chế quản lý “xin – cho” và từng bước nâng cao chất lượng cơ chế “một cửa”. Các cơ quan nhà nước phải thực hiện việc công khai các quy trình, trình tự, thủ tục xử lý, giải quyết cùng với việc công bố rõ ràng họ tên, chức danh của những người được phân công chịu trách nhiệm đối với những loại việc có liên quan.
3.2.2. Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức, cán bộ
Phải giáo dục, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức cho cán bộ, công chức. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, bổ nhiệm, bố trí, luân chuyển cán bộ. Đề cao và xử lý trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị để xảy ra tham nhũng.
3.2.3. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng và thực hiện chế độ chính sách; tự chủ về tài chính, biên chế, giao khoán kinh phí hoạt động cho các cơ quan, đơn vị
Tiếp tục rà soát để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế – xã hội; đẩy mạnh cải cách hành chính, kiên quyết loại bỏ những cản trở về thể chế và TTHC. Thủ trưởng cơ quan phải quản lý chặt chẽ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; thường xuyên kiểm tra, giám sát, nhắc nhở, ngăn ngừa và phát hiện vi phạm. Phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận để thực hiện tốt Quy chế giám sát và phản biện xã hội theo quy định tại Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI).
3.2.4. Thực hiện nghiêm túc các quy định về kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức và công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị
Nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị gắn với thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở.
Việc kê khai minh bạch tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ công chức phải được thực hiện nghiêm túc, phát huy tính gương mẫu, trung thực của mỗi cán bộ, đảng viên. Xử lý nghiêm minh đối với những trường hợp kê khai không trung thực theo đúng quy định của pháp luật.
3.2.5. Hoàn thiện các quy định về quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức
Giáo dục đạo đức, phẩm chất cho cán bộ, công chức, loại bỏ những tư tưởng hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu ở một bộ phận cán bộ, viên chức để đòi hối lộ. Ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp đối với từng ngành nghề; thực hiện cơ chế giám sát đối với các cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ; khắc phục tư tưởng cục bộ, địa phương, bè phái trong công tác cán bộ.
3.2.6. Nâng cao chất lượng việc thực hiện quy định về trách nhiệm giải trình
Nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình. Thông qua việc giải trình phải làm sáng tỏ những vấn đề cấp thiết, bức xúc chưa được giải hay giải quyết không đến nơi đến chốn. Làm rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức.
3.2.7. Phát huy vai trò của các tổ chức, cá nhân trong PCTN
Tố giác, tố cáo của cán bộ, công dân là một nguồn quan trọng để phát hiện tham nhũng. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều người không dám tố giác, tố cáo hành vi tham nhũng là do sợ bị trả thù. Do đó, nhà nước phải đảm bảo thực hiện tốt việc bảo vệ và động viên, khen thưởng tương xứng cho người tố giác, tố cáo.
3.3.8. Tăng cường hiệu quả hoạt động PCTN của các cơ quan chuyên trách
Tăng cường hoạt động kiểm tra phát hiện tham nhũng của các cơ quan quản lý nhà nước. Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thường xuyên tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng. Khi phát hiện có hành vi tham nhũng, cần phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan thanh tra, điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Cơ quan thanh tra, kiểm toán, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của mình phải chủ động phát hiện kịp thời các nguy cơ làm xuất hiện, phát sinh hành vi tham nhũng cũng như phát hiện các hành vi tham nhũng đã xảy ra để nhanh chóng xác minh điều tra, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật. Bên cạnh việc phát hiện hành vi tham nhũng, các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cần tăng cường các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử người phạm tội, đảm bảo các vụ án tham nhũng được giải quyết nhanh chóng, chính xác, hình phạt nghiêm khắc, đảm bảo tính răn đe.
Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp thông qua hoạt động giám sát có trách nhiệm phát hiện hành vi tham nhũng, yêu cầu hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật.
Các cơ quan tư pháp phải nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội, đảm bảo các vụ án tham nhũng được giải quyết nhanh chóng, chính xác đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, qua đó có tác dụng răn đe, giáo dục người phạm tội cũng như góp phần vào công tác phòng ngừa tội phạm nói chung.
3.3. Hoàn thiện tổ chức phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Từng bước nâng cao năng lực phòng, chống tội phạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật và các lực lượng chuyên trách. Rà soát, đánh giá thực trạng năng lực của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân các cấp và các lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm thuộc Công an nhân dân, Quân đội nhân dân; xây dựng đề án tổng thể khắc phục hạn chế, yếu kém và nâng cao một bước căn bản năng lực các lực lượng này. Ưu tiên đầu tư ngân sách, mua sắm, cung ứng vật tư, phương tiện một cách hợp lý, từng bước đáp ứng yêu cầu hậu cần – kỹ thuật cho hoạt động của các cơ quan tư pháp và lực lượng chuyên trách.
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các cơ quan, đơn vị có chức năng PCTN về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ; khắc phục những yếu kém, nâng cao hiệu quả phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng, tập trung vào các vụ án tham nhũng; nâng cao phẩm chất và năng lực cán bộ của các cơ quan này. Xây dựng và tổ chức thực hiện các quy chế nhằm tạo sự phối hợp đồng bộ trong công tác PCTN.
3.4. Tăng cường nguồn lực phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Bố trí hợp lý kinh phí, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực cho công tác PCTN của tỉnh tương xứng với mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ, đãi ngộ lực lượng làm công tác PCTN. Ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác có hiệu quả các văn bản pháp luật cập nhật, lưu trữ trên mạng tin học.
UBND các cấp xây dựng các chương trình, kế hoạch về công tác phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng phù hợp trên địa bàn quản lý theo từng năm, từng giai đoạn cụ thể.
Kết luận Chương 3
Những năm gần đây, với việc triển khai thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng, công tác phòng, chống tình hình tội phạm về tham nhũng ở Quảng Ngãi đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, cùng với tình hình chung của cả nước, các cụ án tham nhũng ngày càng được phát hiện và xử lý nhiều hơn nhưng tệ nạn tham nhũng có chiều hướng gia tăng chưa được kiềm chế, ngăn chặn và đẩy lùi. Do đó, tỉnh Quảng Ngãi cần phải tăng cường và nâng cao hiệu quả các hoạt động để phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu chung của cả nước để ổn định và phát triển kinh tế – xã hội.
Để phòng ngừa tình hình tội phạm về tham nhũng ở tỉnh Quảng Ngãi có hiệu quả hơn, trong những năm tới phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị tham gia vào việc đấu tranh phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng. Đẩy mạnh cải cách hành chính; kiện toàn và nâng cao hiệu quả của các cơ quan chuyên trách về PCTN.
Phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng là một vấn đề rộng lớn, phức tạp và nhạy cảm, có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Kết quả nghiên cứu của luận văn chỉ là bước đầu, trên cơ sở nhận thức lý luận kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn của bản thân. Hy vọng những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đóng góp một phần nhỏ trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Tuy nhiên, với nhận thức còn hạn chế, thời gian nghiên cứu chưa nhiều nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót, hạn chế nhất định. Rất mong nhận được sự đóng góp của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn./
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\TOI PHAM HOC\TRAN MAI PHUONG\SAU BAO VE


