Phổ biến giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngư dân biển là tầng lớp nhân dân lao động quan trọng của quốc gia, ngoài nhiệm vụ đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước, ngư dân biển còn có vai trò to lớn trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ chủ quyền biển đảo, góp phần bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia. Nhận thấy vai trò to lớn đó, trong những năm gần đây, với diễn biến phức tạp vềtình hình môi trường biển và tranh chấp trên Biến Đông, Đảng và Nhà nước đãnhận thức rõ vai trò của ngư dân biểnđối với việc xây dựng kinh tế biển bền vững vàviệc bảo vệ độc lập,chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổcủaTổquốc.Đảng và Nhà nước ta đã sớm đềra nhiều chủtrương, chính sách nhằm phát huy vai trò của ngư dân biển trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XI của Đảng xác định:
“Phát triển đánh bắt xa bờ, gắn với quốc phòng, an ninh”, “Phát triển mạnh kinh tếbiển tương xứng với vịthếvà tiềm năng biển của nước ta, gắn phát triển kinh tếbiển với bảo đảmquốc phòng, an ninh, bảo vệchủquyền vùng biển”. Đâykhông chỉ là quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước, mà còn là mong muốn của ngư dân biển, các tầng lớp nhân dân, các tổchức, lực lượng trong bảo vệchủquyền biển,đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Thực hiện tốt chủ trương, chính sách đó sẽ góp phần tăng cường sự hiện diện của ngư dân biển cả về số lượng và thời gian bám biển, vừa sản xuất, vừa sẵn sàng lực lượng, phương tiện tham gia đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo khi được Nhà nước huy động.
Đểphát huyđược vai trò của ngư dân biển, giúp họhoàn thành nhiệmvụthiêng liêng và cao cảcủa mình cần phải thực hiện nhiều biện pháp mà một trong những biện pháp hữu ích là cần phải trang bị cho ngư dân các kiến thức pháp lý cần thiết đểhọcó thểnhận thức rõ quyền và nghĩa vụpháp lý, trách nhiệm bám biển, bảo vệ biển của mình. Những kiến thức đó không chỉ có thể giúp ngư dân biển bảo vệ chính bản thân mình mà còn có thể vận dụng kiến thức đó để tuyên truyền, vận
động vàđấu tranhvớicác chủ thể xâm phạm chủ quyền quốc gia về biển đảo của nước ta.
Trong những năm gầnđây, Nhà nướcđã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằmphổbiến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) cho ngư dân biển, chẳng hạn, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, đề án “Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân dân vùng biên giới, hải đảo giai đoạn 2013-2016” kéo dài đến năm 2021 (một trong 7 đề án được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 409/QĐ- TTg ngày 9/4/2012 ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số04- KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân)… Những chương trình, kế hoạch, đề án cùng với các văn bảnpháp quy liên quan đã tạo cơ sởpháp lý cho công tác PBGDPL cho ngư dân biển, góp phần vào công tác xây dựng Nhà nước pháp quyền, nâng cao tri thức, hiểu biết pháp luật của ngư dân biển, giúp ngư dân biển hình thành thái độ, hành vi và ứng xử phù hợp với chuẩn mực pháp luật.
Trong thực tế, hoạtđộngPBGDPL cho ngư dân biển thườngđượcthực hiện thông qua hoạt động của cơ quan chức năng như Sở tư pháp, Bộ đội biên phòng, Hải quân, Kiểm Ngư, Cảnh sát biển hoặc được tiến hành xã hội hóa bởi các Trung tâmtrợgiúp pháp lý, Hội luật Gia, Hộiliên hiệp Thanh niên Việt Nam, các cơ sởđàotạo
luật… Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, ngoài ưu điểm, các hoạt động PBGDPL trênđãbộc lộ rõ những hạn chế, bất cập như: chưa phân loại được các ngưdân biển (gần bờ, xa bờ, đánh bắt hay nuôi trồng trên biển); chưa xác định rõ nhu cầu thực tế của ngư dân biển về pháp luật (nhu cầu trong đời sống hàng ngày và nhu cầu tronghoạt độngsản xuất); các hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật chưa phong phú, gây nhàm chán, mang nặng tính lý thuyết, hạn chế trang bị các kĩ năng đi biển, ứngphóvớicác hành vi xâm phạmchủquyền,từđókhông thu hút đượcđượcsự
quan tâm của ngư dân biển… Ngoài ra, các hoạt động này còn mang tính chất “thực hiện kế hoạch”, “mùa vụ” và phản ánh tính chất nhân đạo hơn là các hoạt động giáo dục pháp luật mang tính dài hơi, cơ chếphối hợp vớicơ quan chức năng và chính quyềnđịaphương còn nhiềubấtcập, chưađápứngtrực tiếp nhucầupháp luậtcủa
ngư dân biển, chưa đánh giá đúng thực trạng và hạn chế của công tác PBGDPL đối với ngư dân biển.
Ở khía cạnh lý thuyết, việc nghiên cứu lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật ởnướctađã được tiến hànhtừlâu, tuy nhiên,chủyếugiới hạn ởnghiêncứuvềphổbiến, giáo dục pháp luật nói chung, hoặc phổ biến, giáo dục pháp luật cho các nhómđối tượng gắn với một địa bàn, một lĩnh vực hoặc một nghề trên đất liền là chủ yếu. Trong khi đó, nghiên cứu về phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhómđối tượng làngưdân biển nhìn chung chưa được quan tâm đúng mức. Chính vì thế, việc nghiên cứu mộtcách toàn diện, chuyên sâuvềphổbiến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển Việt Nam là việc làm cần thiết, có ý nghĩa thời sự cả về lý luận và thực tiễn.
Ý thức được điều đó, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài“Phổ biến,giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở Việt Nam hiện nay” làmđề tàiluận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài “Phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biểnởViệt Nam hiện nay” là nhằm xây dựng những vấn đề lý luận, thực tiễn và đềxuất các giải pháp phù hợp, khả thi nhằm tăng cường công tác PBGDPLđối với ngưdân biển Việt Nam; thông qua đó, góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam, phát triển kinh tế biển, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển đảo.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên thì nhệm vụ nghiên cứu của luận án bao gồm:
– Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về PBGDPL cho ngư dân biển, chỉra những vấn đề đã được nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ trong luận án.
– Làm sáng tỏ và cụ thể hóa những vấn đề lý luận về PBGDPL cho ngư dân biển ở Việt Nam hiện nay: Khái niệm, hình thức, phương pháp PBGDPL cho ngư dân biển, sự cần thiết và mục đích PBGDPL cho ngư dân biển ở Việt Nam, nhu cầu về kiến thức pháp lý của ngư dân biển, các yếu tố ảnh hưởng đến PBGDPL cho ngư dân biển và các yếu tố bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển.
– Đánh giá thực trạng PBGDPL cho ngư dân biển ởViệt Nam hiện nay, xácđịnh những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
– Đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường công tác PBGDPL cho ngưdân biển ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu củaluận án là những vấn đềlý luận, thực trạng phổbiến, giáo dục pháp luật và các giải pháp tăng cường phổbiến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Về thời gian: Luận án nghiên cứu các hoạt động PBGDPL cho ngư dân biển ở Việt Nam từ năm 2013 đến nay (thời điểm triển khai đề án “Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân dân vùng biên giới, hải đảo giai đoạn 2013- 2016 kéo dài đến năm 2021”).
–Vềkhông gian: Địa bàn nghiên cứu củaluận án là các khu vực dân cư cónghề đánh bắt hải sản trên các vùng biển Việt Nam.
–Vềnội dung: Luận án chỉtập trung nghiên cứu vềhoạt động PBGDPL cho ngư dân biển mà không nghiên cứu về PBGDPL cho toàn thể ngư dân.
4. Phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận
Luận án vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịchsửcủa triết học Mác-Lê nin, tưtưởngHồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt NamvềPBGDPL cho các đối tượng xã hội; chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật cho ngư dân biển nói riêng. Ngoài ra, những quan điểm lý luận, kết quả nghiên cứu thực tiễn vềgiáo dục pháp luật của các nhà khoa học đi trước cũng là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng của luận án.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để thực hiện luận án, tác giả đã sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
– Phương pháp tổng hợp: Phương pháp nàyđược sửdụngđểnghiên cứu các vấn đề trong tất cả các chương của luận án, chẳng hạn,được sử dụngkhi tập hợp lại toàn bộ các tài liệu có liên quan đến đối tượng nghiên cứu để nêu lên nhận xét vềcác công trình đó, nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu luận án; được sử dụng đểkhái quát hóa các luận điểm đã phân tích để xây dựng nên các khái niệm, kết luận… – Phương pháp phân tích: Phương pháp này được sử dụng tại tất cả các chương
củaluận ánđểlàm rõ các vấn đềcần nghiên cứu như khái niệm, đặc điểm, thực trạng, nguyên nhân, hạn chế của PBGDPL cho ngư dân biển ở Việt Nam…
– Phương pháp luật học so sánh được sử dụng tại chương 3 khi đề cập đến thực trạng cơ sở pháp lý của PBGDPL cho ngư dân biển.
– Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng nhiều tại chương 1, 2 nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các quan niệm khác nhau vềcùng một vấn đề; để chỉ ra sự khác biệt giữa PBGDPL của ngư dân biển khác với PBGDPL cho các loại đối tượng khác giúp cho luận án có được cái nhìn đa chiều, toàn diện, đúng đắn và sâu sắc về vấn đề cần nghiên cứu.
– Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này được sử dụng tại chương 2,3 khi điều tra các nhu cầu của ngư dân biển, điều tra ý kiến của cácchủthểtổchức và chủ thể thực hiện PBGDPL cho ngư dân biển, khảo sát, đánh giá hiệu quảPBGDPL tại các địa phương, từđó làm cơ sởcho việc đánh giá thực trạng và đềxuất các giải pháp tăng cường công tác PBGDPL cho ngư dân biển ở Việt Nam.
– Phương pháp logic-lịch sử: Dùng để nghiên cứu các chương 1,2,3 tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài, cơ sở lý luận và thực trạng PBGDPL cho ngư dân biển trong thời gian qua.
5. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và những điểm mới của luận án 5.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
– Về mặt khoa học: Luận án đã cụ thể hóa lý luận về PBGDPL nói chung vào một lĩnh vựccụthểlà PBGDPL cho một loại đốitượngcụthểlà ngư dân biển ởViệt Nam. Kết quả nghiên cứu của luận án đã góp phần bổ sung và hoàn thiện thêm lý luận về PBGDPL nói riêng và khoa học pháp lý nói chung.
– Về thực tiễn: Thông qua việc trình bày và đánh giá thực trạng PBGDPL cho ngư dân biển ở Việt Nam thời gian qua, trình bày và luận giải về các giải pháp tăng cường PBGDPL cho ngư dân biển ởnướcta hiện nay, luận án cung cấp tài liệu tham khảo cho các nhà hoạt động thực tiễn trong quá trình hoàn thiện chính sách, pháp luật về PBGDPL cũng như tổ chức thực hiện và tiến hành hoạt động PBGDPL cho ngư dân biển nói riêng và cho nhân dân nói chung.
Với những ý nghĩa trên, luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu, học tập và giảng dạy luật học trong các cơ sở đào tạo luật học vàtrong qúa trình hoàn thiện chính sách, pháp luật về PBGDPL, tổ chức thực hiện và tiến hành PBGDPL cho ngư dân biển nói riêng và cho nhân dân nói chung ở Việt Nam.
5.2. Những điểm mới của luận án
– Luận ánđãcụ thể hóa được lý luận chung về PBGDPL thành lýluận cụ thểvề PBGDPL cho ngư dân biển ở Việt Nam.
– Luận án đã phân tích và đánh giá được thực trạng PBGDPL cho ngư dân biển ở nước ta thời gian qua, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của hoạt động này và xác định được những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
– Luận án đã đề xuất được một số giải pháp có tính phù hợp và khả thi để tăng cường PBGDPL cho ngư dân biển ở nước ta hiện nay.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 04 chương:
Chương 1. Tình hình nghiên cứu các vấn đềcủa đềtài và những vấn đềcần tiếp tục nghiên cứu.
Chương 2. Những vấn đề lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3. Thực trạngphổbiến, giáo dụcpháp luật cho ngư dân biển ởViệt Nam hiện nay.
Chương 4. Quan điểm và giải pháp tăng cườngphổbiến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở Việt Nam hiện nay.

Chương 1
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ CỦA ĐỀ TÀI VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu các vấn đề của đề tài
Có thểnói, đềtài nghiên cứuvề“Phổbiến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở Việt Nam hiện nay là đề tài mới, tính mới của đề tài là ở chỗ đối tượng của hoạt động này là ngư dân biển ở Việt Nam. Qua khảo sát, tìm hiểu của nghiên cứu sinh, hầu hết các đềtài, công trình nghiên cứuvềPBGDPL ởViệt Nam và nước ngoài đều liên quan đến các đối tượng PBGDPL nói chung, hoặc các đối tượng cụthể, ởmột địa bàn nhất định, còn vấn đề PBGDPL cho ngư dân ít được đề cập vànghiên cứu. Riêng vấn đề PBGDPL cho ngư dân biển ở Việt Nam thì cho đến hiện tại vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào một cách toàn diện và có hệ thốngvề vấn đềnày. Tuy nhiên, tấtcảcác công trình nghiên cứu vềPBGDPLđềucó thểcung cấp tài liệu tham khảo quý giá cho nghiên cứu sinh trong quá trình thực hiện đề tài. Nhằm hệ thống hóa lại tình hình nghiên cứu các vấn đề của đề tài luận án, nghiên cứu sinh sẽ khái quát các kết quả nghiên cứu đã có về ba vấn đề sau: Một là, tình hình nghiên cứu lý luận vềPBGDPL cho ngư dân biển. Hai là, tình hình hình nghiên cứu thực trạng về PBGDPL cho ngư dân biển. Ba là, tình hình hình nghiên cứu quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường PBGDPL cho ngư dân biển.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu lý luậnvềphổ biến giáo dục pháp luật cho ngưdân biển
1.1.2. Tình hình nghiên cứu thực trạngvề phổ biếngiáo dục pháp luật cho ngư dân biển
1.1.3. Tình hình nghiên cứu về quan điểm và giải pháp tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật cho ngư dân biển
1.2. Nhận xét vềtình hình nghiên cứu các vấn đềcủađềtài luận án vànhững vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
1.2.1. Nhận xét về tình hình nghiêncứu các vấn đề của đề tài luận án
Qua việc nghiên cứu và tìm hiểu các công trình liên quan đến đề tài ở trên, có thể thấy rằng, các công trình nghiên cứu về PBGDPL nói chung rất đa dạng, được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, nhiều khía cạnh, về cơ bản đã làm rõ được các vấn đề lýluận và thực tiễn. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về ngư dân nói chung và ngư dân biển nói riêng còn rất hạn chế, chưa làm rõ được các vấn đề lý luận, thực trạng và quan điểm, giải pháp. Có thể đưa ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, về mặt lý luận, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến một số khái niệm cơ bản vềGDPL cho ngư dân nói chung trên cơ sởkhái niệm GDPL nói chung, các công trình nghiên cứu cũng đề cập đến mục đích của công tác PBGDPL cho ngư dân, vai trò của ngư dân trong sản xuất kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Tuy nhiên, các công trình này chưa làm rõ, cụ thể hóađược vấn đề lý luận về PBGDPL cho ngư dân biển, là loại đối tượng đặc thù có hoạt động sản xuất và điều kiện sinh kế khác với ngư dân nói chung. Đặc biệt là việc luận giải các khía cạnh liên quan đến khái niệm, đặc điểm, đối tượng, chủ thể, nội dung, phương pháp và hình thức PBGDPL cho ngư dân biển ở Việt Nam. Ngoài ra, các công trình cũng chưa đề cập đến điều kiện sinh nghiệp của ngư dân biển tác động đến ý thức pháp luật và thái độ, tình cảm đối với pháp luật của ngư dân biển, chưa luận giải về
45 Nguyễn Văn Cường (2015), Nghiên cứu cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển thành phố Hải Phòng, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, Hà Nội.
sự cần thiết phải PBGDPL cho ngư dân biển trong giai đoạn hiện nay. Cácyếu tốảnh hưởng đến PBGDPL cho ngư dân biển cũng chưa được các tác giả đề cập đầy đủ trong các công trình nghiên cứu.
Thứ hai, về thực trạng PBDGPL cho ngư dân biển đã được một số công trình nghiên cứu và đềcập, tuy nhiên vẫn chưa hệthống và toàn diện. Trong các công trìnhđã có, phần thực trạng chỉnêu các sốliệu PBGDPL mang tính liệt kê theo chương trình, kế hoạchđãđược thực hiện bởi các cơ quan chức năng, chưa có công trình nào tập trung đánh giá các ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của thực trạng. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu còn bị hạn chế bởi phạm vi và đối tượng nghiên cứu nên các tác giả chỉ tập trung phân tích, đánh giá thực trạnghoạt độngPBGDPL cho ngư dân ở một khu vực, địa bàn nhất định, chưa có công trình nào nghiên cứu về PBGDPL cho ngư dân biển trêncả nước.
Thứba, vềquan điểm,giải pháp tăng cường PBGDPL cho ngư dân biển thìhiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về vấn đề này. Một số công trình nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp chung và các giải phápcụ thểnhằm nâng cao hiệu quảcông tác PBGDPL cho ngư dân biển, tuy nhiên các giải pháp này còn mang tính chung chung vàđãlạc hậu do được kế thừa từ nhiều công trình khác, không phù hợp với đối tượng đặc thù là ngư dân biển và trong điều kiện tình hình kinh tế xã hội hiện nay.
Tóm lại, các công trình nghiên cứuvềPBGDPL cho ngư dân nói chung vàngư dân biển nói riêng hiện nayđã có những kết quảnhất định, cungcấptài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh, tuy nhiên còn nhiều vấn đề liên quan đến lýluận và thực tiễn cầnphải làm rõ,đòihỏicầncó những công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này.
1.2.2. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Trên cơ sởkếthừa các thành tựu nghiên cứu hiện có, luận án đi sâu nghiên cứu những vấn đề sau đây:
– Luận giải, tiếp tục phát triển, làm sâu sắc và hoàn thiện thêm những vấn đề lýluận về PBGDPL nói chung;
– Phân tích, làm sáng tỏ những đặc điểm đặc thù của phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển; luận giải vai trò và sự cần thiết của hoạt động PBGDPL cho ngư dân biển tạiViệt Nam; xây dựng khung lý thuyết vềphổbiến, giáo dục pháp
luật cho ngư dân biển:chủthể, nội dung, đối tượng, phương pháp và hình thức PBGDPL cho ngư dân biển.
– Phân tích nội dung các yếu tốảnh hưởng đến hoạt động PBGDPL cho ngưdân biển tại Việt Nam.
– Phân tích, đánh giá thực trạng về chủ thể, nội dung, phương pháp, hình thức và kết quả PBGDPL cho ngư dân biển, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
– Tìm kiếm và đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường PBGDPL cho ngư dân biển ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
1.3. Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 1.3.1. Giả thuyết nghiên cứu
Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở nước ta thời gian qua được Nhà nước chú trọng thực hiện và đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận song vẫn còn một số hạn chế nhất định nên chưa đạt kết quả như mong muốn. Do vậy, việc tăng cường công tác phổbiến giáo dụcpháp luật cho ngư dân biển bằng những giải pháp phù hợp với nhu cầu, năng lực, điều kiện tiếp cận và sử dụng pháp luật của họ sẽ góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của ngư dân biển trong việc tuân thủ pháp luật, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, bảo vệchủ quyền biển đảo, an ninh quốc gia.
1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã nêu thì câu hỏi nghiên cứu đặt ra cho luận án bao gồm:
(1) Phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển có những đặc thù gì so với phổbiến, giáo dục pháp luật cho các loạiđối tượngkhác, nhất là trongđiềukiện phức tạp của Biển Đông hiện nay? Sự cần thiết phải tiến hành hoạt động này? Chủthể, nội dung, phương thức và các yếu tố ảnh hưởng tới phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ởnước ta hiện nay? Kết quảcủa hoạt độngphổbiến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển được nhìn nhận như thế nào?
(2) Thực trạng hoạt động phổbiến, giáodụcpháp luật cho ngư dân biển ởnước ta thời gian qua diễn ra như thế nào? Có những ưu điểm, hạn chế gì và những nguyên nhân nào dẫn đến thực trạng đó?
(3) Những quan điểm, giải pháp nào có thể thực hiện để tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở nước ta trong thời gian tới?
Kết luận Chương 1
Thời gian qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về PBGDPL cho nhiều loại đối tượng, song những công trình nghiên cứu vềgiáo dục pháp luật cho ngưdân biển còn khá khiêm tốn. Các công trình nghiên cứu đã có đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan đến lý luận và thực trạng PBGDPL cho một số loại đối tượng nhất định vàgiải pháp nhằm nâng cao PBGDPL cho loại đối tượng đó.Tuy nhiên, chođến hiện tại ở nước ta chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và cóhệ thống về PBGDPL cho ngư dân biển ở nước ta như luận án này. Do vậy, nhiệm vụđặt ra cho luận án là trên cơ sởkếthừa các kết quảnghiên cứuđã có cần làm sáng tỏ cơsở lýluận về PBGDPL cho ngư dân biển ở nước ta, đánh giá được thực trạng của hoạt động này thời gian qua và tìm kiếm để đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm tăng cường hoạt động này trong thời gian tới.
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO NGƯ DÂN BIỂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Ngư dân biển Việt Nam và sự cần thiết phải phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở Việt Nam
2.1.1. Khái niệm ngư dân biển
Trong tiếng Anh, ngư dân (fisherman) tức là người đánh cá46, còn trong từ điển Collins Cobuild thì ngư dân là“người đánh cá là một nghề”47
Đối với quan điểm khái niệm ngư dân trong nước, theo Từ điển Từ và ngữ Việt NamcủaNguyễn Lân,“ngưdân”đượchiểu làngườiđánh cá48. TrongĐại từđiển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủbiên thì khái niệm ngư dân là“người làm nghềđánh cá”49
Trong cuốn “Đời sống xã hội và văn hóa của cộng đồng ngư dân ven biển vàhải đảo từ Đà Nẵng đến Khánh Hòa – góc nhìn dân tộc học” do tác giả Bùi XuânĐính và Nguyễn Thị Thanh Bình chủ biên thì:“Ngư dân là những người sống ở gần sông, biển, hồ, trên các đầm phá hoặc các đảo nhỏ, trong vũng, vịnh, kiếm sống chủyếu bằng nghề đánh cá, địa bàn cư trú và phương thức đánh bắt thủy hải sản cóảnh hưởng sâu sắc đến đời sống vật chất, tinh thần và đời sống xã hội của họ”50.
Như vậy, có thể hiểu ngư dân là tất cả những người làm nghề đánh cá bằng bất cứ phương tiện đánh bắt nào trên bất cứ địa bàn nào dù là đánh bắt gần bờ hay đánh bắt xa bờ. Căn cứ vào tập quán cư trú, các nguồn lợi thủy hải sản mà các nhóm ngưdân hướng vào khai thác, cùng với các phương tiện kỹthuật, loại hình khai thác cũng như quan hệ xã hội, sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, có thể chia ngư dân thành các nhóm sau:
46 Nguyễn Sanh Phúc (2000), Từ điển Anh-Việt, Nxb.Văn hóa thông tin, tr420. 47Collins Cobuild (2005), Từ điển Tiếng Anh Collins Cobuild, tr635.
48 Nguyễn Lân (2006),Từ điển từ vàngữ Việt Nam, Nxb. Tp Hồ Chí minh. Tr1288. 49 Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, tr1219.
50 Bùi Xuân Đính và Nguyễn Thị Thanh Bình (2018),Đời sống xãhội và văn hóa của cộng đồng ngư dân ven biển và hải đảo từ Đà Nẵng đến Khánh Hòa – góc nhìn dân tộc học, Nxb. Khoa học xã hội, tr69.
Nhóm thủy cư đánh cá nước ngọt trên các dòng sông: Nhóm chủ thể này bao gồm các ngư dân chuyên làm nghề đánh bắt trên các dòng sông, công cụ đánh bắt
của họ chủ yếu là các loại lưới cỡ nhỏ, sử dụng xung điện, chài, vó…
Nhóm thủy cư đánh cánước lợởcác cửa sông và các vùng đầm phá: Nhóm ngư dân này đánh bắt tại các vùng đầm phá gần bờ, công cụ khai thác đánh bắt cũng
thô sơ như chài, lưới, vó, đơm, đó,… thậm chí họcòn đánh bắt bằng các côngcụhủydiệt ảnh hưởng đến môi trường và không đảmbảo phát triển bền vững. Đối tượng mà họ đánh bắt được chủyếu là những loài nhỏ sống gần bờ như tôm, cua,
ghẹ và một số loại cá nhỏ khác,… Nhóm ngư dân bãi dọc; Nhóm ngư dân bãi ngang; Nhóm thủy cư ở các vịnh;
Nhóm ngư dân sống trên các đảo nhỏ;
Nhóm đánh cá sống trên các hồ thủy điện hoặc hồ tự nhiên51.
Dựa trên khái niệm ngư dân nói chung, căn cứvào đặc điểmhoạt động sản xuất của ngư dân, có thể định nghĩa ngư dân biển như sau: Ngư dân biển là những người hoạt động đánh bắt hải sản trên biển, có đời sống và hoạt động sản xuất gắn với biển.
Từkhái niệm trên, có thểthấy, ngư dân biển có đặc điểmlà những lao động hành nghề đánh bắt hải sản trên biển, có các điều kiện sinh kế liên quan đến biển và có những yếu tố đặc thù, khác biệt với các loại ngư dân khác. Đó là lực lượng lao động đông đảo của đất nước, có vai trò to lớn trong hoạt động sản xuất kinh tế biển, ngoài ra, ngư dân biển còn có vai trò to lớn trong việc bảo vệmôi trường biển vàchủ quyền biển đảo của Tổ quốc, nhất là trong giai đoạn bất ổn về tình hình chính trị tại Biển Đông hiện nay.
2.1.2. Điều kiện sinh nghiệp của ngư dân biển ở Việt Nam
Ngư dân biển thường là những người dân sinh sống ởcác vùng ven biển, cócác điều kiện sản xuấtđặc thù. Trước đây, ngư dân biểnsửdụng các phương tiện tương đối thô sơ và chủ yếu đánh bắt ven bờ, những vùng nước nông, sản lượng
51 Nguyễn Duy Thiệu (2002), Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam, nxb Hà Nội, tr.46
đánh bắt thấp, đời sống kinh tế vô cùng khó khăn. Sau khi có quyết định thành lập Ban chỉ đạo nhà nước về chương trình đánh bắt thủy sản xa bờ của Thủ tướng ngày 09/6/1997 thì nghề đánh bắt thủy sản xa bờ ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Do đó,đánh bắtxa bờ là hoạtđộng khai thác hảisản với quy mô vừa và lớn, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hoặc vùng biển quốc tế. Chủ thể của hoạtđộng này là các nhóm ngư dân gồm chủ tàu, thợ lái, bạn thuyền và người laođộng làm thuê52. Hiện nay, thực hiện Chiếnlượcbiển Việt Nam,vớiyêucầuphát triển kinh tế biển kếthợp đảmbảo an ninh quốc phòng, nhiều chính sách hỗtrợvề vốn, về bảo hộ ngư dân của Nhà nước được ban hành, nên đã có sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề của ngư dân biển, đa số ngư dân đều đầu tư trang thiết bị, chuyển hướng đánh bắttừđánhbắtgầnbờ sang các hoạtđộngđánhbắtxabờ.Chính vì vậy,điềukiện sinh nghiệp của ngư dân biển cũng có những thay đổi so với trước đây.
Thứ nhất, nhóm ngư dân biển đánh bắt gần bờ có các điều kiện sinh nghiệp sau:
Một là, ngư dân biển đánhbắtgầnbờthường kết hợp công việc đánh bắt hải sản với việc nuôi trồng thủy hải sản trên biển, ngoài ra họ còn kết hợp với các
ngành nghề dịch vụ khác gắn liền với biển như làm muối, sửa chữa tàu thuyền… Nhóm ngư dân biển này không phải đánh bắt dài ngày như nhóm ngư dân đánh bắt xa bờnên họ có thời gian để tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh tế khác. Nhóm ngư dân này có điều kiện kinh tế khó khăn, ít vốn, lại chịu sự ảnh hưởng của thói quen, tập quán đánh bắt truyền thống nên thườngsửdụng các công cụ đánh bắt thô sơ, công suất nhỏ. Vì vậy, nhóm ngư dân biển đánh bắt gần bờ còn có tên gọi lànghề cá nhân dân, nghề cá truyền thống. Dođặc điểmsinh nghiệp khó khăn, lấy ngắn nuôi dài, nhóm ngư dân này phải sử dụng mọi phương pháp để đánh bắt một cách hiệu quảnhất, kểcả các biện pháp vi phạm pháp luật. Do việc sửdụng quámức các công cụ đánh bắt hủy diệt và phương pháp đánh bắt tận diệt nên nguồn lợi thủy hải sản gần bờ gần như cạn kiệt,để đảm bảo cuộc sốnghọ chuyển sang nuôi trồng trên biển hoặc tham gia các dịch vụ sản xuất khác trên đất liền.
52 Nguyễn Thị Hoa (2018), Thái độ đối với hoạt động đánh bắt xa bờ của ngư dân ven biển miền Trung, Đềtài cấp Bộ, tr22, 23.
Hai là, ngư dân biển đánh bắtgầnbờthường có nguy cơ chịu rủi ro trong hoạtđộngsản xuất, sinh kếkhông bền vững, do quá trình công nghiệp hóa, nhiều khu công nghiệp về chế biến, xuất khẩu có xu hướng chuyển vềgầnbiển, thuậnlợicho việc vận chuyển hàng hóa ra các cảng, vì vậydẫnđếnnguy cơảnhhưởngvề môi trường, điểnhình nhưsựkiện công ty Formosa xả thải năm 2016, làm ảnh hưởng nặng nề đến nguồn lợi thủy hải sản và nuôi trồng của ngư dân gần bờ các tỉnh miền Trung53. Vì vậy,điềukiện sinhkế của ngư dân biển gần bờ không ổn định,phụ thuộc nhiều vào các vấn đề môi trường và điều kiện tự nhiên.
Ba là, thực hiện chiếnlược phát triển của ngành Thủy sản Việt Nam, tăng cường các phương tiện đánh bắtxabờ,hạnchế các phương tiện đánh bắt gần bờ, cùng với đólà việc quản lý chặt chẽ và tăng cường xửlý các hành vi vi phạm vềcông cụ và phương tiện đánhbắttrái phép, dẫn tới, ngư dân biểngần bờhiện nay khó khăn trong sản xuất, phải chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, tập quán cha truyền con nối trong ngư nghiệp cũng thayđổi,nhiều ngư dân biển đã chuyển sang loại hình sản xuất khác hoặc xuất khẩu lao động.
Bốn là, do đặcthù nghề nghiệp và điều kiện kinh tếkhó khăn, ngư dân biển gần bờ thường ít có cơ hội học tập mộtcách đầyđủ, trọn vẹn,chỉdừng lại ở một trình độ học vấn nhất định. Do hạn chế về trình độ nhận thức nên ngư dân biển gần bờ thường chịu ảnh hưởng bởi các vấn đề thời sự, an ninh, chính trị của quốc gia, dễbị các thế lực thùđịchlợi dụng lôi kéo vì các mục đích chính trị. Ngoài ra, do điều kiện kinh tế khó khănkết hợpvớitrìnhđộnhận thức hạn chế, ngư dân biểngần bờ cũng thường hay vi phạm pháp luật, đặc biệt là các vi phạm pháp luật về môi trường và đánh bắt.
Thứ hai, nhóm ngư dân biển đánh bắt xa bờ có điều kiện sinh nghiệp sau:
Một là, ngư dân đánh bắt xa bờ thường làm việc trongđiều kiệnkhắc nghiệt vềtự nhiên và điều kiện sinh hoạt khó khăn trên tàu biển. Khíhậutrên biển, nắng, gió
biển, sóng biển và rủi rotừ thờitiết khác là những yếutố gây ảnh hưởng rất lớn đến
53 Xem: Formosa đứng đầu các vụ gây ô nhiễm năm 2016, https://tuoitre.vn/formosa-dung-dau-cac-vu-gay- o-nhiem-nam-2016-1351267.htm, truy cập ngày 13/07/2017.
sinh nghiệp của ngư dân đánh bắt xa bờ. Không gian làm việc chật hẹp, thiếu vệ sinh,điều kiện dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe tạo ra môi trường lao động có tính đặc thùriêng của ngư dân đánh bắt xa bờ. Bên cạnh đó, ngư dân đánh bắt xa bờ còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa hình và thủy vực phức tạp, khả năng dự đoán tình hình thời tiết còn thiếu tính chính xác và chưa kịp thời, khả năng truyền thông, truyền tin liên lạc còn khá hạn chế gây ra nhiều tổn thất to lớn. Cuộc sống của người lao động trong nghềvẫn còn nhiều vất vả, bấp bênh, do đó không tạo được sự gắn kết với nghề.54
Hai là, đánhbắtxabờthường cần nhiều laođộng,nên hoạt động này mang tính chất cha truyền con nối, hoạt động truyền thống của dòng họ, huy động tối đa
lực lượng lao động trong gia đình tham gia vào khai thác và bảo quản thủy hải sản, sốlượnglao độngcòn lại tham gia vào các hoạt động hậu cầntrênbờnhư sơ chếhải sản, tìm nơi tiêuthụsảnphẩm. Chính vì vậy, do không có thời gianhọctập, hoặc phải nghỉ học để tham gia vào sản xuất kinh tế nên trình độ học vấn của ngưdân biển đánh bắt xa bờ cũng bị hạn chế.
Ba là, nghề đánhbắthải sảnxabờcó kinh phíđầu tưlớnvềphương tiện, trang thiết bị,lạichịu nhiều rủi ro, bấp bênh,phụthuộc nhiều vào may mắn, kinh nghiệm hay khả năng phán đoán luồng cá của ngư dân biển. Chính vìsự đầu tưcho mỗi lần ra khơi là rất lớn, nên tâm lý của ngư dân biển đánh bắt xa bờ là mỗi lần ra khơi phải có hiệu quả,đạt sản lượng đánh bắt như mong muốn.Điều kiện nàyđãquyết định đến ý thức pháp luật của ngư dân đánh bắt xa bờ, khi gặp điều kiện tựnhiên bất lợi hoặc phán đoán sai luồng cá, nguyên liệu dự trữ đi biển gần hết, ngưdân biển sẵn sàng bất chấp, tắt các tín hiệu định vị tọa độ để tìm luồngcá khác ở các vùng biển nước ngoài, dẫn đến vi phạm về chủ quyền.
Bốn là, ngư dân đánhbắtxa bờ thường có thời gian đi biển dài ngày, môi trường biển rộng lớn cũng tạo ra tâm lý tự do, phóng khoáng, tạm bợ của ngư dân biển. Do ít đề cao các điều kiện sinh hoạt đời thường, ít bị theo dõi, kiểm tra, giám sát của lực lượng chức năng nên ngư dân biển thường sinh hoạt cùng với biển. Điều
54 Nhan Hồng Quang, Môi trường lao động của ngư dân trên tàu đánh bắt xa bờ vùng biển miền Trung Việt Nam,http://vnniosh.vn/chitiet_NCKH/id/6764/Moi-truong-lao-dong-cua-ngu-dan-tren-tau-danh-bat-xa-bo- vung-bien-mien-Trung-Viet-Nam, truy cập ngày 04/8/2020.
kiện sinh nghiệp này dẫn tới việc ngư dân biển thường xả rác thải trực tiếp ra biển, gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, do áp lực về hiệu quả đánh bắt, khi ngưcụtruyền thống không phù hợp hay gặp vấn đề, ngư dân biển cũng dùng các biện phápđánh bắt hủy diệt, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và tài nguyên biển.
Năm là, do đặc thù về môi trường nghề nghiệp, thường xuyên phải đối đầu với thiên tai, rủi ro nghề nghiệp nên hình thành tâm lý tín ngưỡng, kiêng kị, các tín ngưỡng này được cụ thể hóa qua các lễ hội của ngư dân biển tại địa phương (thờ cá
Ông, lễ cầu Ngư, thờ Thành Hoàng…), hay các hình thức thực hiện tín ngưỡng khác trên biển. Những hoạt động này sẽ giúp ngư dân biển có niềm tin vào việc đánh bắt trên biển, cân bằng lại tâmlý của họsau thời gian đi biển dài ngày. Tuy nhiên, các hoạt động tín ngưỡng này nếu phù hợp với các chuẩn mực pháp luật thì sẽ tạo hiệu ứng tốt,hỗtrợ tâm lý cho ngư dân vươn khơi bám biển, sản xuất tốt; còn ngược lại thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện pháp luật của ngư dân.
Sáu là, ngư dân đánh bắt xa bờ,tuyđiều kiện sinh nghiệp gắn liền với biển nhưng hoạt động đánh bắt cũng diễn ra trong một thời gian nhất định, hoặc do thời tiết bất lợi, ngư dân đánh bắt xa bờ sẽ trở về nhà hoặc neođậu tại các bến cảng đểxuất hàng, tiếp nhiên liệu và chuẩn bị các điều kiện cần thiết khác. Khi đó, ngư dânđánh bắt đánh xabờ sẽ có những đặc điểm sinh nghiệp giống vớicác đối tượng khác trên đất liền. Đặc biệt, khi tham gia vào các quan hệ xã hội trong thời gian trên bờ, ngư dân đánh bắt xa bờ cũng có nhucầupháp lýđể giải quyết các vấn đề củacánhân, của gia đình như các quan hệ hôn nhân, lao động, đất đai…hoặc các vấn đề
liên quan đếnhoạt động sảnxuất nhưthủ tụcđăng kí neo đậu, thủ tục xuấtbến… Những vấn đề này, nếu được trang bị kiến thức pháp lý để ngư dân đánh bắt xabờ
tựgiải quyết thông đạt, sẽ giúp ngư dân có tâm lý thoải mái, tự tin, vui vẻ khi tham gia các hoạt động đánh bắt tiếp theo.
Bảy là, ngư dân đánh bắt xa bờ thường có thời gian đi biển dài ngày, vì vậy, ngoài việc quan tâm đến năng suất và hiệu quả đánh bắt, ngư dân đánh bắt xabờcòn quan tâm đến công tác hậu cần và thị trường tiêu thụ sản phẩm trên đất liền, đặc biệt làcác điều kiện đảmbảo cho việc bảo quản hải sản để tiêu thụ. Thực tế, có rất
nhiều ngư dân biển do lo sợ công tác hậu cần về bảo quản hải sản hoặc biến động vềgiá cả nên đã vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm. Ngoài ra, đối với ngư dân đi biển dài ngày, thường xuyên đối diện với thiên tai và rủi ro trong công việc, thì sựđộng viên, khích lệcủa người thân, gia đình, sựquan tâm của chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng là rất quan trọng, vừa tạo niềm tin, yên tâm cho ngư dân vươn khơi bám biển, vừa tạo sựthiện cảmcủangư dân với chính quyền. Yếu tố này tác động trực tiếp đến thái độ, niềm tin của ngư dân biển đốivới pháp luật và các hành vi hợp pháp.
Tám là, các hoạtđộngđánh bắt xa bờ của ngư dân biển luôn gắn liền với chủquyền biển đảo của Tổquốc. Môi trường đánh bắt của ngư dân biển là trong thềm lục địa hoặc vùng đặcquyền kinh tế của nước ta mà theo quyđịnh của luật pháp quốc tế thìsựxuất hiện của ngư dân biển ở vùng biển này chính là dấu hiệuthực tếvề chủquyền đối với vùng biển đó. Vì lẽđó,việc vươn khơi bám biển của ngư dân biển không những mang ý nghĩa về mặt kinh tế, mà điều kiện sinh nghiệp của họcòn mang ý nghĩa về mặt chính trị. Việc ngư dân biển có ý thức bảo vệ vùng biển, bảo vệ môi trường cũng là việc ngư dân biển đang tựbảo vệ bảnthân, bảo vệ sinh kế bền vững của chính mình.
Tómlại, ngư dân biểnở Việt Nam có nhữngđiều kiện sinh nghiệpđặc thù, những điều kiện sinh nghiệp này xuất phát từ chính các điều kiện kinh tế, văn hóa, trình độ nhận thức, phong tục tập quán của ngư dân. Nếu hiểu và nắm bắt được cácđiều kiện sinh nghiệp này thì sẽ hỗ trợ đắc lực cho công tác PBGDPL cho ngư dân biển ở Việt Nam.
2.1.3. Sự cần thiết phải phổ biến, giáo dụcpháp luật cho ngư dân biển ởViệt Nam hiện nay
Thực hiện “Chiếnlượcphát triển bền vững kinh tếbiển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”55, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản trên biển. Đến nay, số
55 Ban chấp hành Trung ương khóa XII (2018), Nghị quyết 36-NQ/TW, “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.Hà Nội.
lượng, chất lượng tàu cá đã phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên cùng với sự phát triển này, trong thời gian qua xuất hiện tình trạng ngư dân vi phạm pháp luật ngày một gia tăng,mứcđộvi phạm ngày càng nghiêm trọng, không những vi phạm pháp luật trongnướcmà còn vi phạm pháp luật Quốctế,mộtđiềuđáng báođộnglàxuất hiện nhiều vụ việc ngư dân biển cố tình vi phạm nhằm phục vụ mục đích kinh
tế,thực trạng trên xuất pháttừnhiều nguyên nhân khách quan vàchủquan, đòi hỏiyêucầucấpthiếtđặtra cho các cấp, các ngành, cácđịaphương làcầnphải nâng cao ý thức pháp luật cho ngư dân biển, giúp ngư dân hiểu và tôn trọng pháp luật, biết sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền là lợi ích hợp pháp của bản thân, bảo vệchủquyền biểnđảocủaquốc gia.Đểcụthểhóa yêucầucấpthiết trên, việc tăng cường PBGDPL là cần thiết và mang ý nghĩa thời sự. Sự cần thiết này được thể hiện ở những nội dung sau:
Một là, xuất phát từ yêu cầu cần phải bảo vệ tốt chủ quyền biển đảo.
Ngư dân biển ngoài nhiệm vụ sản xuất kinh tế trên biển, còn có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, trước tình trạng ngư dân biển Việt Nam bị các
lực lượngthực thi pháp luậtnướcngoàibắtgiữ, tịch thu tài sản, tiêu hủyngưcụđánh bắt, nhiều ngư dân biển đã tỏ ra e ngại, sợ đánh bắt ở những vùng biển chồng lấn, chưa phân định hay đang có tranh chấp, ảnh hưởng đến tâm lý vươn khơi bám biển. Một trong nhữngvấn đề ngưdân biển cần quan tâm hiện nay là khu vực nào ngư dân có quyền đánh bắt, theo quyđịnh của Công ướcLiên Hợp quốc vềLuật biển năm 1982, thì vùng biển mà ngư dân có quyền đánh bắt là vùng lãnh hải, vùngđặc quyền kinh tế, ởnhững khu vực chồng lấn, vùng biển cả(không thuộc chủquyền, quyền chủ quyền của quốc gia nào), họ có thể đánh bắt cả ở vùng đặc quyền kinh tếcủa quốc gia khác nếu có thỏa thuận hợp tác nghề cá; ngoài ra, tập quán quốc tế cũng quy định về quyền đánh cá truyền thống ở lãnh hải và quyền đánh cátruyền thống ởvùng nước quần đảo. Tuy nhiên, do tình hình tranh chấp trên biển Đông, các quốc gia láng giềng đã không thừa nhận quyền đánh cá truyền thống vàyêu sách mở rộng vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), vì vậy ngư dân Việt Nam đánh bắt ở vùng đánh bắt truyền thống này được xem là vi phạm EEZ, muốn đánh bắt ở vùng biển này cần có sự đồng ý và tuân thủ pháp luật của các quốc gia này. Vấn đề trên đặt ra yêu cầucho công tác PBGDPL cho ngư dân biển là cần phải giải thích cho
ngư dân hiểu những vùng biển nào được phép đánh bắt, những vùng biển nào cần phải được cấp phép, vùng biển nào thuộc chủ quyền của Việt Nam, vùng biển nào thuộc chủ quyền của quốc gia khác, vùng biển nào đang tranh chấp, chưa phân định, chồng lấn. Như vậy, ngư dân biển mới nắmbắt được các quyđịnhcủa pháp luật trong nước và quốc tế về hành nghề trên biển, vừa tuân thủ pháp luật vừa cùng với các lực lượng thực thi pháp luật phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về đánh bắt của các tàu nước ngoài, bảo vệvững chắc chủquyền biểnđảocủa Tổquốc. Mặt khác, công tác PBGDPL cho ngư dân biển, ngoài mụcđích nâng cao tri thức pháp luật, còn hướng tới việc cải thiện sự tự tin, giúp ngư dân biển vững tâm khi vươn khơi bám biển, sự hiện diện của ngư dân biển tại các vùng biển hợp pháp sẽ khẳngđịnh chủquyền, đánh dấu khảnăng làmchủvùng biểnđó,ngăn chặn các hành vi xâm phạm chủ quyền của các quốc gia khác.
Bên cạnh đó, việc PBGDPL kết hợp cùng giáo dục quốc phòng, giáo dục công dân còn giúp ngư dân biển ý thức được giá trị của biển đối với sản xuất kinhtế vàan ninh quốc gia, khơidậylòng tựhào dân tộc, nhận thức được trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, bảo vệ an ninh biên giới biển.
Hai là, xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế biển, yêu cầu hội nhập quốc tế
(trong xuất khẩu hàng hóa, trong quan hệ hữu nghị, hợp tác với các quốc gia có biển liền kề).
Thực hiện Chiến lược biển Việt Nam, kết hợp sản xuất kinh tế và đảm bảo an ninh Quốc phòng trên biển, ngành khai thác thủy hải sảntrong những năm qua chiếmvịtrí quan trọng và đóng góp tỷtrọng lớn trong nền kinh tếcủa đất nước, theo báo cáo của Tổng cục Thủysảnnăm 2018, GDP thủy hải sản đạt 190,123tỷđồng, chiếm 3.43% toàn nền kinh tế, thu hút hơn 800.000 ngư dân tham gia và tạo việc làm cho 4.5 triệu lao động dịch vụ hậu cần56. Từ thành công lớn trong việc chếbiến, xuất khẩu đã trở thành động lực thúc đẩy việc khai thác thủy hải sản trên biển, số lượngtàu thuyền có công suất lớn tăng nhanh, chất lượng đánh bắt ngày càng cải thiện. Tuy nhiên, song song với các kết quảđạt được, việc khai thác trái phép tại vùng biển nước ngoài đã tác động xấu đến khả năng xuất khẩu thủy hải sản của Việt
56 Xem: Đóng góp của đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản trong phát triển kinh tế biển, http://www.monre.gov.vn/Pages/dong-gop-cua-danh-bat-va-nuoi-trong-thuy-san-trong-phat-trien-kinh-te- bien.aspx, truy cập 20/08/2020.
Nam, ảnh hưởng đến tăng trưởng của nền kinh tế biển. Đặc biệt khoảng thời gian từđầu năm 2017 đến cuối năm 2019, tình trạng tàu cá và ngư dân Việt Nam vi phạm vùng biển nước ngoài khai thác hải sản trái phép có diễn biến phức tạp, nhất là ởcác vùng biển giáp ranh với các nước Campuchia, Indonesia, Malaysia và Thái Lan.
Theo sốliệu thống kê của lực lượng Cảnh sát biển,mỗinăm cótớivài trăm lượt tàu cá Việt Nam cùng hàng ngàn ngư dân vi phạm vùng biển nước ngoài khai thác hải sản bịlực lượng chức năng của các nước khác bắt giữ. Từnăm 2017 đến nay, trên cả nước đã có hơn 1.000 tàu cá bị lực lượng chức năng các nước ngoài bắt giữ (xem phụ lục 1). Thực trạng này đã gâyảnh hưởngxấu đến hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế, tác động xấu đến việc xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường thế giới và đây cũng là một trong những lý do mà Liên minh châu Âuđã rút “thẻ vàng” đối với hoạt động khai thác thủy sản của Việt Nam. Kể từ khi Ủy ban châu Âu (EC) ra quyết định áp dụng “thẻvàng”đối với thủy sản Việt Nam (23/10/2017), Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản và triển khai nhiều nội dung liên quan để các cơ quan, ban, ngành thực hiện nhằm khắc phục cảnh báo của EC vềcác hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quyđịnh như Côngđiện số732/CĐ-TTg, 1275/CĐ-TTg, Chỉthịsố45/CT-TTg, Quyết định số 78/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và mới đây nhất là Quyết định số 596/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia về chống khai thác hải sản bất hợp pháp (Ban chỉ đạo Quốc gia về IUU) để tham mưu, giúp Thủ tướng Chính phủchỉđạo,phốihợpgiải quyết những công việc quan trọng, liên ngành thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến công tác chống khai thác IUU.Đểthực hiện các văn bản pháp luật của Nhà nước, qua đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật liên quan đến hoạt động khai thác thủy hải sản trên biển, công tác PBGDPL cho ngư dân biển là thật sựcần thiết. Việc PBGDPL cầntập trung vào việc chỉ ra các sai phạm trong hoạt động nghề cá, những bất lợi cho ngư dân biển vềthị trường tiêu thụ sản phẩm khi không thực hiện đúng các quy định của pháp luật,đồng thời, phân tích nguyên nhân, hậu quả của những sai phạm đó đề ngư dân đúc rút kinh nghiệm, chấp hành tốt các quy định.
Một vấn đề nữa, đất nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế, trong xu thếcủa nhiều quốc gia “lấyđại dương nuôiđất liền”, vịtrí của ngư dân biển vàngành khai thác thủy hải sản ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước. Một trong những yêu cầu quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay là việc tuân thủ các quy định về đánh bắt,
về môi trường theo pháp luật quốc tế, có như vậy hình ảnh của ngư dân Việt Nam và kinh tếViệt Nam mới nhận được sựtin tưởng của các quốc gia, uy tín tại các diễn đàn được nâng cao, tạo thuận lợi cho việc đàmphán tham gia các tổchức thương mại, quốc phòng. Tuy nhiên, tình trạng ngư dân biển Việt Nam hiện nay chạy theo lợi nhuận kinh tế, bất chấp các quy định về xâm phạm chủ quyền,tắt định vịtàu thuyền đểchạy theo luồng cá, đánh bắt các hải sản quý hiếm còn diễn ra thường xuyên. Tình trạng này dẫn tới việc ngư dân biển bịcác lực lượng thực thi pháp luật nước ngoài bắt giữ, lai dắt về vùng biển nước ngoài để lập biên bản vàxửphạt. Do các tàu cá này cố tình vi phạm nên đã tắt định vị, các lực lượng bảo hộ ngưdân không đủ bằng chứng, chứng cứ xác định tọa độ, chỉ thông qua lời khai của ngưdân, trong khi nước ngoài đã chuẩn bị trước về quay phim, chụp ảnh, biên bản nên gây khó khăn trong đấu tranh, bảo hộ ngư dân. Nhiều quốc gia đã áp dụng hình sựhóa các hành vi vi phạm chủ quyền biển đảo, và được xác định là hành vi tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Ví dụ, Trung Quốc áp dụng chế tài xua đuổi, tịch thu tài sản, truy cứu hình sự; Malayxia, Philippin, Brunei thì tịch thu tài sản, phạt tiền, phạt tù theo mức độ; Campuchia thì tiêu hủy tài sản, tàu thuyền; Indonexia thì bắn cháy tàu trên biển. Các quốc gia ngày càng phản ứng tiêu cực đốivớihành vi của ngưdân biển Việt Nam, tăng cường các lực lượng thực thi trên biển, nêucác vấn đề của ngư dân biển Việt Nam tại các diễn đàn đa phương, đe dọa khai trừViệt Nam ra khỏi Ủyban nghề cá Trung và Tây Thái Bình Dương, ảnh hưởngđến việc xuất khẩu thủy hải sản, ảnhhưởngđếnuy tíncủaViệt Nam trên các diễn đànquốc tế, gây tác động xấu đến quá trình đàm phán, kí kết quá trình hội nhập, đặc biệt làsựủng hộ, đồngtình của các quốc gia khác đối với chủ quyền biển đảo của nước nhà
tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Xuất phát từ những vấn đề được phân tíchởtrên, công tác PBGDPL cho ngư dân biển hiện nay làvấnđềcấp bách và cần
thiết, làm tốt công tác này, sẽ mang tại tác động kép, vừa đảm bảo phát triển kinh tếbiển, vừa nâng cao vị thế của Việt Nam trong quá trình hội nhập.
Ba là, xuất phát từ yêu cầu bảo vệ tài nguyên và môi trường biển đảo, đảm bảo đánh bắt ổn định, lâu dài, bền vững.
Có thểnhận thấy rằng, biển không chỉlà nơi hoạt động của ngành khai thác thủy hải sản, gắn chặt với đời sống sinh kế của ngư dân biển, mà còn là môi trường của các ngành kinh tế khác hoạt động và phát triển như ngành du lịch, khai thác tài
nguyên khí đốt…Ngư dân biển là những người bám biển, kinh tếphụthuộc vào hoạt động sản xuất trên biển, tuy nhiên do điều kiện kinh tế khó khăn, ngư dân biển Việt Nam thường sử dụng các công cụ đánh bắt thô sơ, thuyền có công suất nhỏ, vìvậy, khi nguồn thủy sản gần bờgiảm, đểtăng sản lượng, ngư dân đã sửdụng các phương pháp đánh bắt hủy diệt như dùng mìn, lưới kéo tôm xung điện, mảnh lùi kết hợp mìn; những phương pháp đánh bắt này làm suy thoái môi trường, hủy hoại thực vật tầng đáy, làm giảm khả năng tái tạo của tự nhiên. Ngoài ra, ngư dân biển còn sửdụng các phương pháp tận diệt như lưới giã cào, lưới tôm, lồng bát quái, đánh bắt cá nhỏ, đánh bắt cá mùa sinh sản, các phương pháp nàysẽtận diệt các nguồn tài nguyên, không cho tự nhiên có thời gian phục hồi, tái tạo. Đối với các ngư dân cótàu công suất lớn, có thể đánh bắt xa bờ dài ngày, việc xả rác thải trực tiếp ra biển cũng ảnh hưởng rất xấu đến môi trường biển. Thực trạng trên xuất phát từnhiều nguyên nhân, trong đó có yếu tố ý thức pháp luật của ngư dân về tài nguyên và môi trường còn hạn chế, chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của môi trường biển đối với đời sống và hoạt động sản xuất kinh tế, bảo đảm sinh kế bền vững. Vì vậy, việc PBGDPL để ngư dân biển thấu hiểu những giá trị trên là rất cần thiết.
Bốn là, xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi tất cả các chủ thể trong xã hội, trong đó có ngư dân biển đều phải nhận thức, hiểu biết được yêu cầu của các quyđịnh pháp luật liên quan đếncuộc sống thường ngày và hoạt độngsản xuất của mình, đều phải có thái độtôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện các quy định đó, tức là đều phải sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Tuy nhiên, trong thực tế, sự hiểu biết pháp luật, trình độ, kiến thức pháp lý của một bộphận lớn ngư dân biển còn thấp, vì thế, nhiều người trong sốhọkhông thụhưởngđược cácquyền của mình, không biết cách đấu tranh để bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp của mình mà thậm chí còn vi phạm pháp luật. Điển hình như trường hợp một số tàu cá của Việt Nam bị tàu chấp pháp Indonesia cáo buộc là vi phạm vùngđặc quyền kinh tế của họ theo đường phân định giữa hai nước, một số tàu cá bị bắt giữ và bị kéo về vùng biển Indonesiađể xử lý57. Khi bị xử lý vi phạm, ngư dân biển cũng không nắmbắt được các quyđịnh pháp luật của nước ngoài vềxửphạt ngưdân, tàu cá vi phạm, dẫn đến tâm lý hoang mang, lo sợ, vội kí biên bản vi phạm và chờ đợi các cơ quan chức năng ở Việt Nam thực hiện các biện pháp bảo hộ.
Chính vì vậy, việc PBGDPL sẽ trang bị cho ngư dân biển các kiến thức pháp luật và ứng phó với các tình huống trong hoạt động đánh bắt. Ngoài ra, khi ngư dân biển có nhận thức pháp luật tốt, được tổ chức, quản lý một cách chặt chẽ, được đào
tạo, huấn luyện các kĩ năng,…họsẽkết hợp có hiệu quảgiữa kinh tếvới quốc phòng, an ninh; vừa tiến hành các hoạt động sản xuất trên biển, vừa làm nhiệm vụcảnh giới, phát hiện, xua đuổi và ngăn chặn sự xâm nhập trái phép của tàu thuyền nước ngoài vào khai thác hải sản trên các vùng biển của nước ta, có được như vậy, ngư dân biểnsẽtrởthành lực lượng dân quân biển tích cực trong việc bảo vệchủquyền và lợi ích quốc gia, bảo vệ và khai thác tài nguyên biển có hiệu quả58.
Những phân tích trên cho thấy PBGDPL cho ngư dân biển là tất yếu, là cần thiết, đặc biệt là trongđiều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, điềukiện thực trạng vềmôi trường và tình hình biển Đông như hiện nay. PBGDPL sẽgiúp cho ngư dân biển hiểu được các quyền và nghĩavụpháp lý củamình, có ýthức đấu tranh đểbảovệcác quyền vàlợiíchhợppháp củamình, hạnchếcác hành vi vi phạm pháp luật, kể cả vi phạm pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, bảo vệ môi
trường, bảo vệ chủ quyền biển đảo, bảo vệ Tổ quốc…
57 Hoàng Minh, Đức Tuấn, Tăng cường phổ biến pháp luật cho ngư dân trên vùng biển thềm lục địa phía Nam,https://baohaiquanvietnam.vn/tin-tuc/tang-cuong-pho-bien-phap-luat-cho-ngu-dan-tren-vung-bien-
them-luc-dia-phia-nam-6425-6425, truy cập ngày 02/7/2020.
58 Sở dĩ có phức tạp trên bởi đàm phán giữa Việt Nam và Indonesia về phân định vùng đặc quyền kinh tế tại vùng biển tranh chấp đã diễn ra nhiều vòng nhưng chưa có kết quả cuối cùng. Do tồn tại rãnh sâu nằm gần đảoNatuna Bắc, Indonesia cho rằng ranh giới phânđịnhthềm lụcđịagiữa Việt Nam và Indonesia nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia và năm 2009 công bố bản đồ trong đó ranh giới vùng đặc quyền kinh tế nằm ngoài vùng thềm lục địa đã thỏa thuận với Việt Nam. Những năm trước, trên vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn giữa Việt Nam và Indonesia ngày càng có nhiều ngư dân của Việt Nam bị phía Indonesia bắt giữ, nhiều tàu cá của Việt Nam bị đánh chìm.
2.2. Khái niệm, mục đích phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ởViệt Nam hiện nay
2.2.1. Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở Việt Nam hiện nay
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯ DÂN BIỂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Phổ biến giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở Việt Nam hiện nay Phổ biến giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở Việt Nam hiện nay Phổ biến giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở Việt Nam hiện nay Phổ biến giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở Việt Nam hiện nay

