Phát triển sản xuất hồ tiêu tại huyện Cư Kuin tỉnh Đăk Lăk
Cây tiêu theo chân những người dân phía bắc di cư vào bén rễ ở vùng đất Cư Kuin từ những năm 1954-1955. Tại đây, cây tiêu đã thực sự tìm đúng đất sống, bởi năng suất cao hơn hẳn những vùng trồng tiêu khác, để từ đó được người dân phát triển thành cây hàng hóa mang lại lợi nhuận cao. Nhờ cây tiêu, thu nhập bình quân ở nhiều xã trong huyện Cư Kuin tăng nhanh; thay đổi hẳn bộ mặt nông thôn và đang góp phần thực hiện thành công Chương trình mục tiêu nông thôn mới. Tuy nhiên Tình trạng người dân đổ xô trồng tiêu khiến ngành nông nghiệp và giới chuyên môn lo lắng. Bởi nó không chỉ gây thiệt hại trực tiếp đến lợi ích của người nông dân, mà còn gây hệ lụy khôn lường đối với môi trường.
Bên cạnh đó, với lối canh tác tư duy tự phát theo kiểu “phong trào” sẽ ảnh hưởng đến công tác bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, nhất là ở một số vùng, bà con đã chặt bỏ vành đai cây chắn gió trong khu vực sản xuất, vườn cà phê, phá rừng để dựng trụ trồng tiêu. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, để góp phần thúc đẩy sản xuất hồ tiêu huyện Cư Kuin phát triển hơn nữa , tôi xin chọn đề tài “ Phát triển sản xuất hồ tiêu tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk” làm đề tài nghiên cứu.
Luận văn có các mục tiêu nghiên cứu sau:
– Đánh giá thực trạng sản xuất hồ tiêu của các nông hộ trên địa bàn huyện Cư Kuin , tỉnh Đăk Lăk
– Phân tích tình hình tiêu thụ hồ tiêu của các nông hộ trên địa bàn huyện Cư Kuin , tỉnh Đăk Lăk
– Đưa ra các giải pháp nâng cao năng suất và đẩy mạnh tiêu thụ hồ tiêu của các nông hộ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển sản xuất hồ tiêu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Phạm vi không gian : Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk.
– Phạm vi thời gian : Thu thập thong tin và số liệu về tình hình phát triển sản xuất hồ tiêu từ năm 2010-2014.
– Phạm vi nội dung : Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng sản xuất, tình hình tiêu thụ và hiệu quả kinh tế của các nông hộ trồng tiêu có diện tích từ 0,05 ha trở lên và đã đi vào kinh doanh ổn định tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk. Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và tiêu thụ hồ tiêu, từ đó đưa ra các giải pháp giúp nông dân sản xuất và tiêu thụ hồ tiêu hiệu quả hơn.
– Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó
– Tìm thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
– Phương pháp phân tích tổng hợp
– Phương pháp phân tích so sánh
– Phương pháp phân tích thống kê
– Và các phương pháp khác
Luận văn chia thành 3 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HỒ TIÊU.
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HỒ TIÊU TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CƯ KUIN TỈNH ĐĂK LĂK.
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HỒ TIÊU TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CƯ KUIN TRONG THỜI GIAN TỚI.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HỒ TIÊU
a. Giới thiệu hồ tiêu
Hồ tiêu còn gọi là cổ nguyệt, hắc cổ nguyệt, bạch cổ nguyệt…là một loại cây leo có hoa thuộc hộ hồ tiêu. Trồng chủ yếu để lấy quả và hạt , thường dùng làm gia vị dưới dạng khô hoặc tươi.
Ở Việt Nam, cây tiêu mọc hoang được tìm thấy từ trước thế kỷ XVI, nhưng đến thế kỷ XVII mới được đưa vào trồng (Chevalier, 1925). Đến cuối thế kỷ XIX, hồ tiêu được trồng với diện tích tương đối khá ở Phú Quốc, Hòn Chồng và Hà Tiên (Kiên Giang), chủ yếu do người Hoa gốc ở đảo Hải Nam di cư vào lập nghiệp tại Hà Tiên. Cũng trong khoảng thời gian này và đầu thế kỷ XX, cây tiêu theo chân các chủ đồn điền người Pháp phát triển lên Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quảng Trị và Quảng Nam; cây tiêu chỉ mới được phát triển nhiều ở Tây Nguyên sau năm 1975.
b. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của hồ tiêu
Chu kỳ kinh tế của hồ tiêu kéo dài khoảng 20 năm, trải qua hai thời kỳ. Thời kỳ kiến thiết cơ bản 2 năm, đòi hỏi phải có vốn đầu tư tương đối lớn. Chất lượng đầu tư thời kỳ này quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của hồ tiêu trong thời kỳ kinh doanh sau này nói riêng và cả chu kỳ kinh tế của hồ tiêu nói chung.
Hồ tiêu đòi hỏi qui trình kỹ thuật cao từ trồng, chăm sóc, khai thác sản xuất bảo quản và chế biến để đáp ứng yêu cầu của công nghiệp về mặt chất lượng. Tất cả các khâu này đều đòi hỏi được đầu tư khá lớn cả về kỹ thuật, công nghệ và lao động có trình độ cao. hồ tiêu đòi hỏi trình độ thâm canh cao, đầu tư lao động sống và lao động có chất lượng.
Phát triển sản xuất hồ tiêu là một tổng thể các biện pháp nhằm tăng sản phẩm của hồ tiêu để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường trên cơ sở khai thác các nguồn lực trong nông nghiệp một cách hợp lý và từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất.
Phát triển sản xuất hồ tiêu bao gồm hai khía cạnh: phát triển theo chiều rộng và phát triển sản xuất theo chiều sâu.
– Góp phần phát triển đời sống xã hội
– Khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai, khí hậu
– Thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác
– Góp phần bảo vệ môi trường và an ninh quốc phòng.
Phát triển sản xuất hồ tiêu không chỉ là sự gia tăng về diện tích mà còn bao hàm cả sự gia tăng về năng suất và sản lượng của hồ tiêu. Sự gia tăng về sản lượng phản ánh năng lực sản xuất hồ tiêu của một địa phương hay sự gia tăng của quy mô sản xuất thông sự gia tăng của không gian sản xuất , nguồn lực huy động và năng suất hồ tiêu.
Phát triển về sản lượng trong sản xuất hồ tiêu là việc gia tăng khối lượng sản phẩm hồ tiêu sản xuất, gia tăng tổng giá trị sản xuất hồ tiêu , lượng hàng hóa hồ tiêu …thể hiện thông qua sự gia tăng các yếu tố đầu vào như đất đai, số lượng và trình độ lao động, vốn đầu tư.
Năng suất hồ tiêu phản ánh mức sản lượng của nó trên mỗi đơn vị diện tích gieo trồng và chịu ảnh hưởng từ nhiều nhân tố như chất lượng giống, đất , thời tiết , kỹ thuật canh tác chăm sóc, thu hoạch, sơ chế và bảo quản.
Các chỉ tiêu đánh giá :
– Diện tích trồng hồ tiêu và sự gia tăng về diện tích.
– Số lượng và trình độ của lao động.
– Vốn đầu tư cho sản xuất hồ tiêu.
– Năng suất đất, cây trồng và lao động.
– Sản lượng cây hồ tiêu.
– Sự gia tăng về sản lượng hồ tiêu hàng hóa.
-Sự gia tăng về tổng giá trị sản xuất.
Trong phát triển sản xuất hồ tiêu cần xem xét số lượng và sự gia tăng số lượng qua các năm, tỷ trọng và hiệu quả hoạt động của các hình thức tổ chức sản xuất cũng như phải lựa chọn, hoàn thiện các hình thức tổ chức tiến bộ . Bên cạnh đó quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức sản xuất sẽ bảo đảm cho nguồn lực được phân bổ và sử dụng trong sản xuất nông nghiệp một cách có hiệu quả và kết quả là năng suất nông nghiệp tăng lên, sản lượng nông nghiệp do đó mà tăng lên. Các hình thức tổ chức sản xuất trong sản xuất hồ tiêu hiện nay bao gồm : hộ sản xuất hồ tiêu , trang trại hồ tiêu, công ty , nông trường hồ tiêu .
Thâm canh tức là cách đầu tư thêm về phân bón, phương pháp, khoa học kĩ thuật vào nông nghiệp để tăng năng suất trên “một diện tích” trồng trọt. Và hiện nay thâm canh trong sản xuất hồ tiêu là tất yếu khách quan khi đất đai nông nghiệp ngày càng thu hẹp, nhu cầu nông nghiệp ngày càng tăng, khoa học công nghệ ngày càng phát triển nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp như: Thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, hoá học hoá, điện khí hoá, tự động hoá, sinh học hoá.
Các chỉ tiêu đánh giá:
– Cơ cấu giống hồ tiêu qua các năm.
– Cơ cấu diện tích đất trồng các loại hồ tiêu qua các năm.
– Mức và tỉ lệ tăng diện tích giống mới trong sản xuất.
– Năng suất cây trồng, lao động và sản phẩm gia súc.
– Giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích.
– Tổng số vốn cố định trên đơn vị diện tích.
– Giá trị công cụ máy móc trên đơn vị diện tích.
– Giá trị sản phẩm hàng hóa sản xuất ra trên đơn vị diện tích và một lao động.
– Tỷ lệ diện tích được tưới tiêu, điện khí hóa, tự động hóa, sử dụng phân phế phẩm sinh học…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm hồ tiêu là mở rộng quy mô khách hàng cũng như sản lượng và giá trị sản phẩm của hồ tiêu trên thị trường. Điều này đòi hỏi các sản phẩm hồ tiêu phải đa dạng hóa; đưa tiêu vào thực phẩm chế biến thay vì xuất tiêu nguyên liệu; chất lượng về mặt vệ sinh và an toàn thực phẩm xuyên suốt từ nông hộ đến khâu xuất khẩu, tới tay người tiêu dùng; giá cả cạnh tranh; hình thành một hệ thống kênh thu mua và phân phối sản phẩm được tổ chức tốt có hiệu quả đi liền với công tác marketing tốt. Cải thiện tiếp cận thị trường , xây dựng và quảng bá thương hiệu hồ tiêu.
Các chỉ tiêu đánh giá
– Số lượng các nhà phân phối tham gia.
– Doanh thu và mức tăng doanh thu của sản phẩm hồ tiêu.
– Thị phần và mức tăng thị phần của sản phẩm hồ tiêu trên thị trường.
Hiệu quả sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất hộ trồng tiêu nói riêng sẽ quyết định khả năng tăng thu nhập cho người sản xuất. Nếu sản xuất hồ tiêu có hiệu quả không chỉ tăng thu nhập mà quan trọng hơn người sản xuất có được tích lũy để tái sản xuất mở rộng, mới có khả năng để đầu tư thâm canh mạnh hơn. Phát triển sản xuất hồ tiêu cần phải tuân theo nguyên tắc phát triển bền vững,đảm bảo cả hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó phát triển sản xuất hồ tiêu phải theo hướng sản xuất hàng hóa: sản xuất hàng hóa đối với hồ tiêu không có nghĩa là tạo ra với khối lượng lớn mà cần căn cứ vào nhu cầu của người tiêu dùng để ra các quyết định sản xuất, mở rộng diện tích, thay đổi cơ cấu cây trồng dựa trên cơ sở phát huy những tiềm năng về đất đai, lao động, điều kiện tự nhiên, thị trường của từng vùng.
Các chỉ tiêu đánh giá:
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất hồ tiêu : Hiệu quả được phản ánh bằng việc so sánh giữa kết quả đầu ra với chi phí đầu vào. Trong sản xuất hồ tiêu , thường sử dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá hiệu quả:
– Giá trị sản xuất (GO)/ đơn vị diện tích.
– Giá trị sản xuất /chi phí trung gian (GO/IC).
– Giá trị gia tăng (VA)/ đơn vị diện tích.
– Giá trị gia tăng/ chi phí trung gian (IC).
– Tỷ suất lợi nhuận/ chi phí.
– Thu nhập/ đơn vị diện tích (vốn).
Các chỉ tiêu phản ánh đóng góp của cây hồ tiêu vào phát triển kinh tế-xã hội của địa phương:
– Góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng.
– Tăng số lao động có việc làm.
– Tăng thu nhập của người trồng hồ tiêu.
Hồ tiêu là cây công nghiệp nhiệt đới dài ngày đòi hỏi những điều kiện tự nhiên tương đối khắt khe. Những hiểu biết chưa đầy đủ về đặc tính sinh lý và yêu cầu sinh thái của từng giống hồ tiêu có thể gây ra những tổn thất lớn và kéo dài về mặt kinh tế . Một số nhân tố điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến việc phát triển sản xuất của hồ tiêu bao gồm : chất lượng, độ dốc của đất; nhiệt độ; độ ẩm; lượng mưa; gió; nguồn nước…
Có rất nhiều nhân tố điều kiện kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến sản xuất hồ tiêu như: Dân tộc, lao động , truyền thống , dân trí .Nhưng đối với chủ thể sản xuất trong luận văn này tác giả xin xét tới các nhân tố ảnh hưởng cơ bản như: nguồn nhân lực, trình độ kỹ thuật người sản xuất , trang thiết bị, mô hình tổ chức , khả năng về vốn …
Tình hình thị trường xuất khẩu ảnh hưởng mạnh tới tình hình sản xuất cũng như sự phát triển của cây công nghiệp lâu năm này Hiện tại, tiêu của Việt Nam đã có mặt tại hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam chiếm khoảng 30% sản lượng tiêu trên toàn thế giới và chiếm khoảng 50% khối lượng tiêu xuất khẩu trên thế giới.
Với sản lượng xuất khẩu của Việt Nam hơn 1/3 của thế giới thì tình hình thị trường thế giới một mặt chịu ảnh hưởng từ lượng cung hồ tiêu từ Việt Nam và mặt khác tình hình thế giới cũng ảnh hưởng tình hình sản xuất trong nước.
Xu thế nhu cầu sản phẩm hồ tiêu cũng ảnh hưởng tới tình hình sản xuất cây công nghiệp này. Những tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp sạch, chất lượng qua chế biến… của thị trường thế giới đòi hỏi người sản xuất hồ tiêu ở Việt Nam sẽ phải có những điều chỉnh theo cho phù hợp. Họ phải thay đổi tập quán canh tác, chú trọng hơn tới quy trình sản xuất sạch và bảo vệ môi trường từ sản xuất, thu hoạch và chế biến…. chẳng hạn thu hoạch khi quả đã chín chứ không phải cả xanh và chín như trước đây.
Các chính sách phát triển ở đây bao gồm quy hoạch phát triển sản xuất hồ tiêu của địa phương, chính sách đất đai, chính sách ưu đãi kinh doanh, hỗ trợ phát triển thương hiệu… Chính chúng là những chất kết dính và dẫn xuất sử dụng các nguồn lực cho các hoạt động sản xuất hồ tiêu qua đó thúc đẩy sự phát triển cây trồng này.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HỒ TIÊU TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CƯ KUIN TỈNH DAK LAK
Diện tích tự nhiên của huyện lớn là đất đỏ bazal, ngoài ra còn có đất xám, đất gley và đất phù sa. Độ cao trung bình nằm trong khoảng 450 m đến 500 mét so mặt nước biển. Độ dốc trung bình từ 80 đến 150 đây là dạng địa hình thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày.
Vùng Cư Kuin mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, nền nhiệt tương đối cao so với các khu vực khác trong tỉnh: Tổng tích nhiệt hoạt động năm (SToC) từ: 8.500-9.0000C, nhiệt độ trung bình năm: 23,0-24,00C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 17,90C. Lượng mưa trung bình hàng năm 1.900mm, là một trong các tiểu vùng có lượng mưa trung bình hàng năm tương đối cao của tỉnh (đứng sau Mđrắc và Lăk), phân bố mùa theo thời gian: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Mùa mưa thường xuất hiện gió mùa Tây Nam, khí hậu ôn hào dịu mát, lượng bốc hơi và nền nhiệt thấp và khi đó cán cân ẩm rất cao. Lượng mưa lớn và tập trung gây ngập úng đối với cây hồ tiêu và xảy ra quá trình xói mòn, rửa trôi đất rất mạnh, lôi cuốn sét mùn từ nơi cao xuống nơi thấp dẫn đến tình trạng thoái hoá và biến chất đất. Đồng thời tạo điều kiện thích hợp cho các chủng loại nấm có hại đối với cây trồng phát triển.
Tóm lại huyện Cư Kuin nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, có điều kiện đất đai phong phú với độ phì nhiêu tương đối khá, phù hợp cho sự sinh trưởng phát triển của nhiều loại cây trồng nhiệt đới, trong đó có cây hồ tiêu.
Huyện Cư Kuin được thành lập theo Nghị định 137/2007/NĐ-CP ngày 27/8/2007 của Chính phủ trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Krông Ana. Với tổng diện tích tự nhiên 288,3 km2 trong đó quỹ đất hiện sử dụng trong sản xuất nông nghiệp là 24.122,7 ha; Tính đến 31/12/2013: Dân số trên địa bàn huyện Cư Kuin là 103.176 người với 23.154 hộ, mật độ dân số 357,9 người/km2, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 32.225 nhân khẩu chiếm 31,23% dân số toàn huyện;
Huyện Cư kuin hiện có 113 thôn buôn, trong đó 86 thôn và 27 buôn. Người dân huyện Cư Kuin chủ yếu sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp với các cây trồng chủ lực là lúa nước, cà phê, hồ tiêu. Huyện Cư Kuin được thành lập đời sống người dân có nhiều khởi sắc, kinh tế xã hội phát triển, song vẫn còn một số hộ dân gặp nhiều khó khăn, nhất là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chổ. Nhìn chung trình độ canh tác của người dân những năm qua đã có những tiến bộ rõ nét, khả năng tiếp cận và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất của bà con được cải thiện và mang lại nhiều hiệu quả
Phát triển sản xuất hồ tiêu tại huyện Cư Kuin tỉnh Đăk Lăk Phát triển sản xuất hồ tiêu tại huyện Cư Kuin tỉnh Đăk Lăk
F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2015\LUAN VAN DAK LAK\LUAN VAN (Vo Thi Bich Tram)


