Phát triển sản phẩm du lịch tại Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Đà Nẵng, với bờ biển dài 60km, chạy dọc từ chân chân đèo Hải Vân đến điểm danh lam thắng cảnh nổi tiếng Ngũ Hành Sơn, tạo thành một đường vòng cung bao quanh thành phố bởi các bãi biển đẹp như: bãi biển Làng Vân, bãi biển Xuân Thiều – Nam Ô, bãi biển quanh bán đảo Sơn Trà, Mỹ Khê, Bắc Mỹ An, Non Nước… Bãi cát trắng, mịn sạch, nguyên sơ, môi trường cảnh quan đẹp lại nằm gần trung tâm thành phố, giao thông đi lại tiện lợi là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng biển, giải trí biển. Chính điều này đã làm cho biển Đà Nẵng được tạp chí Forbes bình chọn là một trong sáu bãi biển đẹp nhất thế giới, có thể nói đây là một lợi thế đối với du lịch Đà Nẵng.
Cùng với đó, các sản phẩm du lịch ra đời có sức hấp dẫn du khách như Khu sinh thái Bán đảo Sơn Trà, điểm du lịch văn hóa tâm linh chùa Linh Ứng, Bà Nà Hill với 2 kỷ lục thế giới cùng các khu vui chơi giải trí hiện đại, khu giải trí quốc tế Crowne Plaza. Các sản phẩm mỹ nghệ hàng lưu niệm chế tác tại làng nghề truyền thống đá Non Nước cùng với những sự kiện đặc sắc như trình diễn pháo hoa quốc tế, Lễ hội Quán Thế Âm, Đà Nẵng – Điểm hẹn mùa hè, đã thực sự hấp dẫn du khách. Do vậy, số lượng du khách trong và ngoài nước đến với Đà Nẵng ngày một tăng.
Bên cạnh đó, sự ra đời hàng loạt của các cơ sở lưu trú đã tạo nên áp lực cạnh tranh rất lớn giữa các doanh nghiệp dịch vụ. Điều này làm cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú không ngừng mở rộng, phát triển các sản phẩm dịch vụ, quảng cáo các sản phẩm để nâng cao vị thế, tăng khả năng cạnh tranh. Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty cổ phần Vinpearl đã tương đối thành công trong việc xây dựng và quảng bá hình ảnh của mình đến du khách trong và ngoài nước. Việc xây dựng đã khó, việc giữ gìn và phát triển hình ảnh càng khó hơn. Vì vậy, việc không ngừng cải tiến các sản phẩm du lịch nhằm giữ vững và nâng cao hình ảnh, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong mắt du khách là điều cần thiết để nâng cao vị thế của công ty. Với vấn đề trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “ Phát triển sản phẩm du lịch tại Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp.
- Phát triển các sản phẩm du lịch tại Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty cổ phần Vinpearl. Nhiệm vụ nghiên cứu gồm
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến các sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sản phẩm du lịch
- Đánh giá thực trạng việc phát triển các sản phẩm du lịch của Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl trong thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản phẩm du lịch tại Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl trong thời gian tới đạt được các mục tiêu cải thiện hình ảnh, nâng cao vị thế công ty, là điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước, nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch, phát triển sản xuất – kinh doanh, phát triển một cách bền vững
- Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển sản phẩm du lịch tại Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl
- Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu việc phát triển sản phẩm du lịch tại Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl
- Về thời gian: Số liệu được lấy trong giai đoạn từ 2017 – 2019
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn, sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, tiếp cận vấn đề theo phương pháp thực chứng. Trên cơ sở đó, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận, khảo sát thực tế để có giải pháp hoàn thiện phù hợp
- Sử dụng Phương pháp so sánh, Phương pháp tỷ lệ: để so sánh sự tăng, giảm và đánh giá cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế, nội địa
- Phương pháp phân tích: Đánh giá mức độ khách đến, mức độ phát triển của du lịch Việt Nam so với các nước
- Phương pháp mô hình: Mô hình hóa các sản phẩm du lịch đặc trưng
- Góp phần làm phong phú thêm các loại sản phẩm du lịch tại Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl, đồng thời cải thiện hình ảnh ,nâng cao năng lực cạnh tranh và nâng tầm vị thế của Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl trong thị trường du lịch.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về sản phẩm du lịch và phát triển sản phẩm du lịch
Chương 2: Thực trạng sản phẩm du lịch tại Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl
Chương 3: Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch tại Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl

CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH
1.1. Khái quát về sản phẩm du lịch
1.1.1. Khái niệm sản phẩm du lịch
- Theo khoản 5 điều 3 Luật Du lịch Việt Nam 2017 [15]: Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch.
- Theo Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO): Sản phẩm du lịch là sự tổng hợp của 3 nhóm nhân tố cấu thành: (1) Tài nguyên du lịch, (2) Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và (3) Hệ thống dịch vụ, quản lý điều hành.
- Theo Micheal M. Coltman [7]: Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình. Sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thể như thức ăn hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ
- Theo quan điểm kinh tế hiện đại: Sản phẩm du lịch bao gồm cả sản phẩm du lịch hữu hình và vô hình phục vụ cho nhu cầu của con người trong chuyến du lịch. Do đó, sản phẩm du lịch rất phong phú, luôn biến đổi theo nhu cầu của khách du lịch và sự phát triển của nền kinh tế tại mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ
Sản phẩm du lịch tạo nên sự khác biệt trong phát triển du lịch, tạo nên thương hiệu và hình ảnh của mỗi điểm đến du lịch, của mỗi địa phương, mỗi vùng và mỗi quốc gia. Sản phẩm du lịch được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa các giá trị tài nguyên du lịch, các điều kiện về cơ sở hạ tầng xã hội, hệ thống các dịch vụ và khả năng đáp ứng của các cơ sở du lịch. Sản phẩm du lịch là sự hòa trộn mang tính quy luật của giá trị tự nhiên và nhân văn, các giá trị vật thể và phi vật thể chứa đựng trong không gian của một điểm đến. Sản phẩm du lịch sẽ đem lại cho du khách những ấn tượng và cảm xúc đặc trung nhất về một điểm đến.
Điều chung nhất mà sản phẩm du lịch mang lại cho khách là sự hài lòng về việc được trải qua một khoảng thời gian thú vị tại một nơi mình mong muốn, kết thúc chuyến đi, điều trải qua sẽ tồn tại trong ký ức của du khách (cũng vì vậy, người ta thường nói bán sản phẩm du lịch là bán giấc mơ cho du khách). Như vậy: “Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một trải nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng”.
1.1.2. Các đặc điểm của sản phẩm du lịch
1.1.2.1. Những đặc điểm từ tính chất dịch vụ của sản phẩm du lịch
Theo Chris Cooper (2008) [11], “mặc dù sản phẩm du lịch được hình thành từ tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng cũng như các nguồn lực vật chất khác, nhưng cái mà khách du lịch mua là những trải nghiệm được tạo ra từ cơ sở hạ tầng và các yếu tố nguồn lực chứ không phải bản thân chúng” . Đặc điểm dịch vụ của sản phẩm du lịch thể hiện rõ nhất ở chỗ sản phẩm du lịch, cũng như dịch vụ nói chung, không thể được sản xuất mà không có sự thỏa thuận và hợp tác của người tiêu dùng. Chúng là những sản phẩm dựa trên sự trải nghiệm (an experience-based product) và chúng ta phải xem xét nó trong sự không thể tách rời giữa quá trình sản xuất và quá trình tiêu dùng.
Là một loại dịch vụ, sản phẩm du lịch có những đặc điểm sau:
- Sản phẩm du lịch có tính phi vật thể
Trải nghiệm du lịch mà khách du lịch nhận được là phi vật thể. Trong cấu trúc sản phẩm du lịch, các dịch vụ tham quan, giải trí, vận chuyển cho đến lưu trú, ăn uống về cơ bản là chuỗi các hành động, chúng có tính không thể sờ mó được (intagible).
- Chất lượng dịch vụ khó đồng nhất
Sự vận hành của máy móc là không đổi dẫn đến chất lượng sản phẩm vật chất khá đồng nhất. Nhưng trong dịch vụ, chất lượng dịch vụ phụ thuộc nhiều vào yếu tố con người, bao gồm cả kỹ năng và thái độ phục vụ của nhân viên lẫn kinh nghiệm sử dụng dịch vụ và sự hợp tác của khách hàng. Khó có thể đòi hỏi thao tác của nhân viên luôn luôn có độ chuẩn mực chính xác. Đã vậy, thái độ phục vụ của nhân viên bị chi phối bởi các yếu tố bất định như tình trạng tâm lý, tình cảm, sức khỏe… của họ và thái độ của khách hàng. Đặc điểm này dẫn đến những khó khăn trong quản lý chất lượng dịch vụ. Để quản lý chất lượng tốt, giải pháp thường được sử dụng là xây dựng các chuẩn mực chất lượng cụ thể cho từng hoạt động phục vụ trên cơ sở xây dựng quy trình phục vụ hết sức chi tiết.
- Khách hàng khó có đánh giá chất lượng dịch vụ một cách có tính phân tích mà chỉ có một cảm nhận chung về chất lượng và thường là khá mơ hồ
Khi được hỏi về chất lượng của một sản phẩm vật chất, một chiếc xe gắn máy chẳng hạn, khách hàng dễ dàng chỉ ra những mặt được và chưa được của sản phẩm. Trong dịch vụ, tuy có thể đánh giá chất lượng chung của dịch vụ, chẳng hạn khách hàng có thể đánh giá rằng nhà hàng A là sang, nhưng họ thường sẽ lúng túng khi được hỏi nhà hàng A sang ở những chỗ nào. Vì cảm nhận chất lượng dịch vụ là cảm giác chung nên trong chuỗi hành động tạo nên dịch vụ, chỉ cần một vài hành động không đạt yêu cầu, khách hàng sẽ đánh giá kém về chất lượng của toàn bộ dịch vụ. Xác định các điểm nhạy cảm, quản lý chặt chất lượng ở những điểm này là cần thiết.
- Do tính phi vật thể, chúng ta khó bảo vệ bản quyền
Một chương trình du lịch mới, hay quy trình phục vụ độc đáo dễ bị sao chép vì chúng ta không thể gắn thương hiệu lên những sản phẩm này. Từ đó, người tiêu dùng tin tưởng vào thương hiệu của Công ty hơn là thương hiệu của sản phẩm. Tên của một chương trình du lịch cụ thể ít ý nghĩa hơn tên công ty cung cấp chương trình đó. Xây dựng thương hiệu chung của Công ty, thường xuyên đổi mới sản phẩm là yêu cầu của kinh doanh du lịch. Ngoài ra, vì đặc điểm này, chúng ta cần chú trọng các bằng chứng vật chất và vật thể hóa các thông tin quảng bá…
- Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra cùng lúc, cùng nơi
Do tính phi vật thể, dịch vụ khó có thể thể vận chuyển, đặc biệt là sản phẩm du lịch, các sản phẩm du lịch gắn liền với tài nguyên du lịch, khách du lịch phải đến nơi cung ứng để thụ hưởng. Mặt khác, chỉ với sự có mặt và yêu cầu tiêu dùng dịch vụ của khách quá trình cung ứng dịch vụ mới được khởi động.
- Sản phẩm dịch vụ không thể lưu kho được, sản phẩm không được tiêu thụ là sản phẩm bị mất hoàn toàn.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với những ngành mà tỷ trọng chi phí cố định lớn như ngành khách sạn, nhà hàng, giải trí, vận chuyển hàng không…Điều này dẫn đến yêu cầu khai thác công suất thiết kế là yêu cầu sống còn của doanh nghiệp du lịch.
Do không có kho để điều tiết lượng sản phẩm đưa ra thị trường, trong kinh doanh dịch vụ, vấn đề đăng ký giữ chỗ là cực kỳ quan trọng. Nó được coi là sự dự trữ lượng cầu, bảo đảm sự điều chuyển cầu tương thích với lượng cung cố định.
Đối với sản phẩm vật chất, chúng ta có thể kiểm tra chất lượng sản phẩm sau khi sản xuất, trước khi bán cho khách hàng tiêu dùng. Trong dịch vụ, chúng ta không thể đánh giá chất lượng sản phẩm trước khi nó được tiêu dùng. Quản lý chất lượng toàn bộ quá trình là cần thiết trong kinh doanh du lịch.
- Sự tham gia của khách hàng trong quá trình tạo ra và đánh giá chất lượng dịch vụ
Do không vận chuyển được, khách hàng phải có mặt trong nơi sản xuất dịch vụ, không những thế, họ còn tham gia vào quá trình tạo ra dịch vụ. Vì vậy, chất lượng dịch vụ còn phụ thuộc vào kinh nghiệm, trình độ và sự hợp tác của khách hàng. Nhưng rủi thay, kinh nghiệm, trình độ và sự hợp tác của khách hàng là những biến số mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được. Sự tham gia của khách hàng khiến việc quản lý sự tham gia của khách hàng và tổ chức luồng khách hàng là một nội dung quan trọng trong quản trị cung ứng dịch vụ; Nhân viên tiếp xúc trực tiếp với khách hàng có vai trò to lớn trong cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ;
1.1.2.2. Những đặc điểm riêng của sản phẩm du lịch
Bên cạnh những đặc điểm xuất phát từ bản chất dịch vụ, sản phẩm du lịch có những đặc điểm riêng có của nó như sau:
- Sản phẩm du lịch thỏa mãn những nhu cầu đặc biệt và thứ yếu của con người
Sản phẩm du lịch thỏa mãn những nhu cầu đặc biệt như nhu cầu hiểu biết kho tàng văn hóa lịch sử, nhu cầu thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên, nhu cầu gặp gỡ người thân,… Đó là những nhu cầu riêng có của con người, nằm ở lớp trên trong Tháp nhu cầu Maslow. Mặc dù trong cấu thành sản phẩm du lịch, có những hàng hóa và dịch vụ thiết yếu thỏa mãn nhu cầu ăn, ở, đi lại…, nhưng mục đích chính của chuyến du lịch là nhằm thỏa mãn những nhu cầu cấp cao. Ngoài ra, sản phẩm du lịch là những trải nghiệm và việc tiêu dùng nó đòi hỏi chi phí thời gian
- Sản phẩm du lịch sử dụng cả những nguồn lực khan hiếm và không khan hiếm
Kinh tế học giải quyết việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khan hiếm. Tuy nhiên, trong du lịch, các tài nguyên du lịch như thắng cảnh, di tích tham quan, khí hậu dễ chịu, lòng hiếu khách của cư dân địa phương… là những nguồn lực không khan hiếm hoặc ít khan hiếm. Việc tiêu dùng của du khách này không hoặc ít ảnh hưởng đến sự tiêu dùng của du khách khác. Từ đó,
- Nhiều lợi ích tại điểm đến được khách du lịch hưởng thụ miễn phí. Ở những nơi có bán vé tham quan thì việc định giá không theo các quy luật kinh tế thông thường, nó có thể chỉ được sử dụng để hạn chế lượng khách, để hỗ trợ cho kinh phí hoạt động và bảo tồn,…
- Do là nguồn lực không hoặc ít khan hiếm nên có thể bị sử dụng quá mức dẫn đến tình trạng xói mòn nguồn lực, ảnh hưởng đến sự khai thác lâu dài. Phát triển du lịch bền vững là vấn đề phải luôn được đặt ra trong chiến lược phát triển của các điểm đến
- Sản phẩm du lịch được tiêu dùng chủ yếu ở địa điểm ngoài nơi cư trú thường xuyên của khách du lịch
Đặc thù này cần xem xét trên hai khía cạnh. Thứ nhất, nơi cư trú và nơi đến của du khách thường xa nhau về không gian, khác biệt về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội. Tùy đặc điểm tâm lý của khách, hướng ngoại hay hướng nội, mà sự khác biệt nói trên là thu hút hay cản trở du lịch. Ngoài ra, chi phí tài chính, chi phí thời gian và hao tổn sức khỏe để đi từ vùng gửi khách đến vùng nhận khách là những biến số âm tính ảnh hưởng đến dòng khách. Thứ hai, do dịch vụ du lịch gắn liền với sự tương tác giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất trong suốt quá trình tiêu dùng dịch vụ du lịch nên bản chất di động của du lịch đòi hỏi phải xem xét tiến trình tiêu dùng và vì vậy cả tiến trình sản xuất theo thời gian và không gian. Tại mỗi nơi, mỗi lúc, chúng ta xem xét việc làm thế nào các yếu tố khác nhau của tiêu thụ và sản xuất đến với nhau tạo ra những trải nghiệm khác nhau và do đó kết quả khác nhau cho người tiêu dùng và nhà sản xuất.
- Việc cung ứng sản phẩm du lịch liên quan đến nhiều đơn vị thuộc nhiều ngành khác nhau và diễn ra trên địa bàn rất rộng
Do việc tiêu thụ sản phẩm diễn ra ngoài ngôi nhà của họ cho nên trong quá trình thực hiện chuyến đi để thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, họ cần có những sản phẩm, dịch vụ khác nhau thỏa mãn những nhu cầu hết sức đa dạng trong cuộc sống thường ngày của khách du lịch. Vì vậy, trong sản phẩm du lịch có các hàng hóa, dịch vụ của các ngành có các đặc điểm kinh tế, kỹ thuật rất khác nhau: ngành giao thông vận chuyển hành khách, lưu trú, ăn uống, văn hóa, thể thao, giải trí, ngành tiểu thủ công mỹ nghệ,… Việc đi lại của du khách gắn liền với yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, sinh hoạt hàng ngày của du khách trong chuyến đi gắn liền với yêu cầu phát triển hệ thống thông tin liên lạc, an ninh và y tế. Đối với khách du lịch quốc tế, việc đi lại xuyên quốc gia còn đòi hỏi sự phát triển và phối hợp của ngành hải quan, xuất nhập cảnh,… Hơn nữa, hành trình du lịch nối liền các điểm tham quan, giải trí kéo dài qua các địa phương khác nhau đòi hỏi sự phối hợp, liên kết các hoạt động trên giữa các quốc gia, tỉnh, huyện khác nhau. Từ đó, để phát triển du lịch, cần có một sự phối hợp giữa các tổ chức, doanh nghiệp vượt ra khỏi giới hạn của ngành du lịch; và bộ máy quản lý nhà nước vốn thường được tổ chức theo ngành và địa giới hành chính khó đảm đương được việc tổ chức, quản lý quá trình phát triển du lịch của hệ thống tuyến điểm du lịch. Vì vậy, một mô hình quản lý đặc thù, cluster chẳng hạn (trong du lịch là DMO: Destination Management Organisation), được một số nơi áp dụng thông qua việc hình thành một Hội đồng mà thành viên sẽ bao gồm đại diện chính quyền một số địa phương, đại diện cơ quan quản lý nhà nước các ngành có liên quan, các doanh nghiệp du lịch và các tổ chức tư vấn du lịch và đại diện các cộng đồng cư dân các địa phương.
- Việc kinh doanh sản phẩm du lịch có tính thời vụ
Trong du lịch, lượng cầu biến động có tính chu kỳ theo mùa vụ. Trong khi đó, lượng cung khá ổn định trong thời gian tương đối dài. Điều đó dẫn đến có lúc cung không đáp ứng được cầu du lịch, có lúc cầu du lịch quá thấp so với khả năng cung ứng của nguồn cung. Hiện tượng này gọi là tính thời vụ trong kinh doanh du lịch. Hiện tượng này làm cho du lịch giữ một khối lượng lớn các nguồn lực xã hội nhưng không khai thác đầy đủ. Tính thời vụ càng căng thẳng, hiệu quả kinh doanh du lịch càng thấp. Từ đó, thực hiện các giải pháp hạn chế tính thời vụ luôn là sự quan tâm của các nhà quản lý vùng du lịch và doanh nghiệp du lịch.
1.1.3. Phân loại các sản phẩm du lịch
Bản chất của tài nguyên du lịch là một yếu tố quyết định loại hình sản phẩm du lịch. Tuy nhiên ngoài tài nguyên du lịch, còn có những yếu tố khác nữa có thể làm căn cứ để phân loại tài nguyên. Do vậy mà tùy cách tiếp cận khác nhau, có thể có những cách phân loại sản phẩm du lịch khác nhau.
1.1.3.1 Căn cứ vào mục đích chuyến đi
Mục đích chuyến đi là động lực thúc đẩy hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch của con người. Có 10 loại hình du lịch phổ biến theo cách phân chia này:
- Du lịch thiên nhiên: Loại hình này hấp dẫn những người thích tận hưởng bầu không khí ngoài trời, thích thưởng thức những phong cảnh đẹp và đời sống thực vật hoang dã. Những người đi du lịch trong nhóm này muốn tìm đến vẻ đẹp và đời sống hoang sơ của Vườn Quốc gia Cúc Phương, phong cảnh hung vĩ nhưng tĩnh lặng của Ngũ Hành Sơn
- Du lịch văn hóa: Hấp dẫn những người mà đối với họ sự tiếp xúc, giao lưu với những người khác là quan trọng nhất. Đối với một số người khi được đồng hành với các thành viên của một nhóm xã hội trong các tour du lịch cũng làm họ thõa mãn, hài lòng. Một số người khác tìm kiếm cơ hội được hòa nhập với cư dân bản xứ ở điểm đến. Thăm gia đình cũng có thể được bao hàm trong loại này.
- Du lịch hoạt động: Loại hình du lịch này thu hút khách bằng một hoạt động xác định trước và thách thức phải hoàn thành trong chuyến đi, trong kỳ nghỉ của họ. Một số du khách muốn thực hành và hoàn thiện vốn ngoại ngữ của mình khi đi du lịch nước ngoài. Một số người khác muốn thám hiểm, khám phá cấu tạo địa chất của một khu vực nhất định.
- Du lịch giải trí: Loại hình này nảy sinh từ nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn để phục hồi thể lực và tinh thần cho con người. Loại hình du lịch này thu hút những người mà lý do chủ yếu của họ đối với chuyến đi là sự hưởng thụ và tận hưởng kỳ nghỉ. Họ thường đến những bờ biển đẹp, tắm dưới ánh nắng mặt trời, tham gia vào các hoạt động như cắm trại, các trò chơi có tổ chức và học các kỹ năng mới.
- Du lịch thể thao: Thu hút những người ham mê thể thao để nâng cao thể chất, sức khỏe. Tham gia chơi các môn thể thao như quần vợt, đánh gôn, bóng chuyền bãi biển, lướt són, trượt tuyết, đi xe đạp đường trường…là những ví dụ cho các hoạt động phù hợp với loại hình du lịch này.
- Du lịch chuyên đề: Loại hình du lịch này liên quan đến một nhóm nhỏ, ít người đi du lịch với cùng mục đích chung hoặc mối quan tâm đặc biệt nào đó chỉ đối với riêng họ. Ví dụ như: những người kinh doanh xe ô tô đến thăm một nhà máy sản xuất ở nước ngoài hoặc một nhóm sinh viên đi một tour thực tập, nghiên cứu.
- Du lịch tôn giáo: Nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo các đạo phái khác nhau.Nó bộc lộ trong các cuộc hành hương đến những nơi có ý nghĩa tâm linh hay những địa điểm tôn giáo được tôn kính. Đây là loại hình du lịch lâu đời nhất và vẫn còn phổ biến đến ngay nay.
1.1.3.2 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
Có thể phân chia thành các loại hình du lịch sau:
- Du lịch quốc tế: liên quan đến các chuyến đi vượt qua khỏi phạm vi lãnh thổ( biên giới) quốc gia của khách du lịch. Chính vì vậy, du khách thường gặp phải ba cản trở chính trong chuyến đi đó là: ngôn ngữ, tiền tệ, và thủ tục đi lại. Cùng với dòng du khách, hình thức du lịch này tạo ra dòng chảy ngoại tệ giữa các quốc gia và do đó ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc gia. Loại hình du lịch này được chia thành 2 loại nhỏ
- Du lịch quốc tế đến: là chuyến viếng thăm của những người từ quốc gia khác
- Du lịch ra nước ngoài: là chuyến đi của cư dân trong nước đến một nước khác
- Du lịch trong nước: là chuyến đi của những cư dân chỉ trong phạm vi quốc gia của họ
- Du lịch nội địa: bao gồm du lịch trong nước và du lịch quốc tế đến
- Du lịch quốc gia: bao gồm du lịch nội địa và du lịch ra nước ngoài
1.1.3.3 Căn cứ vào sự tương tác của du khách với điểm đến du lịch
- Du lịch thám hiểm: Bao gồm các nhà nghiên cứu, học giả, người leo núi và những nhà thám hiểm đi theo các nhóm với số lượng nhỏ. Họ sử dụng đồ dùng cá nhân, thức ăn chuẩn bị trước và hầu như không tiêu thụ các sản phẩm,dịch vụ du lịch. Chính vì vậy, loại hình du lịch này ảnh hưởng không đáng kể tới kinh tế, văn hóa-xã hội và môi trường của điểm đến.
- Du lịch thượng lưu: Chuyến đi của tần lớp thượng lưu đến những nơi độc đáo để giải trí và tìm kiếm sự mới lạ. Bên cạnh việc sử dụng các tiện nghi giành cho khách du lịch thì họ cũng dễ dàng thích nghi với các điều kiện địa phương. Số lượng khách của nhóm này tương đối ít, có nhu cầu về những sản phẩm du lịch chất lượng cao và không đàn hồi theo giá cả. Chuyến du lịch của họ có thể dẫn tới những hoạt động đầu tư sau này có lợi cho diểm đến
- Du lịch khác thường: Khách du lịch thích đến những nơi xa xôi, hoang dã, quan tâm đến những nền văn hóa sơ khai hoặc tìm kiếm những phần bổ sung thêm( không có) trong một tour du lịch tiêu chuẩn. Họ thích nghi tốt và chấp nhận các điều kiện về sản phẩm, dịch vụ du lịch do địa phương cung cấp.
- Du lịch đại chúng tiền khởi: Một dòng khách du lịch ổn định đi theo một nhóm nhỏ hoặc cá nhân đến các nơi an toàn, phổ biến, khí hậu phù hợp. Họ tìm kiếm các tiện nghi và dịch vụ tiêu chuẩn nhưng cũng dễ dàng chấp nhận các điều kiện chưa đảm bảo tiêu chuẩn của địa phương. Đây là sự mở đầ và phát sinh hình thức du lịch đại chúng( đại quy mô) sau này
- Du lịch đại chúng: Một số lượng lớn khách du lịch( thường từ châu Âu hoặc Bắc Mỹ) tạo thành dòng chảy liên tục tràn ngập các khu nghỉ mát nổi tiếng ở châu Âu hoặc hawaii vào các mùa du lịch. Khách du lịch thường thuộc tầng lớp trung lưu và họ mong muốn các tiện nghi đạt tiêu chuẩn, nhân viên phục vụ được đào tạo và hướng dẫn viên du lịch biết nhiều ngoại ngữ.
- Du lịch thuê bao: Đây là loại hình dub lịch phát triển rộng rãi, thị trương phát triển đến các tầng lớp có nhu cầu trung bình và thấp nên có dung lượng lớn. Với số lượng lớn, dòng khách ồ ạt, chi tiêu của du khách tạo ra nguồn thu nhập lớn đối với cơ sở kinh doanh và khu vực điểm đến.
1.1.3.4 Một số loại hình du lịch mới trên thế giới
- Du lịch nông thôn: Không đơn giản là tận hưởng những giây phút nghỉ ngơi, thư giãn khi tham gia du lịch nông thôn, du khách còn có cơ hội tìm hiểu những tầng sâu văn hoá sinh hoạt của người dân địa phương, hiểu được quy trình sản xuất để cho ra đời một sản phẩm. Hình thức này vừa góp phần “làm mới” hoạt động du lịch, vừa giúp nông dân nâng cao thu nhập.
Mới lạ, hấp dẫn là cảm nhận chung của nhiều du khách khi lựa chọn các tour (chuyến du lịch) về nông thôn. Ở đây, họ được trực tiếp tham gia vào những công việc rất giản dị như lội ruộng, tát cá, trồng rau, chẻ nan, đan cót, tạo dáng cho sản phẩm gốm…; được trải nghiệm để trở thành nông dân, thợ thủ công thực thụ. Với nền văn minh lúa nước, hệ thống làng xã và các thiết chế văn hóa độc đáo, cách làm này đang là hướng mở cho các đơn vị kinh doanh du lịch hiện nay.
Năm hình thức du lịch nông thôn là:
- Du lịch tự nhiên, mang tính giải trí
- Du lịch văn hóa, quan tâm tới văn hóa, lịch sử, khảo cổ của địa phương
- Du lịch sinh thái quan tâm tới việc bảo vệ nguồn lợi tự nhiên cũng như phúc lợi, giá trị văn hóa của người dân địa phương
- Du lịch làng xã, trong đó du khách chia sẻ với cuộc sống làng xã và dân làng được hưởng các lợi ích kinh tế do hoạt động du lịch mang lại
- Du lịch nông nghiệp, trong đó khách du lịch tham quan và tham gia vào các công việc truyền thống nhưng không phá hoại hoặc làm giảm năng suất cây trồng của địa phương
- Du lịch thiền: Bên cạnh các loại hình du lịch khám phá, nghỉ dưỡng… Hiện nay, du lịch thiền ( Zentourism) đang là loại hình được ưa chuộng tại các nước có nhịp độ phát triển đô thị cao. Lập lại cân bằng tâm linh, thư giãn, thân thiện với môi trường là đặc trưng cơ bản của loại hình du lịch này. Nó đang là trào lưu thu hút mọi tầng lớp khách du lịch, dặc biệt là doanh nhân
1.2. Phát triển sản phẩm du lịch
1.2.1. Khái niệm phát triển sản phẩm du lịch
Phát triển sản phẩm du lịch có thể tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau như:
Các yếu tố thu hút và phục vụ khách bao gồm cơ sở hạ tầng (đường xá, điện nước, thông tin liên lạc, các loại phương tiện vận chuyển khách), cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ khách (các cơ sở lưu trú, ăn uống, giải trí, mua sắm…), nhân viên phục vụ và cơ sở vật chất và tiện nghi khác; đặc biệt là vấn đề tiếp thị, quảng cáo và xây dựng hình ảnh cho điểm đến.
Theo một hướng tiếp cận khác, phát triển sản phẩm du lịch bao gồm phát triển những điểm tham quan, các hoạt động và các dịch vụ đa dạng phục vụ khách.
Trong hai cách tiếp cận trên, cách thứ nhất đóng một vai trò quyết định đến việc phát triển sản phẩm du lịch tại các điểm đến du lịch.
Mặt khác, phát triển sản phẩm du lịch của một điểm đến không chỉ phục vụ cho khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa mà cả đáp ứng nhu cầu của cộng đồng dân cư xung quanh.
Phát triển sản phẩm du lịch là một quá trình mà trong đó các giá trị của một địa điểm cụ thể được sử dụng tối đa để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong nước, khách du lịch quốc tế và người dân địa phương.
Phát triển sản phẩm du lịch hiện nay không chỉ chú trọng đến phát triển về quy mô, số lượng các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, dịch vụ du lịch…; kết hợp với tăng trưởng về doanh thu, số lượng khách du lịch đến lưu trú cả trong nước và quốc tế, mà chuyển trong tâm sang nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch, hoàn thiện các sản phẩm du lịch, các loại hình du lịch ngày càng được đa dạng hóa, cơ cấu dịch vụ du lịch tăng lên chiếm tỷ trọng cao trong tổng cơ cấu kinh tế chung. Bên cạnh đó, phát triển sản phẩm du lịch cần quan tâm đến chất lượng nguồn nhân lực du lịch, công tác quản lý điểm đến.
1.2.2. Các nguyên tắc đối với phát triển sản phẩm du lịch
Trên cơ sở giải quyết hài hòa mối quan hệ biện chứng giữa nhu cầu của thị trường khách du lịch và khả năng cung cấp sản phẩm du lịch của điểm đến, có thể xác định được các yêu cầu và nguyên tắc sau đối với việc xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch:
- Các yêu cầu và nguyên tắc đối với việc xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch tổng thể:
Yêu cầu chủ đạo và xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch tổng thể là phát triển bền vững: thỏa mãn các nhu cầu du lịch của thị trường, đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội mà không làm suy giảm quá nhiều chất lượng của tài nguyên và môi trường trong tương lai.
Để đảm bảo yêu cầu này phát triển sản phẩm phải tuân thủ nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc phù hợp với nhu cầu khách: Do hoạt động du lịch nói chung có tính cạnh tranh mạnh mẽ, động cơ và nhu cầu của khách du lịch thường xuyên thay đổi, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên để tạo ra các sản phẩm du lịch cần phải quan tâm sở thích, đối tượng khách hàng, đảm bảo sự tinh tế và nét đẹp, sự đặc sắc của môi trường và thiên nhiên mang lại cho đối tượng khách. Hơn nữa, do đặc tính thiên nhiên nên việc khai thác đòi hỏi sự đầu tư kinh phí không hề nhỏ để vừa đảm bảo nhu cầu khách nhưng cũng yêu cầu bảo tồn và giữ gìn môi trường, nên cần phải làm rõ tính khả thi khi khai thác tài nguyên du lịch đặc biệt là điều tra nhu cầu và nghiên cứu thị trường để tìm ra nguồn khách, thị trường mục tiêu qua đó có cơ sở vững chắc tiến hành các công việc kinh doanh du lịch.
- Nguyên tắc lợi ích kinh tế: Bất cứ đầu tư xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch cần phải xét đến các lợi ích kinh tế. Xét cho cùng không thể thu hút hoạt động kinh doanh du lịch nếu không đạt mục tiêu lợi ích kinh tế. Việc khai thác tài nguyên du lịch phải xét đến giá trị sử dụng của tài nguyên đó. Giá trị sử dụng của tài nguyên du lịch thường tỷ lệ thuận với sức hấp dẫn của tài nguyên ở đó. Để nâng cao lợi ích kinh tế cho các chủ thể tham gia hoạt động du lịch cần phải quan tâm đến ưu tiên khai thác sự nổi trội và giá trị đặc biệt của tài nguyên du lịch ở đó như vị trí địa lý thuận lợi, điều kiện khí hậu thổ nhưỡng tốt, hệ sinh thái động thực vật đa dạng và phong phú, hay như việc khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch hiện có, quan tâm đến những giá trị hiện đã và đang sử dụng nhưng vẫn đảm bảo tài nguyên sẽ giữ giá trị sử dụng cho các thế hệ tương lai. Hoặc như tận dụng được trang thiết bị kỹ thuật sẵn có trong tự nhiên, giảm suất đầu tư, giảm giá thành của sản phẩm.
- Nguyên tắc đặc sắc: Khi khai thác tài nguyên du lịch không được coi thường tính tổng thể của qui hoạch. Việc lựa chọn đối tượng làm hình tượng nổi trội của du lịch địa phương không có nghĩa chỉ tập trung xây dựng sản phẩm ở đó mà bỏ qua tài nguyên du lịch khác. Như chỉ chú trọng vào khai thác giá trị về kinh tế mà bỏ qua phong tục, tập quán, văn hóa của cộng đồng dân cư sinh sống của địa phương. Việc khai thác tổng thể sẽ tăng sức hút của các loại tài nguyên du lịch khác nhau thành một quần thể thu hút du khách và tạo giá trị gia tăng của sản phẩm du lịch xét ở nhiều mặt. Một mặt xem xét đáp ứng các nhu cầu của khách về đi lại, ăn ở, tham quan nghỉ dưỡng, vui chơi và giải trí… mặt khác thực hiện tốt phối hợp nhịp nhàng với các bộ phận cung ứng sản phẩm du lịch trong ngành gắn với đáp ứng nhu cầu của khách.
- Mục đích khai thác tài nguyên du lịch là làm đẹp thêm cho môi trường, thiên nhiên qua việc cải thiện và nâng cao đời sống tinh thần cho con người. Song chính con người cũng mang lại những nguy cơ ô nhiễm môi trường tự nhiên, gây hại cho tài nguyên du lịch. Nên khi khai thác cần bảo đảm nguyên tắc bảo tồn và gìn giữ môi trường, duy trì sự cân bằng sinh thái, nghiêm cấm việc phá hoại cảnh quan môi trường nhất là các tài nguyên du lịch có giá trị đặc biệt. Bởi khi đã phá hỏng các tài nguyên thì không thể hoặc mất nhiều công sức khôi phục. Ý nghĩa của nguyên tắc này chính là một nội dung quan trọng nhằm định hướng phát triển du lịch một cách bền vững.
Yêu cầu chung đối với tất cả các loại hình dịch vụ du lịch là thông qua các hoạt động của mình để giới thiệu với du khách các giá trị đặc thù của tài nguyên du lịch. Các yêu cầu riêng đối với từng loại dịch vụ là:
+ Dịch vụ lữ hành: phải hoàn chỉnh và đầy đủ ở mức tối đa, phối hợp nhịp nhàng các dịch vụ đơn lẻ theo những cách phù hợp để thỏa mãn hoàn toàn được các thị trường đa dạng của nó.
+ Dịch vụ vận chuyển: cần tạo khả năng tiếp cận tốt nhất với tài nguyên, không gây khói bụi và tiếng ồn và chất thải môi trường. Qui mô và kiểm dáng hài hòa với cảnh quan.
+ Dịch vụ lưu trú: có số lượng và qui mô phát triển đáp ứng được nhu cầu khách mà không vượt quá sức chứa môi trường. Đảm bảo các yêu cầu sự dụng thuận lợi, tiện nghi, vệ sinh. Qui hoạch thiết kế công trình kiến trúc phải tạo ra sức hấp dẫn tổng thể cho điểm đến và đáp ứng tốt tâm lý thẩm mỹ của từng đối tượng thị trường khách.
+ Dịch vụ vui chơi giải trí: ưu tiên đầu tư các loại hình vui chơi giải trí gắn với việc khai thác đặc thù của tài nguyên du lịch để tạo ra nét đặc trưng riêng biệt. Vị trí, qui mô công trình phải hài hóa với cảnh quan, không vượt khả năng chị tải của môi trường.
+ Dịch vụ ăn uống: ngoài tiêu chuẩn về vệ sinh và chất lượng thực phẩm, các dịch vụ ăn uống cần phải thông qua hoạt động của mình để giới thiệu với du khách về phong tục, tập quán và văn hóa ẩm thực của địa phương.
+ Dịch vụ hàng hóa: phù hợp với nhu cầu của khách về nội dung, chất lượng, thẩm mỹ. Hàng hóa lưu niệm phải mang đậm nét đặc trưng bản địa mà các địa phương khác không có.
1.2.3. Điều kiện phát triển sản phẩm du lịch
1.2.3.1. Tài nguyên du lịch
Theo Pirojnik (1985) [5], tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực và tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế, kỹ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi.
Theo Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự (1997) [12], tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thể lực, tri tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ. Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”
Theo Luật du lịch Việt Nam 2017 [14]: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.
Như vậy, có thể hiểu tài nguyên du lịch là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra có sức hấp dẫn du khách, có thể được bảo vệ tôn tạo và sử dụng cho ngành du lịch mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội và môi trường.
Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản, là điều kiện cần để hình thành các sản phẩm du lịch, là mục đích chuyến đi của du khách.
Sản phẩm du lịch được tạo nên bởi nhiều yếu tố như: Cơ sở vật chất kỹ thuật (vận chuyển, ăn uống, lưu trú), con người…., tuy nhiên yếu tố góp phần quan trọng đến sự hình thành các sản phẩm du lịch đó là tài nguyên du lịch. Hầu hết các dịch vụ đựợc tạo ra, được đầu tư, khai thác tại những nơi có tài nguyên du lịch. Bên cạnh đó, các sản phẩm du lịch nhằm mục đích để đáp ứng nhu cầu vốn rất đa dạng của khách du lịch như tham quan, giải trí, tìm hiểu, nghiên cứu, nghỉ ngơi, nghỉ dưỡng, khám phá…. Do đó đòi hỏi các sản phẩm du lịch không thể đơn điệu, nghèo nàn, kém hấp dẫn mà cần phải phong phú, đa dạng, đặc sắc và mới mẻ. Chính sự phong phú, đa dạng của tài nguyên du lịch đã tạo nên sự phong phú và đa dạng của sản phẩm du lịch. Tài nguyên du lịch càng đặc sắc, độc đáo thì giá trị của sản phẩm du lịch và độ hấp dẫn khách du lịch càng tăng.
Tài nguyên du lịch chia làm 2 nhóm:
- Tài nguyên tự nhiên bao gồm: Địa hình ngoạn mục, khí hậu phù hợp, thuỷ văn đặc sắc, tài nguyên sinh vật đặc biệt.
- Tài nguyên nhân văn bao gồm: các di tích lịch sử – văn hoá, các lễ hội, nghề và làng nghề thủ công truyền thống, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, các đối tượng văn hoá, thể thao hay những hoạt động có tính sự kiện khác.
1.2.3.2. Cơ sở hạ tầng du lịch
Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống đường xá, nhà ga, sân bay, bến cảng, đường sắt, hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện… Cơ sở hạ tầng phát triển sẽ là đòn bẩy thúc đẩy các hoạt động kinh tế xã hội nói chung và ngành du lịch nói riêng. Đối với ngành du lịch, nó là yếu tố tiền đề đảm bảo cho du khách tiếp cận dễ dàng với các điểm du lịch, thỏa mãn được nhu cầu thông tin liên lạc và các nhu cầu khác trong chuyến đi.
Trong các yếu tố hạ tầng, hệ thống giao thông là yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển của du lịch vì nó liên quan trực tiếp đến việc: Đảm bảo an toàn, tiện nghi cho khách du lịch, cung cấp dịch vụ vận tải với chi phí ngày càng rẻ, tăng tốc độ vận chuyển, tiết kiệm được thời gian đi lại, kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch và đi tận đến cả các nơi xa xôi.
Nếu điều kiện về cơ sở hạ tầng tốt thì đó là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch. Nếu điều kiện về cơ sở hạ tầng hạn chế, phát triển sản phẩm du lịch cần phải có yêu cầu hoàn thiện hệ thống để đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch. Ngoài vấn đề là tiền đề để phát triển hoạt động du lịch nói chung, phát triển sản phẩm du lịch nói riêng, cơ sở hạ tầng còn có vai trò thúc đẩy hoạt động phát triển sản phẩm du lịch dưới góc độ: Hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn thiện cho phép phát triển du lịch ở những vùng sâu, vùng xa; cho phép giảm tải cho các điểm du lịch truyền thống, đồng thời khắc phục tính mùa vụ trong du lịch, phân phối lại thu nhập đến với cư dân địa phương. Đây là những cơ sở quan trọng cho phát triển sản phẩm du lịch trong du lịch. Mặt khác, sự phát triển của du lịch cũng đòi hỏi phải có sự hoàn thiện cơ sở hạ tầng theo yêu cầu của phát triển sản phẩm du lịch.
Qua những phân tích trên cho thấy, cơ sở hạ tầng và phát triển sản phẩm du lịch có mối quan hệ mật thiết và hệ thống cơ sở hạ tầng luôn là một căn cứ quan trọng cho công tác xây dựng và thực hiện phát triển sản phẩm du lịch của địa phương.
1.2.3.3. Lao động trong ngành du lịch
Du lịch là ngành quan trọng đối với nhiều nước trên thế giới. Nó đòi hỏi nguồn lao động lớn với nhiều loại trình độ do tính chất đặc điểm của ngành có mức độ cơ giới hóa thấp và đối tượng phục vụ là khách hàng với nhu cầu rất đa dạng. Con người là yếu tố chính quyết định thành công chung của bất kỳ một đơn vị, tổ chức nào. Đặc biệt, trong công nghiệp dịch vụ nói chung, ngành du lịch nói riêng, vai trò của chất lượng lao động lại càng quan trọng hơn.
Trong ngành du lịch, phần lớn lao động tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và họ tham gia thực hiện các công việc nhằm đạt được những mục tiêu của đơn vị. Chất lượng dịch vụ được cung cấp cho khách hàng không chỉ phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng tay nghề của người lao động mà còn phụ thuộc vào thái độ làm việc của họ. Chính vì vậy, các doanh nghiệp du lịch muốn tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, cần phải nhận thức rõ hơn vai trò đội ngũ lao động, phải có được một đội ngũ lao động có kiến thức sâu rộng, giỏi tay nghề và có đạo đức nghề nghiệp tốt.
Thực tế cho thấy, lực lượng lao động ngành du lịch trong những năm qua tăng theo sự phát triển của ngành nhưng vẫn chưa đảm bảo cho phát triển sản phẩm du lịch. Nhiều bộ phận vẫn còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, đặc biệt là trình độ lao động sử dụng được ngoại ngữ khá thấp; ngoài ra tư duy và kỹ năng làm du lịch của người lao động còn hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp… Do đó, du lịch nếu muốn phát triển thì việc phát triển nguồn nhân lực là nhân tố vô cùng quan trọng.
1.2.3.4. Chính sách phát triển sản phẩm du lịch
Các cơ quan quản lý nhà nước giữ vai trò cân đối mọi nguồn lực để hướng sự phát triển của du lịch đạt đến các mục tiêu đề ra. Trong đó, chính sách phát triển sản phẩm du lịch là nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc phát triển sản phẩm du lịch, với một đường lối chính sách nhất định có thể kìm hãm hay thúc đẩy các sản phẩm du lịch phát triển. Đường lối phát triển du lịch nằm trong đường lối phát triển chung về phát triển kinh tế – xã hội, vì vậy phát triển du lịch cũng là đang thực hiện sự phát triển chung của xã hội.
Cơ quan quản lý nhà nước sẽ thực hiện chức năng quy hoạch ngành du lịch để từ đó có sự đầu tư theo lộ trình, đảm bảo đầu tư hiệu quả, phân bổ nguồn lực hợp lý cho từng giai đoạn, lựa chọn phát triển đúng hướng các dự án đầu tư. Chú trọng đến công tác bảo tồn, duy tu các công trình văn hóa; ban hành các quy định, cơ chế chính sách khuyến khích sự tham gia đầu tư của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp vào hoạt động phát triển sản phẩm du lịch. Cần có chính sách ưu tiên đối với những dự án đầu tư du lịch có các giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu của tác động du lịch đến môi trường; tạo cơ sở hạ tầng đô thị, giao thông, thông tin và dịch vụ tài chính thuận lợi, hiện đại đáp ứng ngày càng cao cho du khách, đây cũng là điều kiện hỗ trợ cần thiết cho việc thu hút đầu tư phát triển du lịch; xã hội hóa trong việc tạo sản phẩm du lịch nhằm mang lại chất lượng, giá cả đáp ứng nhu cầu thị trường, tạo sản phẩm du lịch độc đáo để tăng lợi thế cạnh tranh trong du lịch; tập trung vào công tác thông tin, tuyên truyền.
1.3. Nội dung phát triển sản phẩm du lịch
1.3.1. Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm du lịch
Để có thể phát triển sản phẩm du lịch của một điểm đến, việc xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm là vấn đề trọng tâm cần đặt lên hàng đầu. Một chiến lược đúng đắn giúp điểm đến thiết lập hướng đi đúng cho sản phẩm, giúp các doanh nghiệp trong ngành xác định được phương hướng đầu tư, thiết kế sản phẩm phù hợp với định hướng phát triển của điểm đến.
Việc xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm du lịch có 5 bước cơ bản.
Thứ nhất, định hướng phát triển sản phẩm du lịch, bao gồm:
+ Xác định vị trí, vai trò du lịch của địa phương.
+ Định hướng khai thác tài nguyên du lịch theo không gian và đầu tư phát triển.
+ Định hướng phát triển các loại hình du lịch, tuyến điểm du lịch và loại hình dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường mà không tổn hại đến tài nguyên môi trường trong tương lai
Thứ hai, phân tích nhu cầu sản phẩm du lịch của thị trường, dựa trên việc phân tích các khía cạnh sau:
+ Bối cảnh kinh tế – xã hội, chính trị và trình độ khoa học kỹ thuật thế giới.
+ Cơ chế chính sách của Nhà nước có liên quan đến sự phát triển của du lịch và sản phẩm du lịch.
+ Xác định xu hướng phát triển của thị trường.
Thứ ba, Phân tích khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch của điểm đến, đánh giá tiềm năng du lịch của điểm đến trên cơ sở:
+ Phân tích đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội.
+ Thống kê, phân tích, đánh giá mức độ hấp dẫn của tài nguyên du lịchvà mức độ nhạy cảm của môi trường.
+ Phân tích đánh giá điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất của ngành du lịch.
Thứ 4, phân tích đánh giá hiện trạng khai thác tài nguyên và phát triển sản phẩm du lịch tại địa phương, bao gồm:
+ Hiện trạng khách: số lượng, doanh thu, cơ cấu, đặc điểm nhu cầu…
+ Hiện trạng khai thác tài nguyên và những tác động đến môi trường.
+ Hiện trạng tổ chức không gian và tuyến điểm du lịch.
+ Những khó khăn về quản lý, kinh doanh, nguồn nhân lực trong quá trình xây dựng sản phẩm.
Thứ 5, xác định danh mục và loại hình sản phẩm du lịch.
Các loại hình du lịch hiện nay rất đa dạng, bao gồm: Du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch thể thao, du lịch giải trí, du lịch tôn giáo, du lịch công vụ …
1.3.2. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch
Nhu cầu của khách du lịch ngày càng đa dạng, cuộc cạnh tranh thị trường khách ngày càng quyết liệt, vì vậy từ tầm vĩ mô như ngành du lịch của quốc gia, đến các địa phương, doanh nghiệp, cá nhân tham gia kinh doanh du lịch đều phải nghiên cứu để đa dạng hóa sản phẩm du lịch, phát triển các sản phẩm mới. Đây là điều kiện cơ bản để thu hút và giữ chân du khách.
Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Theo các chuyên gia du lịch, các doanh nghiệp, địa phương muốn thu hút khách du lịch, ngoại trừ những điều kiện cơ bản về hạ tầng kỹ thuật thì yếu tố cốt lõi là sản phẩm du lịch phải độc đáo, đa dạng. Cùng một lúc, các loại hình dịch vụ ăn, ở, vui chơi, thăm thú, đi lại… phải đáp ứng tốt nhất. Ngay trong cùng một nhóm sản phẩm, cơ cấu các loại sản phẩm cũng phải phong phú. Chẳng hạn, về sản phẩm quà lưu niệm, ngoài những mặt hàng phổ thông, phải có những mặt hàng cao cấp đáp ứng theo từng phân khúc khách, những sản phẩm phổ thông nơi đâu cũng có yêu cầu bắt buộc phải có đặc sản địa phương, vừa phải đa dạng chủng loại, hình thức… Hay tour du lịch, sản phẩm này tương đối ổn định, nhưng cũng đòi hỏi phải linh hoạt, phong phú. Ngoài những tour được định sẵn, phổ biến, có thể có thêm tour chuyên đề (du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch hội thảo, du lịch mạo hiểm…), tour mở.
Bên cạnh đó, ngành du lịch phát triển không xuất phát từ một đơn vị kinh doanh du lịch mà phải dựa trên sự phát triển tổng thể của các ngành với đa dạng dịch vụ. Do vậy, để đa dạng hóa sản phẩm du lịch cần có sự phát triển đồng bộ về cơ sở hạ tầng và cả nhân lực phục vụ du lịch.
1.3.3. Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch
Chất lượng dịch vụ được hiểu là kết quả của sự so sánh của khách hàng, được tạo ra giữa sự mong đợi của họ về dịch vụ đó và sự cảm nhận của họ khi sử dụng dịch vụ đó. Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch là toàn bộ những hoạt động để không những duy trì mà còn đưa chất lượng dịch vụ lên mức cao hơn trước nhằm thỏa mãn mong đợi của khách du lịch, xã hội và đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp.
Berry và Parasuraman đã đưa ra 5 tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ, các tiêu chí này được sắp xếp theo thứ tự quan trọng giảm dần đối với khách hàng, bao gồm sự tin cậy, tinh thần trách nhiệm, sự đảm bảo, sự đồng hành và tính hữu hình.
- Sự tin cậy: sự tin cậy chính là khả năng cung cấp dịch vụ như đã giới thiệu và hứa hẹn một cách chính xác, nó còn bao gồm sự nhất quán ngay từ lần đầu tiên cung ứng dịch vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện. Đây là một tiêu chí đảm bảo về chất lượng dịch vụ và là một trong những mong đợi cơ bản của khách hàng.
- Tinh thần trách nhiệm: là sự sẵn dàng giúp đỡ khách hàng một cách tích cực và cung cấp dịch vụ một cách hăng hái, nhiệt tình. Trong trường hợp dịch vụ bị sai hỏng, nếu như khả năng khắc phục kịp thời và nhanh chóng có thể tạo ra sự cảm nhận tích cực về chất lượng.
- Sự đảm bảo: là việc thực hiện dịch vụ một cách lịch sự và kính trọng khách hàng, giao tiếp có kết quả với khách hàng, thực sự quan tâm và giữ bí mật cho họ.
- Sự đồng cảm: thể hiện việc chăm sóc chu đáo, chú ý tới cá nhân khách hàng. Sự đồng cảm bao gồm khả năng tiếp cận và nỗ lực tìm hiểu nhu cầu của khách hàng.
- Tính hữu hình: là sự biểu hiện ra bên ngoài về điều kiện làm việc, trang thiết bị, con người, đồng phục, tác phong và các phương tiện thông tin, v.v… tất cả các yếu tố này tạo nên chất lượng của dịch vụ cũng như sự tự tin tưởng đối với khách hàng.
Đây cũng là 5 tiêu chí để đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch và trong đó có bốn tiêu chí mang tính vô hình và chỉ có tính hữu hình là tiêu chí mang tính hữu hình. Do đó, các nhà cung ứng dịch vụ du lịch thường coi tiêu chí hữu hình chính là bản thông điệp gửi tới khách hàng. Dịch vụ càng phức tạp và vô hình thì khách hàng sẽ càng tin vào các yếu tố hữu hình.
Ngoài ra, thông thường khi đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch, người ta còn dựa vào một số tiêu thức cơ bản như sự đa dạng của các loại hình du lịch, chất lượng của các điều kiện thực hiện dịch vụ và chất lượng của đội ngũ lao động. Khi thực hiện việc đánh giá, các chỉ tiêu này được xây dựng thành những chỉ tiêu cụ thể và được đánh giá theo hình thức cho điểm. Công tác xây dựng hệ thống điểm chuẩn và mức điểm cụ thể khi đánh giá phải dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ về nhu cầu của thị trường mục tiêu, điều kiện cụ thể của cơ sở, v.v…
Sự đa dạng của các loại hình du lịch: Sự đa dạng thể hiện qua số lượng, chủng loại nhiều hay ít của hệ thống các dịch vụ cung cấp. Sự đa dạng đảm bảo mang lại cho khách du lịch nhiều cơ hội lựa chọn. Tùy theo mỗi lĩnh vực dịch vụ sẽ có sự đa dạng khác nhau. Chẳng hạn như đối với dịch vụ lưu trú, sự đa dạng thể hiện qua các thông số về số lượng phòng tối thiểu, cơ cấu phòng và các mức giá khác nhau…. Trong khi đó, đối với dịch vụ ăn uống thì đó chính là sự phong phú của thực đơn và sự linh hoạt về định suất ăn,… Và đối với lĩnh vực lữ hành thì lại là số lượng tuyến đi, chương trình du lịch và sự đa dạng về các chương trình, dịch vụ được tổ chức trên cùng một tuyến.
- Chất lượng của các điều kiện thực hiện dịch vụ: Đây chính là yếu tố thuộc về cơ sở vật chất kỹ thuật. Chất lượng thể hiện thông qua hai mặt bao gồm một mặt chính là chất lượng của chính bản thân các trang thiết bị, mặt khác chính là sự đồng bộ và tổ chức hợp lý đảm bảo được sự thuận lợi cho cả quá trình phục vụ của người lao động cũng như khách du lịch trong quá trình tiêu dùng.
- Chất lượng của đội ngũ lao động (phương hướng thực hiện các dịch vụ): Chất lượng của đội ngũ lao đông được đánh giá chủ yếu thông qua trình độ của lao động như trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ học vấn và ngoại ngữ, khả năng giao tiếp,… Bên cạnh đó, thái độ phục vụ đối với khách du lịch và tinh thần trách nhiệm đối với công việc cũng thể hiện được chất lượng của đội ngũ lao động.
1.3.4. Phát triển các loại hình du lịch
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập đến cơ sở lý luận phát triển các loại hình du lịch, sản phẩm du lịch biển đảo, sản phẩm du lịch truyền thống.
- Sản phẩm du lịch biển đảo là loại hình du lịch được phát triển dựa trên những tiềm năng sẵn có về biển, diễn ra trong các vùng có tiềm năng về biển đảo hướng tới thỏa mãn nhu cầu của con người về vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, tham quan, tắm biển, nghiên cứu… sản phẩm du lịch biển đảo là sản phẩm du lịch theo đặc thù tài nguyên, được hiểu là sản phẩm du lịch dựa trên cơ sở khai thác tiềm năng du lịch biển đảo của địa phương với các loại hình như tắm biển, lặng biển, thể thao biển, nghĩ dưỡng, thăm quan cảnh quan, di tích, các hệ sinh thái biển và thưởng thức hải sản.
- Sản phẩm du lịch tham quan và trải nghiệm làng nghề truyền thống ở Hội An là loại hình du lịch rất tiềm năng của thành phố Hội An, được phát triển dựa trên các làng nghề hiện có như làng gốm Thanh Hà, làng rau Trà Quế, làng mộc Kim Bồng, nghề làng lồng đèn là kết hợp, hòa quyện giữa vị trí địa lý, điều kiện thổ nhưỡng và con người nơi đây tạo nên những nét riêng không thể pha lẫn. Du khách đến với làng nghề có thể trải nghiệm và hòa mình vào cuộc sống của những người nông dân, người thợ nơi đây, để tạo ra những sản phẩm riêng làm quà lưu niệm cho một chuyến đi du lịch của mình.
1.4.Kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch ở một số nước trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch một số nước trên thế giới
1.4.1.1. Kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch ở đảo Nami, Hàn Quốc
- Phục hồi hệ sinh thái: Thay điện chiếu sáng, lắp lại đường dây điện, phá bỏ các hàng rào cũ, vứt bỏ các thùng hỏng rác bẩn, đào đất để kiểm tra việc chôn rác thải bất hợp pháp để tiến hành xử lý. Đồng thời tiến hành xây dựng mô hình quy hoạch cây xanh, ngừng việc phun thuốc bảo vệ thực vật để tạo thành rừng cây và thảm thực vật xanh mướt rậm rạp như ngày nay.
- Quảng bá hình ảnh qua phim ảnh: bằng chính sách hỗ trợ các đoàn làm phim để quảng bá hình ảnh ra phạm vi toàn thế giới.
- Phát triển về lĩnh vực văn hóa: Thường xuyên tổ chức các chương trình, sự kiện về văn hóa tầm cỡ khu vực và quốc tế để thu hút khách du lịch.
- Hợp tác với các Tổ chức quốc tế, hiệp hội và sự tham gia của cộng đồng.
1.4.1.2. Phát triển sản phẩm du lịch bền vững tại Đài Loan
- Phát triển du lịch giải trí tại nông thôn phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí cho cộng đồng và nâng cao thu nhập cho người nông dân.
- Phát triển nông trại nghĩ dưỡng để duy trì văn hóa nông thôn, kết hợp giữa nguồn tài nguyên nông nghiệp và du lịch nghĩ dưỡng, giáo dục, cung cấp một môi trường lý tưởng cho du lịch sinh thái, thúc đẩy ngành thực phẩm cho sức khỏe và thực phẩm hữu cơ mà còn tạo nên nét văn hóa đặc thù cho việc phát triển các làng nghề nông thôn và tiếp tục phát triển các thế hệ sau
1.4.1.3. Kinh nghiệm của Singapore phát triển sản phẩm MICE
- Phát triển các sản phẩm du lịch mới như: du thuyền, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục, du lịch trăng mật; phát triển các thị trường du lịch mới; tổ chức các lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc tế; tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch; trao các giải thưởng về du lịch; giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về du lịch…
- Phát triển du lịch MICE là trọng tâm: với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, là trung tâm của các hoạt động giao thương lớn trong khu vực, Singapore xác định phát triển du lịch MICE là trọng tâm của chiến lược phát triển sản phẩm du lịch.
1.4.1.4. Kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng tại Malaysia
- Phát triển sản phẩm và thị trường với mục tiêu chính là tập trung vào thị trường có khả năng chi trả cao, đẩy mạnh chương các hoạt động tiêu dùng của khách du lịch.
- Phát triển phải gắn liền bảo vệ, bảo tồn và giữ gìn môi trường: phát triển du lịch xanh, giải thưởng khách sạn xanh, chiến dịch quốc gia về một Malaysia xanh, một Malaysia sạch và phát triển toàn diện, chú trọng tính cân bằng và tính bền vững (tầm quan trọng của lợi ích cộng đồng).
- Phát triển các sản phẩm mới như du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục và du lịch công vụ (M.I.C.E). Để thu hút đông đảo du khách hơn nữa, Malaysia luôn chú trọng sáng tạo các sản phẩm du lịch mới, thoản mãn mọi nhu cầu của du khách khắp nơi trên thế giới…
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch trong nước
1.4.2.1. Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững của TP. Đà Nẵng
Phát triển du lịch tại Đà nẵng gắn mục tiêu coi khách du lịch là tâm điểm, làm cho khách thỏa mãn với nhu cầu chuyến đi và họ luộn có ý định quay trở lại trong những lần du lịch tiếp theo và luôn quan tâm đến việc bảo tồn, tu tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho phát triển trong tương lai, cụ thể:
- Đảm bảo “môi trường du lịch hoàn hảo”: Xây dựng các cơ sở hạ tầng du lịch; đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội, đảm bảo môi trường xanh sạch không ô nhiễm, phát triển các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, y tế, nâng cao nhận thức về văn minh du lịch và tạo ấn tượng đẹp với du khách trong nước và quốc tế
- “Đặc biệt hóa” sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch được phát triển mang tính đa dạng với mọi loại hình: Du lịch nghỉ dưỡng biển, nghỉ dưỡng cao cấp; Du lịch công vụ hội nghị hội thảo,mua sắm và vui chơi giải trí; Du lịch văn hóa lịch sử đã được khai thác thông qua các tour du lịch tham quan di tích lịch sử; Du lịch sinh thái, làng quê, làng nghề đã được thành phố và các nhà đầu tư tập trung đầu tư khai thác tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách; Du lịch đô thị; Du lịch chăm sóc sức khỏe chữa bệnh – làm đẹp, . . .
- Phát triển các hoạt động bổ trợ: Nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho ngành du lịch; các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch nhận thức được lợi ích của việc phát triển du lịch bền vững, đã cạnh tranh lành mạnh, cung cấp đầy đủ thông tin về điểm đến, đảm bảo dịch vụ có chất lượng, uy tín, đáp ứng kỳ vọng của du khách với mức giá tối ưu
1.4.2.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững của TP. Ninh Thuận
Điều kiện khí hậu ít mưa, nhiều nắng đã tạo cho địa Phương nhiều sản phẩm nông nghiệp mang dấu ấn đặc trưng. Tận dụng lợi thế này, tỉnh Ninh Thuận đang đẩy mạnh phát triển loại hình du lịch nông nghiệp đặc thù để thu hút du khách tới tham quan, trải nghiệm
- Không chỉ có du lịch trải nghiệm vườn nho, hiện nay, nhiều mô hình du lịch nông nghiệp đang trở thành thương hiệu du lịch nổi tiếng của các địa Phương như các tour tham quan các trang trại táo, nho; vườn trái cây sinh thái Lâm Sơn, tham quan chụp ảnh cánh đồng cừu; tour tham quan vườn cây ăn quả; mô hình tham quan vườn dâu tây
- Để tạo sự thuận tiện cho du khách có nhu cầu tham quan, mua sắm. Ninh Thuận đang triển khai xây dựng các điểm giới thiệu, bán sản phẩm đặc thù; triển khai ứng dụng dán “Tem điện tử thông minh” truy xuất chất lượng nguồn gốc 12 sản phẩm đặc thù từ khâu sản xuất đến khi đưa ra thị thường tiêu thụ; kết nối quảng bá sản phẩm nông nghiệp đặc thù gắn với quảng bá du lịch tại các tỉnh, thành phố trong cả nước
- Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách, tỉnh đã tập trung nguồn lực đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật, cơ sở vật chất du lịch; cải thiện môi trường, cảnh quan thiên nhiên và môi trường văn hóa; nâng cao ý thức, kiến thức và cách thức làm du lịch cho cộng đồng dân cư để xây dựng Ninh Thuận trở thành điểm đến tươi đẹp, an toàn và thân thiện
1.4.2.3. Kinh nghiệm từ việc nghiên cứu một số sản phẩm du lịch điển hình trong nước
Sản phẩm du lịch mới cần phải thu hút được một đối tượng đáng kể khách khám phá, trải nghiệm; Sản phẩm đó có điểm độc đáo, khác biệt và đã bước đầu phát huy hiệu quả; Có tác động đối với kinh tế – xã hội địa phương; Có khả năng phát triển, liên kết với các ngành, các lĩnh vực khác trong tương lai.
Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/1/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quy hoạch Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 nêu rõ định hướng phát triển sản phẩm du lịch, bao gồm các phương diện sau:
Phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng theo các vùng được tổ chức theo các không gian phát triển du lịch với tính chất đặc trưng nổi trội để tạo dựng thương hiệu từng vùng có sản phẩm điểm đến tổng hợp.
Đa dạng hóa sản phẩm phục vụ các đối tượng khách với những nhu cầu đa dạng như: du lịch MICE Hội họp, Khuyến thưởng, Hội nghị, Triển lãm; du lịch đô thị; du lịch giáo dục; du lịch thể thao; du lịch dưỡng bệnh; du lịch du thuyền; du lịch làm đẹp…
Tăng cường liên kết giữa các địa phương, doanh nghiệp; theo khu vực, các hành lang kinh tế; cùng các ngành vận chuyển, các liên kết vùng, liên vùng và quốc tế để tạo thành sản phẩm du lịch hấp dẫn.
Một số nhận định tổng quan về sản phẩm du lịch mới ở Việt Nam như sau:
- Các sản phẩm chú trọng khai thác thế mạnh của địa phương về tài nguyên thiên nhiên, văn hóa truyền thống, phong tục tập quán độc đáo, và nguồn lực con người với kỹ năng và công nghệ cao, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
- Các sản phẩm du lịch có chủ đề dựa trên thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, cộng đồng, và công nghệ y học.
- Các dòng sản phẩm đáp ứng thị trường mục tiêu: khách du lịch trải nghiệm, khách du lịch sáng tạo, khách du lịch đại chúng; khách du lịch công vụ, và khách du lịch chữa bệnh, làm đẹp.
- Cần có nghiên cứu, tiếp tục vận hành thí điểm và hoàn thiện sản phẩm mới, trong đó lưu ý tới các tác động đối với kinh tế, sinh kế của người dân địa phương.
- Cần có sự ủng hộ, tham gia đóng góp ý tưởng và nguồn lực của khu vực doanh nghiệp để từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hơn các hoạt động trong chuỗi dịch vụ, phù hợp với nhu cầu của mỗi thị trường khách du lịch đối với từng sản phẩm.
- Tiếp tục xây dựng nguồn quỹ tái đầu tư cho phát triển sản phẩm, trong đó có đào tạo kỹ năng cho cộng đồng làm du lịch địa phương, nâng cao điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch.
Kết luận chương 1
Chương 1 của luận văn đã trình bày những vấn đề lý luận về sản phẩm du lịch và phát triển sản phẩm du lịch. Bên cạnh các khái niệm, chương 1 chú trọng đến các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch gồm: Dịch vụ tham quan, giải trí; dịch vụ lưu trú, ăn uống; dịch vụ vận chuyển; dịch vụ mua sắm; dịch vụ trung gian du lịch. Những nguyên tắc và nội dung phát triển sản phẩm du lịch cũng được phân tích. Những điều kiện phát triển sản phẩm du lịch được làm rõ, bao gồm: Tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch, lao động trong ngành du lịch, chính sách phát triển sản phẩm du lịch. Chương 1 cũng giới thiệu một số kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch tại các quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nhằm có cái nhìn thực tế hơn. Tuy nhiên những vấn đề nêu ra chưa thật sự đầy đủ như đó là những vấn đề cơ bản và thiết thực nhất để làm cơ sở để nghiên cứu để nêu ra thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm trong Chương 2 và Chương 3.
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH TẠI CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG – CÔNG TY CP VINPEARL
2.1. Giới thiệu về Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl
2.1.1. Giới thiệu về công ty cổ phần Vinpearl
Công ty cổ phần Vinpearl, tiền thân là Công ty TNHH Đầu tư Phát triển Du Lịch, Thương mại và Dịch vụ Hòn Tre, được thành lập ngày 25 tháng 7 năm 2001 với số vốn ban đầu 60 tỷ đồng theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 3702000169 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Khánh Hòa cấp. Công ty TNHH Đầu tư phát triển Du lịch, Thương mại và Dịch vụ Hòn Tre sau đã đổi tên thành Công ty TNHH Du lịch và Thương mại Hòn Tre. Ngày 26 tháng 7 năm 2006, Công ty đã đổi tên thành Công ty cổ phần Du lịch và Thương mại Vinpearl theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 3703000217 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Khánh Hòa cấp. Năm 2008, Công ty niêm yết cổ phiếu trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (mã: VPL) sau đó chính thức hủy niêm yết vào ngày 26 tháng 12 năm 2011. Ngày 08 tháng 05 năm 2009, Công ty đã đổi tên thành Công ty cổ phần Vinpearl theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 4200456848 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Khánh Hòa cấp.
Công ty Cổ phần Vinpearl hiện sở hữu, quản lý, vận hành toàn bộ chuỗi resort, khu vui chơi giải trí và vườn thú của Tập đoàn Vingroup – Công ty CP (“Vingroup”). Công ty cổ phần Vinpearl hiện hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con. Công ty cổ phần Vinpearl hiện có 5 công ty con, vận hành 47 dự án nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí hàng đầu và 3 trung tâm hội nghị, sự kiện tại 17 tỉnh thành, bao gồm nhiều điểm du lịch chính trải dài trên cả nước như Hạ Long, Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc. Khởi đầu từ tổ hợp Vinpearl Nha Trang Resort, sau hơn một thập niên phát triển, Vinpearl đã sở hữu chuỗi khách sạn, Khu nghỉ dưỡng và giải trí sang trọng trên khắp Việt Nam
– Chuỗi các thương hiệu của Vinpearl
- Vinpearl Luxury: thương hiệu đẳng cấp vượt trội trên 5 sao mang đến những “kỳ nghỉ thượng lưu” với không gian sang trọng, yên tĩnh, riêng tư và những trải nghiệm nghỉ dưỡng giá trị, đẳng cấp và thời thượng nhất.
- Vinpearl Resort: truyền cảm hứng về giá trị trải nghiệm – khám phá – kết nối với sản phẩm nghỉ dưỡng độc đáo tại các căn hộ – khách sạn hạng sang trong trung tâm thành phố và các biệt thự ven biển với bể bơi riêng
- Vinpearl Hotels: thương hiệu khách sạn nội đô hàng đầu tại mỗi điểm đến với những trải nghiệm toàn diện cho khách hàng, phòng nghỉ tiện nghi chuẩn 5 sao, hội họp chuyên nghiệp, ẩm thực tinh tế và các dịch vụ giải trí
- VinOasis: quần thể khách sạn – ẩm thực – mua sắm – sự kiện – giải trí công nghệ cao đa tiện ích với quy mô 1.378 phòng nghỉ tiện nghi bậc nhất, thế giới ẩm thực quốc tế phong phú và các hoạt động giải trí đỉnh cao, sôi động ngày đêm
- VinHolidays: thương hiệu khách sạn tối giản và thông minh đầu tiên ở Việt Nam. Với vị trí tại trung tâm Grand World, sở hữu số lượng 687 phòng với thiết kế hiện đại, dịch vụ linh hoạt cùng tiện nghi quốc tế, VinHolidays đáp ứng các nhu cầu nghỉ dưỡng thiên về khám phá, du khách được truyền cảm hứng du lịch bất tận suốt 365 ngày trong năm, hứa hẹn tận hưởng kì nghỉ năng động, giàu trải nghiệm hơn bao giờ hết
- VinWonder: thương hiệu vui chơi giải trí đẳng cấp thế giới của tập đoàn Vingroup, sở hữu vị trí số một về uy tín trong ngành du lịch, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí tại Việt Nam, mang đến những trải nghiệm “đầu tiên” cho người Việt nhiều thế hệ
- Vinpearl Safari: công viên chăm sóc – bảo tồn động vật bán hoang dã đầu tiên và lớn nhất Việt Nam được xây dựng theo chuẩn Safari thế giới. Với diện tích lên tới hàng trăm hecta, đây là mái nhà chung của hàng ngàn cá thể động thực vật và hàng trăm sinh vật biển quý hiếm trên thế giới
- Vinpearl Golf: đơn vị tiên phong trong việc phát triển và quản lý những sân golf đẳng cấp tại các điểm đến tiêu biểu của Việt Nam. Các sân Vinpearl Golf đều được thiết kế bởi IMG Worldwide với lựa chọn phong phú từ 18 – 36 hố
- Almaz: Với hệ thống đa dạng từ quà phố tới những nhà hàng đẳng cấp, Almaz mang tới hành trình trải nghiệm ẩm thực tuyệt vời làm hài lòng mọi thực khách. Trung tâm hội nghị quốc tế Almaz hiện đại và theo tiêu chuẩn quốc tế là lựa chọn lý tưởng cho mọi hội nghị, sự kiện ở mọi quy mô
- Vinpearl Convention Center: các trung tâm hội nghị có kiến trúc đương đại, trang thiết bị hiện đại với không gian hội họp, sự kiện sang trọng đa chức năng, có sức chứa lớn lên đến hàng nghìn người
Là thành viên của Vingroup, Vinpearl được thừa hưởng những lợi thế sẵn có về kinh nghiệm quản lí các dự án lớn, đội ngũ nhân sự năng động, trình độ chuyên môn cao và đặc biệt là hệ sinh thái sản phẩm dịch vụ đẳng cấp và uy tín thương hiệu của Vingroup. Mục tiêu của Vinpearl là trở thành một trong những thương hiệu mạnh nhất về vui chơi giải trí và du lịch nghỉ dưỡng tại Việt Nam. Công ty có trụ sở tại Đảo Hòn Tre, Phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\TÀI LIỆU NĂM 2022\NĂM 2022 KHO SỐ 1\PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH
Phát triển sản phẩm du lịch tại Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl Phát triển sản phẩm du lịch tại Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl Phát triển sản phẩm du lịch tại Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl Phát triển sản phẩm du lịch tại Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl Phát triển sản phẩm du lịch tại Chi nhánh Đà Nẵng – Công ty CP Vinpearl


