Phát triển năng lực hợp tác của học sinh qua dạy học nhóm có sử dụng thí nghiệm học sinh trong dạy học chương Nhiệt học Vật lí 6
Nguồn nhân lực lao động với những tri thức hiện đại, năng lực và phẩm chất cốt lõi sẽ là nhân tố cơ bản của sự phát triển đất nước trong xu thế toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0, trong đó giáo dục giữ vai trò là yếu tố then chốt quyết định. Bởi vậy giáo dục và đào tạo luôn là quốc sách hàng đầu trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Trong thời đại ngày nay, khi mà quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, đem đến sự phát triển nhanh chóng của thế giới tạo ra sự bùng nổ tri thức khoa học. Trong bối cảnh đó để chiếm lĩnh tri thức và hoàn thiện bản thân đòi hỏi mỗi con người phải tự chủ, tích cực, chủ động và sáng tạo. Trước tình hình đó đã đặt ra cho ngành giáo dục nước ta phải đổi mới một cách căn bản và toàn diện để có thể đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn lực cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Nền giáo dục của nước ta từ trước tới nay chủ yếu vẫn theo hướng tiếp cận nội dung. Điều này dẫn tới tình trạng truyền thụ tri thức một chiều, hàn lâm: thầy giảng, trò nghe; thầy đọc, trò ghi chép. Điều này khiến cho người học không phát huy được tính sáng tạo do chỉ làm theo hướng dẫn của thầy, thiếu khả năng suy nghĩ độc lập và giải quyết các vấn đề thực tiễn, không có khả năng tự học, khả năng hợp tác và thói quen tự tìm tri thức để học, thiếu kỹ năng làm việc nhóm do học một cách thụ động.
Định hướng cơ bản trong đổi mới giáo dục nước ta hiện nay là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và năng lực hợp tác của người học. Trên tinh thần đó, ngày 4/11/2013 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nội dung quan trọng trong đổi mới giáo dục phổ thông đang được ngành giáo dục đặc biệt quan tâm đó là việc chuyển từ giáo dục tiếp cận nội dung (học sinh biết được gì?) sang giáo dục tiếp cận năng lực người học (học sinh làm được gì từ cái đã biết?). Như vậy, một trong những vấn đề cốt lõi trong đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục chính là chuyển giáo dục sang hướng tiếp cận năng lực.
Trong Nghị quyết số 88 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã khẳng định: “Mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.” [15] Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới đã xác định những năng lực cốt lõi cần phải bồi dưỡng và phát triển cho HS là những năng lực mà bất kỳ người nào cũng cần có để sống và làm việc. Trong đó, có 3 năng lực chung là những năng lực được phát triển bởi nhiều môn học khác nhau, gồm: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, năng lực hợp tác là một trong những năng lực không thể thiếu của con người thế kỷ XXI, chính vì thế nó được nhiều nước xác định trong hệ thống các năng lực cốt lõi mà người học cần có trong thế kỷ XXI.
Việc rèn luyện, bồi dưỡng năng lực hợp tác trong nhà trường là rất quan trọng, với mỗi môn học sẽ góp phần rèn luyện năng lực thông qua quá trình tổ chức dạy học môn đó.
Với những lí do trên tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển năng lực hợp tác của học sinh qua dạy học nhóm có sử dụng thí nghiệm học sinh trong dạy học chương “Nhiệt học” – Vật lí 6”.
Đề xuất quy trình tổ chức dạy học theo nhóm có sử dụng thí nghiệm học sinh theo định hướng phát triển năng lực hợp tác cho học sinh và vận dụng vào dạy học chương “Nhiệt học” – Vật lí 6 THCS.
Nếu đề xuất được quy trình tổ chức dạy học theo nhóm có sử dụng thí nghiệm học sinh theo định hướng bồi dưỡng năng lực hợp tác và vận dụng vào dạy học sẽ góp phần phát triển năng lực hợp tác cho học sinh, qua đó nâng cao hiệu quả dạy học Vật lí ở trường THCS.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy và học nhóm theo hướng bồi dưỡng năng lực hợp tác cho HS THCS.
Đề tài tập trung nghiên cứu xây dựng tiến trình tổ chức dạy học theo nhóm ở chương Nhiệt học Vật lí 6 THCS theo hướng bồi dưỡng năng lực hợp tác cho HS và tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THCS.

Để đạt được mục đích đề ra, phải thực hiện được những nhiệm vụ sau đây:
– Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng thí nghiệm trong tổ chức dạy học nhóm theo hướng phát triển năng lực hợp tác của HS.
– Nghiên cứu thực trạng của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực hợp tác cho HS ở chương Nhiệt học vật lí 6 THCS.
– Nghiên cứu đề xuất biện pháp và quy trình tổ chức dạy học theo nhóm với sự hỗ trợ của thí nghiệm theo định hướng phát triển năng lực hợp tác cho HS trong dạy học vật lí ở trường THCS.
– Nghiên cứu nội dung, đặc điểm của chương “Nhiệt học” Vật lí 6 THCS.
– Thiết kế tiến trình tổ chức dạy học theo nhóm với thí nghiệm cho một số bài cụ thể của chương “Nhiệt học” – vật lí 6 THCS theo hướng phát triển năng lực hợp tác.
– Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THCS để kiểm tra, đánh giá giả thuyết đề ra và rút ra kết luận.
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
– Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước cùng với các chỉ thị của Bộ Giáo dục và đào tạo về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở các cấp, các bậc học.
– Nghiên cứu cơ sở tâm lí học và cơ sở lí luận của mô hình dạy học hợp tác với sự hỗ trợ của phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học vật lí.
– Nghiên cứu đặc điểm về chuẩn kiến thức và kỹ năng của chương “Nhiệt học” – Vật lí 6.
– Nghiên cứu cách thức tổ chức, thực hiện các thí nghiệm học sinh trong dạy học vật lí ở trường phổ thông.
7.2. Phương pháp thực tiễn
Điều tra thông qua đàm thoại và phiếu lấy ý kiến của giáo viên, học sinh để biết thực trạng vấn đề của việc tổ chức dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực hợp tác của học sinh.
7.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THCS để đánh giá hiệu quả của việc tổ chức dạy học nhóm theo hướng phát triển năng lực hợp tác của học sinh.
7.4. Phương pháp thống kê toán học.
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm sư phạm và kiểm định giả thuyết về sự khác biệt trong kết quả học tập của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm.
Nghiên cứu, bổ sung thêm cơ sở lý luận của việc phát triển năng lực hợp tác của học sinh, làm rõ vai trò của việc phát triển năng lực hợp tác của học sinh qua dạy học nhóm có sử dụng thí nghiệm học sinh.
Phân tích, đánh giá thực trạng của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực hợp tác của học sinh ở trường THCS hiện nay; từ đó thiết kế tiến trình dạy học nhóm có sử dụng thí nghiệm học sinh theo hướng phát triển năng lực hợp tác.
Phần mở đầu.
Phần nội dung.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học nhóm có sử dụng thí nghiệm học sinh theo hướng phát triển năng lực hợp tác của học sinh
Chương 2: Tổ chức dạy học nhóm có sử dụng thí nghiệm học sinh chương “Nhiệt học” – Vật lí 6 THCS theo hướng phát triển năng lực hợp tác của học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Phần kết luận.
Tài liệu tham khảo.
Phụ lục.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC NHÓM CÓ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM HỌC SINH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH
Khái niệm năng lực đã được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau:
+ Theo trường phái của Anh cho rằng: Năng lực được hình thành bởi 3 yếu tố đó là Kiến thức (Knowledge) – Kỹ năng (Skill) – Thái độ (Attitude). Đây còn gọi là mô hình ASK.
+ Theo trường phái của Mỹ: Năng lực là bất kỳ yếu tố tâm lý của cá nhân có thể giúp nhanh chóng hoàn thành công việc hay hành động nào đó một cách hiệu quả.
Theo tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và đào tạo phát hành năm 2014 cho rằng: “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”. [3]
Theo Bernd Meier; Nguyễn Văn Cường: “Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức”. [2]
Theo Trần Khánh Đức thì năng lực là “khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, kĩ năng, thái độ, thể lực, niềm tin …) để thực hiện công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp”. [8]
Còn theo Vũ Xuân Thái thì “Năng lực có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác” [18]
Ngoài ra, theo các nhà tâm lý học cho rằng năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yếu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.
Như vậy có thể hiểu năng lực là sự tổng hòa của kiến thức, kỹ năng và giá trị (ý chi, hứng thú, hưng phấn…) và nhờ nó người ta có thể thực hiện thành công một công việc trong một tình huống cụ thể.
Dù cách phát biểu có khác nhau, nhưng các cách hiểu trên đều khẳng định: Khi nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không chỉ biết và hiểu, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do rèn luyện mà có.
Năng lực con người không phải sinh ra đã có, mà nó được hình thành và phát triển trong quá trình con người giao tiếp và hoạt động. Kết quả, sản phẩm trong công việc thường là thước đo đánh giá năng lực của cá nhân là ra nó.
Để phân biệt năng lực với tiềm năng (potential) – khả năng ẩn dấu bên trong, chưa bộc lộ ra, chưa phải là hiện thực – các tài liệu đều thống nhất năng lực được hình thành và phát triển trong một hoạt động cụ thể (hành động, công việc) trong bối cảnh (điều kiện) cụ thể. Khi con người không hoạt động, thì năng lực vẫn còn tiềm ẩn, năng lực chỉ hiện hữu khi khi con người hoạt động và phát triển năng lực đó.
Theo Hoàng Hòa Bình trong “Năng lực và đánh giá theo năng lực”, tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM, đặc trưng của NL được hầu hết các tài liệu nghiên cứu trong nước và nước ngoài thống nhất là tính “hiệu quả”, “thành công” hoặc “chất lượng cao” của hoạt động. Đặc trưng này giúp ta phân biệt NL với một khái niệm ở vị trí giữa nó với tiềm năng là khả năng – Khả năng là cái tồn tại ở dạng tiềm năng, có thể biến thành hiện thực khi cần thiết và khi có các điều kiện thích hợp, nhưng cũng có thể không biến thành hiện thực. [11]
Theo tác giả Đinh Quang Báo (2013), tuy năng lực được định nghĩ theo nhiều cách khác nhau, nhưng năng lực có một số đặc điểm chung, cơ bản đó là: [1]
– Đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện cụ thể, như: năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực tự quản lý bản thân, … Vậy không tồn tại năng lực chung chung.
– Có sự tác động của một cá nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể (kiến thức, quan hệ xã hội, …) để có một sản phẩm nhất định; do đó có thể phân biệt người này với người khác.
– Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể. Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy, năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động, nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó.
– Bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lí các kiến thức, kĩ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định. Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kĩ năng trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không ở tiếp thu lượng tri thức rời rạc.
Cấu trúc năng lực là tổ hợp các kiến thức, kỹ năng và đặc điểm cá nhân (thái độ bản thân) để hoàn thành tốt một nhiệm vụ học tập, một công việc nào đó. Mô hình năng lực được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là mô hình ASK.
Benjamin Bloom (1956) được xem là người đưa ra những phát triển bước đầu về cấu trúc năng lực theo mô hình ASK với ba nhóm năng lực chính.
Hình 1.1. Cấu trúc năng lực ASK
Attitude (Phẩm chất/ Thái độ): thuộc về phạm vi cảm xúc, tình cảm (Affective)
Skills(Kỹ năng): kỹ năng thao tác (Manual or physical)
Knowledge (Kiến thức): thuộc về năng lực tư duy (Cognitive)
Theo tác giả Lương Việt Thái thì NL được cấu thành từ những bộ phận cơ bản sau:
“1) Tri thức về lĩnh vực hoạt động hay quan hệ nào đó;
2) Kĩ năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với (trong) quan hệ nào đó;
3) Những điều kiện tâm lí để tổ chức và thực hiện tri thức, kĩ năng đó trong một cơ cấu thống nhất và theo một định hướng rõ ràng, chẳng hạn ý chí – động cơ, tình cảm – thái độ đối với nhiệm vụ, hoặc nói chung là tính tích cực trí tuệ, tính tích cực giao tiếp, tính tích cực học tập…” [13].
Việc phân loại năng lực được thực hiện theo nhiều cách khác nhau, tùy theo từng quốc gia. Nhìn vào các chương trình được thiết kế theo hướng phát triển năng lực ở các nước có thể thấy, nhìn chung năng lực tồn tại dưới 2 dạng: Năng lực chung và năng lực chuyên môn.
1.1.4.1. Năng lực chung
Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu, giúp cá nhân có thể sống, làm việc và tham gia hiệu quả trong nhiều hoạt động và bối cảnh khác nhau trong đời sống xã hội. Các năng lực được hình thành và phát triển trong quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau.
Định hướng các năng lực chung cả chương trình giáo dục ở một số nước: [12]
– Chương trình của Australia có 7 năng lực chung: NL giao tiếp, NL tính toán, ICT, Tư duy phản biện và sáng tạo, NL cá nhân và xã hội, thấu hiểu về đạo đức, hiểu biết liên văn hóa.
– Chương trình của Phần Lan có 7 năng lực chung (transversal competencies): 1) năng lực tư duy và học cách học (Thinking and learning skills); 2) năng lực văn hóa, tương tác và biểu hiện bản thân; 3) năng lực chăm sóc bản thân và quản trị đời sống hằng ngày; 4) năng lực giao tiếp đa phương thức; 5) năng lực ICT; 6) năng lực làm việc và lập nghiệp, kinh doanh; 7) năng lực tham gia và xây dựng một tương lai bền vững (bảo vệ môi trường, tuân thủ luật lệ, đàm phán và giải quyết xung đột, hiểu tầm quan trọng của các lựa chọn,…).
Đối chiếu với yêu cầu và điều kiện giáo dục trong nước, kết hợp qua nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm các nước phát triển, các nhà khoa học giáo dục Việt Nam phân loại và đã đề xuất, định hướng các năng lực chung của chương trình giáo dục trung học cơ sở như sau: [3]
Hình 1.2. Sơ đồ các nhóm năng lực
Biểu hiện của các năng lực chung:
| Các năng lực chung | Biểu hiện |
|---|---|
| 1. Năng lực tự học | a) Xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện. |
| b) Lập và thực hiện kế hoạch học tập nghiêm túc, nề nếp; thực hiện các cách học: Hình thành cách ghi nhớ của bản thân; phân tích nhiệm vụ học tập để lựa chọn được các nguồn tài liệu đọc phù hợp: các đề mục, các đoạn bài ở sách giáo khoa, sách tham khảo, internet; lưu giữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt với đề cương chi tiết, bằng bản đồ khái niệm, bảng, các từ khóa; ghi chú bài giảng của GV theo các ý chính; tra cứu tài liệu ở thư viện nhà trường theo yêu cầu của nhiệm vụ học tập. | |
| c) Nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua lời góp ý của GV, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập. | |
| 2. Năng lực giải quyết vấn đề | a) Phân tích được tình huống trong học tập; phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập. |
| b) Xác định được và biết tìm hiểu các thông tin liên quan đến vấn đề; đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề. | |
| c) Thực hiện giải pháp giải quyết vấn đề và nhận ra sự phù hợp hay không phù hợp của giải pháp thực hiện. | |
| 3. Năng lực sáng tạo | a) Đặt câu hỏi khác nhau về một sự vật, hiện tượng; xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới; phân tích, tóm tắt những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác nhau. |
| b) Hình thành ý tưởng dựa trên các nguồn thông tin đã cho; đề xuất giải pháp cải tiến hay thay thế các giải pháp không còn phù hợp; so sánh và bình luận được về các giải pháp đề xuất. | |
| c) Suy nghĩ và khái quát hoá thành tiến trình khi thực hiện một công việc nào đó; tôn trọng các quan điểm trái chiều; áp dụng điều đã biết vào tình huống tương tự với những điều chỉnh hợp lý. | |
| d) Hứng thú, tự do trong suy nghĩ; chủ động nêu ý kiến; không quá lo lắng về tính đúng sai của ý kiến đề xuất; phát hiện yếu tố mới, tích cực trong những ý kiến khác. | |
| 4. Năng lực tự quản lý | a) Nhận ra được các yếu tố tác động đến hành động của bản thân trong học tập và trong giao tiếp hàng ngày; kiềm chế được cảm xúc của bản thân trong các tình huống ngoài ý muốn. |
| b) Ý thức được quyền lợi và nghĩa vụ của mình; xây dựng và thực hiện được kế hoạch nhằm đạt được mục đích; nhận ra và có ứng xử phù hợp với những tình huống không an toàn. | |
| c) Tự đánh giá, tự điều chỉnh những hành động chưa hợp lý của bản thân trong học tập và trong cuộc sống hàng ngày. | |
| d) Đánh giá được hình thể của bản thân so với chuẩn về chiều cao, cân nặng; nhận ra được những dấu hiệu thay đổi của bản thân trong giai đoạn dậy thì; có ý thức ăn uống, rèn luyện và nghỉ ngơi phù hợp để nâng cao sức khoẻ; nhận ra và kiểm soát được những yếu tố ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ và tinh thần trong môi trường sống và học tập. | |
| 5. Năng lực giao tiếp | a) Bước đầu biết đặt ra mục đích giao tiếp và hiểu được vai trò quan trọng của việc đặt mục tiêu trước khi giao tiếp; |
| b) Khiêm tốn, lắng nghe tích cực trong giao tiếp; nhận ra được bối cảnh giao tiếp, đặc điểm, thái độ của đối tượng giao tiếp; | |
| c) Diễn đạt ý tưởng một cách tự tin; thể hiện được biểu cảm phù hợp với đối tượng và bối cảnh giao tiếp. | |
| 6. Năng lực hợp tác | a) Chủ động đề xuất mục đích hợp tác khi được giao các nhiệm vụ; xác định được loại công việc nào có thể hoàn thành tốt nhất bằng hợp tác theo nhóm với quy mô phù hợp; |
| b) Biết trách nhiệm, vai trò của mình trong nhóm ứng với công việc cụ thể; phân tích nhiệm vụ của cả nhóm để nêu được các hoạt động phải thực hiện, trong đó tự đánh giá được hoạt động mình có thể đảm nhiệm tốt nhất để tự đề xuất cho nhóm phân công; | |
| c) Nhận biết được đặc điểm, khả năng của từng thành viên cũng như kết quả làm việc nhóm; dự kiến phân công từng thành viên trong nhóm các công việc phù hợp; | |
| d) Chủ động và gương mẫu hoàn thành phần việc được giao, góp ý điều chỉnh thúc đẩy hoạt động chung; chia sẻ, khiêm tốn học hỏi các thành viên trong nhóm; | |
| e) Biết dựa vào mục đích đặt ra để tổng kết hoạt động chung của nhóm; nêu mặt được, mặt thiếu sót của cá nhân và của cả nhóm. | |
| 7. Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông | a) Sử dụng đúng cách các thiết bị ICT để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể; nhận biết các thành phần của hệ thống ICT cơ bản; sử dụng được các phần mềm hỗ trợ học tập thuộc các lĩnh vực khác nhau; tổ chức và lưu trữ dữ liệu vào các bộ nhớ khác nhau, tại thiết bị và trên mạng. |
| b) Xác định được thông tin cần thiết để thực hiện nhiệm vụ học tập; tìm kiếm được thông tin với các chức năng tìm kiếm đơn giản và tổ chức thông tin phù hợp; đánh giá sự phù hợp của thông tin, dữ liệu đã tìm thấy với nhiệm vụ đặt ra; xác lập mối liên hệ giữa kiến thức đã biết với thông tin mới thu thập được và dùng thông tin đó để giải quyết các nhiệm vụ học tập và trong cuộc sống; | |
| 8. Năng lực sử dụng ngôn ngữ | a) Nghe hiểu nội dung chính hay nội dung chi tiết các bài đối thoại, chuyện kể, lời giải thích, cuộc thảo luận; nói chính xác, đúng ngữ điệu và nhịp điệu, trình bày được nội dung chủ đề thuộc chương tŕnh học tập; đọc hiểu nội dung chính hay nội dung chi tiết các văn bản, tài liệu ngắn; viết đúng các dạng văn bản về những chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân ưa thích; viết tóm tắt nội dung chính của bài văn, câu chuyện ngắn; |
| b) Phát âm đúng nhịp điệu và ngữ điệu; hiểu từ vựng thông dụng được thể hiện trong hai lĩnh vực khẩu ngữ và bút ngữ, thông qua các ngữ cảnh có nghĩa; phân tích được cấu trúc và ý nghĩa giao tiếp của các loại câu trần thuật, câu hỏi, câu mệnh lệnh, câu cảm thán, câu khẳng định, câu phủ định, câu đơn, câu ghép, câu phức, câu điều kiện; c) Đạt năng lực bậc 2 về 1 ngoại ngữ | |
| 9. Năng lực tính toán | a) Sử dụng được các phép tính (cộng, trừ, nhân, chia, luỹ thừa, khai căn) trong học tập và trong cuộc sống; hiểu và có thể sử dụng các kiến thức, kĩ năng về đo lường, ước tính trong các tình huống quen thuộc. |
| b) Sử dụng được các thuật ngữ, kí hiệu toán học, tính chất các số và của các hình hình học; sử dụng đýợc thống kê toán học trong học tập và trong một số tình huống đơn giản hàng ngày; hình dung và có thể vẽ phác hình dạng các đối tượng, trong môi trường xung quanh, nêu được tính chất cơ bản của chúng. | |
| c) Hiểu và biểu diễn được mối quan hệ toán học giữa các yếu tố trong các tình huống học tập và trong đời sống; bước đầu vận dụng được các bài toán tối ưu trong học tập và trong cuộc sống; biết sử dụng một số yếu tố của lôgic hình thức để lập luận và diễn đạt ý tưởng. | |
| d) Sử dụng được các dụng cụ đo, vẽ, tính; sử dụng được máy tính cầm tay trong học tập cũng như trong cuộc sống hàng ngày; bước đầu sử dụng máy vi tính để tính toán trong học tập. |
Từ các năng lực chung, mỗi môn học xác định những năng lực cá biệt và những yêu cầu đặt ra cho từng môn học, từng hoạt động giáo dục phù hợp.
1.1.4.2. Năng lực chuyên biệt
Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc, hoặc tình huống, môi trường đặc thù, đáp ứng yêu cầu cao và sâu hơn của một môn học hay một hoạt động nào đó.
Năng lực cụ thể, chuyên biệt được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học cụ thể nào đó, do đặc điểm của môn học đó. Ngoài ra, người ta còn gọi là Năng lực đặc thù môn học hay năng lực môn học cụ thể để phân biệt với năng lực xuyên CT- năng lực chung.
Giữa năng lực chung và năng lực chuyên biệt có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, góp phần bổ xung cho nhau; vì vậy mà đôi lúc ranh giới giữa chúng bị nhòe, không rõ ràng, minh bạch.
Hợp tác là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống lao động của con người, nó diễn ra thường xuyên trong gia đình, trong xã hội; do vậy hợp tác mang bản chất sinh học tự nhiên của mỗi con người trong xã hội.
Theo từ điển tiếng Việt (1992): “Hợp tác là cùng chung sức giúp nhau trong một công việc, trong một lĩnh vực hoạt động nào đó nhằm đạt được mục đích chung”. [17]
Theo từ điển tâm lý học (2008): “Hợp tác là hai hay nhiều bộ phận trong một nhóm cùng làm việc theo cùng một cách thức để tạo ra một kết quả chung.” [20]
Khi nói đến hợp tác thì người ta thường dùng các thuật ngữ như: hợp tác, hợp lực, cộng tác, phối hợp, … Trong đó, hợp tác là thuật ngữ mang hàm ý rộng nhất, nó bao gồm các nghĩa cơ bản của các thuật ngữ trên. Hợp tác chứa đựng sự chung sức của “hợp lực” và “cộng tác”. Tuy nhiên, không phải cứ làm việc cùng nhau là hợp tác? Chẳng hạn, làm việc cùng nhau mà thiếu sự thoải mái, tự nhiêu, vui vẻ; làm việc cùng với nhau vì một số điều kiện ràng buộc nào đó hay qua một số áp lực nào đó: lo sợ, hình phạt, lợi thiệt … Hay nói cách khác làm việc cùng nhau một hình thức, khiên cưỡng thì đó không phải là hợp tác.
Định nghĩa về hợp tác có thể được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau, nhưng tất cả đều giống nhau về nội hàm với những dấu hiệu cơ bản sau đây:
– Hoạt động cùng nhau với mục đích chung trên cơ sở mọi người cùng có lợi.
– Nhiệm vụ được phân công phù hợp với năng lực của từng người. Hợp tác phải được chỉ đạo bởi nguyên tắc về sự tôn trọng lẫn nhau.
– Các thành viên trong nhóm bình đẳng, phụ thuộc lẫn nhau, trên cơ sở trách nhiệm cá nhân cao, chấp hành kỷ luật, tuân theo những quy định chung và theo sự chỉ đạo, hướng dẫn của người đứng đầu
– Hỗ trợ, giúp đỡ, chia sẻ thông tin và nguồn lực, khích lệ tinh thần tập thể hơn là đề cao sự ganh đua.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\ĐẠI HỌC SƯ PHẠM\Phát triển năng lực hợp tác của học sinh trong dạy học chuyên đề Trường hấp dẫn – Vật lí 11\CHUYỂN VÙNG/LUANVAN


