Phát triển hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng

Phát triển hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng

Phát triển hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh  Quảng Nam

Lý do chọn đề tài

Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, các tổ chức kinh tế, các cá nhân hoạt động kinh doanh trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Trong đó, sự phát triển của ngành ngân hàng là một đóng góp không thể thiếu đối với nền kinh tế hiện nay. Nền kinh tế chỉ có thể cất cánh phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống ngân hàng lớn mạnh. Các ngân hàng cạnh tranh bằng nhiều hình thức như đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng nhằm thu hút khách hàng về phía ngân hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển của ngân hàng. Rõ ràng, thành công của ngân hàng chịu sự chi phối lớn của hoạt động tín dụng, đây là một nghiệp vụ truyền thống, chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu tài sản và cơ cấu thu nhập. Chính vì thế nó là một hoạt động rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.

Các ngân hàng Việt Nam luôn chú trọng về việc đa dạng hóa các sản phẩm cấp tín dụng, xây dựng quy trình cho vay linh hoạt cạnh tranh, cùng với hệ thống quản lý rủi ro chặt chẽ, nâng cao hiệu quả cấp phát tín dụng, xây dựng nhiều chương trình ưu đãi nhằm thu hút khách hàng quan hệ tín dụng.…Tuy nhiên hoạt động cấp tín dụng của một số ngân hàng hiện nay đạt hiệu quả chưa cao, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Nhận thức được vấn đề đó, cùng với những kiến thức có được trong quá trình tìm hiểu tại DongA Bank_Chi nhánh Quảng Nam, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Phát triển hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Quảng Nam”. Với đề tài này, tác giả tiến hành phân tích thực trạng cấp tín dụng tại DongA Bank_Chi nhánh Quảng Nam, tìm hiểu những nhân tố tác động đến hiệu quả, những mặt còn hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng khách hàng cá nhân để từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng.

Mục tiêu nghiên cứu.

Phân tích thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại DongA Bank Chi nhánh Quảng Nam tìm ra những điểm mạnh cần được phát huy và những hạn chế ngân hàng cần khắc phục để tăng tính cạnh tranh cho các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân của DongA Bank chinh nhánh Quảng Nam với các ngân hàng khác trong địa bàn từ đó đưa ra một số giải pháp phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân.

Để đạt được các mục tiêu trên ta cần phải có các mục tiêu cụ thể sau:

– Hệ thống hóa lý luận hoạt động cho vay khách hàng cá nhân.

– Phân tích thực trạng cho vay khách hàng cá nhân tại DongA Bank chi nhánh Quảng Nam qua 3 năm 2015, 2016 và 2017.

– Đánh giá khả năng cạnh tranh các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân tại DongA Bank chi nhánh Quảng Nam.

– Tìm kiếm một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại DongA Bank- Chi nhánh Quảng Nam.

Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp thu thập số liệu: Từ nguồn thông tin bên trong ngân hàng cung cấp (Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh, hoạt động huy động vốn, tình hình cho vay giai đoạn 2015-2017, nợ quá hạn, dư nợ khách hàng cá nhân…) và từ nguồn thông tin bên ngoài, sách báo, tạp chí và các trang web của các ngân hàng khác…

– Phương pháp phân tích số liệu: Nhằm tính toán, so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu giữa các năm để đánh giá sự biến động, thay đổi qua từng giai đoạn từ đó tổng hợp phân tích để rút ra kết luận.

Phạm vi nghiên cứu

4.1. Giới hạn về không gian

Các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân tại DongA Bank chi nhánh Quảng Nam.

4.2. Giới hạn về thời gian

Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại DongA Bank chi nhánh Quảng Nam trong giai đoạn năm 2015 đến 2017.

Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục tài liệu tham khảo nội dung của luận văn được thể hiện qua 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân.

Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại DongA Bank- Chi nhánh Quảng Nam.

Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại DongA Bank- Chi nhánh Quảng Nam.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG

TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN

1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Khái niệm

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, cung cấp một danh mục dịch vụ tài chính tổ hợp, với ba loại hình chủ yếu nhận tiền gửi, cấp tín dụng và làm dịch vụ thanh toán [10]

1.1.2. Chức năng

1.1.2.1. Chức năng trung gian tín dụng

Sơ đồ 1.1. Chức năng trung gian tín dụng của NHTM

(Nguồn: Giáo trình quản trị ngân hàng thương mại)

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi, lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay… Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho NHTM.[10]

1.1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán

Sơ đồ 1.2. Chức năng trung gian thanh toán của NHTM

Nguồn: Giáo trình quản trị ngân hàng thương mại

Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.

Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.[10]

Phát triển hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh  Quảng Nam
Phát triển hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Quảng Nam

1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG

1.2.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là là việc ngân hàng chấp thuận để khách hàng sử dụng một lượng tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) trên cơ sở lòng tin khách hàng có khả năng hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn. ngân hàng cấp tín dụng bằng các nghiệp vụ cho vay, chiếc khấu, cho thuê tài chính, bão lãnh và các nghiệp vụ khác. [10]

1.2.2. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng:

Tín dụng ngân hàng có 05 đặc điểm sau:[10]

Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin vì ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn, đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay đúng hạn. Đây là đặc điểm quan trọng nhất từ đó tạo ra các đặc điểm tiếp theo.

Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn hay có tính hoàn trả. Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều có thời hạn đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn vay.

Thứ ba, tín dụng phải trên nguyên tắc không chỉ hoàn trả gốc mà phải cả lãi. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay.

Thứ tư, tín dụng là hoạt động tìm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc đánh giá độ an toàn của hồ sơ vay vốn là rất khó vì luôn tồn taị các thông tin bất cưng xứng, phụ thuộc vào bản thân khách hàng, môi trường và các sự cố ngoài ý muốn,.. đây là những yếu tố mang đến rủi ro cao.

Thứ năm, tín dụng trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện dựa trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặc chẽ: Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, cầm cố, khuế ước nợ,…

1.2.3. Các loại hình tín dụng ngân hang [10]

1.2.3.1. Căn cứ theo thời gian sử dụng vốn vay

Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn một năm trở lại, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân.

Tín dụng trung hạn: Có thời hạn từ trên 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.

Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.

Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất.

1.2.3.2. Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay

Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh.

Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp. Loại hình này thường được áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và sòng phẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ.

1.2.3.3. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay

Tín dụng bất động sản: Là khoản tín dụng đầu tư vào bất động sản, bao gồm:

– Tín dụng ngắn hạn cho xây dựng nhỏ và sửa chữa nhà cửa.

– Tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, cơ sở dịch vụ, trang trại.

Tín dụng công thương: là khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để trang trải các chi phí như mua hàng hóa, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, trả thuế và chi trả lương.

Tín dụng nông nghiệp: là khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp, nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi.

Tín dụng tiêu dùng: là khoản tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình để mua sắm hang hóa tiêu dùng đắt tiền như xe hơi, trang thiết bị trong nhà, cho vay du học…

Tín dụng đầu tư tài chính: là khoản tín dụng cấp cho các cá nhân, doanh nghiệp mua chứng khoán, vàng.

1.2.3.4. Căn cứ vào chủ thể vay vốn

Tín dụng khách hàng doanh nghiệp: gọi là bán buôn vì các doanh nghiệp thường vay với những khoản vay có giá trị lớn. Tuy nhiên những khoản vay doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không lớn vẫn thuộc bán lẻ

Tín dụng khách hàng cá nhân (hộ gia đình, cá nhân): gọi là bán lẻ vì những cá nhân thường vay với những khoản vay có giá trị nhỏ nhằm vào mục đích tiêu dùng hoặc kinh doanh hộ gia đình.

1.2.3.5. Căn cứ vào phương thức hoàn trả vốn vay

Tín dụng hoàn trả nhiều lần: loại tín dụng này áp dụng cho những khoản vay lớn và cớ thời hạn dài.

Tín dụng hoàn trả một lần: là loại tín dụng mà khách hàng hoàn trả gốc và lãi một lần khi đến hạn.

Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: là loại tín dụng mà khách hàng có thể hoàn trả nợ vay bất cứ lúc nào.

1.2.3.6. Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng

Tín dụng bằng tiền: là loại tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tiền.

Tín dụng bằng tài sản: là loại tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng là bằng tài sản.

Tín dụng bằng uy tín: là loại tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng uy tín.

1.2.3.7. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng

Tín dụng trực tiếp:là loại tín dụng, trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách hàng có nhu cầu vay vốn, đồng thời khách hàng hoàn trả nợ vay trực tiếp cho ngân hàng.

Tín dụng gián tiếp: là hình thức cấp tín dụng thông qua trung gian như tín dụng ủy thác, tín dụng thông qua các tổ chức đoàn thể…

1.2.4. Các phương thức cho vay

Cho vay từng lần: Theo phương thức này, mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng phải thực hiện vay vốn và kí kết hợp đồng tín dụng theo quy định.

Cho vay theo hạn mức tín dụng: Với phương thức này, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận hạn mức tín dụng duy trì trong khoảng thời gian nhất định đồng thời kí kết hợp đồng tín dụng cho cả thời gian duy trì hạn mức tín dụng đó.

Cho vay theo dự án đầu tư: Với phương thức này, tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.

Cho vay hợp vốn: Theo phương thức này, một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của Quy chế này và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành.

Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kì hạn trong thời hạn cho vay.

Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức trả phí cho hạn mức tín dụng dự phòng.

Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Theo phương thức này, tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng.

Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán thông qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.

1.2.5. Vai trò của tín dụng [10]

1.2.5.1. Đối với nền kinh tế

Thứ nhất Tín dụng là điều kiện đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục.

Trong một thời điểm trong nền kinh tế luôn tồn tại hai nhóm doanh nghiệp: Một nhóm “tạm thời thừa vốn” và muốn sử dụng số vốn nhàn rỗi này để kiếm lời trong một thời gian nhất định. Một nhóm “tạm thời thiếu vốn” và muốn tìm kiếm nguồn vốn nhàn rỗi khác để đáp ứng nhu cầu hiện tại. Nhờ hoạt động tín dụng mà cả hai nhóm doanh nghiệp đều được thoả mãn về vốn và dẫn đến quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, nguồn vốn được sử dụng một cách tối đa.

Thứ hai Tín dụng huy động, tập trung vốn thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

Bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển nền kinh tế cũng cần có một nguồn vốn đầu tư lớn để đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, chiến thắng trong cạnh tranh. Nhưng để có lượng vốn đủ lớn như vậy thì chỉ có quan hệ tín dụng mới đáp ứng được điều đó bởi quan hệ tín dụng sẽ tập trung huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và đáp ứng nhu cầu đó.

Thứ ba Tín dụng góp phần nâng cao mức sống của dân cư.

Một trong những ví dụ điển hình để minh chứng cho điều này là thông qua quan hệ tín dụng mà những người có thu nhập thấp những người tàn tật đã có được nhà ở, phương tiện đi lại, điện thoại…. Bởi họ có thể sử dụng phương thức vay trả góp.

Thứ tư Tín dụng là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước.

Như ta đã biết cơ cấu kinh tế được quyết định bởi cơ cấu đầu tư mà tín dụng lại quyết định đến cơ cấu đầu tư. Nhà nước thông qua hoạt động của các Ngân hàng thương mại, chủ yếu là hoạt động tín dụng để điều chỉnh cơ cấu kinh tế.

1.2.5.2. Đối với ngân hàng

Chức năng truyền thống của Ngân hàng là cung cấp các khoản tín dụng để tài trợ cho các hoạt động kinh tế, tiêu dùng. Hiện tại, lợi nhuận mang lại từ hoạt động tín dụng vẫn chiếm phần lớn trên tổng nguồn thu của Ngân hàng, là kênh phân phối chủ yếu đối với nguồn vốn huy động được từ dân cư. Một thị trường tín dụng tiêu dùng phát triển tốt sẽ gia tăng khả năng của người tiêu dùng nhằm mua những hàng hóa và dịch vụ.

1.3. TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN

1.3.1. Khái niệm

Trên cơ sở định nghĩa “Tín dụng ngân hàng” nêu trên và trong phạm vi của luận văn này, đối tượng khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Vì vậy tín dụng khách hàng cá nhân là hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể.

Tín dụng khách hàng cá nhân đóng góp lớn đến sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. Tín dụng khách hàng cá nhân đã phát triển từ lâu trên thế giới, nhưng là một khái niệm khá mới ở thị trường Việt Nam. Tuy nhiên tín dụng khách hàng cá nhân đã nhanh chóng thu hút được nhiều khách hàng và có tiềm năng rất lớn để phát triển. Điểm thuận lợi là quy mô thị trường lớn với dân số đông (khoảng 90 triệu người), đa số trong đó có độ tuổi trẻ, có thu nhập ngày càng cao và có nhu cầu chi tiêu cho nhiều mục đích. Hiện nay xu hướng tiêu dùng trước, trả sau để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống tăng nhanh, nhất là ở các thành phố lớn. Chính vì thế, các sản phẩm tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng được khách hàng rất quan tâm. Đây là cơ sở để các ngân hàng tự tin đẩy mạnh mảng kinh doanh tín dụng này.

1.3.2. Đặc điểm của tín dụng khách hàng cá nhân

Thứ nhất, quy mô khoản vay nhỏ nhưng số món vay lớn: So với việc cho vay sản xuất kinh doanh, giá trị các khoản cho vay cá nhân không lớn. Điều này một phần do giá trị hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng ở mức vừa phải. Mặt khác, đa số các khách hàng vay vốn đã có sự tích luỹ từ trước đối với các tài sản có giá trị lớn, họ chỉ tìm đến ngân hàng với mục đích hỗ trợ cho hoạt động tiêu dùng cá nhân. Tuy quy mô khoản vay này là nhỏ nhưng tổng quy mô cho vay của ngân hàng lại rất lớn do số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn tín dụng cá nhân lớn.

Thứ hai, các khoản tín dụng cá nhân có mức lãi suất cho vay chưa linh hoạt: Khách hàng cá nhân thường ít “nhạy cảm” với lãi suất, họ thường chỉ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng. Do đó, khác với hầu hết các khoản cho vay kinh doanh lãi suất được điều chỉnh theo thị trường, lãi suất tín dụng cá nhân thường được ấn định tại một mức nhất định. Đối với các khoản cho vay ngắn hạn, lãi suất được ấn định ngay từ đầu và không thay đổi cho đến hết thời hạn vay. Đối với những khoản vay trung và dài hạn, lãi suất cho vay thường được điều chỉnh mỗi năm một lần dựa trên cơ sở lãi suất huy động, cộng với một biên độ nhất định tuỳ theo từng ngân hàng.

Thứ ba, tín dụng cá nhân có chi phí lớn nhất trong danh mục tín dụng của ngân hàng: Bởi quy mô của mỗi khoản vay thường nhỏ thậm chí không đáng kể song số lượng các khoản vay lại rất lớn. Hơn nữa, việc cập nhật các thông tin cá nhân khó có thể đầy đủ và chính xác. Do vậy, ngân hàng phải thực hiện rất nhiều bước trong quá trình cho vay từ lúc tiếp nhận hồ sơ. thẩm định khách hàng, giải ngân cho đến lúc thu hồi nợ.

Thứ tư, tín dụng cá nhân có mức độ rủi ro cao: Rủi ro trong cho vay đối với khách hàng cá nhân cao hơn cho vay doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ 2 nguyên nhân sau:

– Rủi ro về lãi suất: Đối với các khoản cho vay kinh doanh, ngân hàng và khách hàng thường có sự thỏa thuận áp dụng mức lãi suất thả nổi, tức là lãi suất được điều chỉnh theo từng kỳ hạn nhất định trong suốt thời hạn cho vay. Vì vậy, nguy cơ rủi ro về lãi suất đối với cho vay kinh doanh sẽ thấp hơn so với cho vay cá nhân.

– Về cho vay khách hàng cá nhân dễ gặp rủi ro đạo đức, khả năng hoàn trả vốn vay đối với các khoản cho vay tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập của người đi vay. Tuy nhiên, đối với những khách hàng cá nhân có thể do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan mà họ không thể thực hiện trả nợ hoặc trì hoãn trả nợ, từ đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng. Nhân tố chủ quan có thể là tình trạng “sức khoẻ” tài chính của người đi vay, công việc làm ăn không tốt … ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tài chính của khách hàng, từ đó giảm khả năng thực hiện trả nợ của khách hàng. Các nhân tố khách quan như hạn hán, mất mùa, sự suy thoái của nền kinh tế dẫn đến khả năng mất việc cao… cũng là những nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của khách hàng.

Thứ năm, lợi nhuận từ tín dụng khách hàng cá nhân lớn: Lãi suất của các khoản tín dụng khách hàng cá nhân phần lớn đều cao hơn các khoản tín dụng khác của ngân hàng thương mại. Điều này xuất phát từ các khoản tín dụng khách hàng cá nhân có chi phí cao và rủi ro cao nhất trong các loại cho vay của NHTM. Mức lợi nhuận từ trên mỗi khoản tín dụng khách hàng cá nhân cao, số lượng lớn, vì vậy toàn bộ lợi nhuận thu về từ hoạt động này là đáng kể trong tổng thu nhập của NHTM.

1.3.3. Vai trò của tín dụng khách hàng cá nhân

Có thể nói rằng hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế, dù là trực tiếp hay gián tiếp cũng đều được hưởng những lợi ích do hoạt động của ngân hàng mang lại. Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân cũng không là ngoại lệ khi có những vai trò sau đây:

1.3.3.1. Đối với nền kinh tế – xã hội

❖ Góp phần tạo sự năng động cho các thành phần kinh tế

Tín dụng khách hàng cá nhân là kênh hỗ trợ vốn để dân chúng trang trải các chi phí phát sinh trong cuộc sống từ thỏa mãn nhu cầu thiết yếu cho đến nhu cầu xa xỉ với chi phí đắt đỏ, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, buộc các thành phần kinh tế phải đẩy mạnh sản xuất, do đó tạo nhiều công ăn việc làm, tạo ra những khác biệt tích cực giúp tăng khả năng cạnh tranh trước các đối thủ trong và ngoài nước trong thời kỳ hội nhập.

❖ Góp phần tạo sự ổn định về mặt xã hội

Là một phần của tín dụng nói chung, tín dụng khách hàng cá nhân cũng có vai trò tích cực đối với xã hội. Tín dụng khách hàng cá nhân góp phần khai thác triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội rồi lưu thông các nguồn vốn này một cách trôi chảy và hiệu quả, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao.

Tín dụng khách hàng cá nhân giúp kích cầu trong nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy sản xuất trong nước. Do đó thu hút nhiều lực lượng lao động tham gia xây dựng, sản xuất tạo công ăn việc làm, hướng đến các mục tiêu xã hội như xóa đói, giảm nghèo, tăng thu nhập, giảm tệ nạn xã hội góp phần ổn định trật tự xã hội.

1.3.3.2. Đối với ngân hàng

❖ Góp phần nâng cao thương hiệu cho ngân hàng

Do có đối tượng khách hàng rất rộng nên việc phát triển tín dụng khách hàng cá nhân sẽ giúp hình ảnh thương hiệu của ngân hàng được phổ biến rộng khắp. Thông qua tín dụng khách hàng cá nhân, ngoài việc cấp tín dụng cho khách hàng còn giúp ngân hàng thuận lợi trong bán chéo sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ như: tiền gửi tiết kiệm, giao dịch thanh toán, chuyển lương qua tài khoản, phát hành – thanh toán thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử… Khả năng cung cấp gói sản phẩm dịch vụ tài chính cá nhân đồng bộ thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng sẽ tạo nét khác biệt cho ngân hàng trong cạnh tranh với đối thủ, do đó góp phần nâng cao thương hiệu cho ngân hàng.

❖ Góp phần phân tán rủi ro cho ngân hàng

Nếu một ngân hàng chỉ tập trung cho vay các khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn, vì lý do nào đó mà hoạt động kinh doanh của các khách hàng này gặp khó khăn gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Do vậy, với nguyên tắc “tránh để tất cả trứng vào một rổ”, các ngân hàng phát triển tín dụng khách hàng cá nhân như một sự phân tán rủi ro vì với số lượng khách hàng cá nhân đông, số tiền vay ít thì khi có một khách hàng hoặc một số ít khách hàng gặp rủi ro dẫn đến không có khả năng trả nợ thì ít gây ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

1.3.3.3. Đối với khách hàng cá nhân

Cuộc sống con người luôn tồn tại những nhu cầu về vật chất và tinh thần, những nhu cầu đó ngày càng đa dạng và cao hơn, bắt đầu từ những hàng hoá thiết yếu rồi đến những hàng hoá xa xỉ hơn cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Nhưng việc thỏa mãn những nhu cầu đó lại phụ thuộc vào khả năng thanh toán hiện tại.

Ở một chừng mực nào đó, tín dụng khách hàng cá nhân giúp cho các khách hàng linh hoạt hơn trong việc giải quyết vấn đề thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Thay vì phải tích lũy đủ vốn ở hiện tại để thực hiện kế hoạch của bản than, người tiêu dùng sẽ khéo léo phối hợp giữa thoả mãn nhu cầu ở hiện tại với khả năng thanh toán ở hiện tại và tương lai. Nghĩa là họ sẽ tiêu dùng trước bằng cách lựa chọn phương án vay vốn ngân hàng rồi tích lũy và hoàn trả sau cho ngân hàng. Vai trò này hết sức có ý nghĩa đối với những trường hợp mua sắm các hàng hoá thiết yếu có giá trị cao như nhà cửa, xe hơi… hay chi tiêu cấp bách như ốm đau, bệnh tật, ma chay, cưới hỏi… Trong những trường hợp này, thay vì bế tắc hoặc phải tìm đến những khoản vay nóng ngoài ngân hàng với lãi suất cao ngất ngưỡng, thì khách hàng có thể an tâm vay vốn từ ngân hàng với lãi suất và thời hạn vay hợp lý. Điều này được thể hiện rõ nét nhất tại các nước phát triển vì thông qua các khoản cấp tín dụng của ngân hàng hết sức nhanh chóng và thuận tiện thì khách hàng hầu như được đáp ứng các nhu cầu cá nhân thiết yếu của cuộc sống như mua nhà, mua ô tô, học tập, du lịch… góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

Ngoài ra. tín dụng khách hàng cá nhân còn là kênh các NHTM tài trợ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình giúp họ có điều kiện để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh trong ngành. Với điều kiện cấp tín dụng đơn giản hơn đối với khách hàng doanh nghiệp, tín dụng khách hàng cá nhân phù hợp với hình thức kinh doanh nhỏ lẻ, phù hợp với đặc tính và tập quán kinh doanh của đối tượng này.

1.3.4. Rủi ro của tín dụng khách hàng cá nhân

❖ Rủi ro do thông tin bất cân xứng

Khi thẩm định cho vay thì thông tin về bản thân khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng để ngân hàng đưa đến quyết định cho vay, bên cạnh tính hợp lý và hợp pháp của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo.

Đối với khách hàng là tổ chức, việc nắm bắt thông tin khách hàng là tương đối thuận lợi do có rất nhiều nguồn thông tin được công khai như: báo cáo tài chính, thông tin xếp hạng tín dụng, tình hình nộp thuế, uy tín quan hệ với các đối tác…

Ngược lại, đối với khách hàng cá nhân thì việc đánh giá nhân thân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thường khó đầy đủ và rõ ràng dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng khiến cho việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác. Nguồn trả nợ chủ yếu của khách hàng cá nhân là từ thu nhập ổn định ở thời điểm hiện tại. Do vậy, nếu người vay gặp vấn đề về sức khoẻ , mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập thì sẽ không trả được nợ vay cho ngân hàng.

❖ Rủi ro tác nghiệp

Do đặc điểm của tín dụng khách hàng cá nhân là quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn, vì vậy để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng nhằm nâng cao kết quả công việc đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng của cán bộ tín dụng. Do đó, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng các cán bộ thường hay chủ quan, thậm chí lợi dụng sự lỏng lẻo của công tác quản lý và sơ hở của các quy định để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của khách hàng, hoặc thông đồng với khách hàng gây ra những tổn thất cho ngân hàng.

Rủi ro này còn tăng lên đối với cho vay tín chấp, do ngân hàng cấp tín dụng trên cơ sở thẩm định uy tín của khách hàng tốt hay xấu mà không có tài sản đảm bảo hay biện pháp bảo trợ khi khách hàng mất khả năng trả nợ vay.

  • Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản phát sinh khi Ngân hàng không đủ thanh khoản để thanh toán các khoản nợ đến hạn: tiền gửi khách hàng đến hạn, các khoản đến hạn thanh toán nước ngoài, nợ đến hạn của các tổ chức tín dụng khác.

  • Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hay nghĩa vụ theo hợp đồng với Ngân hàng, bao gồm cả việc không hoàn thành trả nợ cho dù đó là nợ gốc hay nợ lãi.

  • Rủi ro tỷ giá

Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá gây ra. Hoạt động tín dụng cũng liên quan tới nhu cầu vay và mua bán ngoại tệ nên chứa đựng những rủi ro tỷ giá.

  • Rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất liên quan đến thay đổi lãi suất trong Ngân hàng.

1.4. HIỆU QUẢ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN

1.4.1. Khái niệm chung về hiệu quả tín dụng khách hàng cá nhân

Hiệu quả, giá cả và lượng hàng hoá là ba chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức mạnh và khả năng của ngân hàng. Để có thể đứng vững trong hoạt động kinh doanh thì việc cải thiện hiệu quả sản phẩm là điều tất yếu. Các nhà kinh tế nói đến hiệu quả bằng nhiều cách: Hiệu quả là “Sự phù hợp với mục đích và sự sử dụng”, là” một trình độ dự kiến trước về độ đồng đều và độ tin cậy với chi phí thấp và phù hợp với thị trường” hay hiệu quả là” năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu của người sử dụng”.

Với cách đề cập như vậy thì hiệu quả tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng và phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội.

Để có thể hiểu rõ hơn về hiệu quả tín dụng, ta xem xét sự thể hiện hiệu quả tín dụng trên các khía cạnh sau:

– Đối với khách hàng: Hiệu quả tín dụng được thể hiện ở chỗ số tiền mà ngân hàng cho vay phải có lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản, thuận lợi, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.

– Đối với ngân hàng thương mại: Hiệu quả tín dụng được thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi. Đối với một ngân hàng nhỏ thì nên cấp tín dụng với mức độ và trong phạm vi nhất định để thoả mãn một cách tốt nhất khách hàng của mình.

– Đối với Chính phủ về sự phát triển kinh tế xã hội: Hiệu quả tín dụng được thể hiện ở việc tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế.

1.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng khách hàng cá nhân [10]

1.4.2.1. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn

Phân tích cơ cấu cho vay trong tổng nguồn vốn huy động là việc xem xét đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng của bản thân ngân hàng cũng như đòi hỏi về vốn của nền kinh tế chưa. Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại có thể biết được khả năng mở rộng tín dụng của mình. Từ đó, có thể quyết định quy mô, tỷ trọng đầu tư vào các lĩnh vực một cách hợp lý để vừa đảm bảo an toàn vốn cho vay, vừa có thể thu lại lợi nhuận cao nhất có thể.

Chỉ tiêu này có thể được biểu thị bằng công thức:

Hiệu suất sử dụng vốn =Tổng dư nợx 100%
Tổng vốn huy động

1.4.2.2. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu

Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng đúng hạn.

Tỷ lệ nợ quá hạn hoặc tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn hoặc nợ xấu và tổng dư nợ của ngân hàng thương mại ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm.

Tỷ lệ nợ quá hạn =Nợ quá hạn ( nhóm 2.3.4.5)x 100%
Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ xấu =Nợ xấu (nhóm 3.4.5)x 100%
Tổng dư nợ

Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng. Khi một khoản vay không được trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Trên thực tế, phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề và có khả năng mất vốn. Như vậy, tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì ngân hàng thương mại càng gặp khó khăn trong kinh doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận, tức là tỷ lệ nợ quá hạn càng cao, hiệu quả tín dụng càng thấp.

1.4.2.3. Chỉ tiêu xử lý rủi ro tín dụng

Tỷ lệ xử lý rủi ro =Xử lý rủi rox 100%
Tổng dư nợ

Tỷ lệ này tăng lên đồng nghĩa với việc ngân hàng đang đối mặt với rủi ro mất vốn rất cao, phải sử dụng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng để bù lại số vốn đã mất.

1.4.2.4. Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng

Không thể nói một khoản tín dụng có chất lượng cao khi nó không đem lại một khoản thu nhập cho ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển. Lợi nhuận do tín dụng đem lại chứng tỏ các khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được độ an toàn của nguồn vốn cho vay.

Thu nhập từ hoạt động tín dụng =Lãi thu được từ hoạt động tín dụngx 100%
Tổng thu nhập

Ta thấy rằng nếu ngân hàng thương mại chỉ chú trọng vào việc giảm và duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì tỷ lệ nợ quá hạn thấp cũng không có ý nghĩa. Hiệu quả tín dụng được nâng cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng.

1.4.2.5. Vòng quay vốn tín dụng

Doanh số thu nợ

Doanh số thu nợ trên dư nợ bình quân =

Dư nợ bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn của ngân hàng được sử dụng cho vay một lần trong một năm. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, nó chứng tỏ nguồn vốn của ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh.

1.5. MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Tín dụng khách hàng cá nhân đã xuất hiện từ lâu trên thế giới và phát triển mạnh ở các quốc gia có tiềm lực về kinh tế và cạnh tranh ngân hàng sôi động nhưng chỉ mới phát triển một số năm gần đây tại Việt Nam. Trước đây, với hoạt động ngân hàng truyền thống ở nước ta, khách hàng chỉ có thể vay vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Hiện nay, trong xu hướng hội nhập quốc tế, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh đang có nhiều ưu thế để phát triển hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân hơn các ngân hàng trong nước. Chính vì thế, để tồn tại và phát triển các ngân hàng thương mại Việt Nam cần đúc kết hoạt động của các tổ chức tài chính tại một số nước trên thế giới từ thành công đến thất bại, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân nói riêng cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.

1.5.1. Kinh nghiệm phát triển tín dụng khách hàng cá nhân của các ngân hàng nước ngoài

1.5.1.1. Ngân hàng BNP Paribas với kinh nghiệm tái cơ cấu tổ chức

BNP Paribas là ngân hàng có hoạt động bán lẻ rộng lớn tại Pháp, với 6 triệu khách hàng và giữ vị trí dẫn đầu trong những dịch vụ ngân hàng qua mạng internet. Thông qua 2.200 chi nhánh bán lẻ khắp quốc gia. BNP Paribas duy trì mối quan hệ của họ với các khách hàng cá nhân, với các tập đoàn chuyên nghiệp và độc lập. Trong năm 2000, sự thắt chặt của việc kinh doanh ngân hàng dựa trên chi phí đã không cản trở BNP Paribas đạt được một sự tăng trưởng doanh thu khoảng 5%, số sản phẩm trung bình được bán/khách hàng tăng trưởng đi kèm với một sự gia tăng số lượng các khách hàng. số lượng tài khoản của các cá nhân tại BNP Paribas lên đến 73.000 tài khoản.

Bên cạnh đó, BNP Paribas là ngân hàng Pháp đầu tiên thực hiện một hệ thống internet toàn quốc, tháng 12/2000 công ty nghiên cứu Forrester xếp hạng BNP Paribas là ngân hàng trực tuyến tốt thứ tư ở Châu Âu.

Để có thể tối đa hóa hiệu quả hoạt động tín dụng và đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt hơn, PNB Paribas đã tái cơ cấu tổ chức gồm có ba nhóm cốt lõi.

Nhóm 1: Phân phối và phát triển sản phẩm (chú trọng liên kết giữa bán hàng và tiếp thị). Nhóm này tập trung vào doanh số và chiến lược phát triển sản phẩm trên cơ sở mối quan hệ khách hàng bao gồm nghiên cứu hành vi và mong đợi của khách hàng, theo dõi thị trường cũng như đối thủ cạnh tranh và tạo ra sản phẩm mới. Doanh số bán sẽ giúp nhóm xác định làm thế nào những sản phẩm và dịch vụ được bán, từ đó nhóm có thể đề ra những mục tiêu và biện pháp thực hiện. Một trong những ưu tiên hàng đầu của nhóm là thường xuyên điều chỉnh các loại sản phẩm và dịch vụ cho nhiều kênh phân phối khác nhau của ngân hàng, mở rộng cung cấp các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Pháp và thúc đẩy cơ hội bán chéo sản phẩm cho các tập đoàn và bộ phận đầu tư khác của ngân hàng.

Nhóm 2: Thực hiện nghiệp vụ và chăm sóc khách hàng (đặc biệt lưu ý dịch vụ hậu mãi). Nhóm này có hai nhiệm vụ chính là tổ chức và thực hiện các công việc hàng ngày. Mục tiêu của nhóm là xử lý các giao dịch một cách chuyên môn hóa để đạt chất lượng tốt nhất. Nền tảng đặc biệt này được thiết kế cho từng sản phẩm riêng biệt chứ không phụ thuộc vào vùng địa lý.

Nhóm 3: Phân tích và nghiên cứu chiến lược phát triển, BNP Paribas muốn các khách hàng của họ tiếp cận ngân hàng không chỉ qua các chi nhánh mà còn với các điểm giao dịch khác, cũng như việc cung cấp sản phẩm của họ không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia. Công việc chính của nhóm 3 là đưa ra cách thức thực hiện các dự án theo đúng chiến lược của ngân hàng. Trong quá trình thực hiện, nhóm có hai cách: Trước mắt, họ sẽ cung cấp dịch vụ qua mạng lưới các chi nhánh, sau đó họ mới thiết kế và triển khai hệ thống các kênh phân phối khác. Ngược lại, họ sẽ tái cơ cấu toàn bộ các kênh phân phối sản phẩm.

Ngoài ra, BNP Paribas đã thực hiện một chương trình đầu tư rất quy mô để hiện đại hóa mạng chi nhánh. Sự lớn mạnh của mạng lưới tiêu thụ phối hợp với nhân viên trẻ hơn tạo ra thế mạnh cho họ.

Với cam kết đảm bảo chất lượng dịch vụ ,thương hiệu PNB Paribas sẽ ngày càng xứng đáng là “Ngân hàng bán lẻ hàng đầu của Pháp”.

1.5.1.2. Citibank với kinh nghiệm hoạt động tại Australia

Citibank N.A. là công ty trực thuộc Citicorp được thành lập vào năm 1812 tại United States. với 3.400 chi nhánh, có trụ sở trên 100 nước và hơn 160.000 nhân viên trên toàn thế giới. Năm 1977, Citibank bắt đầu hoạt động tại Australia, trở thành một trong những ngân hàng quốc tế dẫn đầu tại Australia với hơn 10 tỉ tổng sở hữu và 1.500 nhân viên. Citibank thành công do khả năng tận dụng mạng lưới rộng khắp toàn cầu và những kinh nghiệm chuyên môn quốc tế.

Các sản phẩm được thiết kế trên nguyên tắc hướng đến khách hàng, sáng tạo, và khác biệt so các sản phẩm cùng loại. Một ví dụ điển hình là Citibank’s Mortgage Power, hình thức vay tín dụng tuần hoàn đầu tiên của Australia giúp cho khách hàng có thể tăng lợi nhuận; hay Business Power cung cấp khả năng linh hoạt cho phép kết nối tài chính cá nhân và tài chính kinh doanh cho những nhà quản lý kinh doanh nhỏ và tư nhân. Citibank’s Global Consumer Bank cung cấp cho khách hàng một hệ thống các dịch vụ ngân hàng cá nhân hoàn thiện, gồm có thế chấp tài chính cá nhân và doanh nghiệp, khoản vay cá nhân, thẻ tín dụng, tài khoản gửi và đầu tư.

Hệ thống kênh phân phối đa dạng, rộng khắp, dễ tiếp cận với 7 chi nhánh, 4.700 điểm ATM và 2.700 điểm thanh toán bưu điện, dịch vụ ngân hàng qua telephone được thực hiện 24/24h, 7 ngày một tuần và phần lớn khách hàng của Citibank sử dụng hình thức giao dịch từ xa.

Bên cạnh đó, nhân viên được tuyển dụng và đào tạo bài bản, am hiểu về sản phẩm và kỹ năng bán hàng, đảm bảo rằng cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất.

Ngoài ra, công tác quảng cáo và hậu mãi đặc biệt được quan tâm. Trang web Citibank cung cấp tỉ giá chung, các thông tin sản phẩm, tin tức và thể thao. Các khách hàng có thể thực hiện các cuộc giao dịch ngân hàng trực tuyến, là một trong những trang web phong phú và thân thiện với người sử dụng. Các chương trình tiếp thị trực tiếp với rất nhiều sản phẩm sáng tạo, cung cấp cho các khách hàng những chuyến du lịch, trò giải trí đặc biệt và hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ độc đáo khác.

Nhìn chung, Citibank được biết tới với chất lượng phục vụ khách hàng cao, những sản phẩm mới dựa trên sự hiểu biết và nắm bắt rõ nhu cầu của khách hàng, mang giá trị tinh thần bên cạnh những giá trị về tài chính, tạo ra tính khác biệt của sản phẩm, hệ thống kênh phân phối thuận lợi, đa dạng, ứng dụng công nghệ hiện đại và áp dụng chọn lọc kinh nghiệm trên thế giới vào các thị trường nội địa.

1.5.1.3. Khủng hoảng tín dụng bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ với kinh nghiệm cho hoạt động giám sát tài chính ở các ngân hàng Việt Nam

Hệ quả của suy thoái kinh tế, tài chính toàn cầu hiện nay được bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng bất động sản dưới chuẩn của Mỹ. Tín dụng bất động sản dưới chuẩn là hình thức tín dụng mà các công ty cho vay thế chấp ở Mỹ đã cung ứng cho khách hàng mua nhà, với các điều kiện cho vay được nới lỏng, như: không cần tiền đặt cọc theo hình thức cho vay truyền thống; cũng không đòi hỏi người đi vay phải chứng tỏ rõ ràng về khả năng trả nợ, hạ thấp “điểm tín dụng”, chấp thuận cho vay các khách hàng cho vay dưới 620 điểm và sản phẩm Option Adjustable Rate Mortgage (lãi suất thả nổi) được các công ty áp dụng phổ biến nhất. Với cách cho vay quá dễ dàng, vô số những khách hàng chưa hề có lý lịch vay mượn, hoặc có lý lịch yếu vì đã từng chậm trả nợ, hoặc không đủ khả năng trả góp hàng tháng cho đến những người đã bị phá sản… cũng trở thành chủ nhân những ngôi nhà to lớn, khang trang vượt quá khả năng trả nợ của mình.

Trong vòng 10 năm, giá nhà ở Mỹ đã tăng liên tục khoảng 20% mỗi năm và có nơi thì đã tăng gấp ba lần. Trong bối cảnh đó, hầu hết mọi người nhắm mắt đi vay mua nhà mà không ngần ngại. Bên cạnh đó, các công ty địa ốc ra đời hàng loạt và tham gia vào thị trường cho vay dưới chuẩn, việc có thêm nhiều nguồn tài trợ địa ốc đã làm nhà cửa ở Mỹ gia tăng giá nhanh chóng.

Trước đây, nguồn vốn cho vay địa ốc hầu như đều do ngân hàng cung cấp, tuy nhiên lượng tiền cho vay từ ngân hàng cũng có giới hạn. Những món nợ vay của các ngân hàng được dùng làm thế chấp để phát hành những “Trái phiếu bất động sản” bán cho các nhà đầu tư khác. Tương tự như vậy, các công ty tài trợ địa ốc cũng bán các món nợ này cho các ngân hàng đầu tư để họ phát hành những trái phiếu bất động sản và bán lại cho các nhà đầu tư khác. Chính vì vậy khi thị trường cho vay thế chấp nhà ở của Mỹ gặp khủng hoảng đã tạo ra hiệu ứng dây chuyền ảnh hưởng đến thị trường tài chính tiền tệ, thị trường chứng khoán của Mỹ và lan rộng ra toàn cầu. Ban đầu, bong bóng bất động sản nổ bục ra từ cuối năm 2006, đã dẫn đến một làn sóng mất khả năng chi trả và giải chấp các tài sản thế chấp; đến lượt nó lại dẫn đến sự sụt giảm giá cả của các loại chứng khoán có bất động sản; tổn thất tài chính này đã làm cho nhiều tổ chức tài chính lâm vào tình trạng có quá ít tiền vốn; các tổ chức tài chính có quá ít vốn so với các nghĩa vụ nợ của họ nên họ đã bán đi các tài sản có, làm cho giá cả của các loại tài sản này giảm sút thêm và làm cho trạng thái tài chính của các tài chính xấu thêm và phá sản hàng loạt.

1.5.1.4. Khủng hoảng thẻ tín dụng ở Mỹ với kinh nghiệm quản lý rủi ro của hoạt động tín dụng

Năm 2009, 73% tổng sản phẩm quốc nội Mỹ là đến từ tiêu dùng người dân, chỉ số tiết kiệm thực của họ đã xuống dưới mức 1%. Đây là hiện tượng chưa từng thấy kể từ cuộc đại khủng hoảng những năm 1930.

Sau nhiều năm phát hành thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng cao, điều kiện thông thoáng tràn ngập thị trường Mỹ, nhiều tổ chức tín dụng đã cắt giảm mạnh hoạt động này, trong điều kiện nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng cao, ngày càng có nhiều người không trả được nợ, nợ xấu tăng cao, các ngân hàng phải đương đầu với làn sóng thua lỗ sau thời kỳ hoàng kim hưởng lợi từ việc cấp tín dụng dễ dàng.

Đầu năm 2008, tổng số nợ trên thẻ tín dụng ở Mỹ đã lên đến 875 tỉ USD. Các khoản nợ xấu của thẻ tín dụng đã lên tới 21 tỷ USD trong nửa đầu năm 2008. Nguyên nhân do ngày càng nhiều người mất khả năng trả nợ, các công ty đang sa thải hàng chục nghìn công nhân. Tổng thua lỗ của các công ty đứng ở mức 5,5% tổng số nợ chưa trả của thẻ tín dụng và số thua lỗ này có thể lên tới 7,9%, mức đỉnh cao sau cuộc khủng hoảng dot­com những năm 2000. Những tổ chức cho vay lớn như American Express, Bank of America, Citigroup đã thắt chặt tiêu chuẩn làm thẻ và đưa ra hạn chế đối với đối tượng khách hàng có độ rủi ro cao. Capital One, một tổ chức phát hành thẻ tín dụng khác, đã đóng cửa tất cả các tài khoản không hoạt động và giảm hạn mức tín dụng thêm 4,5% trong quý 2, American Express đã tăng lãi suất lên thêm 2% đến 3% đối với một số đối tượng khách hàng, phạt các khách hàng không giữ được đúng cam kết trả nợ: bằng những mức phạt nặng, như tăng lãi suất, từ 9% đến 24% có khi lên đến 39%.

Các biện pháp trên được đưa ra nhằm đảm bảo cho tổ chức cho vay tiền nhưng lại gây khó khăn cho khách hàng. Kết quả tất yếu sẽ là người tiêu dùng phải trả lãi suất cao hơn và ngày gặp một nhiều khó khăn hơn trong việc vay tiền. Hạn mức tín dụng sụt giảm có thể khiến người tiêu dùng gặp khó trong việc quản lý chi tiêu. Khủng hoảng tài chính với mức độ sâu rộng khiến người dân những nước phụ thuộc vào thẻ tín dụng phải nghĩ lại về thói quen của họ. Nhiều gia đình quen với việc tiêu trước trả sau đã bắt đầu giảm sự phụ thuộc vào thẻ tín dụng.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\PHAM MINH HUNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *