Phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề án

Doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, tạo thành khung xương sống đối với hệ thống kinh tế – xã hội của đất nước. Trong thời gian qua, mặc dù đã cố gắng tiếp cận nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại (NHTM), tuy nhiên doanh nghiệp vẫn gặp phải khá nhiều các rào cản như môi trường vĩ mô chưa ổn định, khung pháp lý chưa thực sự hoàn chỉnh, các NHTM chưa đánh giá chính xác vai trò của doanh nghiệp đối với sự phát triển kinh tế xã hội… Trong khi đó, nguồn vốn tín dụng tại hệ thống NHTM vẫn khá dồi dào và chưa được sử dụng tối ưu.

Trong chiến lược phát triển tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk, bên cạnh cho vay nông nghiệp nông thôn, chi nhánh cũng có định hướng phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp (KHDN), nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo chủ trương của Nhà nước. Theo số liệu từ Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đắk Lắk, lũy kế đến 31/12/2023, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ước có 12.677 doanh nghiệp còn đăng ký, hoạt động, tồn tại. Đây là lượng khách hàng tiềm năng rất lớn đối với các NHTM trên địa bàn tỉnh nói chung và Agribank Chi nhánh Bắc Đắk Lắk nói riêng. Tuy nhiên đến thời điểm 31/12/2023, số lượng doanh nghiệp có quan hệ tín dụng tại Agribank Chi nhánh Bắc Đắk Lắk chỉ mới đạt 88 khách hàng, với tổng dư nợ 1.218 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 10% tổng dư nợ cho vay của đơn vị.

Qua nghiên cứu cho thấy, hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Agribank Chi nhánh Bắc Đắk Lắk còn tồn tại một số hạn chế: dư nợ cho vay thấp, chưa tương xứng với tiềm năng; danh mục sản phẩm tín dụng đối với doanh nghiệp chưa đa dạng, chưa phục vụ tối đa nhu cầu của khách hàng. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần thiết trong việc tìm ra nguyên nhân khiến hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp tại Agribank Chi nhánh Bắc Đắk Lắk chưa thực sự phát triển. Do vậy, tác giả đã chọn đề tài “Phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk” làm đề tài nghiên cứu cho Đề án cao học của mình. Đề án sẽ phân tích, đánh giá thực trạng cho vay doanh nghiệp tại Agribank Chi nhánh Bắc Đắk Lắk, đi sâu phân tích các mặt đã làm được, các mặt còn hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế tại Agribank Chi nhánh Bắc Đắk Lắk. Trên cơ sở đó, đề án sẽ đề xuất, kiến nghị các giải pháp khắc phục những hạn chế, phát huy lợi thế của Agribank Chi nhánh Bắc Đắk Lắk để phát triển hoạt động cho vay KHDN tại Chi nhánh.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Phát triển hoạt động cho vay KHDN tại Agribank – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

2.2. Mục tiêu chi tiết

Để đáp ứng được mục tiêu tổng quát, Đề án chia nhỏ thành 3 mục tiêu cụ thể:

– Phân tích tổng quan các tài liệu để hệ thống các vấn đề lý luận về phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại chi nhánh ngân hàng thương mại.

– Tìm hiểu và đánh giá thực trạng phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp tại Agribank – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk và Khảo sát thực trạng cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Agribank – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk nhằm nhận dạng các thành công, tồn tại và nguyên nhân dẫn tới các tồn tại.

– Đề xuất các giải pháp, kiến nghị đối với Agribank – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk và các cơ quan hữu quan nhằm phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp.

3. Phạm vi nghiên cứu

– Nội dung nghiên cứu: Các vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến việc phát triển hoạt động cho vay KHDN tại Agribank – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

– Phạm vi không gian: Tại Agribank – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

– Phạm vi thời gian nghiên cứu:

+ Số liệu sơ cấp: Tiến hành khảo sát từ ngày 01/07/2024 đến ngày 20/07/2024.

+ Số liệu thứ cấp: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk giai đoạn 2021–2023.

4. Phương pháp nghiên cứu

– Đề án được nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu hỗn hợp để tổng hợp các lý thuyết và nghiên cứu trước để hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về hoạt động cho vay khách hàng nói chung và phát triển hoạt động cho vay KHDN nói riêng để hình thành nên cơ sở lý thuyết của đề tài.

– Về phương pháp phân tích, đề án giới hạn sử dụng một số kỹ thuật phân tích thống kê để đánh giá sự biến động theo thời gian về quy mô và cấu trúc dữ liệu thứ cấp (các báo cáo, nghiên cứu đã có, liên quan) theo các chỉ tiêu khác nhau để nhận diện thực trạng hoạt động cho vay khách hàng nói chung phát triển hoạt động cho vay KHDN.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề án

– Về mặt ứng dụng lý thuyết: Đề án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các các nghiên cứu về sau.

– Về mặt thực nghiệm: Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm phát triển khách hàng. Từ đó góp phần gia tăng doanh số, thị phần, lợi nhuận và nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank nói chung, và Chi nhánh Bắc Đắk Lắk nói riêng.

6. Bố cục đề án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề án được chia thành 3 chương:

– Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại.

Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp và phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Agribank – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

– Chương 3: Một số giải pháp phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Agribank – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

7.1. Nghiên cứu ngoài nước.

7.2. Nghiên cứu trong nước.

Phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Khái niệm hoạt động cho vay.

Thuật ngữ “tín dụng” (trong tiếng Anh là “credit”) xuất phát từ “từ tiếng Pháp Trung cổ crédit (thế kỉ XV) nghĩa là “Niềm tin, sự tin tưởng”, tương đương với từ credito trong tiếng Ý và creditum trong tiếng Latinh nghĩa là “một khoản vay, một thứ được ủy thác cho người khác”, là quá khứ phân từ của credere, có nghĩa là “tín nhiệm, ủy thác, tin tưởng”.

Theo Khoản 4, Điều 2, Luật các TCTD 2024: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.”

Theo Trầm Thị Xuân Hương, Hoàng Thị Minh Ngọc, Trần Huy Hoàng, Hoàng Hải Yến, Lại Tiến Dĩnh, Dương Tấn Khoa, Nguyễn Thanh Phong, Cao Ngọc Thủy (2012), “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng chuyển giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng cho mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả nợ gốc và lãi.”

Theo Khoản 7, Điều 2, Luật các TCTD 2024: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng thông qua việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay.”

Như vậy, hoạt động cho vay của NHTM là một hình thức cấp tín dụng mà theo đó, ngân hàng chuyển giao hoặc cam kết chuyển giao cho người vay (khách hàng) một khoản tiền. Khoản tiền này phải được sử dụng vào mục đích xác định (mục đích sử dụng vốn), trong một thời gian nhất định (thời hạn cho vay) với nguyên tắc khách hàng phải hoàn trả cho ngân hàng đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận đã cam kết.

1.1.2. Đặc điểm hoạt động cho vay

Cho vay là một giao dịch dân sự, được thực hiện theo thỏa thuận giữa hai bên, tuân theo các quy định của Bộ luật Dân sự 2015, Luật các TCTD 2024 và các quy định của Pháp luật có liên quan có liên quan.

Khách hàng vay phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết, hoàn trả nợ gốc, lãi tiền vay, phí đầy đủ, đúng hạn theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng.

Thông qua cho vay, các TCTD đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ nguồn lực tài chính hiệu quả. Cho vay giúp tăng cường lượng cung tiền cũng như thanh khoản trong nền kinh tế bằng cách chuyển vốn từ những chủ thể có nguồn vốn dư thừa đến những chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn.

Thông qua việc sử dụng vốn vay, cá nhân và tổ chức có thể nhanh chóng mở rộng quy mô sản xuất, tạo việc làm và tăng thu nhập, tăng mức độ tiêu dùng của cải, từ đó thúc đẩy phát triển nền kinh tế.

Cho vay có vai trò quan trọng trong chính sách tiền tệ, góp phần điều tiết kinh tế vĩ mô. Các chính sách liên quan đến lĩnh vực tín dụng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thể được sử dụng để kiểm soát lạm phát, điều chỉnh cung tiền và thúc đẩy hoặc kiềm chế tăng trưởng kinh tế theo nhu cầu.

1.1.3. Phân loại cho vay

1.1.3.1. Căn cứ theo thời hạn cho vay

– Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 (một) năm.

– Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm.

– Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 (năm) năm.

1.1.3.2. Căn cứ theo mục đích cho vay

– Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là việc TCTD cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó.

– Cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác (sau đây gọi là hoạt động kinh doanh) là việc TCTD cho vay đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngoài quy định tại khoản 4 Điều này, bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân.

1.1.3.3. Căn cứ theo phương thức cho vay

– Cho vay từng lần: Mỗi lần cho vay, TCTD và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết thỏa thuận cho vay.

– Cho vay hợp vốn: Là việc có từ hai TCTD trở lên cùng thực hiện cho vay đối với khách hàng để thực hiện một phương án, dự án vay vốn.

– Cho vay lưu vụ: Là việc TCTD thực hiện cho vay đối với khách hàng để nuôi trồng, chăm sóc các cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm. Theo đó, TCTD và khách hàng thỏa thuận dư nợ gốc của chu kỳ trước tiếp tục được sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhưng không vượt quá thời gian của 02 chu kỳ sản xuất liên tiếp.

– Cho vay theo hạn mức: TCTD xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong hạn mức cho vay, TCTD thực hiện cho vay từng lần. Một năm ít nhất một lần, TCTD xem xét xác định lại mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này.

– Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi mức cho vay dự phòng đã thỏa thuận. TCTD và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức cho vay dự phòng nhưng không vượt quá 01 (một) năm.

– Cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán: TCTD chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng một mức thấu chi tối đa để thực hiện dịch vụ thanh toán trên tài khoản thanh toán. Mức thấu chi tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian tối đa 01 (một) năm.

– Cho vay quay vòng: TCTD và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay đối với nhu cầu vốn có chu kỳ hoạt động kinh doanh không quá 01 (một) tháng, khách hàng được sử dụng dư nợ gốc của chu kỳ hoạt động kinh doanh trước cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo nhưng thời hạn cho vay không vượt quá 03 (ba) tháng.

– Cho vay tuần hoàn (rollover): TCTD và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay ngắn hạn đối với khách hàng với điều kiện:

+ Đến thời hạn trả nợ, khách hàng có quyền trả nợ hoặc kéo dài thời hạn trả nợ thêm một khoảng thời gian nhất định đối với một phần hoặc toàn bộ số dư nợ gốc của khoản vay;

+ Tổng thời hạn vay vốn không vượt quá 12 tháng kể từ ngày giải ngân ban đầu và không vượt quá một chu kỳ hoạt động kinh doanh;

+ Tại thời điểm xem xét cho vay, khách hàng không có nợ xấu tại các TCTD;

+ Trong quá trình cho vay tuần hoàn, nếu khách hàng có nợ xấu tại các TCTD thì không được thực hiện kéo dài thời hạn trả nợ theo thỏa thuận.

1.1.3.4. Căn cứ theo đối tượng khách hàng

– Pháp nhân được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân được thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

– Cá nhân có quốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài.

1.2. CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1. Khái niệm khách hàng doanh nghiệp

Theo Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Như vậy, doanh nghiệp có thể là pháp nhân (công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hai thành viên trở lên, công ty hợp danh, công ty cổ phần) hoặc không phải là pháp nhân (doanh nghiệp tư nhân).

Đối với NHTM, KHDN là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân (thuộc một trong bốn loại hình: công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hai thành viên trở lên, công ty hợp danh, công ty cổ phần) có giao dịch trên một hoặc nhiều nghiệp vụ với ngân hàng.

1.2.2. Đặc điểm cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại

– Đối với đối tượng khách hàng pháp nhân nói chung và KHDN nói riêng, các NHTM chỉ cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh (như đầu tư dự án; mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị; bổ sung vốn lưu động…), không cho vay phục vụ nhu cầu đời sống.

– Hiện tại các doanh nghiệp tại Việt Nam hoạt động hợp pháp trong rất nhiều lĩnh vực (nông, lâm nghiệp, thủy sản, khai khoáng, chế biến chế tạo…). Do đó việc cho vay của các NHTM đối với KHDN cũng sẽ đa dạng trên nhiều lĩnh vực để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.

– Thủ tục, quy trình cho vay chặt chẽ. So với KHCN, các thủ tục, quy trình cho vay đối với KHDN thường chặt chẽ hơn rất nhiều. Một phần bởi tính pháp lý của doanh nghiệp thường phức tạp hơn so với cá nhân, một phần vì quy mô khoản vay KHDN trung bình của KHDN lớn hơn, cũng như tài sản bảo đảm đa dạng hơn (tài sản là dự án, hàng tồn kho, hàng hóa luân chuyển, khoản phải thu…).

– Hệ thống thông tin tốt và đang ngày càng được nâng cấp. Hiện ở Việt Nam đã có hệ thống xếp hạng tín dụng của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) và các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đối với doanh nghiệp (như FiinRatings, Saigon Ratings…). Bên cạnh đó các quy định về công bố thông tin của các cơ quan chức năng (báo cáo tài chính, các báo cáo thường niên…) khiến việc tra cứu thông tin ngày càng trở nên dễ dàng hơn.

– Số tiền cho vay lớn, đi kèm rủi ro cao. Giá trị trung bình của các khoản vay của KHDN lớn hơn nhiều so với KHCN, cùng với việc tài sản bảo đảm khó xử lý hơn dẫn đến rủi ro mang lại từ cho vay doanh nghiệp cũng lớn hơn.

1.2.3. Vai trò của việc cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại

– Đối với doanh nghiệp, vốn vay là nguồn vốn vô cùng quan trọng với một số ưu điểm dưới đây:

+ Đáp ứng nhu cầu đa dạng về quy mô, thời hạn, phương thức, loại hình vay và mục đích sử dụng vốn.

+ Mở rộng và phát triển quy mô kinh doanh. Với đòn bẩy từ vốn vay, các doanh nghiệp có thể đầu tư thêm tài sản cố định, trang thiết bị, bổ sung vốn lưu động, phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới, thâm nhập vào các thị trường mới.

+ Bên cạnh đó, trong quá trình quan hệ tín dụng, doanh nghiệp còn có thể được cung cấp thêm các thông tin về chính sách hỗ trợ của chính phủ, các gói tín dụng ưu đãi, được tư vấn các vấn đề tài chính để nâng cao hiệu quả hoạt động.

+ Thông qua quan hệ tín dụng với ngân hàng, các doanh nghiệp còn có cơ hội được tiếp cận với nhiều sản phẩm dịch vụ khác như thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ, đầu tư trái phiếu… nhằm gia tăng lợi nhuận và sự thuận tiện trong giao dịch hằng ngày.

– Đối với TCTD, việc phát triển cho vay KHDN cũng mang lại nhiều lợi ích:

+ Thông qua cho vay KHDN, các TCTD có thể tăng trưởng quy mô tín dụng, từ đó nâng cao lợi nhuận từ kinh doanh.

+ Bên cạnh đó, các TCTD còn có thể bán chéo nhiều sản phẩm, dịch vụ kèm theo như mở tài khoản, các dịch vụ thanh toán, mua bán ngoại tệ, phát hành bảo lãnh… Điều này giúp nâng cao hơn nữa lợi nhuận của các TCTD.

+ Việc cho vay tạo ra mối quan hệ dài hạn giữa TCTD và doanh nghiệp. Đây cũng là tiền đề để phát triển thêm các cơ hội hợp tác tiềm năng trong tương lai khi khách hàng mở rộng quy mô sản xuất, cũng là cơ hội để TCTD được giới thiệu cho nhiều khách hàng tiềm năng khác.

– Đối với nền kinh tế, hoạt động cho vay KHDN của các TCTD cũng mang lại nhiều ý nghĩa:

+ Việc có nguồn vốn từ các ngân hàng giúp các doanh nghiệp thực hiện các kế hoạch mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường, đầu tư vào nâng cấp công nghệ, từ đó tăng cường năng lực cạnh tranh, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp.

+ Sự phát triển của doanh nghiệp thường đi kèm với việc tăng cường sản xuất và dịch vụ, từ đó tạo ra thu nhập và lợi nhuận, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế địa phương cũng như toàn quốc. Bên cạnh đó thu nhập và lợi nhuận từ các doanh nghiệp được hỗ trợ bởi vốn vay có thể được sử dụng để đầu tư vào các dự án mới và tiêu dùng, thúc đẩy hoạt động kinh tế khác.

+ Sự phát triển của các doanh nghiệp thường đi kèm với việc tạo ra các chuỗi giá trị trong kinh tế, từ cung ứng nguyên liệu đến sản xuất và phân phối sản phẩm. Điều này cũng tạo ra nhiều cơ hội việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hội.

1.3. PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP

1.3.1. Quan điểm về phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp

Khái niệm phát triển được hiểu một cách đơn giản nhất là việc làm cho tăng cả chiều sâu và chiều rộng. Trong lĩnh vực ngân hàng, phát triển cho vay doanh nghiệp về chiều rộng có thể hiểu là việc tăng tỷ trọng các khoản cho vay doanh nghiệp trong tài sản của NHTM. Bên cạnh đó, việc phát triển cho vay có thể bao gồm nhiều tiêu chí khác nhau như: mở rộng quy mô, hình thức, phạm vi hay đối tượng cho vay, địa bàn hoạt động. Song song với phát triển về chiều rộng là việc phát triển về chiều sâu. Đối với hoạt động cho vay doanh nghiệp, phát triển về chiều sâu như đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng trong hoạt động cho vay doanh nghiệp…

1.3.1.1. Phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp theo chiều rộng.

– Số lượng KHDN: được tính bằng tổng số KHDN có quan hệ tín dụng với ngân hàng tại một thời điểm xác định. Số lượng này tăng lên thể hiện mức gia tăng sự tin tưởng của khách hàng đối với ngân hàng, cũng như hiệu quả hoạt động của ngân hàng được nâng cao.

– Mức tăng giảm số lượng KHDN: cho biết sự thay đổi số lượng KHDN có quan hệ tín dụng với ngân hàng giữa hai thời điểm xác định. Con số này càng lớn thể hiện số lượng KHDN tăng lên càng nhiều và ngược lại. Thông qua quá trình tìm kiếm, thu hút và chuyển đổi khách hàng tiềm năng thành khách hàng hiện hữu, các NHTM có thể gia tăng tổng số lượng khách hàng của mình.

– Dư nợ cho vay KHDN: là tổng số tiền ngân hàng đang cho các KHDN vay tại một thời điểm nhất định. Đối với các NHTM ở Việt Nam, thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm phần lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng. Do đó, việc tăng quy mô dư nợ là điều vô cùng quan trọng. Việc phát triển hoạt động cho vay không thể tách rời với tăng quy mô dư nợ của ngân hàng. Một số chỉ tiêu phụ liên quan đến dư nợ:

DN kỳ này = DN kỳ trước + DS cho vay trong kỳ – DS thu nợ trong kỳ

Trong đó: Doanh số cho vay trong kỳ là tổng số tiền ngân hàng đã giải ngân cho khách hàng trong kỳ; Doanh số thu nợ trong kỳ là tổng số tiền thu nợ trong kỳ.

Tăng trưởng ròng dư nợ = DN kỳ này – DN kỳ trước

Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ=DN kỳ này – DN kỳ trước
DN kỳ trước

– Mở rộng thị phần và duy trì sự phát triển bền vững: là một mục tiêu quan trọng của các ngân hàng, đặc biệt là trong một môi trường kinh doanh cạnh tranh và biến động như ngày nay. Việc mở rộng thị phần là hệ quả của việc phát triển khách hàng và tăng trưởng dư nợ thông qua kết hợp giữa các chiến lược tiếp cận khách hàng, phát triển sản phẩm và dịch vụ, đầu tư vào công nghệ, quản lý rủi ro và phát triển nhân lực. Điều này giúp các NHTM đảm bảo số lượng khách hàng lớn, duy trì lượng khách hàng trung thành ổn định, lôi kéo thêm khách hàng tiềm năng để tăng trưởng doanh thu và đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.

1.3.1.2. Phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp theo chiều sâu.

– Chất lượng tín dụng KHDN: Phản ánh mức độ rủi ro trong hoạt động cho vay KHDN của các TCTD, thể hiện mức độ đáp ứng yêu cầu của khách hàng, mức độ phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo sự tồn tại, phát triển của ngân hàng. Chỉ tiêu này thể hiện ở các chỉ tiêu phụ bao gồm Nợ quá hạn, Nợ nhóm 2, Nợ xấu, nợ XLRR.

+ Nợ quá hạn: Dư nợ đã quá thời hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi nhưng khách hàng chưa thanh toán và không được cơ cấu lại thời hạn trả nợ giữ nguyên nhóm nợ.

+ Nợ nhóm 2: Dư nợ đã quá thời hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi từ 10 ngày đến 90 ngày nhưng khách hàng chưa thanh toán và không được cơ cấu lại thời hạn trả nợ giữ nguyên nhóm nợ. Tỷ lệ nợ nhóm 2 được tính bằng dư nợ nhóm 2 chia cho tổng dư nợ nội bảng của TCTD.

+ Nợ xấu: Bao gồm nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5, bao gồm khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên, các khoản nợ có cơ cấu lại thời hạn trả nợ, các khoản nợ được miễn hoặc giảm do khách hàng không đủ năng lực trả lãi đầy đủ theo hợp đồng và các khoản nợ phải thực hiện nghĩa vụ cam kết bị quá hạn. Tỷ lệ nợ xấu được tính bằng tổng dư nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 chia cho tổng dư nợ nội bảng của TCTD.

+ Nợ XLRR: Là các khoản nợ xấu đã được xử lý bằng nguồn dự phòng của các TCTD và chuyển sang theo dõi ngoại bảng.

– Tổng lợi ích mang lại từ KHDN: Các NHTM đều hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, các chỉ số khác để đánh giá hoạt động, cuối cùng cũng quy về lợi nhuận. Do đó, đây là yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng của việc phát triển hoạt động cho vay KHDN. Bên cạnh tăng trưởng dư nợ, việc bán chéo các sản phẩm dịch vụ trọn gói cũng là một phương pháp rất quan trọng nhằm nâng cao doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng.

1.3.2. Các tiêu chí đánh giá việc phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp

1.3.2.1. Số lượng khách hàng

Số lượng KHDN là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá mức độ phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp, số lượng KHDN có thể tính theo một khoảng thời gian nhất định (quý, năm), nếu số lượng KHDN tìm đến ngân hàng để vay ngày càng tăng thì chứng tỏ hoạt động cho vay của ngân hàng ngày càng được mở rộng, uy tín trong phân khúc cho vay doanh nghiệp, uy tín ngày càng được nâng cao và ngân hàng đã tập trung nhiều hơn vào lĩnh vực này.

1.3.2.2. Quy mô, thị phần cho vay doanh nghiệp:

Mức độ tăng trưởng thị phần là mức tăng thị phần của ngân hàng qua thời gian. Chỉ tiêu này đánh giá năng lực chiếm lĩnh thị phần về cho vay doanh nghiệp trên thị trường. Đối với thị trường cho vay doanh nghiệp, thị phần của một ngân hàng có thể biểu hiện thông qua số lượng KHDN mà ngân hàng đó cấp tín dụng. Thị phần này một mặt thể hiện sức cạnh tranh của ngân hàng vì thị phần lớn chứng tỏ năng lực cho vay doanh nghiệp và vị trí thống lĩnh của ngân hàng trên thị trường cao. Đây cũng là tiêu chí đánh giá chất lượng cho vay khách hàng doanh nghiệp vì chất lượng cao thu hút nhiều khách hàng, tạo doanh thu cao hơn so với ngân hàng khác.

1.3.2.3. Mạng lưới, kênh phân phối:

Đây là yếu tố quan trọng đến ngân hàng chiếm lĩnh thị phần, đưa sản phẩm dịch vụ đến gần với khách hàng doanh nghiệp hơn. Khả năng của một ngân hàng mở rộng hệ thống chi nhánh, phòng giao dịch đến những nơi được dự báo là có nhu cầu của khách hàng doanh nghiệp về dịch vụ ngân hàng sẽ tạo cho ngân hàng đó thế mạnh trong việc chiếm lĩnh thị phần. Những hệ thống phân phối này có vai trò quan trọng trong việc giúp các nhà quản trị nắm bắt được nhu cầu khách hàng doanh nghiệp để ngân hàng có thể chủ động cải tiến hoàn thiện dịch vụ của mình. Để thực hiện điều này, lãnh đạo ngân hàng phải có tầm nhìn chiến lược, ngân hàng phải đủ năng lực tài chính và nhân sự cho việc mở rộng quy mô này. Nó phải phù hợp với chính sách cho vay của Ngân hàng tức là tùy thuộc vào thị trường mục tiêu đối tượng doanh nghiệp, đặc điểm của địa bàn mà Ngân hàng họat động.

1.3.2.4. Lợi nhuận từ hoạt động cho vay doanh nghiệp:

Tất cả các sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng trước hết phải xuất phát từ lợi ích của doanh nghiệp nhưng cuối cùng cũng nhằm mục đích chính là phải đem lại lợi nhuận thực tế cho Ngân hàng, Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Tỷ trọng đóng góp của thu nhập từ hoạt động cho vay doanh nghiệp vào tổng lợi nhuận trong hoạt động Ngân hàng cũng giống như chỉ tiêu số lượng khách hàng doanh nghiệp, nó cho thấy sự chuyên môn hóa, chuyên nghiệp và thế mạnh trong việc cung cấp dịch vụ tín dụng doanh nghiệp, thể hiện sự phát triển của sản phẩm dịch vụ Ngân hàng phong phú và đa dạng.

1.3.2.5. Doanh số cho vay đối với doanh nghiệp:

Doanh số cho vay đối với doanh nghiệp là tổng số tiền mà ngân hàng đã giải ngân cho KHDN trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Doanh số cho vay ngày càng lớn, tốc độ tăng ngày càng cao cho thấy khả năng mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp của NHTM.

1.3.2.6. Khảo sát trực tiếp ý kiến của các khách hàng doanh nghiệp:

Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá việc phát triển hoạt động cho vay KHDN chính là ý kiến phản hồi của khách hàng. Đây là nguồn thông tin quý giá giúp TCTD tự đánh giá hiệu quả hoạt động của mình, cải thiện chất lượng sản phẩm dịch vụ và nâng cao hiệu quả cạnh tranh cũng như kết quả hoạt động.

1.4. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP

Việc phát triển hoạt động tín dụng nói chung và cho vay KHDN nói riêng chịu tác động của nhiều yếu tố. Xét theo nguyên nhân, có thể chia các yếu tố thành ba nhóm chính như sau:

1.4.1. Nhóm yếu tố bên ngoài

– Nhóm yếu tố từ phía doanh nghiệp: Đây là nhóm yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động cho vay KHDN. Một số yếu tố cố thể kể đến bao gồm: nhu cầu vốn vay của doanh nghiệp, uy tín thương hiệu và xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp, vấn đề tài chính của doanh nghiệp, việc thực hiện các quy định về kế toán, kiểm toán.

– Nhóm yếu tố từ môi trường kinh tế, pháp lý: Việc phát triển cho vay KHDN cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ môi trường. Một số yếu tố chính như môi trường chính trị, các chính sách hỗ trợ cho vay, chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp, chính sách thuế, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, thị hiếu của người tiêu dùng, cung cầu thị trường…

1.4.2. Nhóm yêu tố bên trong

Việc phát triển hoạt động cho vay KHDN chịu ảnh hưởng rất nhiều từ bản thân các TCTD. Một số yếu tố điển hình bao gồm: Nguồn vốn sẵn có của TCTD, chính sách tín dụng trong từng thời điểm, quy mô của TCTD, chất lượng nhân sự, cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ của TCTD, quy trình cho vay, lãi suất, các hoạt động Marketing và chăm sóc khách hàng, hiệu quả công tác thẩm định và phân tích tín dụng, công tác quản lý rủi ro và kiểm tra, giám sát nội bộ.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua Chương đầu tiên, tác giả đã đưa ra những khái niệm cơ bản về cho vay, khách hàng doanh nghiệp cũng như các quan điểm về phát triển hoạt động cho vay KHDN của các NHTM.

Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến những tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay KHDN.

Có thể kết luận rằng, cho vay nói chung và cho vay đối với KHDN nói riêng đóng góp vai trò rất lớn đối với nền kinh tế, với doanh nghiệp và cả bản thân ngân hàng. Việc phát triển hoạt động cho vay đối với KHDN do đó cũng là một hướng đi tất yếu và đầy tiềm năng.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ PHÁT TRIỂN CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI AGRIBANK – CHI NHÁNH BẮC ĐẮK LẮK

2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC ĐẮK LẮK

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam – tiền thân của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) ngày nay, được thành lập theo Nghị định số 53/NĐ-HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Đây là dấu mốc quan trọng, đánh dấu một bước chuyển quan trọng của ngành ngân hàng, từ ngân hàng một cấp thành hai cấp. Đồng thời đánh dấu một sự kiện quan trọng đó là sự ra đời của một Ngân hàng thương mại đầu tư vào một lĩnh vực quan trọng của đất nước đó là khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Trong hơn 35 năm hình thành và phát triển, Agribank trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã trải qua 4 giai đoạn phát triển chính:

– Giai đoạn 1988 – 2003: Được thành lập và hoạt động với tên gọi chung là Agribank Chi nhánh Đắk Lắk, từng bước chuyển đổi thành ngân hàng thương mại kinh doanh đa năng và có uy tín tên địa bàn.

– Giai đoạn 2004-2008: Tỉnh Đắk Lắk được tách thành hai tỉnh mới là Đắk Lắk và Đắk Nông, Agribank trên địa bàn tỉnh cũng được tách thành Agribank Chi nhánh Đắk Lắk và Agribank Chi nhánh Đắk Nông, hoạt động của Agribank tại Đắk Lắk cũng có bước phát triển vượt bậc cả về mạng lưới, nguồn vốn huy động và dư nợ.

– Giai đoạn 2009-2016: Mạng lưới Agribank tại Đắk Lắk được tách thành hai chi nhánh loại I là Agribank Chi nhánh Đắk Lắk và Agribank Chi nhánh Buôn Hồ.

– Giai đoạn 2017 đến nay: Mạng lưới Agribank tiếp tục được điều chỉnh thành hai chi nhánh loại I là Agribank Chi nhánh Đắk Lắk và Agribank Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

Agribank Chi nhánh Bắc Đắk Lắk được thành lập vào ngày 01/1/2017 trên cơ sở nâng cấp chi nhánh Tân An trực thuộc Agribank tỉnh Đắk Lắk thành chi nhánh loại I hạng 1 trực thuộc Agribank và đổi tên thành Agribank Chi nhánh Bắc Đắk Lắk. Tại thời điểm thành lập, Agribank Chi nhánh Bắc Đắk Lắk có mạng lưới hoạt động bao gồm 20 điểm giao dịch, địa bàn hoạt động trải dài từ thành phố Buôn Ma Thuột đến các huyện Cư Mgar, Ea Sup, Krông Năng, Krông Buk và Ea Hleo, thuộc phía Bắc của tỉnh Đắk Lắk. Đến tháng 5 năm 2017, thực hiện quyết định của Trụ sở chính, Agribank chi nhánh Buôn Hồ tiếp tục chuyển về trực thuộc Agribank Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE AN 2024\SAU BAO VE\Phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *