Phát triển giáo dục Mầm non ở thành phố Kon Tum

Phát triển giáo dục Mầm non ở thành phố Kon Tum

Phát triển giáo dục Mầm non ở thành phố Kon Tum

  1. Lý do chọn đề tài

Giáo dục mầm non (GDMN) là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm thẩm mỹ của trẻ em. Trẻ được tiếp cận với GDMN càng sớm, càng thúc đẩy quá trình học tập và phát triển của các giai đoạn tiếp theo. Chính những kỹ năng mà trẻ tiếp thu được qua Chương trình GDMN sẽ là nền tảng cho việc học tập sau này. Những công trình nghiên cứu khoa học về sinh lý, tâm lý học xã hội đều khẳng định sự phát triển của trẻ từ 0 – 6 tuổi là giai đoạn phát triển có tính chất quyết định để tạo nên thể lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ trong tương lai.  

Thành phố Kon Tum là trung tâm hành chính kinh tế và văn hóa đang phấn đấu xây dựng và phát triển với hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển trong đó giáo dục y tế được chú trọng phát triển. Tuy vậy, hệ thống giáo dục của Thành phố vẫn còn những khoảng trống cần phải lấp đầy. Phần lớn các trường công lập đã quá tải không đáp ứng được nhu cầu. Các trường ngoài công lập còn nhỏ về quy mô, có diện tích chật hẹp, quá tải, chất lượng giáo dục không đềng đều giữa các trường, số lượng trẻ em không được tới trường mâm non vẫn còn nhất là con em nhà nghèo, học phí khá cao, giáo viên có chất lượng khác nhau giữa các trường…Do đó một nghiên cứu về “Phát triển giáo dục Mầm non ở thành phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum” sẽ góp phần vào chính sách phát triển giáo dục của địa phương. Đó là lý do lựa chọn đề tài này.

  1. Mục tiêu của đề tài
  • Khái quát được lý luận về phát triển giáo dục làm cơ sở cho nghiên cứu;
  • Đánh giá được thực trạng phát triển giáo dục Mầm non thành phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum;
  • Kiến nghị được các giải pháp để phát triển giáo dục Mầm non thành phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum ;
  1. Câu hỏi nghiên cứu:

Đề tài phải trả lời câu hỏi sau đây:

  • Thực trạng phát triển giáo dục Mầm non ở thành phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum đang diễn ra như thế nào?
  • Làm thế nào để thúc đẩy sự phát triển giáo dục mần non lập thành phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum trong thời gian tới.
  1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Đối tượng của nghiên cứu: những vấn đề lý luận và thực tiễn về Phát triển giáo dục mầm non

Phạm vi:

+ Nội dung: Phát triển giáo dục mần non lập;

+ Không gian: Địa bàn thành phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum

+ Thời gian: Khoảng thời gian nghiên cứu 2011-2016, thời gian có hiệu lực của các giải pháp từ 2018 -2025.

  1. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau trong nghiên cứu do tính phức tạp của đề tài.

Phương pháp thu thập số liệu:

+ Số liệu tình hình kinh tế xã hội, số liệu về giáo dục mầm non của thành phố Kon Tum;

+ Số liệu điều tra xã hội học

Phương pháp phân tích

Phân tích thống kê gồm nhiều phương pháp khác nhau nhưng trong nghiên cứu này nhóm sẽ sử dụng các phương pháp như phân tổ thống kê, phương pháp đồ thị thống kê, phương pháp phân tích dãy số biến động theo thời gian và phương pháp phân tích tương quan.

Đây là phương pháp được sử dụng thường xuyên như công cụ để phân tích, lựa chọn những giá trị đúng nhất, gần với thực tiễn trên cơ sở các nguồn số liệu thu thập được để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, kinh tế Xã hội đến phát triển giáo dục mầm non thành phố. Đồng thời, phương pháp Toán học cũng được sử dụng trong việc phân tích, dự báo và lựa chọn các giải pháp thích hợp cho định hướng phát triển ngành này trong tương lai.

Phương pháp diễn dịch trong suy luận thống kê: Tức là nghiên cứu tiến hành xem xét tình hình phát triển của GDMN trên địa bàn thành phố Kon Tum những khái quát đến cụ thể. Trên cơ sở đó, nghiên cứu sẽ phân tích những thành công và hạn chế cùng với các nguyên nhân của quá trình này trong từng điều kiện cụ thể của thành phố Kon Tum, có so sánh với các địa phương khác trong cả nước.

Phương pháp phương pháp đồ thị và bảng thống kê để tổng hợp: Nghiên cứu này sử dụng hệ thống các loại đồ thị toán học và những bảng thống kê số liệu theo chiều dọc và chiều ngang mô tả hiện trạng Sự phát triển của GDMN trên địa bàn thành phố Kon Tum trong những điều kiện thời gian cụ thể.

Phương pháp số bình quân, số tương đối, phân tích tương quan, phương pháp dãy số thời gian … để phân tích Sự phát triển của GDMN trên địa bàn thành phố Kon Tum.

Phương pháp điều tra khảo sát: nghiên cứu sẽ lựa chọn điểm khảo sát, tiến hành xây dựng phiếu điều tra và tiến hành điều tra lấy ý kiến các đồi tượng là nhà quản lý, giáo viên và phụ huynh học sinh về phân bố mạng lưới, cơ sở vật chất, chất lượng dịch vụ….

Phương pháp tổng hợp và khái quát hoá được sử dụng để tổng hợp và khái quát kết quả của các phương pháp phân tích thống kê.

+ Công cụ xử lý số liệu

Việc xử lý và tính toán các số liệu, các chỉ tiêu nghiên cứu được tiến hành trên máy tính theo các phần mềm Excel, SPSS.

  1. Kết cấu luận văn

Chương 1 Cơ sở lý luận về phát triển giáo dục mầm non

Chương 2 Thực trạng phát triển giáo dục mầm non ở thành phố Kon Tum Tỉnh Kon Tum

Chương 3 Các giải pháp nhằm phát triển giáo dục mầm non ở thành phố Kon Tum Tỉnh Kon Tum

Phát triển giáo dục Mầm non ở thành phố Kon Tum
Phát triển giáo dục Mầm non ở thành phố Kon Tum

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON

1.1.1. Khái niệm về giáo dục mầm non (GDMN)

Như vậy, giáo dục mầm non được hiểu là: một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, bộ phận này Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

1.1.2. Đặc điểm và vai trò của phát triển giáo dục mầm non

a. Đặc điểm

Giáo dục mầm non có những đặc điểm sau:

Giáo dục mầm non là hoạt động tổng hợp cả nuôi, dạy, định hướng phát triển nhằm đạt tới các mục tiêu phát triển về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ và tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mỹ cho trẻ.

Đối tượng của giáo dục mầm non là trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi nên khả năng cảm nhận và tiếp nhận chương trình và chất lượng dịch vụ chủ yếu dựa trên cảm tính như thích đến trường, mến cô giáo… Tuy nhiên, người quyết định lựa chọn GDMN không phải là trẻ mà chính là phụ huynh của trẻ. Do vậy, giáo dục mầm non rất nhạy cảm và

b. Vai trò

Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ.

Việc chăm sóc tốt cho trẻ từ lứa tuổi trẻ thơ sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai của trẻ.

Để trẻ có bước đệm tốt nhất trước khi bước vào giáo dục tiểu học cần có 5 lĩnh vực phát triển là kỹ năng ngôn ngữ và nhận thức, kỹ năng giao tiếp và hiểu biết chung, sự trưởng thành tình cảm, năng lực xã hội, sức khỏe và thể chất.

Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non .

1.1.3. Khái niệm về phát triển giáo dục mầm non

Theo quan điểm phát triển là sự tiến bộ, xu hướng thay đổi tích cục và đạt tới trang thái tốt hơn trong tiến trình phát triển. Phát triển giáo dục mầm non là quá trình hoàn thiện và tiến bộ hơn hệ thống GDMN để thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em, bảo đảm cho trẻ để phát triển về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ và tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mỹ. Sự phát triển này thể hiện qua sự Phát triển về quy mô và mạng lưới giáo dục mầm non; Phát triển dịch vụ giáo dục mầm non; Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên; Tăng cường cơ sở vật chất cho giáo dục mầm non.

Từ đó phát triển giáo dục mầm non sẽ bao gồm các nội dung dâu đây.

1.2. NỘI DUNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON

1.2.1. Phát triển về quy mô của giáo dục mầm non

Phát triển về quy mô của giáo dục mầm non là quá trình tạo ra mở rộng, nâng cấp hệ thống trường lớp và các cơ sở vật chất đi cùng, phân bổ các cơ sở đó theo quy hoạch gắn với yêu cầu cung cấp dịch vụ này cho dân cư.

Chất lượng nuôi dưỡng và chăn sóc trẻ em gắn liền với cơ sở vật chất trường lớp. Cơ sở vật chất của giáo dục bao gồm nhà cửa kiến trúc, trang thiết bị phục vụ chăm sóc trẻ, dạy dỗ trẻ và bảo đảm môi trường vui chơi cho trẻ…. Cơ sở vật chất giáo dục gắn liền với đất đai dành cho giáo dục và được tính toán phân bố trong quy hoạch. Tuy nhiên, công tác quy hoạch của nhiều địa phương ở nước ta còn nhiều hạn chế nên đất dành cho trường học nhiều nơi không bảo đảm diện tích phù hợp và phân bố bất hợp lý không bảo đảm phù hợp với môi trường giáo dục.

Thông thường tùy theo cấp học và điều kiện cụ thể mà có tiêu chuẩn cơ sở vật chất cho mỗi cấp học. Chẳng hạn diện tích lớp học và vui chơi giải trí bình quân trên mỗi học sinh, ánh sáng, nhiệt độ, bàn ghế, bảng…

Cơ sở vật chất cho giáo dục mầm non phụ thuộc vào nguồn đầu tư từ nhà nước và các cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước. Ở nước ta nguồn đầu tư từ nhà nước và các địa phương có hạn nên nguồn đầu tư ngoài nhà nước đang được coi trọng thu hút. Nguồn đầu tư từ khu vực tư nhân đang tạo ra những cơ sở giáo dục có chất lượng khá cao bổ sung nguồn cung dịch vụ giáo dục cho xã hội, trong đó đáng kể nhất là dịch vụ giáo dục mầm non, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ.

Công nghệ quản lý đi cùng với việc sử dụng hiệu quả trang thiết bị, cơ sở vật chất. Phát triển cơ sở vật chất giáo dục phải gắn liền, đồng bộ với việc phân bổ mạng lưới và phát triển đội ngũ giáo viên, nhân viên, đặc biệt là công nghệ quản lý. Cơ sở vật chất, công cụ, trang thiết bị dạy học có tính chất hỗ trợ giúp cho đội ngũ thực hiện các công việc, một khi chất lượng yêu cầu cao đồng nghĩa với việc ứng dụng dụng cụ và công nghệ giảng dạy ngày càng nhiều. Trong tiêu chí xây dựng trường chuẩn bộ đã quy định hết sức cụ thể các điều kiện hạ tầng từ diện tích lớp học, sân chơi, phòng chức năng…đến công tác tổ chức quản lý quyết định chất lượng.

Bộ giáo dục đã có những quy định chặt chẽ các yếu tố này nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục. Quyết định số: 36/ 2008/QĐ- BGD&ĐT ngày 16 tháng 07 năm 2008 đã ban hành quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, đây là cơ sở để các đơn vị chuẩn bị điều kiện hạ tầng đảm bảo cho việc tổ chức các hoạt động giáo dục mầm non.

Các tiêu chí phản ánh

– Số lượng trường lớp nhà trẻ mẫu giáo

– Tỷ lệ lớp / trường

– Số lượng học sinh mầm non

– Số lượng học sinh / lớp

– Diện tích sân chơi/ học sinh

– Trang thiết bị theo tiêu chuẩn của các trường.

1.2.2. Phát triển dịch vụ giáo dục mầm non

Dịch vụ giáo dục mầm non được hiểu là: kết quả từ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp dịch vụ giáo dục mần non lập (nhà trẻ và mẫu giáo) và khách hàng (trẻ em từ ba tháng tuổi tới sáu tuổi) để đáp ứng nhu cầu về nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Dịch vụ giáo dục có những đặc điểm chung của dịch vụ sau đây: Tính phi vật thể; Tính tương tác; Tính không đồng nhất và khó định lượng

Phát triển dịch vụ giáo dục mầm non là việc tăng thêm và mở rộng, đa dạng dịch vụ hỗ trợ và nâng cao chất lượng các dịch vụ của các cơ sở giáo dục mần non. Quá trình này đòi hỏi phải mở rộng và phân bố mạng lưới dịch vụ giáo dục là quá trình hình thành, phân bổ các hệ thống các cơ sở cung cấp dịch vụ, chẳng hạn với giáo dục mầm non là các nhà trẻ và trường mẫu giáo trên mỗi vùng lãnh thổ hay địa phương. Quá trình này cũng là quá trình bao phủ dịch vụ xã hội cung cấp cho dân cư ở đó. Đây cũng là quá trình gia tăng các dịch vụ giáo dục cho xã hội. Đồng thời thông qua quá trình này mỗi cơ sở cũng sẽ tăng thêm các dịch vụ ngoài những dịch vụ cơ bản của mình như dạy học, cung cấp kiến thức, chăm sóc cho trẻ thì có thêm các trò chơi khuyến khích trẻ phát huy khả năng và năng lực giao tiếp, thể lực…, khám sức khỏe định kỳ, bữa ăn tại trường ngoài bữa chính, giữ thêm ngoài giờ, đưa đón trẻ…

Dịch vụ giáo dục này càng có nhu cầu tăng cao và do đó mạng lưới trường lớn có nhu cầu ngày càng mở rộng. Đó là do (1) đặc điểm dân số của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng tăng nhanh, dân số trẻ chiếm tỷ trọng lớn; (2) nhu cầu về dịch vụ giáo dục nói chung và mầm non nói riêng tăng nhanh theo, ngoài ra kinh tế ngày càng phát triển, đời sống được cải thiện cũng khiến nhu cầu về dịch vụ này tăng cao. (3) Sự phát triển của xã hội nói chung và sự tham gia ngày càng nhiều của phụ nữ trong các hoạt động kinh tế xã hội, cần ngày càng nhiều các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc , nuôi dưỡng trẻ là yêu cầu tất yếu cho sự đa dạng các dịch vụ hỗ trợ.

Tiêu chí phản ánh

Số lượng các dịch vụ cho trẻ đi học mẫu giáo và nhà trẻ

Số lượng trẻ đi học mẫu giáo và nhà trẻ

Tỷ lệ các nhà trẻ đạm bảo tiêu chuẩn chiều cao, cân nặng, thực hiện vận động cơ bản theo độ tuổi, thích nghi với sinh hoạt của nhà trẻ mẫu giáo..

Tỷ lệ cơ sở đáp ứng được tiêu chuẩn phát triển nhận thức cho trẻ

Tỷ lệ cơ sở đáp ứng được tiêu chuẩn phát triển ngôn ngữ

Tỷ lệ cơ sở đáp ứng được tiêu chuẩn phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mỹ.

1.2.3. Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên

Đây là quá tŕnh tăng thêm số lượng giáo viên, bảo đảm cơ cấu hợp lý đi cùng với nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên. Doặc điểm của giáo dục mầm non khó có thể thay thế bằng máy móc để tự động hóa và chất lượng của dịch vụ này phụ thuộc vào chất lượng của giáo viên. Nên quá trình phát triển phải bảo đảm được phát triển cả về lượng và chất.

Phát triển về chất lượng giáo viên là quá trình nâng cao kiến thức, kỹ năng, nhận thức và động lực của giáo viên để họ có thể đảm đương được công việc. Phát triển kiến thức của giáo viên là nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho họ. Trong thời đại hiện nay, sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ yêu cầu người giáo viên phải có kiến thức học vấn cơ bản, kiến thức chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động tốt để có khả năng tiếp thu và ứng dụng công nghệ mới. Người lao động phải làm việc một cách chủ động, linh hoạt và sáng tạo, sử dụng được các công cụ, phương tiện lao động tiên tiến, hiện đại. Trong những năm gần đây, người ta đề cập nhiều tới việc phát triển nền kinh tế tri thức. Đó là nền kinh tế mà trong đó khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố quyết định hàng đầu việc sản xuất ra của cải, sức cạnh tranh và triển vọng phát triển. Trong nền kinh tế tri thức, việc nâng cao không ngừng kiến thức cho người lao động là yếu tố vô cùng cần thiết. Phát triển kiến thức có ý nghĩa trong việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong lao động.

Phát triển giáo dục Mầm non ở thành phố Kon Tum
Phát triển giáo dục Mầm non ở thành phố Kon Tum

Đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên nhà trường: Ngoài đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy, việc phát triển đội ngũ nhân viên có ý nghĩa trong việc phát triển các dịch vụ giáo dục, đặc biệt các dịch vụ hỗ trợ cho học sinh ở độ tuổi mầm non trong nhu cầu phát triển ngày càng đa dạng dịch vụ và yêu cầu chất lượng ngày càng cao của người học. Bên cạnh đấy là đội ngũ những nhà quản lý tham gia công tác tổ chức quản lý các dịch vụ và chất lượng dịch vụ. Để dịch vụ mầm non ngoài công lập phát triển cần có một đội ngũ các nhà quản lý được đào tạo không chỉ nghiệp vụ chuyên môn quản lý như hệ thống công lập mà cần có ở họ một sự năng động, hiểu biết các vấn đề kinh tế, đảm trách công tác quản lý ngày càng chuyên nghiệp để đáp ứng sự phát triển của các dịch vụ, điều mà hệ thống công lập còn chậm trong công tác đáp ứng.

Cách thức để phát triển kiến thức của nguồn nhân lực, (1) nâng cao kiến thức là yếu tố cốt lõi của phát triển nhân lực bằng nhiều hình thức, trong đó chủ yếu là thông qua đào tạo; (2) trong đào tạo, bao gồm cả đào tạo dài hạn, ngắn hạn; đào tạo theo trường lớp, đào tạo trong môi trường làm việc thực tiễn.

Tiêu chí phản ánh

– Số lượng và mức tăng giáo viên, cán bộ quản lí các cấp của địa phương.

– Số lượng giáo viên, cán bộ quản lí đạt chuẩn từng cấp.

– Số giáo viên giỏi các cấp.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON

1.3.1. Nhân tố vĩ mô – Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

1.3.2. Nhân tố thuộc vi mô

1.4. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON

1.4.1. Kinh nghiệm của TP Hồ Chí Minh

1.4.2. Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON Ở THÀNH PHỐ KON TUM

2.1. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON Ở THÀNH PHỐ KON TUM

2.1.1. Điều kiện tự nhiên và Điều kiện kinh tế xã hội của thành phố

Về Điều kiện tự nhiên

Thành phố Kon Tum là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa, chính trị và khoa hoc kỹ thuật của tỉnh. Ở đây tập trung các trung tâm nghiên cứu, thực nghiệm, các cơ sở đào tạo,… có tác động tích cực đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của thành phố.

Về điều kiện kinh tế của thành phố

Trong những năm qua với sự nỗ lực và phấn đấu không ngừng của thành phố Kon Tum. Kinh tế tăng trưởng nhanh hơn so với toàn tỉnh. Quy mô GDP năm 2010 là hơn 5000 tỷ đồng, đến năm 2016 quy mô GDP là hơn 11,1 ngàn tỷ đồng theo giá cố định 2010. Tức tăng gấp gần 2,2 lần trong những năm qua.

Tỷ lệ tăng trưởng GDP của thành phố khá cao, năm cao nhất là 2010 đát khoảng 16%, thấp nhất là năm 2015 khoảng 13.4% và trung bình đạt mức 14.3%. Tăng trưởng kinh tế nhanh nhờ sự tăng trưởng nhanh của các ngành trong nền kinh tế.

Sự phát triển kinh tế của thành phố đã có những ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển giáo dục mầm non ở đây. Có thể kể ra những tác động sau:

Thứ nhất, sự phát triển kinh tế nhanh những năm qua đã góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Đây là cơ sở để họ quan tâm hơn tới chăm lo việc học hành của con cái nói chung và giáo dục mầm non nói riêng

Thứ hai; Sự phát triển kinh tế những năm qua đã cho phép địa phương tích lũy vốn đầu tư. Đây là điều kiện để thành phố tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho phát triển hệ thống giáo dục mầm non của mình.

Về điều kiện xã hội của thành phố

Kinh tế tăng trưởng nhanh là điều kiện tăng thu nhập cho người dân. Năm 2010, thu nhập bình quân đầu người đạt 34.5 triệu đồng/ người/năm theo giá 2010. Năm 2016 thu nhập bình quân là hơn triệu theo giá 2010. Tăng hơn gấp 2 lần.

Dân số của thành phố Kon Tum tăng liên tục, năm 2010 là hơn 146 ngàn người thì năm 2016 là hơn 159 ngàn người, tăng hơn 12 ngành trong 7 năm. Tốc độ tăng dân số bình quân là gần 1.8% năm. Tăng trưởng dân số chủ yếu là tăng cơ học do số người chuyển từ các huyện và nơi khác đến tập trung vào định cư ở thành phố Kon Tum. Trong tổng dân số của thành phố tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng từ 27-29%.

Lao động trong độ tuổi của toàn thành phố năm 2016 là hơn 107 ngàn người, chiếm 67.5% tổng dân số thành phố (trong đó lao động người DTTS chiếm khoảng 28% trong tổng số lao động thành phố). Ở đầy có nguồn lao động dồi dào, đặc biệt là lực lượng lao động trẻ ở nhóm tuổi từ 15 – 35 đây là nhóm có ưu thế về sức khỏe, đang sức vươn lên, năng động và sáng tạo, về lâu dài đó là nguồn lực lao động mạnh, nếu chúng ta có những chính sách đào tạo đúng đắn và hợp lý. Ngược lại, sẽ là bất lợi về mặt kinh tế do những khó khăn về mặt việc làm, giáo dục đào tạo, xã hội …

2.1.2. Các nhân tố vi mô

2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC Ở THÀNH PHỐ KON TUM

2.2.1. Thực trạng quy mô của giáo dục mầm non thành phố Kon Tum

Bảng 2.1. Số lượng trường mầm non ở thành phố Kon Tum

2011-20122012-20132013-20142014-20152015-2016
Số trường (trường)2424252626
Công lập1818191919
Dân lập11111
Tư thục55566
Cơ cấu (%)
Công lập75.075.076.073.173.1
Dân lập4.24.24.03.83.8
Tư thục20.820.820.023.123.1

(Nguồn: xử ý từ số liệu của Phòng giáo dục thành phố Kon Tum)

Tình hình số trường và cơ cấu các trường mầm non theo hình thức sở hữu được thể hiện trên bảng 2.1. Về tổng thể trong 5 năm qua, số trường mầm non đã tăng từ 24 trường năm học 2011-2012 đã tăng lên 26 trường năm học 2015-2016. Trong đó năm học 2013-2014 tăng được một trường công lập và năm học 2014-2015 tăng thêm một trường tư thục. Như vậy về quy mô của GDMN đã có sự mở rộng trong những năm qua và sự mở rộng này được đáp ứng bởi cả khu vực công và tư nhân.

Bảng 2.2 Số lượng lớp mầm non ở thành phố Kon Tum

(Đvt: Lớp)

2011-20122012-20132013-20142014-20152015-2016Tăng
Tổng số245266293290307+62
Công lập196191211202209+13
dân lập1935384042+23
tư thục3040444856+26

(Nguồn: xử ý từ số liệu của Phòng giáo dục thành phố Kon Tum)

Số lượng các lớp mầm non ở thành phố Kon Tum thể hiện trên bảng 2.2. Nhìn tổng thể số lượng lớp học đã tăng liên tục từ năm học 2011-2012, trong 5 năm đã tăng được 62 lớp. Số lượng lợp học tăng ở tất cả các loại hình theo sở hữu. Các trường công lập tăng được 13 lớp, dân lập tăng 23 lớp và tư thục tăng 26 lớp. Như vậy số lượng lớp tăng thêm chủ yếu ở khu vực ngoài công lập, với 49 lớp. Nếu xét theo số trường mầm non ở bảng 2.1. sẽ thấy các trường ngoài công lập vừa tăng số trường vừa tăng quy mô lớp trong các trường. Khác hẳn với các trường công lập.

Bảng 2.3. Quy mô số lớp của các trường mầm non ở thành phố Kon Tum

(Đvt: lớp/trường)

2011-20122012-20132013-20142014-20152015-2016Tăng
Tổng số10.2111.0811.7211.1511.811.60
Công lập10.910.611.110.611.00.1
dân lập19.035.038.040.042.023.0
tư thục6.08.08.88.09.33.3

(Nguồn: xử ý từ số liệu của Phòng giáo dục thành phố Kon Tum)

Quy mô số lớp của các trường mầm non ở thành phố Kon Tum thể hiện trên bảng 2.3. Xét tổng thể quy mô số lớp của các trường đều tăng lên, bình quân trong 5 năm học vừa qua, trung bình số lớp của mỗi trường tăng 1,6 lớp. Quy mô này tăng chậm nhất là các trường công lập, chỉ 0.1 lớp/trường. Quy mô lớp/ trường của khu vực công lập tăng rất nhanh từ mức 19 lớp / trường năm học 2011-2012 đã tăng lên 42 lớp / trường năm học 2015-2016 hay tăng 23 lớp/ trường. Trong thời gian này, quy mô lớp/ trường của các trường tư thục đã tăng từ 6 lớp/ trường lên 9.3 lớp/trường hay tăng 3.3 lớp/ trường. Điều này cũng cho thấy giới hạn phát triển của khu vực công do thiếu nguồn lực và tiềm năng to lớn của khu vực ngoài công lập. Chủ trương xã hội hóa ngày càng phát huy tác dụng góp phần cải thiện và thỏa mãn tốt hơn nhu cầu giáo dục mầm non cho trẻ em ở thành phố Kon Tum.

Với học sinh mầm non thì diện tích sân chơi quan trọng không kém gì so với lớp học. Đây là không gian để trẻ được tự do vận động, tương tác và giao tiếp với nhau. Đây cũng là điều kiện để hình thành kỹ năng sống của trẻ và tạo điều kiện để trẻ phát triển giảm về thể chất.

Bảng 2.4. Diện tích sân chơi của các trường mầm non ở Kon Tum

(Đvt: m2 )

2011-20122012-20132013-20142014-20152015-2016Tăng
Tổng số16400164001726018060180601660
Công lập1210012100129001290012900800
dân lập70070076076076060
tư thục36003600360044004400800

(Nguồn: xử ý từ số liệu của Phòng giáo dục thành phố Kon Tum)

Diện tích dân chơi của các trường mâm non ở thành phố Kon Tum về cơ bản đã tăng lên theo số lượng các trường. Trong 5 năm học qua diện tích này đã tăng 1660 m2. Trong đó diện tích sân chơi của các trường công lập tăng được 800 m2, của dân lập là 60 m2 và tư thục tăng được 800 m2. Nếu xet bình quân diện tích trên một học sinh trong những năm qua ở đây chỉ khoảng trên 2 m2. So với chuẩn là 3 m2 thì mới chỉ bằng khoảng 2/3. Do đó cần phải có sự đầu tư và bổ sung để tăng diện tích sân chơi tiến tới đạt chuẩn tuy rằng đây là vấn đề rất khó khăn với các trường mầm non ở các thành phố. Nhưng về dài hạn việc phát triển các trường mầm phải gắn với quy hoạch. Quy hoạch phải bố trí quỹ đất xây dựng theo quy mô và mật độ dân số.

Bảng 2.6. Tỷ lệ các trường đạt chuẩn về một số tiêu chuẩn cơ sở vật chất của các trường mầm non ở thành phố Kon Tum

2011-20122015-2016
Trang thiết bị theo tiêu chuẩn của các trường20/2424/26
Hệ thống cung cấp nước sinh hoạt đạt chuẩn22/2426/26
Hệ thống nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn22/2426/26

(Nguồn: xử ý từ số liệu của Phòng giáo dục thành phố Kon Tum)

Các trường mầm non đều đã có sự cãi thiện Hệ thống nhà vệ sinh để đạt tiêu chuẩn, từ chỗ còn 2 trường thì đến năm học 2015-2016 đã không còn trường nào không đạt.

2.2.2. Thực trạng phát triển dịch vụ giáo dục mần non

Số lượng dịch vụ cho trẻ đi học mẫu giáo và nhà trẻ được thể hiện trên bảng 2.7. Tổng số các lớp cho trẻ đi mẫu giáo và nhà trẻ đã tăng đáng kể từ năm học 2011-2012. Nếu năm học 2011-2012 có 245 lớp thì năm 2015-2016 có 307 lớp, tăng 62 lớp. Nhóm lớp học dành cho trẻ đi nhà trẻ tăng từ 35 lên 60 lớp trong giai đoạn này. Nhóm mẫu giáo tăng từ 210 lớp lên 247 trong 5 năm học, tăng 37 lớp. Nhìn chung quy mô dịch vụ đã tăng khá và để có thể thấy sự thay đổi về lượng này có giúp nâng cao chất lượng có thể xem xét quy mô lớp học với từng nhóm.

Bảng 2.7. Số lượng các dịch vụ cho trẻ đi học mẫu giáo và nhà trẻ của các trường mầm non ở thành phố Kon Tum

(Đvt: lớp)

2011-

2012

2012-

2013

2013-

2014

2014-

2015

2015-

2016

Lớp nhà trẻ3535404560
lớp mẫu giáo210231253245247
Tổng245266293290307

(Nguồn: xử ý từ số liệu của Phòng giáo dục thành phố Kon Tum)

Bảng 2.8. Quy mô lớp học của các trường mầm non ở Kon Tum

(Đvt: học sinh)

 2011-20122012-20132013-20142014-20152015-2016
Lớp nhà trẻ83467979610761242
lớp mẫu giáo64427231737973427890
Quy mô lớp     
Lớp nhà trẻ23.819.419.923.920.7
lớp mẫu giáo30.731.329.230.031.9

(Nguồn: xử ý từ số liệu của Phòng giáo dục thành phố Kon Tum)

Bảng 2.8 cho thấy quy mô các lớp theo nhà trẻ và mẫu giáo của các trường mầm non ở thành phố Kon Tum. Số lượng bình quân học sinh/ lớp của các lớp nhà trẻ giảm dần, từ 23.8 học sinh năm 2011-2012 giảm xuống mức 20.7 học sinh lớp năm 2015-2016, tức giảm 3.1 học sinh/lớp. Quy mô các lớp mẫu giáo có xu hướng ngược lại, từ mức 30.7 học sinh / lớp tăng lên 31,9 học sinh lớp tăng 1.2 học sinh. Với quy mô lớp như vậy về cơ bản sẽ cho phép nâng cao chất lượng chăn sóc trẻ.

Tỷ lệ số trẻ được cung cấp dịch vụ khám sức khoẻ định kỳ khá cao với cả hai. Có 81.2% trẻ nhóm nhà trẻ và 83.4% trẻ thuộc nhóm mẫu giáo được khám sức khỏe định kỳ. Điều này chứng tỏ các trường mầm non đã trú trọng tới dịch vụ này và phối hợp tốt với ngành y tế để thực hiện.

Tỉ lệ chuyên cần của trẻ: đạt 92% trở lên đối với trẻ 5 tuổi, 85% trở lên đối với trẻ ở các độ tuổi khác.

Có 85% trẻ phát triển bình thường về cân nặng và chiều cao theo tuổi.

74 % trẻ bị suy dinh dưỡng được can thiệp bằng các biện pháp nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng.

Để đánh giá chất lượng dịch vụ của các trường mầm non ở thành phố Kon Tum hãy xem xét Kết quả đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non 3, 4 và 5 tuổi theo hai nhóm chung và DTTS.

2.2.3. Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục mầm non ở thành phố Kon Tum

Bảng 2.10. Số lượng giáo viên mầm non ở thành phố Kon Tum

Tổng số (ng)Giáo viên (ng)Cán bộ quản lý và nhân viên (ng)tỷ trọng GV/tổng (%)
2011-201268050117973.7
2012-201372252919373.3
2013-201474154519673.5
2014-201582160821374.1
2015-201683361022373.2

(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của phòng giáo dục TP Kon Tum)

Phần dưới đây sẽ xem xét thực trạng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục mầm nn ở thành phố này. Đầu tiên sẽ xem xét tình hình số lượng và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn với cả giáo viên và cán bộ quản lý.

Bảng 2.11. Số lượng giáo viên mầm non và cơ cấu theo dân tộc ở thành phố Kon Tum

Năm

học

Tổng

số

KinhDTTS
SL (GV)Tỷ lệ (%)SL (GV)Tỷ lệ (%)
2011-201250147093.8316.19
2012-201352949092.6397.37
2013-201454551193.8346.24
2014-201560856993.6396.41
2015-201661055791.3538.69

(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của phòng giáo dục TP Kon Tum)

Bảng 2.11 thể hiện số lượng giáo viên mầm non ở thành phố Kon Tum trong 5 năm học vừa qua. Số lượng giáo viên đã tăng liên tục trong 5 năm qua. Từ 501 người năm học 2011-2012 đã tăng lên 610 người tăng 109 người. Do địa bàn là vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nên các trường mầm non cũng có trẻ là con em đồng bảo DTTS vì thế các trường cũng có giáo viên là người DTTS. Về số lượng số giáo viên người DTTS tăng nhanh từ 31 người năm học 2011-2012 đã tăng lên 53 người năm học 2015-2016, tăng 22 người. Do đó tỷ trọng giáo viên là người DTTS đã tăng từ 6.19% lên 8.79% trong 5 năm học vừa quan. Như vậy giáo dục mầm non ở thành phố Kon Tum đã trú trọng tới giáo dục cho trẻ là con em người DTTS.

Bảng 2.12. Chất lượng giáo viên mầm non ở thành phố Kon Tum

theo trình độ đào tạo

2011-20122012-20132013-20142014-20152015-2016
ĐẠI HỌCSL79107130171175
Tỷ trọng15.7720.2323.8528.1328.69
C. ĐẲNGSL130160167159173
Tỷ trọng25.9530.2530.6426.1528.36
THSPSL249231229267251
Tỷ trọng49.7043.6742.0243.9141.15
KHÁCSL4331191111
8.585.863.491.811.80

(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của phòng giáo dục TP Kon Tum)

Như vậy theo trình độ đào tạo chuyên môn dường như chất lượng của giáo viên mầm non của thành phố Kon Tum đã tăng lên đáng kể. Điều này đã góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mầm non ở đây.

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON

Ở THÀNH PHỐ KON TUM

3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON Ở THÀNH PHỐ KON TUM

3.1.1. Định hướng phát triển GDMN

– Phát triển giáo dục mầm non theo hướng tăng cường công tác quản lý nhà nước trong việc quản lý chất lượng dịch vụ, đảm bảo sự lành mạnh của thị trường. Hình thành môi trường cạnh tranh lành mạnh đối với các các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập cung cấp dịch vụ với nhau và ngay cả với công lập để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non.

– Giảm bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục giữa các nhóm dân cư, trẻ khuyết tật và vùng dân tộc thiểu số.

– Tăng cường cơ sở vật chất, xây dựng mạng lưới trường học, phát triển giáo dục vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.

3.1.3. Mục tiêu phát triển giáo dục mầm non thành phố Kon Tum

Mục tiêu của giáo dục thành phố với giáo dục mầm non như sau:

– Đến năm 2020

– Đến năm 2025

3.2. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM Ở THÀNH PHỐ KON TUM

3.2.1. Nhóm giải pháp Phát triển về quy mô, mạng lưới và tăng cường cơ sở vật chất cho giáo dục mầm non

Mục tiêu cần đạt tới là Xây dựng đủ phòng học, phòng chức năng và các công trình phụ trợ thiết yếu theo hướng chuẩn hóa cơ sở vật chất trường học; bảo đảm đủ thiết bị, đồ chơi theo tiêu chuẩn quy định; ưu tiên các điều kiện về cơ sở vật chất để thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi.

Mục tiêu này chỉ có thể thực hiện trong điều kiện khó khăn về nguồn lực tài chính từ khu vực công thì nhất thiết phải thực thi chủ trương xã hội hoá. Đây là chủ trương không chỉ đúng mà hết sức cần thiết cho tình hình kinh tế xã hội của đất nước cũng như các tỉnh, thành phố nhằm thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

Chính quyền thành phố cần phải có chính sách thu hút đầu tư hợp lý cho lĩnh vực giáo dục như phải ưu đãi hơn, quan tâm hơn trong quy hoạch phát triển thành phố, minh bạch các chính sách, quan điểm chỉ đạo, đảm bảo quyền lợi để nhà đầu tư mạnh dạn đầu tư.

3.2.2. Nhóm giải pháp phát triển dịch vụ giáo dục mầm non

Trên cơ sở kế hoạch nhiệm vụ năm học các cấp đã chỉ đạo và hướng dẫn từ đó xây dựng kế hoạch năm học; kế hoạch tháng; kế hoạch tuần; xây dựng chế độ sinh hoạt; xây dựng kế hoạch chuyên môn: cụ thể chương trình dạy cho các khối lớp phù hợp , sát với tình hình của trường. Chỉ đạo giáo viên các nhóm lớp xây dựng kế hoạch hoạt động và được nhà trường phê duyệt mới thực hiện. Hàng tháng giáo viên báo cáo kế hoạch, lịch dạy của lớp cho nhà trường. Qua đó Ban giám hiệu có cơ sở để theo dõi, kiểm tra và có biện pháp chỉ đạo kịp thời tốt hơn.

Giao chỉ tiêu chất lượng cho từng khối, lớp:

Thực hiện phân loại giáo viên để có kế hoạch bồi dưỡng thích hợp, đối với giáo viên có tay nghề còn non, giáo viên mới tuyển trong năm; Chú trong bồi dưỡng thêm phương pháp dạy, cách tổ chức hoạt động giáo dục: Tổ chức thi giảng, dự giờ dạy tốt; Bồi dưỡng công tác tự học tập của giáo viên. Đối với giáo viên khá – tốt, bồi dưỡng năng lực sư phạm, kỹ năng, tác phong, sự sáng tạo linh hoạt cho giáo viên.

3.2.3. Nhóm giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên

– Đào tạo mới 400 giáo viên mầm non nhằm đảm bảo đủ giáo viên cho các lớp mẫu giáo 5 tuổi theo quy định về định mức giáo viên/lớp theo Điều lệ trường mầm non và Thông tư số 71/2007/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28/11/2007 về hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở GDMN công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển các lớp bán trú; giao chỉ tiêu biên chế nhằm đảm bảo định mức giáo viên/lớp và đảm bảo biên chế 02 giáo viên/lớp đối với các lớp mẫu giáo có tổ chức bán trú, tổ chức ăn trưa tại trường; đảm bảo đủ số lượng cán bộ quản lý cho mỗi hạng trường theo quy định.

– Thu hút nhằm nâng cao chất lượng đầu vào. Thu hút giáo viên giỏi không phân biệt đáp ứng nguồn nào như vậy vừa nhất quán không phân biệt đối xử bởi lẽ cuối cùng họ cũng đáp ứng nhu cầu học tập cho người Đà Nẵng và cũng nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Một số biện pháp cần thực hiện

Thứ nhất; Tăng cường công tác bồi dưỡng chuyên môn Bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ qua tổ chức các hội thi

Thứ hai: Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ cán bộ giáo viên.

3.2.5. Nhóm giải pháp khác

KẾT LUẬN

Thành phố Kon Tum đang trong giai đoạn phát triển nhanh về chất lẫn về lượng. Kon Tum cần đầu tư tập trung những giá trị giáo dục và giáo dục vừa là nền tảng vừa là động lực cho sự phát triển. Chủ trương xã hội hóa giáo dục cùng y tế, văn hóa thể thao của chính phủ với mục tiêu thu hút nhiều nguồn lực xã hội để nâng cao chất lượng là hết sức đúng đắn. Thành phố đã xây dựng đề án xã hội hóa giáo dục mà đối tượng chính là trẻ ở độ tuổi mầm non chiếm tỉ trọng cao nhất song cho đến nay việc thực thi chưa đảm bảo mục tiêu đề án đặt ra, thành phố cần nghiêm túc nhìn nhận và đánh giá, đúc rút những việc cần phải làm ngay để đảm bảo nhu cầu phát triển.

Phát triển dịch vụ giáo dục mầm non không chỉ thực hiện tốt mục tiêu của Thành phố, của Chính phủ mà còn đáp ứng nhu cầu của người dân trong việc nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống. “Nền móng giáo dục cho trẻ trước năm tuổi chiếm 90 % cả quá trình giáo dục của một đời người” như một khẳng định của một nhà nghiên cứu, điều này chắc hẳn cho chúng ta có những suy nghĩ, đặt lại vấn đề giáo dục mầm non đang nằm ở đâu trong hệ thống giáo dục quốc dân, sự cần thiết phải đáp ứng đầy đủ và đảm bảo chất lượng dịch vụ giáo dục mầm non cho mọi trẻ em là việc người lớn chúng ta cần phải làm, sự chung tay của giáo dục mầm non ngoài công lập là hết sức cần thiết bởi thế hệ mầm non lớn lên với trí lực dồi dào là kho vàng của đất nước.

Phát triển giáo dục mầm non là phát triển các dịch vụ giáo dục, chăm sóc và nuôi dưỡng thông qua các hoạt động: Giáo dục toàn diện (đức, trí, thể, mỹ,..), chăm sóc bán trú, chăm sóc ngoài giờ, tư vấn tâm lý, tư vấn dinh dưỡng, y học, dịch vụ đưa đón… của các cơ sở mầm non ngoài công lập thông qua các chính sách tạo môi trường và thu hút các nhà đầu tư, nhằm đáp ứng các nhu cầu, giúp trẻ em có nhiều cơ hội tiếp cận với giáo dục với các yêu cầu đặc thù, giúp phụ huynh đặc biệt là chị em phụ nữ có cơ hội tham gia, làm việc và phát triển sự nghiệp.

Những năm qua, phát triển giáo dục mầm non đã có vai trò quan trọng trong việc phát triển ngành giáo dục và đào tạo của thành phố. Ở góc độ nào đó, kết quả nghiên cứu của đề tài đã chỉ rõ được những hạn chế hiện nay và đề ra những giải pháp cơ bản nhất trong việc thúc đẩy dịch vụ giáo dục mầm non ngoài công lập phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian đến. Giúp Kon Tum sớm về đích trong chủ trương xã hội hoá trong mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2025. Cung cấp nguồn nhân sự cho sự phát triển xã hội và điều quan trọng nâng cao giá trị thụ hưởng của con người đặc biệt phụ nữ và trẻ em để thành phố Kon Tum trở thành vùng đất đáng sống.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\QUAN LY KINH TE\DAO THI HOA

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *