Phát triển cây cao su trên địa bàn huyện Ngọc Hồi
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngọc Hồi là một huyện biên giới nằm phía Tây của tỉnh Kon Tum có lợi thế về điều kiện tự nhiên, đất đai màu mỡ, có tiềm năng quỹ đất to lớn cho phép phát triển mạnh cây cao su. Trong những năm qua, theo chủ trương, định hướng phát triển kinh tế của tỉnh, diện tích trồng cây cao su trên địa bàn huyện đã phát triển nhanh chóng, góp phần không nhỏ đến việc cải thiện đời sống của người dân cũng như thay đổi diện mạo nơi đây. Xuất phát từ thực tế địa phương và nhận thức được tầm quan trọng trong việc phát triển cây cao su trên địa bàn, tôi xin chọn đề tài nghiên cứu:“Phát triển cây cao su trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum”
2. Mục tiêu nghiên cứu
– Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển sản xuất cây cao su.
– Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển sản xuất cây cao su tại Huyện Ngọc Hồi, Tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011 đến 2015.
– Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất cao su trên địa bàn Huyện Ngọc Hồi trong thời gian tới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: phát triển sản xuất cây cao su.
– Phạm vi nghiên cứu:
+ Về mặt không gian: Huyện Ngọc Hồi, Tỉnh Kon Tum
+ Thời gian nghiên cứu: Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất cây cao su trong giai đoạn 2011-2015, Các giải pháp định hướng đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
– Phương pháp phân tích thống kê: Dựa vào số liệu báo cáo, thống kê để phân tích các yếu tố nguồn lực, đánh giá tình hình phát triển và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cao su, làm rõ những vấn đề có tính quy luật, những nhận xét đánh giá đúng đắn. Phương pháp này giúp cho việc tổng hợp và phân tích thống kê các tài liệu điều tra đồng thời hệ thống chỉ tiêu cho phép đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình nghiên cứu .
– Phương pháp thu thập số liệu có liên quan đến đề tài, số liệu thứ cấp được thu thập từ chính quyền và các ban ngành địa phương. Các tài liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, các báo cáo kế hoạch của huyện, xã được thu thập từ các cơ quan chính quyền và cơ quan chức năng như phòng Kinh tế – Nông nghiệp huyện Ngọc Hồi, và các loại sách báo, mạng Internet.
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển cây cao su
Chương 2: Thực trạng phát triển cây cao su Huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum
Chương 3: Giải pháp phát triển cây cao su Huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY CÔNG NGHIỆP
. TỔNG QUAN VỀ CÂY CÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN CÂY CÔNG NGHIỆP
. Khái niệm cây công nghiệp
Cây công nghiệp là những cây trồng mà sản phẩm của nó được sử dụng làm nguyên liệu cho công nghiệp: Cây cao su, cây cà phê, cây mía, đậu tương, dầu gai,….
. Khái niệm phát triển cây công nghiệp
Phát triển cây công nghiệp là quá trình vận động đi lên không ngừng theo hướng hoàn thiện hơn của hoạt động sản xuất cây công nghiệp về mọi mặt. Đó là sự vận động lớn lên về quy mô sản xuất như phát triển cả về quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực; nâng cao về chất lượng cây trồng, hoàn thiện tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm ổn định, đóng góp ngày càng lớn vào sản lượng và GDP chung của nền kinh tế.
. Vai trò, đặc điểm của cây cao su
- Đặc điểm kỹ thuật của cây cao su
Cây cao su được trồng với mật độ từ 400 – 571 cây/ha và chu kỳ sống được giới hạn lại từ 30 – 40 năm, chia làm 2 thời kỳ là thời kỳ kiến thiết cơ bản thông thường khoảng 7 năm và thời kỳ kinh doanh từ năm thứ 8 trở đi.
– Đặc tính của mủ cao su:
Mủ nước là sản phẩm chính thu được từ mủ cao su. Mủ nước là một dung dịch thể keo, màu trắng đục như sữa hoặc có màu hơi vàng hoặc hơi hồng tuỳ theo giống cây.
Để cây cao su phát triển tốt, hiệu quả cao cần chú ý: Nhiệt độ 22-30oC, lượng mưa 1.500 – 2.000 mm nước/năm; độ ẩm không khí trên 75%, gió nhẹ 1-2m/s, giờ chiếu bình quân 1.800-2.800 giờ /năm, đất gò đồi có độ cao trình từ 200-600 m, độ dốc nhỏ hơn 8%. Chú ý kỹ thuật khai thác mủ và phòng trừ các loại bệnh như phấn trắng, xì mủ, rụng lá mùa mưa…
b. Vai trò của cây cao su
Mủ cao su trở thành một trong bốn nguyên liệu chính của ngành công nghiệp thế giới, có hơn 50.000 công dụng được ứng dụng vô cùng rộng rãi trong công nghiệp cũng như trong đời sống hàng ngày.
Về giá trị thương mại cao su thiên nhiên đóng vai trò hết sức quan trọng trong các ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp xăm lốp. Giá cao su xuất khẩu bình quân tăng liên tục đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho đất nước, tăng kim ngạch xuất khẩu, thu ngoại tệ…Nguồn gỗ từ việc chặt bỏ cây cao su già để trồng mới là một nguồn thu đáng kể, hàng năm các công ty chế biến gỗ cao su thu về hàng trăm tỷ đồng.
Các rừng cao su tạo cân bằng sinh thái, góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên. Phát triển sản xuất cao su tại Ngọc Hồi còn đảm bảo an ninh quốc phòng, chống xâm lấn biên giới, xâm nhập lãnh thổ trái phép, truyền đạo kích động đồng bào bạo loạn và ngăn chặn bọn phản động vượt biên trái phép.
1.1.4. Khái niệm phát triển cây cao su
Phát triển cây cao su là quá trình vận động đi lên không ngừng theo hướng hoàn thiện hơn của hoạt động sản xuất cao su về mọi mặt. Đó là là sự vận động lớn lên về quy mô sản xuất cây cao su như phát triển cả về số lượng cây cao su, gia tăng huy động và sử dụng tốt các nguồn lực; phát triển về chất lượng cây cao su, hoàn thiện tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm ổn định để giá trị sản lượng ngày càng cao đóng góp ngày càng lớn vào sản lượng và GDP chung của nền kinh tế.
1.1.5. Ý nghĩa của phát triển sản xuất cây cao su
Trồng, khai thác, chế biến các sản phẩm từ mủ cao su đã trở thành một nghề mang lại nguồn thu nhập không nhỏ cho đất nước. Cây cao su phát triển đến đâu sẽ tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương đến đó.
Các rừng cây cao su chống xói mòn bảo vệ đất, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tạo cân bằng về mặt sinh thái, góp phần tốt trong việc bảo vệ môi trường tự nhiên.
Cùng với sự mở rộng quy mô và diện tích của các doanh nghiệp nằm trên địa bàn có cây cao su đứng chân thì cơ sở hạ tầng của địa phương như đường xá, điện nước, bệnh viện, trường học, khu giải trí… cũng được xây dựng và phát triển đến đó, tham gia phân bố dân cư hợp lý giữa vùng thành thị và nông thôn, vùng sâu, vùng xa, thu hút lao động cho các vùng sâu, các xã đặc biệt khó khăn, vùng cận biên giới, vùng định cư của các dân tộc ít người, góp phần bảo vệ quốc phòng an ninh tại các vùng biên giới.
1.2. NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN CÂY CAO SU
1.2.1. Huy động và sử dụng hiệu quả các yếu tố nguồn lực cho sản xuất cây cao su
Sự phát triển về sản lượng trong sản xuất cao su là việc làm gia tăng khối lượng sản phẩm cao su sản xuất, gia tăng tổng giá trị sản xuất cao su, gia tăng sản lượng hàng hóa cao su… điều đó được thực hiện thông qua gia tăng các yếu tố đầu vào như gia tăng quy mô diện tích cây trồng, số lượng, trình độ người lao động, vốn đầu tư, nâng cao năng suất và chất lượng cây sản phẩm cao su. Trong phát triển sản xuất cây cao su cần lựa chọn và hoàn thiện các hình thức tổ chức sản xuất tiến bộ như hộ sản xuất cao su, trang trại cao su, công ty … Kết quả huy động và sử dụng các nguồn lực trong sản xuất cây cao su thể hiện bằng các chỉ tiêu:
- Diện tích cây cao su, cơ cấu diện tích cao su;
- Số lượng lao động và trình độ đội ngũ lao động trong sản xuất cao su;
- Vốn đầu tư trong sản xuất cao su;
- Năng suất mủ cao su;
- Thu nhập/ha cao su;
- Mức và tỷ lệ tăng diện tích giống mới trong sản xuất;
- Tỷ lệ các khâu sản xuất áp dụng kỹ thuật mới;
– Tỷ lệ các doanh nghiệp trong tổng số các cơ sở sản xuất cao su.
1.2.2. Tổ chức sản xuất cây cao su
Sản xuất cao su phải được tiến hành trên quy mô tương đối lớn, do vậy, việc tổ chức sản xuất để khai thác tốt tiềm năng, lợi thế đất đai của từng vùng là rất quan trọng trong điều kiện đất đai có hạn như hiện nay.
Các tiêu chí phản ánh
– % diện tích sử dụng giống mới;
– % thay thế và đổi mới thiết bị chế biến;
– Tỷ lệ trang trại trong tổng số;
– Số lượng các trang trại tăng thêm;
– Tỷ lệ các doanh nghiệp trong tổng số các cơ sở sản xuất cao su..
1.2.3. Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cây cao su là quá trình mở rộng quy mô khách hàng cũng như sản lượng và giá trị sản phẩm cây cao su trên thị trường. Quá trình này cũng là quá trình chiếm lĩnh thị trường bảo đảm và tăng dần thị phần của các nhà sản xuất cao su bằng nhiều biện pháp khác nhau.
Tiêu chí phản ánh
– Doanh thu và mức tăng doanh thu của sản phẩm cao su;
– Thị phần và mức tăng thị phần của sản phẩm cao su trên thị trường;
– Số các nhà phân phối tham gia;
1.2.4. Gia tăng kết quả và đóng góp của cây cao su với phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Cây cao su đã giúp cho nhiều người nông dân trở thành những người công nhân với tư duy sản xuất hiện đại, quy củ với đồng lương ổn định; góp phần xoá đói, giảm nghèo, điều hoà dân cư trên phạm vi cả nước, thúc đẩy quá trình định canh định cư các dân tộc ít người, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân địa phương; đảm bảo an ninh quốc phòng.
Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và đóng góp của cây cao su:
– Giá trị sản xuất cao su;
– Thu nhập của người lao động;
– Tỷ trọng giá trị sản xuất của cây cao su trong tổng giá trị sản xuất của địa phương/hoặc trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp;
– Đóng góp của sản xuất cao su trong giải quyết việc làm;
– Đóng góp của sản xuất cao su trong xóa đói giảm nghèo;
– Đóng góp của sản xuất cao su vào ngân sách trên địa bàn;
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÂY CAO SU
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
Các yếu tố điều kiện tự nhiên gồm: đất đai, độ dốc, độ sâu tầng đất, khí hậu nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm, gió, giờ chiếu sáng, sương mù, khả năng chịu hạn, chịu úng.
1.3.2. Điều kiện kinh tế – xã hội
Các yếu tố về kinh tế xã hội gồm: Cơ sở hạ tầng và nguồn lao động.
1.3.3. Các chính sách của nhà nước, địa phương đối với phát triển cây cao su
Các chính sách của nhà nước, địa phương đối với phát triển cây cao su bao gồm chính sách về đất đai, lao động, vốn, khoa học công nghệ và chính sách phát triển cây cao su của địa phương

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÂY CAO SU
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGỌC HỒI, TỈNH KON TUM
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA HUYỆN NGỌC HỒI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁT TRIỂN CÂY CAO SU
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Tổng diện tích tự nhiên 84.453,8 ha. Dân số 56.780 người (năm 2015) với vị trí địa lý: Bắc giáp huyện Đắk Glei, Nam giáp huyện Sa Thầy, Đông giáp huyện Đắk Tô và Tu Mơ Rông, Tây giáp Campuchia và Lào.
Khí hậu thời tiết, đất đai ở Huyện rất phù hợp với việc phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là: cao su, cà phê, tiêu…
2.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội
a. Tăng trưởng kinh tế
Trong giai đoạn từ năm 2011-2015, sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển khá nhanh; kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được đầu tư khá toàn diện. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Quốc phòng – an ninh được giữ vững.
b. Cơ sở hạ tầng
Trên cơ sở quy hoạch, huyện đã triển khai đầu tư nhiều công trình hạ tầng quan trọng, như trạm kiểm soát liên hợp, đường giao thông khu kinh tế, khu vực thị trấn, khu văn hóa …Mạng lưới giao thông được đầu tư khá đồng bộ, với các tuyến quốc lộ 14, 14c, 40, các tuyến đường đô thị được xây dựng khang trang, hệ thống đường giao thông nông thôn được bê tông hoá gần như toàn bộ. Trên địa bàn huyện đã có một số công trình thủy lợi lớn như: thuỷ lợi Đăk Hơ Niêng, Đăk Kal, Đăk Hơ Na, Đăk, thuỷ lợi Đăk RGấp, Đăk Nông, Đăk Wang, Ngọc Tạng, Đăk Wai1,3. Điện lưới quốc gia đã kéo đến 100% xã và 100% thôn, làng. Lĩnh vực vận tải trong thời gian qua phát triển mạnh, các phương tiện vận tải tăng nhanh cả về số lượng và các trang thiết bị hiện đại.
- Tình hình dân số, lao động và thu nhập
Năm 2015, Huyện Ngọc Hồi có dân số trung bình 50.842 người với mật độ 86 người/km2. tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 28% tổng số lao động, tỷ lệ lao động ở khu vực phi nông nghiệp chiếm 33,4%, lực lượng thanh niên toàn huyện chiếm 17-19% dân số, thu nhập bình quân đầu người đạt 28,2 triệu. Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 9%. Tổng giá trị sản xuất đạt 4.636 tỷ đồng; tốc độ tăng bình quân hàng năm 19,26%.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÂY CAO SU TẠI HUYỆN NGỌC HỒI TRONG THỜI GIAN QUA
2.2.1. Thực trạng huy động và sử dụng các yếu tố nguồn lực sản xuất cây cao su
Năm 2016, tổng diện tích của Huyện Ngọc Hồi là 84.453,80 ha; quỹ đất nông nghiệp khá lớn, khoảng 38.856,02 ha chiếm 46,05%, đất dùng cho lâm nghiệp là 38.504,02 ha chiếm 45,63%; đất chuyên dùng là 2.085,06 ha chiếm 2,5%; đất nhà ở là 756,76 ha chiếm 0,9%; đất khác 4.251,94 ha chiếm 4,95%. Diện tích đất trồng cây lâu năm là 11.201 ha
Trong tổng số 17,25 ngàn ha đất dự kiến trồng cây lâu năm, có khoảng 9 ngàn ha được đưa vào nghiên cứu khả năng chuyển đổi sang trồng cao su.
Bảng 2.3. Sản lượng cao su qua các năm của huyện Ngọc Hồi
| Sản phẩm | ĐVT | 2011 | 2012 | 2013 | 2014 | 2015 |
| Cao su(Mủ QK) | Tấn | 4.864 | 5.498 | 6.800 | 6.727 | 6.768 |
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Ngọc Hồi)
Sản lượng cao su liên tục tăng lên qua các năm, với tổng giá trị sản lượng năm 2014 đạt trên 303 tỷ đồng. Năm 2015, tuy sản lượng cao hơn năm 2014 nhưng giá trị sản lượng không cao ước đạt 237 tỷ đồng. Nguyên nhân chủ yếu là do giá cả thị trường cao su trong năm 2015 sụt giảm. Tuy nhiên, với đóng góp của cây cao su trên địa bàn huyện thời gian vừa qua, cây cao su vẫn là cây công nghiệp quan trọng.
Về năng suất cao su
Bảng 2.4. Năng suất cao su qua các năm của huyện Ngọc Hồi
| Năng suất | ĐVT | 2011 | 2012 | 2013 | 2014 | 2015 |
| Cao su(Mủ QK) | Tấn | 1,31 | 1,43 | 1,53 | 1,50 | 1,50 |
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ngọc Hồi)
Như vậy chất lượng vườn cây cao su huyện chưa cao, cần phải chú trọng công tác cải tạo, sử dụng giống mới có năng suất cao hơn và áp dụng công nghệ để giảm thiểu hao hụt.
Tóm lại, việc huy động nguồn lực đất đai vào phát triển cây cao su trong những năm qua, tuy nhiền tiềm năng đất đai cho phát triển còn lớn nhưng cũng cần phải có chính sách huy động hợp lý để phát triển cây cao su một cách bền vững.
b. Lao động
Năm 2015, Huyện có dân số trung bình 50.842 người trong đó 20.459 người (40% dân số) trong độ tuổi lao động với 19.190 người có việc làm thường xuyên. Như vậy phần lớn dân số ngoài độ tuổi lao động và tỷ lệ phụ thuộc cao.
Hình 2.2. Biểu đồ dân số và giới tính của huyện Ngọc Hồi
Dân số từ 15 tuổi trở lên của huyện Ngọc Hồi biết chữ đạt hơn 99% và tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 24,9% . Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (LLLĐ) của dân số trong độ tuổi lao động tăng khá cao so với mức chung của cả nước là 80%. Tuy vậy, Huyện vẫn còn một bộ phận người lao động chưa tham gia lực lượng lao động (>1.200 ngươi) hiện đang đi học, làm nội trợ và không muốn làm việc.
c. Thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp và thu hút vốn
Về thu hút vốn: Trong thời gian qua, việc huy động vốn cho phát triển sản xuất cây cao su đã đạt được những thành quả nhất định. Bên cạnh nguồn vốn từ ngân sách, nguồn vốn FDI, nguồn vốn đầu tư từ ngân hàng đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội của huyện nói chung và phát triển cây cao su nói riêng.
d. Hạ tầng, khoa học công nghệ
Trong thời gian qua Huyện đã thực hiện một số cơ chế chính sách hỗ trợ như: Thực hiện đăng ký hạng mục công trình hỗ trợ kinh phí đầu tư hạ tầng các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo Quyết định số 25/2008/QĐ-TTg ngày 5/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 13/2008/TT-BCT ngày 5/11/2008 của Bộ Công Thương hướng dẫn thực hiện hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại các vùng Tây Nguyên, vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ.
Thâm canh cây cao su là phương thức sản xuất tiên tiến nhằm tăng sản lượng, năng suất của cây cao su thông qua việc đầu tư thêm vốn và kỹ thuật mới vào sản xuất.
Cụ thể, tại huyện Ngọc Hồi, nếu tính bình quân đơn vị công suất/ha cho thấy với sản xuất cao su năm 2011 trên 1 ha chỉ có 4,6 mã lực thì năm 2016 tăng lên 5,7 mã lực. Nếu xem xét mức đầu tư lao động trên 1 ha thì bình quân năm 2011 là 0,77 lao động/ha, năm 2015 giảm còn 0,74 lao động/ha. Như vậy, việc áp dụng máy móc thiết bị vào đầu tư chăm sóc cho thấy có hiệu quả hơn so với lao động thủ công thuần túy.
Giống cao su hiện có rất nhiều loại, tuy nhiên không nhất thiết phải trồng tất cả các giống cao su có năng suất mủ cao trên tất cả các loại đất, mà tuỳ tình hình chất lượng đất đai để lựa chọn quyết định giống cao su thích hợp, nhằm giảm thiểu chi phí đầu tư mà vẫn cho hiệu quả kinh tế cao.
e. Về kỹ thuật chăm sóc và khai thác mủ cao su
Người sản xuất phải thực hiện tốt chỉ đạo kỹ thuật về cơ cấu giống và quy chế về quản lý giống cao su, triển khai sớm và đưa nhanh các giống mới. Khai hoang làm đất phải bảo vệ lớp đất màu, chống úng ngập trong mùa mưa, giữ ẩm chống hạn trong mùa khô, thiết kế hàng trồng cao su theo đường đồng mức trên đất dốc, kiểm soát và duy trì thảm thực vật hợp lý giữa hai hàng cao su. Bón phân đúng chủng loại, đủ liều lượng, đúng phương pháp và đúng thời vụ, đảm bảo bón đủ định lượng và khai thác theo qui trình kĩ thuật.
f. Về công nghệ chế biến và chất lượng sản phẩm
Ngọc Hồi hiện có 4 nhà máy sơ chế mủ cao su, tổng công suất thiết kế 19.000 tấn/năm, sản phẩm chủ yếu là cao su mủ cốm SVR 3L, 5, RSS3 và một ít mủ đông tạp SVR 10, 20. Các dạng sản phẩm SVR 3L, 5,… phụ thuộc rất lớn vào thị trường Trung Quốc, hơn nữa các chủng loại sản phẩm này có giá trị xuất khẩu thấp; do vậy tương lai cần tăng mạnh việc chế biến mủ kem ly tâm 60% DRC, mủ tờ RSS… đồng thời tìm kiếm mở rộng thị trường.
Cũng như Tỉnh, dù lượng sản xuất và xuất khẩu cao su lớn, nhưng hơn 100% sản lượng cao su của huyện phục vụ xuất khẩu dưới hình thức cao su nguyên liệu thô. Do đó, lợi nhuận từ cao su thấp hơn rất nhiều so với Indonesia hay Thái Lan. Mặt khác, hình thức gia công, quy mô sản xuất còn nhỏ và năng suất của cao su cũng chưa thực sự đạt được như mong muốn.
2.2.2. Thực trạng tổ chức sản xuất cao su
Tổ chức sản xuất cao su ở tỉnh Kon Tum nói chung và Huyện Ngọc Hồi nói riêng hiện nay có 3 hình thức chính, hộ gia đình, nông trường và doanh nghiệp. Số liệu Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2014 của TCTK cho thấy hiện nay có 03 trang trại trồng cao su, hơn 950 hộ và 6 doanh nghiệp tham gia sản xuất cây cao su ở các hình thức khác nhau.
Các doanh nghiệp với quy mô sản xuất lớn và có nguồn lực khá nên đầu tư vào tất cả các khâu từ trồng trọt tới chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Theo số liệu năm 2015 của TCTK cho thấy tổng tài sản của các doanh nghiệp kinh doanh cao su khoảng gần 740 tỷ, doanh thu bán hàng khoảng 450 tỷ và lợi nhuận 180 tỷ đồng.
Các nông trường có quy mô sản xuất nhỏ hơn nhiều so với doanh nghiệp, Nếu xét trung bình 1 nông trường, giá trị thu hàng năm của nông trường cao su khoảng 0,6 tỷ đồng.
Các hộ sản xuất cao su thường có quy mô nhỏ trong đó gần 25% có diện tích dưới 1 ha, 55% có diện tích từ 1 đến 2 ha và trên 2 ha là 20%. Hộ ít cũng trồng được 0,5ha và hộ nhiều có đến 5ha cao su. Hàng trăm hộ có diện tích cao su tiểu điền đang cho khai thác mủ đã mang lại nguồn lợi lớn, cuộc sống được cải thiện và giàu lên trông thấy, có những hộ thu nhập đến một hai trăm triệu đồng mỗi năm.
Mối liên kết các nhà trong sản xuất cây cao su ở Huyện rất lỏng lẻo và yếu kém. Vai trò của chính quyền trong định hướng tạo dựng môi trường kinh doanh và liên kết các nhà sản xuất với các nhà khoa học và doanh nghiệp dịch vụ chưa rõ ràng. Ngoài ra nhận thức của các hộ gia đình về liên kết chưa cao, họ chưa thấy rõ lợi ích lớn từ việc liên kết này. Mọi giao dịch chủ yếu theo cách mua đứt bán đoạn cho từng khâu.
2.2.3. Thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm cao su
Thị trường tiêu thụ sản phẩm cao su quyết định rất nhiều tới sự phát triển của cây trồng này.
Tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm mủ cao su trên thị trường trong huyện rất thấp không đáng kể, chỉ khoảng 3,7% tổng sản lượng. Phần lớn sản phẩm mủ cao su của huyện sản xuất ra được các thương lái thu mua hoặc được sơ chế tại các nhà máy sau đó xuất khẩu ra ngoài huyện, chiếm 96,3% tổng sản lượng. Nguyên nhân là do trên địa bàn huyện chưa có các cơ sở, nhà máy chế biến chuyên sâu để cho ra những sản phẩm cuối cùng cung cấp đến tay người tiêu dùng. Một số nhà máy sơ chế có đầu tư thêm hệ thống máy móc sản xuất ra sản phẩm tiêu dùng cung cấp cho thị trường song còn hạn chế về số lượng cũng như chủng loại, mẫu mã.
Hiện nay, sản phẩm mủ cao su của toàn huyện được tiêu thụ theo 3 mô hình chính:
+ Mô hình 1: Hộ trồng cao su-Thương lái-Xuất khẩu .
+ Mô hình 2: Hộ trồng cao su-Thương lái-Cơ sở chế biến-Xuất khẩu .
+ Mô hình 3: Hộ trồng cao su-Cơ sở chế biến-Xuất khẩu .
2.2.4. Kết quả và đóng góp của cây cao su với phát triển kinh tế – xã hội của huyện
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng ngành nông-lâm-thủy sản đạt 29,62%, công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp-xây dựng đạt 36,03%, thương mại dịch vụ đạt 34,35%; thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng qua từng năm, hiện nay đạt 28,2 triệu. Diện tích phát triển cao su kinh doanh qua các năm trên địa bàn huyện tương đối ổn định, tăng dần theo từng năm. Năm 2011 là 3.700 ha đến năm 2015 là 4.512 ha. Sản lượng cao su liên tục tăng qua các năm, tổng sản lượng mủ cao su giai đoạn 2011-2015 của toàn huyện khoảng 30.600 tấn mủ quy khô; năng suất bình quân là 1,45 tấn/ha, giá trị sản xuất từ cây cao su mang lại khoảng 1.554 tỷ đồng, góp phần nâng cao hiệu quả phát triển sản xuất cây cao su nói riêng và của huyện Ngọc Hồi nói chung. Trong năm 2015, huyện Ngọc Hồi đạt được:
+Tỷ trọng GTSX của cao su/Tổng GTSX của huyện là 6,2%
+ Kim ngạch XK Cao su/Tổng KNXK của huyện là 2,4%.
+ Tỷ trọng Nộp ngân sách của cao su/Thu ngân sách của huyện là 13%.
+ Số việc làm tạo ra khoảng 5.000 ngàn lao động.
+ Đóng góp vào tỷ lệ giảm nghèo năm 2015 là 10,72%, trung bình mỗi năm giảm từ 3-5%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,2%.
Tỷ lệ che phủ của rừng đạt 35,5% trong đó đóng góp của cây cao su chiếm diện tích đáng kể. Ngành cao su là nguồn thu đáng kể của Ngân sách huyện, góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế – xã hội của Huyện. Việc phát triển và gia tăng số lượng các nhà máy chế biến mủ cao su đóng góp lớn vào kế hoạch phát triển công nghiệp hóa của Huyện.
Việc phát triển cây cao su không những thay đổi dần phương thức sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số, mở ra hướng đi mới cho phát triển kinh tế – xã hội của huyện có hơn 55% là đồng bào dân tộc thiểu số mà còn góp phần giữ vững tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm xuống còn 1.420 hộ chiếm 10,72%, trong đó hộ nghèo là người đồng bào dân tộc thiểu số 1.294 hộ, chiếm 91,13% trong tổng số hộ nghèo toàn huyện; với sự đóng góp hiệu quả của phát triển cao su trên địa bàn huyện.
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÂY CAO SU TẠI HUYỆN NGỌC HỒI
Cây cao su không chỉ là cây mang lại lợi nhuận về kinh tế cho địa phương mà còn là loại cây trồng góp phần vào ổn định an ninh chính trị, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, góp phần xóa đói giảm nghèo hiệu quả. Góp phần vào chuyển dịch cơ cấu cây trồng đúng hướng, sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại được duy trì, các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản triển khai đảm bảo theo đúng tiến độ, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội được quan tâm. Kết quả nổi bật thể hiện trên các mặt như sau:
* Về sử dụng đất: Tính đến cuối năm 2016, tổng diện tích cây hàng năm: 7.241 ha, đạt 106,33% so với kế hoạch và bằng 100,36% so năm 2015. Trong đó: Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2016 ước đạt khoảng 9.257 tấn. Tổng diện tích cây lâu năm: 11.201 ha, đạt 99,69% kế hoạch và bằng 100,93% so với năm 2015. Trong đó tổng diện tích cao su đã trồng được 7.846 ha, đạt 93,01% so mục tiêu năm 2015; giảm (60ha) do diện tích cao su quốc doanh giảm để xây dựng công trình công cộng và một số diện tích đã già cỗi.
* Về lao động: Huyện Ngọc Hồi có khoảng 56.780 người, trong đó Tổng số doanh nghiệp đã đăng ký thành lập trên địa bàn huyện còn đang hoạt động 213 doanh nghiệp. Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ cá thể cho 350 trường hợp. Điều này đã góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho hàng chục ngàn lao động trên địa bàn huyện, đóng góp đáng kể cho sự phát triển của huyện. Trong đó lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất cây cao su khoảng 6.000 người, thu nhập bình quân khoảng 5,5 triệu đồng/người/tháng.
* Về huy động sử dụng vốn: Từ nguồn vốn ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và nguồn vốn huy động trong dân, lồng ghép các nguồn vốn đầu tư khác, đến nay huyện Ngọc Hồi đã thực hiện hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Đắk Kan và xã Đăk Nông. Trong đó, cây cao su có đóng góp đáng kể cho sự phát triển của 2 xã này. Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn huy động được trong đầu tư phát triển cao su, vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và đời sống xã hội.
* Về áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất: Đã đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học mới vào sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng nông sản. Ứng dụng thành công nhiều kỹ thuật chiết, ghép, cải tạo giống theo chương trình khuyến nông của huyện. Thực hiện cơ giới hóa trong công tác quản lý sản xuất và điều hành đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực trong năm 2015 như tiết giảm được chi phí đầu tư trồng và chăm sóc cao su khoảng 30% so với năm 2014.
* Về tổ chức sản xuất: Đã cơ cấu lại hệ thống tổ chức sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ mủ cao su; khuyến khích doanh nghiệp liên kết, ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ mủ cao su với nông dân; phát triển các nhóm nông dân hợp tác tự nguyện, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị từ sản xuất giống đến chế biến để nâng cao năng suất, cắt giảm chi phí, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng; Hỗ trợ tập huấn, khuyến nông và các dịch vụ tư vấn nhằm nâng cao kỹ thuật trồng cao su, chăm sóc và thu hoạch cho nông dân v.v…
* Về đảm bảo quốc phòng an ninh: Địa bàn có cây cao su đứng chân, tình hình an ninh chính trị cơ bản được giữ vững, ổn định.
Sự phát triển còn mang tính tự phát; nhiều nơi chưa được quy hoạch để phát huy hết lợi thế về đất đai, đảm bảo phát triển bền vững, chưa có điều kiện áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh sản phẩm trên thị trường. Cơ sở hạ tầng tuy được đầu tư xây dựng nhưng vẫn còn thiếu và yếu; trình độ lực lượng lao động và dân trí còn thấp là hạn chế lớn trong tiếp nhận khoa học kỹ thuật; Nguồn vốn đầu tư còn hạn chế, các dự án đều gặp khó khăn về vốn. Bên cạnh đó thời tiết khí hậu diễn biến phức tạp, trái quy luật so với nhiều năm trước Việc định hướng thị trường tiêu thụ vẫn còn nhiều hạn chế. An ninh chính trị, an ninh tôn giáo, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp.
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế
– Tác động suy giảm kinh tế trên thế giới và trong nước, tiềm lực kinh tế của huyện còn hạn chế, trình độ dân trí không đều, phương thức sản xuất còn lạc hậu, khả năng áp dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất chưa cao, một bộ phận nhân dân còn trông chờ, ỷ lại sự đầu tư, hỗ trợ của nhà nước, huyện thường xuyên xảy ra thiên tai, hạn hán kéo dài. Các thế lực thù địch và bọn phản động Fulro, tin lành Đê ga thường xuyên lôi kéo người dân.
*Nguyên nhân chủ quan:
– Chưa có quy hoạch rõ ràng và chi tiết về vùng quy hoạch diện tích phát triển cây cao su. Năng lực tư duy kinh tế của cán bộ chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Việc lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng chưa mạnh mẽ, quyết liệt nên hiệu quả thấp.
– Hình thức tuyên truyền các chính sách chưa phù hợp với các đối tượng, nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số nên khả năng tiếp thu nhận thức và chấp hành còn hạn chế. Sự phối kết hợp giữa các cơ quan, ban ngành chưa chặt chẽ, có biểu hiện buông lỏng trách nhiệm, chưa thường xuyên kiểm tra, nắm bắt kịp thời để sảy ra nhiều vụ việc vi phạm công tác quản lý quy hoạch về phát triển cây nông nghiệp dài ngày trong đó có cây cao su.
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP PHÁT TRIÊN CÂY CAO SU
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGỌC HỒI, TỈNH KON TUM.
3.1. CĂN CỨ XÂY DỰNG GIẢI PHÁP
3.1.1. Nhu cầu về sản phẩm cây cao su
Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàng Thế giới, ngành cao su thế giới đang phải chịu đựng những đợt suy giảm nặng nề về giá do ảnh hưởng mạnh mẽ từ sự suy thoái của ngành sản xuất ô tô của Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ cao su lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, “đêm đen” của ngành cao su có thể sắp kết thúc khi giá cao su thế giới được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo sẽ chạm đáy vào quí 4 năm 2015 trước khi phục hồi trở lại bắt đầu từ năm 2016, trong khi Ngân hàng Thế giới (WB) cũng dự báo giá cao su sẽ phục hồi từ nay đến năm 2025.
3.1.2. Chiến lược, định hướng phát triển cây cao su của tỉnh Kon Tum
– Quan điểm: Khai thác hợp lý các lợi thế về vị trí địa lý. Đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Phát triển nông nghiệp trên cơ sở thâm canh, tăng sản lượng và chất lượng, giảm chi phí, đạt hiệu quả và sử dụng tài nguyên hợp lý, hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cây trồng chiến lược. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành cao su.
– Mục tiêu
+ Tiếp tục duy trì đầu tư phát triển diện tích cao su hiện có, giải quyết công ăn việc làm ổn định cho trên 6.000 lao động. Trong giai đoạn từ 2015 – 2020 ngành nông – lâm – ngư nghiệp vẫn được xác định là ngành sản xuất quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nền kinh tế của tỉnh trong đó có mục tiêu phát triển cây cao su.
3.1.3. Định hướng phát triển cây cao su của huyện Ngọc Hồi
Tiếp tục chăm sóc cải tạo tốt để vườn cây hiện có phát triển và nâng cao năng suất mủ, tận dụng các thế mạnh hiện có. Đồng thời thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển để cây cao su thực sự trở thành cây kinh tế mũi nhọn của huyện.
3.2. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY CAO SU Ở HUYỆN NGỌC HỒI
3.2.1. Hoàn thiện quy hoạch phát triển cây cao su
Hoàn thiện quy hoạch phát triển cây cao su của Huyện theo hướng chuyên môn hóa và theo chương trình của Tỉnh. Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững theo hướng thâm canh là chính đối với cây công nghiệp có vai trò chủ đạo trong xuất khẩu như cao su, đảm bảo phát triển bền vững, an toàn về môi trường, chống xói mòn đất, hạn chế thiên tai dịch bệnh, đồng thời có tính đến sự biến động khá lớn của thị trường. Phát triển tối đa diện tích cao su nhằm tạo vùng cao su liền vùng, liền khoảnh, tận dụng tối đa tiềm năng nguồn lực đất đai, tiện cho công tác quản lý sản xuất. Triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển cao su trên địa bàn tỉnh Kon Tum và Đề án phát triển cao su tiểu điền đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Phối hợp với các chi nhánh Ngân hàng đảm bảo nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho phát triển cao su tiểu điền của các hộ gia đình. Ưu tiên trồng cao su ở các xã biên giới kết hợp giữa phát triển kinh tế với quốc phòng an ninh. Diện tích cao su mở rộng tập trung tại các xã như Đăk Kan, Đăk Dục, Đăk Nông và Sa Loong. Diện tích đất trồng cao su tăng thêm được chuyển đổi từ đất trồng các loại cây khác như: đất cây hàng năm, đất chưa sử dụng,…
Thường xuyên giảm sát việc thực hiện mở rộng diện tích thực hiện các dự án của các doanh nghiệp tránh tình trạng dự án treo hay vượt quá quy hoạch được duyệt. Giám sát chặt chẽ tiến trình thực hiện các dự án lớn bao gồm trồng mới, phát triển hạ tầng cơ sở và cơ sở chế biến, kho bãi…Riêng với các hộ gia đình thực hiện mở rộng diện tích cao su tiểu điền cần phải chặt chẽ thông qua việc phát huy vai trò của chính quyền các địa phương. Đồng thời có chế tài cụ thể với những vi phạm quy hoạch một cách nghiêm khắc.
3.2.2. Giải pháp huy động và sử dụng các nguồn lực sản xuất cao su
Thực hiện tốt chính sách đất đai, giải pháp về vốn, giải pháp về lao động, tăng cường nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.
3.2.3. Hoàn thiện hình thức tổ chức sản xuất cây cao su
Trước hết cần phải hoàn thiện tổ chức sản xuất của các hộ gia đình. Kinh tế trang trại cần chú trọng phát huy và tập trung vào mô hình chuyên canh cây công nghiệp. Khuyến khích các doanh nghiệp lớn như Binh đoàn 15, Công ty Vạn Lợi, Nông trường Pleikần … phát huy vai trò của doanh nghiệp dẫn đầu thị trường trong sản xuất cây công nghiệp lâu năm để tiến hành tổ chức liên kết các trang trại và hộ gia đình lại.
3.2.4. Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cao su
Bảo đảm cho việc tiêu thụ sản phẩm cây cao su một cách chủ động, hạn chế tình trạng thị trường biến động do tư thương chi phối hiện này cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp kinh doanh chế biến xuất khẩu và người sản xuất theo hợp đồng bảo đảm; có sự giảm sát của chính quyền để giảm dần việc xuất khẩu sản phẩm chưa qua chế biến. Đồng thời bảo đảm lợi ích cho người sản xuất và doanh nghiệp.
3.2.5. Nâng cao hiệu quả sản xuất cây cao su
Nâng cao hiệu quả sản xuất cây cao su cần triển khai và thực hiện một số giải pháp về cơ cấu giống, thực hiện các công đoạn trước khi trồng phải đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật về kích thước hố trồng, mật độ và phương thức trồng, chăm sóc, khai thác mủ cây cao su theo đúng quy trình kỹ thuật.
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
* Đối với Nhà nước
Nhà nước cần phải tích cực hoàn thiện các chính sách, chế độ về đầu tư phát triển cây cao su, nhằm khuyến khích động viên nhiều thành phần kinh tế tham gia vào phát triển mô hình này một cách có hiệu quả hơn. Cho giãn nợ, khoanh nợ, cho vay với lãi suất ưu đãi với thời gian từ 6-7 năm mới trả gốc và lãi. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần giao Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam, Viện nghiên cứu cao su Việt Nam nghiên cứu lai tạo chọn giống và điều chỉnh quy trình kỹ thuật cây cao su phù hợp điều kiện cao trình, thổ nhưỡng của tỉnh Kon Tum nói chung và của huyện Ngọc Hồi nói riêng.
*Đối với tỉnh Kon Tum
– Tỉnh cần có quy hoạch chi tiết đối với quỹ đất dự kiến phát triển cao su trong thời gian tới. UBND tỉnh cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vườn ươm giống cây cao su bảo đảm chất lượng, đúng chủng loại và phù hợp với điều kiện khí hậu Kon Tum; khuyến khích phát triển mạng lưới kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật bảo đảm cung ứng kịp thời, đầy đủ thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ sâu bệnh hại cây cao su.
– Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về giống cây trồng trên địa bàn tỉnh. Thường xuyên kiểm tra và hướng dẫn thực hiện; tăng cường chỉ đạo, tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn, đào tạo, tập huấn, chuyển giao toàn bộ các quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các quy trình kỹ thuật cây cao su do Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam ban hành, hướng dẫn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn toàn tỉnh. Nghiên cứu kết quả thành công các đề tài khoa học được trình bày tại các hội thảo để cụ thể hóa chi tiết và hướng dẫn tổ chức thực hiện thống nhất trên địa bàn tỉnh.
– Sở Khoa học và Công nghệ: Tổ chức thực hiện một số nhiệm vụ khoa học và công nghệ liên quan đến phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh theo đặt hàng của các cơ quan chức năng.
Trong thời gian tới tỉnh cần tập trung thu hút, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư phát triển chế biến tại các vùng chuyên canh tập trung, phát triển cây cao su lớn của tỉnh; xây dựng và nhân rộng các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với người sản xuất; phát triển các hình thức liên kết sản xuất và tiêu thụ mặt hàng cao su thông qua hợp đồng.
* Đối với doanh nghiệp và hộ trực tiếp trồng cây cao su
– Cần phải xác định rõ lợi ích lâu dài mang lại từ cây cao su. Chấp hành tốt quy trình kỹ thuật và hướng dẫn của các cán bộ khuyến nông để vườn cây phát triển tốt và cho năng suất ổn định và bền vững. Tăng cường học hỏi kinh nghiệm, trau dồi kiến thức về canh tác cây cao su, kiến thức về thị trường, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Mạnh dạn vay vốn để đầu tư phục vụ nhu cầu sản xuất, mở rộng quy mô. Tuy nhiên phải sử dụng đồng vốn hợp lý, hiệu quả đúng mục đích. Thường xuyên nắm bắt thông tin về thị trường, giá cả và bảo quản tốt mủ cao su. Đẩy mạnh phát triển sản xuất hàng hóa góp phần thực hiện tốt quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiêp, nông thôn. Luôn có sự giao lưu trao đổi kinh nghiệm sản xuất giữa những người dân trồng cao su, giữa người dân với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, để hoạt động sản xuất mang lại hiệu quả cao.
KẾT LUẬN
Việc đẩy mạnh phát triển cao su theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một bước đi tất yếu của nước ta nói chung và tỉnh Kon Tum nói riêng. Ngày nay hầu như không một lĩnh vực nào của đời sống kinh tế, xã hội mà không có các sản phẩm được sản xuất từ mủ cao su tự nhiên, mặc dù cao su nhân tạo được sản xuất để thay thế cho cao su tự nhiên, song vẫn không thể thay thế được các đặc tính ưu việt của cao su tự nhiên, đặc biệt là để sản xuất các sản phẩm công nghệ cao như vỏ xe hơi, máy bay… Khi kinh tế càng phát triển nhu cầu sản phẩm cao su tự nhiên và các sản phẩm đồ gỗ từ gỗ cao su ngày càng tăng. Nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên ngày càng cao hơn, nhưng tiềm năng phát triển của ngành cao su không phải là vô tận. Với khí hậu, thổ nhưỡng của một số vùng ở Việt Nam khá thuận lợi để phát triển ngành cao su, trong đó có các tỉnh miền núi Tây Nguyên, chúng ta phải biết tận dụng tiềm năng sẵn có ấy để góp phần đưa ngành cao su phát triển một cách bền vững, sánh bước cùng với các cường quốc phát triển ngành cao su trên thế giới.
Vai trò của ngành cao su đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội là rất lớn. Nó không chỉ góp phần vào tăng trưởng kinh tế nước ta, mà còn góp phần giải quyết công ăn việc làm cho một lượng lớn dân cư ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc tại địa phương, góp phần vào công tác xóa đói, giảm nghèo, ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội và là ngành mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho ngân sách thông qua xuất khẩu. Đồng thời ngành cao su còn góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng cũng như góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Huyện nhà.
Phát triển cây cao su trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, Phát triển cây cao su trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, Phát triển cây cao su trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, Phát triển cây cao su trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, Phát triển cây cao su trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, Phát triển cây cao su trên địa bàn huyện Ngọc Hồi
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\QUAN LY KINH TE\DANG THAI HA\SAU BAO VE


