Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Quân đội chi nhánh Đắk Lắk
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn phát triển Ngân hàng trên thế giới, tỷ trọng thu nhập từ tín dụng ngày càng giảm, thu nhập từ dịch vụ khác như thanh toán quốc tế, thẻ, chuyển tiền,v.v. ngày càng chiếm tỷ trọng cao. Điều này là tất yếu bởi nhu cầu vay vốn ngân hàng bổ sung vốn lưu động hay đầu tư TSCĐ của các tổ chức kinh tế sẽ ngày càng giảm đi do đã có kênh huy động khác thay thế hiệu quả hơn đó là thị trường chứng khoán. Đến một tầm phát triển nào đó đa số các công ty đều sẽ cổ phần hóa và niêm yết trên thị trường chứng khoán, lúc này thông qua kênh chứng khoán các tổ chức kinh tế sẽ huy động trực tiếp nguồn vốn trong dân không cần thông qua ngân hàng nữa. Trong một số trường hợp đầu tư TSCĐ thì doanh nghiệp có thể lựa chọn thực hiện thông qua các công ty thuê mua tài chính, sử dụng hình thức Leasing, Factoring,v.v. sẽ ưu việt hơn là vay vốn trung dài hạn của ngân hàng để đầu tư. Cho nên, sẽ đến lúc chỉ còn các dự án đầu tư lớn cần huy động lượng vốn khổng lồ thì mới cần đến ngân hàng và thường các dự án này sẽ có sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ. Lúc này, nhu cầu tín dụng ngân hàng sẽ chỉ còn là nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân tiêu dùng (cho vay bán lẻ) và thị phần tín dụng mà các ngân hàng cần quan tâm lúc này chính là nhu cầu tín dụng bán lẻ, đặc biệt là mảng tín dụng tiêu dùng, một thị phần tín dụng đầy tiềm năng, ngày một phát triển hơn theo mức độ phát triển nền kinh tế và đời sống của người dân.
Việt Nam sau một quá trình chuyển mình theo kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập cùng kinh tế quốc tế đã có những bước phát triển nhanh, thị trường chứng khoán đã hình thành và không ngừng hoàn thiện, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao. Cho nên các ngân hàng thương mại cần triển khai mô hình ngân hàng bán lẻ là cần thiết và là một xu hướng hợp thời đại. Bên cạnh đó việc cho vay bán lẻ cũng đồng nghĩa với việc phân tán rủi ro qua đó giảm thiểu rủi ro trong cho vay của ngân hàng.
Thực trạng hiện nay, các ngân hàng thương mại quốc doanh nói chung và Ngân hàng TMCP Quân đội nói riêng lâu nay hầu như là tín dụng bán buôn (cho vay món lớn đối với các doanh nghiệp lớn) là chủ yếu nên việc cho vay bán lẻ, cho vay tiêu dùng chỉ là mới bắt đầu, do vậy kinh nghiệm về lĩnh vực này chưa nhiều, bên cạnh đó cơ chế quản lý của ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn còn nặng nề, quan liêu, chưa có sự linh hoạt. Trong khi đó hàng loạt ngân hàng thương mại cổ phần ngoài quốc doanh trong nước ra đời đã sớm xác định thị trường tín dụng mục tiêu là tín dụng tiêu dùng, tạo nên đối trọng cạnh tranh khá quyết liệt. Ngoài ra, nước ta bước vào hội nhập, tự do hóa ngân hàng và như thế tính cạnh tranh sẽ càng trở nên khốc liệt hơn khi có các “đại gia” ngân hàng nước ngoài mạnh hơn ngân hàng thương mại trong nước về mọi mặt cả về vốn liếng cũng như kinh nghiệm vào cuộc. Ngân hàng thương mại trong nước nếu không còn những chính sách bảo hộ của Chính phủ thì sẽ chỉ còn một lợi thế so với ngân hàng nước ngoài đó là có mặt lâu hơn trên thị trường trong nước, thị phần đã chiếm giữ được cơ bản. Cho nên mấu chốt vấn đề sẽ là chiếm lĩnh tối đa thị trường tiềm năng trong nước trước khi quá nhiều ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường.
Từ những phân tích trên. tác giả chọn đề tại nghiên cứu “Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Quân đội, chi nhánh Đắk Lắk”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu giải quyết ba vấn đề cơ bản như sau:
– Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại.
– Phân tích thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội chi nhánh Dak Lak nhằm đánh giá những hạn chế của ngân hàng trong cho vay tiêu dùng.
– Từ đó rút ra các giải pháp nhằm phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội chi nhánh Dak Lak.
* Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, giải quyết những câu hỏi sau:
- Phát triển cho vay tiêu dùng bao gồm những nội dung nào? Các tiêu chí đánh giá kết quả và nhân tố ảnh hưởng phát triển cho vay tiêu dùng là gì?
- Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh Dak Lak đã như thế nào? Có những kết quả, hạn chế gì? Nguyên nhân từ đâu?
- Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh Dak Lak cần phải triển khai những giải pháp gì để tiếp tục phát triển cho vay tiêu dùng?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu toàn bộ các vấn đề liên quan đến phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội chi nhánh Dak Lak.
– Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Luận văn chỉ nghiên cứu sự phát triển cho vay tiêu dùng của khách hàng
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu sự phát triển cho vay tại Ngân hàng Quân Đội chi nhánh Dak Lak
- Về thời gian: Luận văn sử dụng dữ liệu khảo sát thực hiện trong khoảng thời gian 2010-2013
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học để phân tích lý luận giải thực tiễn: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh để phân tích hoạt động kinh tế, từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá làm căn cứ để có những giải pháp, đề xuất mới.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển cho vay tiêu dùng của NHTM
Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội chi nhánh Dak Lak .
Chương 3: Giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội chi nhánh Dak Lak.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG
- Tổng quan về Ngân hàng
Có thể thấy được rằng định nghĩa Ngân hàng trở nên rất dễ nhầm lẫn vì thực tế là có rất nhiều các Tổ chức Tài chính cung cấp dịch vụ ngân hàng (như Công ty kinh doanh – môi giới chứng khoán, Công ty bảo hiểm, các Quỹ tương hỗ,v.v.) và ngược lại, Ngân hàng cũng đã và đang mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ vào các lĩnh vực của các tổ chức này.
Tránh nhầm lẫn khi phân biệt Ngân hàng với các tổ chức tài chính khác, cách tiếp cận thông dụng nhất là xem xét các tổ chức này trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.” (Theo Peter S.Rose – Texas A&M University – Commercial Bank Management 1998)
Ngân hàng theo Luật Các Tổ chức Tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004:
“Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của Pháp luật để hoạt động ngân hàng.”
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.”
“Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.”
Để phục vụ đề tài nghiên cứu, phần tiếp theo sẽ đi sâu vào tìm hiểu và xây dựng nên cái nhìn tổng quát về Tín dụng ngân hàng.
- Tín dụng ngân hàng
Cơ sở khách quan của sự hình thành và phát triển Tín dụng là sự tồn tại và phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Khi xem xét trên góc độ chung của toàn bộ nền kinh tế, sự không thống nhất giữa thu nhập và nhu cầu chi tiêu làm xuất hiện hiện tượng: tại một thời điểm luôn luôn tồn tại một số chủ thể tạm thời thừa vốn và đồng thời có một số chủ thể khác tạm thời thiếu vốn. Đây chính là điều kiện cần cho sự hình thành và phát triển của Tín dụng. Nhưng quan hệ tín dụng chỉ thực sự ra đời và phát triển trong điều kiện những người thừa vốn thực sự muốn tìm kiếm lợi nhuận từ những đồng vốn nhàn rỗi của mình, tức là có nảy sinh nhu cầu cho vay. Đó là điều kiện đủ để thúc đẩy tín dụng thực sự ra đời và phát triển.
Bắt nguồn từ gốc chữ Latin: Credittum – tức là tín nhiệm, tin tưởng. Tín dụng được định nghĩa một cách tổng quát như sau: “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng trên cơ sở phải có sự hoàn trả giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.”
Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, vì vậy trong quan hệ tín dụng, ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Đứng ở góc độ người đi vay, ngân hàng huy động vốn dưới các hình thức nhận tiền gửi của các chủ thể kinh tế, cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng. Còn ở góc độ người cho vay, ngân hàng cấp tín dụng đáp ứng kịp thời vốn cho quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng của các chủ thể kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế.
Như vậy, có thể định nghĩa tín dụng ngân hàng như sau: Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng chuyển giao một lượng giá trị cho bên nhận tín dụng (tổ chức kinh tế, cá nhân, hộ gia đình hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu).
Một số đặc điểm của tín dụng ngân hàng:
- Tài sản giao dịch trong Tín dụng ngân hàng có thể là tiền (tiền mặt hoặc bút tệ), tài sản thực hoặc chữ ký.
- Rủi ro trong tín dụng ngân hàng là mang tính tất yếu, không thể loại trừ hoàn toàn.
- Sự hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi là bản chất của tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng. Bên cạnh đó, sự hoàn trả trong tín dụng ngân hàng là vô điều kiện.
Nguyên tắc cấp tín dụng:
– Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
– Phải hoàn trả gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Nhu cầu tiêu dùng và các nguồn tài trợ nhu cầu tiêu dùng: Nhu cầu tiêu dùng là sự cần thiết của một cá thể về hàng hóa hay dịch vụ nào đó. Con người có rất nhiều nhu cầu cần thỏa mãn như ăn uống, đi lại, học tập, v.v… và để tài trợ cho những nhu cầu này, có hai nguồn sau: từ thu nhập và từ vay mượn.
- Khái niệm cho vay tiêu dùng: Cho vay tiêu dùng là những khoản vốn ngân hàng tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình, nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại, nhu cầu chi tiêu cho y tế, giáo dục, du lịch,v.v. và được trả từ những nguồn thu nhập khác nhau: từ lương, kinh doanh,v.v.
- Đối tượng cho vay tiêu dùng:
- Các giao dịch bất động sản.
- Mua sắm các loại sản phẩm bao gồm: xe ô tô các loại, các máy móc thiết bị, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt gia đình.
- Sử dụng các dịch vụ bao gồm: học tập trong và ngoài nước, đi làm việc hoặc du lịch ở nước ngoài, các dịch vụ y tế.
- Mua sắm các loại sản phẩm, dịch vụ khác để phục vụ đời sống.
- Đặc điểm của cho vay tiêu dùng: Xuất phát từ khả năng tài chính mà mỗi khách hàng có nhu cầu vay khác nhau. Chính những điều đó đã tạo nên các đặc điểm của cho vay tiêu dùng như sau:
- Quy mô của từng món vay nhỏ nhưng số lượng món vay nhiều so với mảng tín dụng doanh nghiệp. Có thể dễ dàng nhận thấy được điều này vì mục đích vay tiêu dùng nhằm tài trợ các chi phí tương đối nhỏ (như chi phí xây dựng, sửa chữa nhà ở, mua sắm vật dụng, phương tiện đi lại,v.v.). Mặt khác, nhu cầu về tiêu dùng là rất đa dạng nên số lượng món vay nhiều. Một cách khác để lí giải về quy mô tương đối nhỏ của các món vay là tỷ lệ cấp tín dụng tối đa so với giá trị tài sản đảm bảo và trên giá trị tài sản – dịch vụ khách hàng cần mua sắm của các ngân hàng còn hạn chế.
- Khi vay tiền, người tiêu dùng dường như kém nhạy cảm với lãi suất nên nhu cầu vay tiêu dùng ít co giãn với lãi suất. Người tiêu dùng quan tâm đến khoản tiền mà họ phải trả hơn là lãi suất (mặc dù chính lãi suất trên hợp đồng tín dụng quyết định tổng số tiền họ phải trả hàng kỳ). Mặt khác, do quy mô của món vay nhỏ nên dù lãi suất có biến động thì cũng ảnh hưởng không nhiều. Điều này trái ngược với những khoản cho vay lớn như cho vay doanh nghiệp.
- Mức thu nhập và trình độ học vấn tác động rất lớn đến nhu cầu vay tiêu dùng. Người có thu nhập hay trình độ học vấn cao thường có xu hướng tiêu dùng cao hơn mức thu nhập của họ và việc tiếp cận với nguồn vốn từ ngân hàng phần lớn là để đáp ứng được mức sống như họ mong muốn.
- Thông tin về khách hàng rất quan trọng trong việc đánh giá tư cách, khả năng tài chính, quyết định sự hoàn trả của khoản vay. Nhưng nhiều thông tin mang tính chất riêng tư (như triển vọng về nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe,v.v.) ngân hàng phải thu thập gián tiếp, dẫn đến chất lượng thông tin không cao.
- Cho vay tiêu dùng thường có rủi ro cao hơn cho vay doanh nghiệp. Lý do thứ nhất là về chất lượng thông tin tài chính của khách hàng cá nhân không cao như các doanh nghiệp với báo cáo tài chính hàng năm, và có thể đã qua kiểm toán. Hơn nữa, cá nhân và hộ gia đình không thể dễ dàng vượt qua các khó khăn về tài chính như các doanh nghiệp. Nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm trong công việc, sức khỏe,v.v. Những yếu tố này có thể biến động lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ của khách hàng.
- Nhu cầu vay tiêu dùng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng mở rộng, cho vay tiêu dùng có chiều hướng tăng do người dân cảm thấy lạc quan về tương lai. Ngược lại khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, tình trạng thất nghiệp gia tăng, người dân sẽ hạn chế vay mượn từ ngân hàng.
- Đặc điểm của khách hàng vay tiêu dùng: Khách hàng cá nhân khi vay vốn tiêu dùng với ngân hàng thường mang những đặc điểm tâm lý sau đây:
- Những khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng rất e ngại việc tiết lộ thu nhập của bản thân và/hoặc gia đình. Những khách hàng có thu nhập cao lo sợ nhân viên ngân hàng để lọt thông tin thu nhập của họ ra ngoài, còn những khách hàng có thu nhập thấp lại mặc cảm khi giao dịch với ngân hàng. Đây là đặc điểm tâm lý tương đối phổ biến của người dân khi giao dịch tại hệ thống ngân hàng, đặc biệt với chất lượng bảo mật thông tin kém như các ngân hàng tại Việt Nam.
- Không tích cực thực hiện các yêu cầu thủ tục của ngân hàng, luôn than phiền là rườm rà và phiền phức.
- Khách hàng có thu nhập thấp (so với mức thu nhập bình quân của toàn xã hội): nhu cầu về vốn nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt rất cao nhưng không đủ điều kiện vay vốn hoặc e ngại tiếp xúc với nguồn tài trợ từ ngân hàng.
- Khách hàng có thu nhập trung bình (so với mức thu nhập bình quân của toàn xã hội): nhu cầu tín dụng có xu hướng tăng nhằm thỏa mãn những khoản chi tiêu vượt ra ngoài khoản tiền dự phòng.
- Khách hàng có thu nhập cao (so với mức thu nhập bình quân của toàn xã hội): nhu cầu tín dụng phát sinh nhằm thỏa mãn các nhu cầu xa xỉ, hoặc cần nguồn tài trợ khi vốn của họ phần lớn đã nằm trong các khoản đầu tư. Nhóm này có nhu cầu tín dụng tiêu dùng tương đối lớn và là nhóm khách hàng các ngân hàng nhắm đến.
Tuy mang những đặc điểm có phần bất lợi hơn so với cho vay các doanh nghiệp nhưng CVTD đã và đang giữ vai trò trọng yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng hiện nay. Bằng chứng là CVTD đã đóng góp một phần không nhỏ vào doanh thu từ nghiệp vụ tín dụng và là một trong những mảng tín dụng đang được chú trọng đặc biệt. Tiểu mục này sẽ làm rõ những lợi ích mà CVTD đem lại đối với người tiêu dùng, ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế.
- Lợi ích đối với ngân hàng:
- Cho vay tiêu dùng tạo điều kiện cho các ngân hàng thiết lập quan hệ với khách hàng, quảng bá thương hiệu, tạo lập được niềm tin nơi khách hàng. Từ đó tạo cơ hội “bán chéo – bán thêm” các sản phẩm, dịch vụ khác của ngân hàng cho khách hàng hiện tại. Những khách hàng hài lòng sẽ là những người đưa ra những lời bình luận, nhận xét tốt như những lời quảng cáo miễn phí cho ngân hàng. Thông qua đó biến những khách hàng tiềm năng thành khách hàng mục tiêu, tăng khả năng huy động các loại tiền gửi và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
- Mảng cho vay tiêu dùng tạo sự đa dạng trong nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng, rủi ro khi đó sẽ được phân tán, đa dạng hóa các sản phẩm của ngân hàng giúp khách hàng thêm nhiều sự lựa chọn. Và tất yếu là thu nhập của ngân hàng sẽ tăng thêm.
- Lợi ích đối với người tiêu dùng:
- Giải quyết kịp thời những nhu cầu chi tiêu cấp bách, từ đó cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Cho vay tiêu dùng cũng góp phần hạn chế hình thức “vay nóng”, “vay nặng lãi” trong các tầng lớp dân cư.
- Trước khi tích lũy đủ tiền, người dân vẫn có thể mua sắm được nhà, phương tiện đi lại, vật dụng sinh hoạt,v.v. bằng cách tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.
- Lợi ích đối với nền kinh tế:
- Đối tượng cho vay tiêu dùng là các chi phí mua sắm nhà cửa, vật dụng sinh hoạt, phương tiện đi lại, các dịch vụ như y tế, du lịch, du học,v.v. tạo điều kiện cho người dân mạnh dạn chi tiêu, kích cầu tiêu dùng, chất lượng cuộc sống qua đó dần được cải thiện.
- Cho vay tiêu dùng góp phần làm tăng tốc độ luân chuyền hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế, kích thích sản xuất, tạo thêm việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện phát triển cho vay tiêu dùng của ngành ngân hàng Việt Nam:
- Thế mạnh:
- Tốc độ tăng trưởng cao
- Còn có nhiều tiềm năng thị trường chưa được khai thác
- Tỉ lệ tiết kiệm cao của các hộ dân
- Vị thế của Ngân hàng quốc doanh đang giảm dần và ổn định, tạo điều kiện phát triển cho các Ngân hàng TMCP
- Việc gia nhập WTO tạo nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng sống của người dân
- Điểm yếu:
- Ngân hàng trong nước còn thiếu vốn và kỹ thuật – công nghệ để duy trì tăng trưởng cao về tín dụng
- Kế toán tài chính của các ngân hàng còn chưa rõ ràng
- Cơ cấu thu nhập chưa đa dạng, phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động tín dụng
- Cơ hội:
- Dân số sử dụng dịch vụ ngân hàng còn thấp: Năm 2012 ước tính chỉ có khoảng 20% dân số Việt Nam có tài khoản tại ngân hàng, mục tiêu đến cuối năm 2015 nâng tỷ lệ này lên 35% – 40%.
- Thu nhập tăng mạnh về trung hạn
- Sự tăng trưởng mạnh của Khối ngân hàng nước ngoài sẽ nâng cao tính cạnh tranh, buộc các ngân hàng trong nước phải tiếp tục cải thiện về công nghệ, quản trị để giành lại thị phần
- Rủi ro:
- Thiếu ổn định trong các chính sách kinh tế
- Tỷ lệ nợ xấu tăng cao
- Rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng
Như vậy tuy vẫn phải đối mặt với một số khó khăn nhất định nhưng các ngân hàng TMCP tại Việt Nam vẫn có những điều kiện thuận lợi và cơ hội để phát triển cho vay tiêu dùng, đa dạng hóa cơ cấu thu nhập.
Hiện nay hoạt động cho vay vẫn là mảng hoạt động chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Thu nhập từ cho vay vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu nhập của ngân hàng, vì vậy mở rộng cho vay là một xu thế tất yếu của ngân hàng. Phát triển cho vay tiêu dùng thông qua các nội dung chính sau đây:
- Mở rộng quy mô cho vay tiêu dùng
Tập trung vào ba nội dung: gia tăng dư nợ, phát triển số lượng khách hàng và tăng trưởng dư nợ bình quân trên một khách hàng. Đây là ba nội dung sẽ tác động lẫn nhau trong quá trình mở rộng cho vay tiêu dùng.
- Gia tăng dư nợ: Đây là nội dung tiêu biểu và quan trọng nhất của việc mở rộng quy mô cho vay. Gia tăng dư nợ thể hiện ở việc tăng ròng dư nợ cho vay tiêu dùng qua các thời điểm. Để thực hiện được điều này, cần thiết phải có chủ trương và định hướng thống nhất, áp dụng tất cả các biện pháp ở tất cả các phòng ban bộ phận của ngân hàng nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của khách hàng như: quy trình sản phẩm ban hành phù hợp với đặc thù khách hàng và nhu cầu tiêu dùng tại địa bàn; định hướng đúng đắn trong phát triển dư nợ (nhận định đối tượng khách hàng tiềm năng); đội ngũ nhân viên ngân hàng năng động, giỏi chuyên môn, có khả năng trong việc thu hút, phục vụ và tư vấn khách hàng; cơ chế lãi/phí hợp lý; quảng bá tốt hình ảnh của ngân hàng đến mọi đối tượng, thành phần trong xã hội; không ngừng cải tiến mọi mặt để phục vụ khách hàng…
- Phát triển quy mô khách hàng: là sự gia tăng số lượng khách hàng vay tiêu dùng tại ngân hàng. Tăng quy mô khách hàng vay tiêu dùng phản ánh một phần sự gia tăng về lượng của quy mô tín dụng. Mở rộng quy mô bằng cách khai thác, tăng trưởng số lượng khách hàng mới, chăm sóc tốt khách hàng hiện hữu thì tất yếu quy mô khách hàng sẽ được mở rộng. Để làm tốt điều này, đội ngũ nhân sự ngân hàng là rất quan trọng. Bên cạnh chính sách, sản phẩm của ngân hàng thì việc khách hàng cá nhân sử dụng dịch vụ của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào khả năng tiếp cận và tư vấn thuyết phục khách hàng của chuyên viên quan hệ khách hàng.
- Gia tăng dư nợ bình quân/ khách hàng: là sự gia tăng mức độ sử dụng vốn vay tại một ngân hàng của một khách hàng cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng. Nội dung này thể hiện sự hài lòng của khách hàng và khả năng khai thác nhu cầu vay vốn của khách hàng tại ngân hàng, qua đó đánh giá được lòng trung thành của khách hàng đối với một ngân hàng để có những chính sách thích hợp áp dụng với từng khách hàng. Có thể nói, tiềm năng về nhu cầu tiêu dùng của khách hàng cá nhân thường xuyên thay đổi và gia tăng theo mức sống và trình độ học vấn. Chính vì thế ngân hàng cần chăm sóc khách hàng thường xuyên, nắm bắt nhu cầu tiêu dùng phát sinh thêm để kịp thời đáp ứng, từ đó tăng trưởng được doanh số cho vay đối với một khách hàng, khai thác tối đa các lợi ích khác từ khách hàng đó.
- Chiếm lĩnh thị phần
Chiếm lĩnh thị phần của một ngân hàng thương mại thể hiện ở khả năng duy trì thị phần đang có, đồng thời phát triển thị phần mới và lôi kéo được thị phần của các ngân hàng khác. Việc tăng trưởng dư nợ cho vay và số lượng khách hàng của một ngân hàng được đánh giá là hiệu quả khi có sự tăng trưởng qua thời gian và đặc biệt quan trọng là phù hợp với sự tăng trưởng của toàn thị trường. Tuy nhiên việc tăng trưởng này cần phải có chọn lọc và đem lại hiệu quả kinh tế, tránh tăng trưởng tràn lan dẫn đến rủi ro thất thoát cho ngân hàng. Để làm tốt điều này, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, việc tập trung cải thiện chính sách sản phẩm, lãi/phí, con người để thực sự nổi trội hơn so với đối thủ cạnh tranh là biện pháp được xem là hiệu quả nhất để phát triển thị phần.

- Hợp lý hóa cơ cấu dư nợ cho vay tiêu dùng
Nội dung này thể hiện ở công tác đánh giá, nhận định toàn bộ dư nợ cho vay tiêu dùng hiện tại và định hướng phát triển vào các danh mục khách hàng, danh mục vay vốn tiềm năng; giảm dần dư nợ cho vay đối với các đối tượng khách hàng nhận định rủi ro cao mà tập trung khai thác khách hàng theo chiến lược cụ thể, chủ yếu vào các mục đích tiêu dùng, đối tượng vay vốn có sự ổn định về tài chính, quản trị được khoản vay hiệu quả. Để thực hiện được điều này thì yếu tố con người đóng vai trò then chốt, đặc biệt là ở các cấp quản lý: công tác định hướng kinh doanh, nhận định thị trường, đánh giá địa bàn và đưa ra danh mục khách hàng thực sự tiềm năng để tập trung khai thác; đồng thời điều chuyển cơ cấu dư nợ từ những đối tượng khách hàng, mục đích vay vốn có khả năng mang lại rủi ro cao sang đối tượng khách hàng và mục đích vay vốn an toàn hơn.
- Nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay
Chất lượng dịch vụ cho vay phản ánh khả năng đáp ứng, thậm chí cao hơn kỳ vọng của khách hàng và cần được duy trì một cách thường xuyên, nhất quán trong việc cấp tín dụng. Chất lượng dịch vụ là vô hình, chịu ảnh hưởng của cả quá trình ngân hàng cung cấp dịch vụ, kể từ khâu nghiên cứu nhu cầu, thiết kế quy trình sản phẩm đến khâu cung cấp sản phẩm và chăm sóc khách hàng. Đây là nội dung không thể thiếu trong quá trình phát triển cho vay và cần diễn ra đồng bộ trong tất cả các khâu, các bộ phận (cả bộ phận trực tiếp và gián tiếp tiếp xúc với khách hàng).
Một số vấn đề cơ bản để ngân hàng có thể nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay:
– Không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và có chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Bởi vì, theo nguyên lý con người là yếu tố quyết định. Để đảm bảo chất lượng dịch vụ trước hết phải có và nâng cao chất lượng người cung cấp dịch vụ. Nhân viên quan hệ khách hàng cần có kiến thức chuyên môn cao, được trang bị những kỹ năng mềm phục vụ sự giao tiếp và bán hàng. Đồng thời, nhân viên ngân hàng cũng cần có thái độ phục vụ tốt, lịch sự, chuyên nghiệp, nhiệt tình đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
– Thiết kế sản phẩm chuyên biệt phù hợp với từng đối tượng khách hàng, từng nhu cầu vay vốn, rút gọn quy trình cho vay một cách phù hợp, linh hoạt đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
– Không ngừng hiện đại hóa công nghệ ngân hàng. Trình độ công nghệ cùng với con người sử dụng công nghệ đó đóng vai trò quyết định chất lượng phục vụ khách hàng. Công nghệ đem lại những bước tiến nhanh và khả năng đáp ứng vượt trội sự kỳ vọng của khách hàng. Sự tin tưởng và lòng trung thành của khách hàng phụ thuộc nhiều vào công nghệ hiện đại, cũng như những tiện ích, giá trị gia tăng cho khách hàng do việc ứng dụng công nghệ đó mang lại.
– Trụ sở ngân hàng, đặc biệt là những nơi giao dịch với khách hàng cần được bài trí đẹp, phối màu hài hoà, dễ nhận biết và có sự khác biệt so với các ngân hàng khác.
– Thường xuyên trao đổi thông tin với khách hàng. Trao đổi thông tin có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức, được thực hiện song song hoặc lồng ghép với nhau như hội nghị khách hàng; các chương trình quảng cáo, khuyếch trương sản phẩm, dịch vụ; tổ chức các cuộc thăm dò, điều tra nhu cầu của khách hàng; thiết lập đường dây nóng… Thông qua đó, ngân hàng truyền tải đến khách hàng thông tin về sản phẩm, dịch vụ, xử lý các yêu cầu của khách hàng và thu thập các ý kiến phản hồi cũng như khiếu nại của khách hàng liên quan đến các mặt hoạt động ngân hàng. Ngân hàng cũng cần thiết lưu trữ dữ liệu thông tin tập trung về khách hàng để thuận tiện phục vụ hoạt động trao đổi với khách hàng.
– Giải quyết khiếu nại của khách hàng. Phải coi khiếu nại của khách hàng là tín hiệu để ngân hàng không ngừng cải thiện chất lượng dịch vụ. Đồng thời hạn chế sự lan truyền thông tin do khách hàng không được ngân hàng giải quyết khiếu nại đem sự không hài lòng của mình nói với những người khác.
Các kết quả thu được từ việc nâng cao chất lượng tín dụng kể trên sẽ góp phần cải thiện tình hình tài chính của ngân hàng. tạo thế mạnh cho ngân hàng trong quá trình cạnh tranh. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng tín dụng là một tất yếu khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của bản thân các NHTM.
- Kiểm soát rủi ro
Là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công vụ, chiến lược và những quy trình nhằm chủ động điều khiển, biến đổi rủi ro tín dụng tại một ngân hàng bằng cách kiểm soát tần suất và mức độ rủi ro, hạn chế rủi ro xảy ra. Đây được coi là nội dung then chốt trong toàn bộ quá trình phát triển cho vay tiêu dùng. Bởi lẽ phát triển dư nợ mà không chú trọng đến việc kiểm soát rủi ro thì ngân hàng có thể thất thoát phần lợi nhuận do khách hàng đem lại. Một ngân hàng quản lý rủi ro tốt nghĩa là ngân hàng đó có sức đề kháng tốt, ít bị ảnh hưởng bởi những tác động không lường trước và có khả năng đưa ra những hành động kịp thời, hạn chế thấp nhất những tổn thất cho ngân hàng. Để phát triển cho vay hiệu quả, toàn diện và lâu dài, nhất thiết phải coi trọng nội dung kiểm soát rủi ro ngay từ khi phát sinh khoản vay.
Có thể kể đến một số biện pháp kiểm soát rủi ro trong quá trình cho vay nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng:
- Hoàn chỉnh các hệ thống, quy trình, quy chế về kiểm soát và quản lý rủi ro: xây dựng và hoàn thiện thống nhất quy trình, quy chế liên quan đến kiểm soát rủi ro, thiết lập một hệ thống cảnh báo sớm có hiệu lực, coi đó như một biện pháp phòng ngừa để giảm thiểu rủi ro.
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ: các ngân hàng cần nâng cao hiệu quả hệ thống kiểm toán nội bộ. Định kỳ, kiểm toán nội bộ đánh giá hoạt động kinh doanh, tập trung vào các rủi ro chiến lược và rủi ro hoạt động, từ đó đưa ra các khuyến nghị để cấp quản lý rà soát, xác định và giải quyết. Yêu cầu bộ phận kiểm toán nội bộ phải có hiểu biết toàn diện về toàn bộ hoạt động ngân hàng, các vấn đề pháp lý và quy định.
- Phát triển phần mềm quản trị hệ thống cho Ban lãnh đạo: ngân hàng cần sớm xây dựng hệ thống báo cáo nhằm đáp nhu cầu quản trị nội bộ. Theo Basel, ban lãnh đạo ngân hàng nên triển khai một quy trình để thường xuyên giám sát hồ sơ rủi ro hoạt động và các nguy cơ trọng yếu có thể gây ra tổn thất. Cơ chế báo cáo phù hợp cần phải có ở cấp độ Hội đồng quản trị, ban điều hành, đơn vị kinh doanh nhằm tạo điều kiện chủ động quản trị rủi ro. Để quản trị tốt, ban lãnh đạo cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng trong quản trị rủi ro của ngân hàng, thường xuyên cập nhật quá trình đánh giá rủi ro hoạt động, đặc biệt những rủi ro trong phát triển sản phẩm mới hoặc triển khai một hoạt động kinh doanh mới.
- Hoàn chỉnh hệ thống cơ sở dữ liệu khách hàng: Cơ sở dữ liệu cho phép khai thác các thông tin khách hàng để phân đoạn tốt hơn qua những phản ứng đa dạng, phân tích và chủ động trước các phản ứng của khách hàng. Cơ sở dữ liệu khách hàng có chứa đựng những số liệu nhân khẩu học, tâm lý học, thói quen sử dụng các phương tiện truyền thông, các mức tiêu thụ mới gần đây, tần suất, những chỉ số hữu quan cá nhân, thông tin quan hệ tín dụng,v.v. Nói cách khác, đây là tập hợp có tổ chức của các số liệu đầy đủ về từng khách hàng hiện có, khách hàng tiềm năng, có thể giúp ngân hàng chủ động ứng phó với các tình huống xảy ra trong quá trình quản trị rủi ro đối với khách hàng.
- Kết nối với đơn vị ban ngành và các đối tác để chia sẻ thông tin quản lý rủi ro trên phạm vi toàn thị trường cả nước: Hiện nay các Ngân hàng TMCP đang rất đau đầu vì tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn kéo lợi nhuận ngân hàng tụt dốc. Chính vì thế, bài học rút ra khi cho vay là nắm bắt và rà soát tất cả các rủi ro phát sinh từ phía khách hàng, từ phía môi trường kinh tế, chính trị, xã hội,v.v. để xử lý kịp thời khi phát sinh vấn đề .
- Tăng trưởng thu nhập
Là sự gia tăng lợi nhuận do cho vay tiêu dùng mang lại trong toàn bộ lợi nhuận của ngân hàng. Cho vay tiêu dùng được xem là nguồn thu lợi nhuận cao bởi biên lợi nhuận mang lại cao hơn nhiều so với khách hàng tổ chức. Để thực hiện nội dung này, ngoài các biện pháp tăng trưởng dư nợ và tăng trưởng khách hàng còn phải cân đối hai tiêu chí: tăng khả năng cạnh tranh về giá của ngân hàng nhưng vẫn mang lại giá trị lợi ích cho ngân hàng.
- Tăng trưởng quy mô cho vay
Được thể hiện qua 3 tiêu chí là tốc độ tăng trưởng dư nợ, tốc độ tăng trưởng khách hàng và tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân.
– Tốc độ tăng trưởng dư nợ: đây là tiêu chí tiêu biểu nhất thể hiện kết quả của việc phát triển cho vay tiêu dùng của một ngân hàng. Dư nợ cho vay tiêu dùng tăng trưởng qua các giai đoạn cho thấy hiệu quả của các biện pháp phát triển cho vay tiêu dùng đã áp dụng.
– Tốc độ tăng trưởng khách hàng: chú trọng phát triển cho vay tiêu dùng thì mục tiêu hàng đầu là gia tăng dư nợ và số lượng khách hàng vay (so sánh nội tại số liệu qua các giai đoạn), thể hiện ngân hàng có áp dụng các biện pháp chiếm lĩnh thị phần và thu hút được khách hàng hiệu quả không.
– Tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân: tăng trưởng dư nợ bình quân thể hiện hiệu quả khai thác khách hàng của ngân hàng. Nếu số lượng khách hàng và dư nợ cho vay tăng trưởng, đồng thời dư nợ bình quân trên khách hàng gia tăng thì hoạt động cho vay tiêu dùng đạt hiệu quả tốt.
- Tăng trưởng thị phần
Tình hình kinh tế khó khăn sẽ còn đeo đẳng và kéo dài trong vài năm tới nên việc trông chờ vào đối tượng khách hàng doanh nghiệp để tăng doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng là điều khó đạt được. Trong bối cảnh hiện nay, các ngân hàng tại địa bàn đã chuyển hướng sang phát triển cho vay tiêu dùng, nhu cầu sử dụng tiền vào các việc mua sắm, sửa chữa nhà cửa và đặc biệt là mua xe, mua nhà trả góp là rất lớn. Bên cạnh đó, do vay tiêu dùng thường ở mức giá trị thấp, có tài sản thế chấp cũng như phương án trả nợ, nên đối với ngân hàng đây là những khoản vay an toàn, rất ít rủi ro và dễ thu hồi nợ.
Trước sự chuyển hướng đồng loạt của các ngân hàng sang phân khúc khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng thì việc chiếm lĩnh thị trường, tăng trưởng thị phần cho vay trong lĩnh vực này càng trở nên cần thiết. Tăng trưởng thị phần cho vay (thông qua dư nợ cho vay, số lượng khách hàng vay) của Ngân hàng nếu tương ứng với sự tăng trưởng của địa bàn hoặc tăng trưởng tốt hơn và chiếm thị phần cao hơn các ngân hàng khác trong khu vực hoạt động thì rõ ràng ngân hàng đã đúng đắn trong hoạt động tìm kiếm và thu hút khách hàng.
- Hợp lý hóa cơ cấu dư nợ cho vay
Thông qua tỷ lệ tài trợ các đối tượng cho vay và khách hàng vay tiêu dùng so với mặt bằng chung trên địa bàn và định hướng của ngân hàng để đánh giá sự hợp lý trong cơ cấu cho vay. Từ đó có các biện pháp điều chỉnh (tăng/giảm tỷ trọng hoặc bổ sung thêm các khoản mục cho vay tiêu dùng) để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội tại địa bàn, định hướng phát triển của ngân hàng và đảm bảo khả năng quản lý đối với các khoản vay tiêu dùng.
- Mức độ nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay
Thể hiện thông qua mức độ hài lòng của khách hàng vay tiêu dùng tại ngân hàng; khả năng duy trì mối quan hệ với khách hàng và gia tăng số lượng khách hàng mới. Chỉ tiêu này được đánh giá thông qua một số tiêu chí như: Kết quả khảo sát mức độ hài lòng của khách hàng khi sử dụng sản phẩm cho vay tiêu dùng tại ngân hàng; thiện chí sử dụng sản phẩm và xác suất giới thiệu sản phẩm đến những người khác.
- Tăng trưởng thu nhập
Thu nhập từ hoạt động cho vay tiêu dùng qua các giai đoạn là tiêu chí phản ánh mức độ phát triển cho vay tiêu dùng rõ nét nhất trong toàn bộ các chỉ tiêu. Suy cho cùng, mục đích của việc đẩy mạnh cho vay tiêu dùng là tăng trưởng thu nhập, gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Xem xét tiêu chí này trên cở sở tăng trưởng dư nợ cho vay, số lượng khách hàng vay, mục đích vay để đánh giá được một cách toàn diện quá trình phát triển cho vay tiêu dùng.
- Tăng trưởng dư nợ cho vay tiêu dùng đồng thời tăng thu nhập từ hoạt động cho vay chứng tỏ dư nợ cho vay đang mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
- Số lượng khách hàng vay tiêu dùng tăng mang lại thu nhập từ hoạt động cho vay, như vậy có thể phân loại được các phân khúc khách hàng mang lại lợi nhuận để tập trung khai thác.
- Thông qua việc so sánh thu nhập mang lại từ các mục đích tài trợ cho vay tiêu dùng, xác định mảng đầu tư mang lại lợi nhuận cao để tập trung phát triển, còn mảng đầu tư mang lại lợi nhuận không đáng kể hoặc làm cho lợi nhuận giảm sút (do biên lợi ích thấp, trích lập dự phòng rủi ro,v.v.) thì cần tìm rõ nguyên nhân và cách giải quyết, xác định đối tượng tài trợ an toàn, đem lại cho ngân hàng nguồn thu nhập ổn định từ đó tập trung phát triển.
Thông qua tốc độ tăng trưởng thu nhập từ lãi cho vay tiêu dùng qua từng giai đoạn để đánh giá kết quả phát triển cho vay tiêu dùng. Mục đích của hoạt động phát triển cho vay tiêu dùng là gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Hiện các ngân hàng TMCP đều chú trọng vào mảng cho vay này thì lợi ích biên thu được từ cho vay tiêu dùng cao hơn nhiều so với cho vay tổ chức kinh tế. Việc tăng trưởng dư nợ cho vay, số lượng khách hàng, ắt hẳn gia tăng lợi nhuận từ mảng cho vay tiêu dùng.
- Kết quả kiểm soát rủi ro
Để phát triển cho vay tiêu dùng mang lại lợi nhuận tăng thêm cho ngân hàng thì kiểm soát rủi ro là hoạt động quan trọng không thể thiếu. Khoản vay xuất hiện những tình huống như gốc/lãi quá hạn tức là thu nhập của ngân hàng đã bị ảnh hưởng, hoặc khoản vay có thể mất khả năng thu hồi vốn nếu không được kiểm soát chặt chẽ và nhận định rủi ro. Chú trọng công tác này giúp đảm bảo tăng trưởng hiệu quả và bền vững. Các chỉ tiêu thường được áp dụng để đánh giá kết quả kiểm soát rủi ro là:
– Mức độ giảm tỷ lệ nợ xấu: Nợ ngân hàng được chia thành 5 nhóm trong đó nợ xấu từ nhóm 3 đến nhóm 5. Giảm tỷ lệ nợ xấu là giảm tỷ lệ nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5. Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng, đồng thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong khâu cho vay.
– Cải thiện cơ cấu nhóm nợ: là các khoản nợ được xếp vào những nhóm nợ xấu có nguy cơ mất vốn cao như nhóm 4, nhóm 5 được cải thiện dịch chuyển về các nhóm 2, nhóm 3.
– Mức giảm trích lập dự phòng rủi ro: là giảm khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng không thực hiện cam kết vay.
– Giảm tỷ lệ xóa nợ ròng: chỉ tiêu này tỉ lệ thuận với chỉ tiêu cải thiện cơ cấu nhóm nợ. Cơ cấu nhóm nợ được cải thiện theo chiều hướng tích cực thì tỷ lệ xoá nợ ròng sẽ giảm.
Các tiêu chí này phải được đánh giá một các đồng bộ và có sự tương tác với nhau mới phản ánh được hiệu quả của hoạt động phát triển cho vay tiêu dùng.
a. Nhóm nhân tố bên trong Ngân hàng
- Chính sách cho vay của ngân hàng:
Là hệ thống các chủ trương, quy định chi phối hoạt động cho vay do Ban lãnh đạo ngân hàng đưa ra nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn để tài trợ cho khách hàng vay vốn. Chính sách cho vay phản ánh định hướng tài trợ của một ngân hàng, là hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và nhân viên ngân hàng trong quá trình tác nghiệp, tạo sự thống nhất chung trong toàn hàng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời.
Toàn bộ các vấn đề liên quan đến việc tài trợ cho một khoản vay đều được xem xét và đưa ra trong chính sách cho vay của ngân hàng như: chính sách khách hàng, chính sách quy mô và giới hạn cho vay, lãi suất và phí cho vay, thời hạn cho vay và kì hạn trả nợ, chính sách về tài sản đảm bảo, cơ chế xử lý khoản vay và tài sản của khoản nợ có vấn đề.
Những yếu tố trong chính sách cho vay tác động một các mạnh mẽ đến việc mở rộng cho vay nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng. Một ngân hàng chỉ có thể mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng khi có mục tiêu rõ ràng được thể hiện như một định hướng trong chính sách cho vay, khi đã thống nhất định hướng cụ thể thì ngân hàng mới tập trung phát triển lĩnh vực này.
- Cơ sở vật chất, hoạt động Marketing của ngân hàng: số lượng chi nhánh, phòng giao dịch nói lên quy mô của ngân hàng. Để thu hút sự quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng đến giao dịch với ngân hàng thì việc mở rộng mạng lưới, nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ hiện đại và dễ sử dụng với khách hàng là một trong các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng của khách hàng. Bên cạnh đó, hoạt động quảng bá hình ảnh, thương hiệu ngân hàng thích ứng được với sự thay đổi của thị trường đồng thời đảm bảo khả năng cạnh tranh sẽ giúp cho ngân hàng mở rộng thị phần trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh, trong đó có hoạt động cho vay tiêu dùng.
- Đội ngũ nhân sự: Cán bộ tín dụng là người trực tiếp tiếp xúc và đưa ra quyết định cho vay đối với khách hàng, vì vậy đây chính là hình ảnh của ngân hàng. Ngân hàng có đội ngũ cán bộ với những kỹ năng chuyên nghiệp sẽ thúc đẩy hoạt động cho vay trở nên nhanh chóng. tiết kiệm thời gian, nâng cao chất lượng cho vay, hạn chế rủi ro, tạo ấn tượng tốt với khách hàng, nhờ đó thu hút khách hàng và phát triển cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân. Hơn nữa, việc quản trị nguồn nhân lực hiệu quả giúp ngân hàng giảm được chi phí hoạt động, sàng lọc được bộ máy nhân sự tinh gọn, tạo sự cạnh tranh trong môi trường làm việc để tăng năng suất và hiệu quả lao động, đặc biệt với đội ngũ tín dụng khách hàng cá nhân.
- Nguồn lực tài chính:
Nguồn lực tài chính của ngân hàng là việc dùng khả năng tài chính để tạo ra lợi nhuận, hoạt động an toàn và chiếm được thị phần. Nguồn lực tài chính được xác định thông qua một số các yếu tố như:
– Vốn chủ sở hữu: là toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ ngân hàng, các thành viên trong đối tác liên doanh hoặc các cổ đông trong ngân hàng… Vốn chủ sở hữu càng lớn thì người gửi tiền và người đi vay cảm thấy an tâm về ngân hàng. Do đó vốn chủ sở hữu được coi là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng. Đồng thời vốn chủ sở hữu còn thể hiện khả năng tài chính, năng lực hoạt động của một ngân hàng.
– Khả năng thanh khoản: là khả năng sẵn sàng chi trả, thanh toán cho khách hàng và bù đắp những tổn thất khi xảy ra rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Đây là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng và sự an toàn trong hoạt động của ngân hàng.
– Khả năng bù đắp khi xảy ra rủi ro: là khả năng tài chính bù đắp tổn thất khi xảy ra rủi ro, ngân hàng thực hiện trích dự phòng rủi ro vào chi phí hoạt động thông qua việc trích lập dự phòng cho phần giá trị tài sản “Có” có khả năng không thể thu hồi được.
b. Các nhân tố bên ngoài
* Các yếu tố vĩ mô:
– Môi trường kinh tế: ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất đối với nền kinh tế. Vì vậy bất kì sự biến động nào của nền kinh tế đều ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng, trong đó có hoạt động cho vay tiêu dùng. Khi nền kinh tế ổn định và tăng trưởng, cho vay tiêu dùng có xu hướng tăng lên bởi thu nhập và mức sống người dân được nâng cao, nhu cầu tiêu dùng vượt quá mức thu nhập của họ cũng gia tăng nhờ đó tạo điều kiện phát triển cho vay tiêu dùng. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, trì trệ, khiến thu nhập trong tương lai của người tiêu dùng trở nên bấp bênh, họ sẽ ưu tiên tiết kiệm, thu hẹp các kế hoạch chi tiêu vượt quá mức thu nhập, từ đó việc phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng phần nào trở nên hạn chế.
– Môi trường pháp luật: ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính nắm giữ một khối lượng vốn và tài sản rất lớn của nền kinh tế, do đó hoạt động ngân hàng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật và các cơ quan chức năng. Điều này không chỉ đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng, cho khách hàng giao dịch với ngân hàng mà còn đảm bảo cho sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế. Nếu các quy định đó chặt chẽ, hợp lý, hoàn thiện và đầy đủ, không chồng chéo lên nhau sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hoạt động của ngân hàng nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng.
– Môi trường văn hóa xã hội: những yếu tố văn hóa xã hội như lối sống, thói quen, tập quán, thị hiếu tiêu dùng,v.v. ảnh hưởng rất lớn đến việc đưa ra quyết định vay vốn của khách hàng, đặc biệt là khách hàng vay tiêu dùng. Ở những vùng địa lý mà thói quen chi tiêu chiếm đa số hơn thói quen tiết kiệm thì họ thường có xu hướng vay tiêu dùng cao hơn. Tại Việt Nam, người dân miền Bắc thường tích lũy, tiết kiệm nhiều hơn so với người dân miền Nam, điều này cũng ảnh hưởng đến các sản phẩm ngân hàng đặc thù ở từng vùng miền.
– Sự phát triển của Khoa học – Công nghệ: Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học – công nghệ đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động ngân hàng. Nhờ có khoa học – công nghệ mà việc xử lý giao dịch của ngân hàng trở nên nhanh chóng, thuận tiện, các nghiệp vụ được thực hiện một cách chuyên nghiệp theo quy trình chặt chẽ do may móc thay thế cho lao động thủ công, thời gian giao dịch được rút ngắn, tăng tính chính xác trong quá trình tác nghiệp – thẩm định khoản vay, hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Đây là một trong những điều kiện để ngân hàng nghiên cứu phát triển các sản phẩm cho vay đối với khách hàng vay tiêu dùng.
* Đối thủ cạnh tranh: thị trường tài chính hiện nay xuất hiện ngày các nhiều đối thủ cạnh tranh giữa các ngân hàng, tổ chức tài chính khác và giữa các ngân hàng với nhau. Điều này khiến cho thị phần cho vay tiêu dùng bị chia nhỏ, vì vậy các ngân hàng phải tìm ra cho mình những chiến lược, chính sách đặc trưng không chỉ để giữ chân khách hàng cũ mà còn thu hút được khách hàng mới. Sự cạnh tranh gay gắt sẽ là động lực để ngân hàng không ngừng hoàn thiện sản phẩm cung cấp đến cho khách hàng. Tuy nhiên chính sự cạnh tranh này sẽ khiến cho quá trình phát triển cho vay tiêu dùng và quản trị khoản vay gặp nhiều khó khăn, khách hàng luôn có sự so sánh và có rất nhiều lựa chọn khi xuất hiện nhu cầu vay tiêu dùng.
* Nhu cầu vay vốn tiêu dùng của khách hàng: nhu cầu vay vốn của khách hàng là yếu tố quyết định các hình thức cho vay, chiến lược phát triển sản phẩm của ngân hàng khi ban hành sản phẩm vay vốn. Nhu cầu vay vốn tiêu dùng rất đa dạng và tùy từng thời kì và có các nhu cầu tài trợ tiêu dùng đặc thù, vấn đề là ngân hàng phát hiện kip thời và nhanh chóng có các sản phẩm tài trợ phù hợp cung cấp cho khách hàng, chiếm được ưu thế tiên phong. Những khách hàng có độ tuổi khác nhau, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, mức thu nhập, thói quen tiêu dùng khác nhau sẽ có nhu cầu vay vốn khác nhau. Ví dụ như những khách hàng trẻ tuổi, những khách hàng là cán bộ cao cấp sẽ có nhu cầu sử dụng sản phẩm tài trợ nhu cầu chi tiêu mua sắm, du lịch,v.v. Việc xác định nhu cầu tiêu dùng của khách hàng là điều kiện quan trọng trong chiến lược phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng. Bên cạnh đó, để bảo đảm thu nhập cho ngân hàng thì ngân hàng cần phát hiện được các nhu cầu vay tiêu dùng có khả năng thanh toán. Nhu cầu có khả năng thanh toán được hiểu là các nhu cầu cần tài trợ của khách hàng mà việc hoàn trả nợ vay trong tương lai được đảm bảo. Khi ngân hàng nhận thấy nhóm khách hàng, đối tượng tài trợ mà khả năng trả nợ tốt, rủi ro thấp, tạo được niềm tin cho ngân hàng thì việc này cũng sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch xây dựng chiến lược phát triển cho vay trong lĩnh vực tiêu dùng.
Những cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng ngân hàng cũng như cho vay tiêu dùng trên đây hy vọng đã phần nào làm rõ những vấn đề cơ bản của cho vay tiêu dùng. Tuy nhiên đây mới chỉ là phần giới thiệu mang tính lý thuyết, để có cái nhìn rõ nét hơn về thực tế tình hình hoạt động cho vay tiêu dùng và định hướng phát triển cho vay tiêu dùng, phần tiếp theo sẽ nghiên cứu thực trạng này tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội chi nhánh Dak Lak.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\QUAN TRI KINH DOANH\DAK LAK\LUAN VAN DAK LAK\LUAN VAN (Vo Thanh Hòa)\SAU BAO VE


