Phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Đắk Lắk

Phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Đắk Lắk

Phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Đắk Lắk

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây với tình hình kinh tế ngày càng ổn định, lãi suất vay vốn ngân hàng có xu hướng giảm do đó các doanh nghiệp mạnh dạng hơn trong việc vay vốn ngân hàng để đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng công suất nhà máy để mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mình; Ngoài ra, tự xác định mình là Ngân hàng có quy mô nhỏ so với các tổ chức tín dụng khác trên thị trường vì vậy việc phát triển cho vay vốn lưu động sẽ khó giữ được sự ổn định do sự cạnh tranh và lôi kéo khách hàng của các tổ chức tín dụng khác. Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính quan trọng trong hệ thống tài chính của mỗi quốc gia, thực hiện việc chuyển dịch từ những người có vốn sang những người cần vốn.

Trong điều kiện nền kinh tế đối mặt với nhiều khó khăn như tăng trưởng thấp, lãi suất cao, tồn kho của doanh nghiệp lớn làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, điều này gây tác động không nhỏ đến hoạt động cho vay Ngân hàng, nhất là hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của Ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ hoặc phá sản, dẫn đến nợ xấu Ngân hàng gia tăng. Trong quá trình hoạt động, các Ngân hàng thương mại luôn tìm cách hoạt động tốt nhất để thu được lợi nhuận cao nhất có thể, trong đó hoạt động cho vay có vai trò quan trọng nhất trong quá trình phát triển của ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay là nghiệp vụ đặc trưng và chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, không phải bất kỳ hoạt động cho vay nào cũng mang lại nguồn thu cho Ngân hàng, vì nó luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại (NHTM) là hoạt động kinh doanh mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng nhưng cũng là hoạt động có rủi ro cao. Hiện nay, rủi ro trong hoạt động cho vay vẫn là loại rủi ro chiếm tỷ trọng lớn nhất, thường có tác động lớn và ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của mỗi Ngân hàng. Ngoài ra, nó còn có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Hoạt động cho vay luôn gắn liền với rủi ro. Đây là một thực tế khách quan. Chúng ta không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro cho vay mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa hay giảm thiểu thiệt hại khi rủi ro cho vay xảy ra. Để nhận biết và hạn chế được những rủi ro này thì việc xây dựng một chiến lược kinh doanh cùng một chính sách cho vay hợp lý và hiệu quả là yêu cầu cần thiết trong hoạt động của mỗi Ngân hàng. Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh – Chi nhánh Đắk Lắk nhận thấy việc đi sâu vào hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp là hoạt động trọng tâm và cốt lõi trong giai đoạn hiện nay của ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh – Chi nhánh Đắk Lắk. Vì thế, vấn đề đặt ra là ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh chi nhánh Đắk Lắk phải làm gì để phát triển các hoạt động kinh doanh của mình. Xuất phát từ các lý do trên tác giả đã lựa chọn đề tài “Phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Đắk Lắk” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về phát triển hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp, luận văn tiến hành thu thập và phân tích thực trạng phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP phát triển thành phố Hồ Chí Minh – Chi nhánh Đắk Lắk trong mối tương quan so sánh với các đối thủ cạnh tranh trên địa bàn, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP phát triển thành phố Hồ Chí Minh – Chi nhánh Đắk Lắk trong thời gian đến.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Hệ thống hóa các lý thuyết về phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP phát triển thành phố Hồ Chí Minh – Chi nhánh Đắk Lắk.

– Đánh giá thực trạng phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP phát triển thành phố Hồ Chí Minh – Chi nhánh Đắk Lắk giai đoạn 2018 -2020, rút ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động này để có giải pháp khắc phục cho những năm đến.

– Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP phát triển thành phố Hồ Chí Minh – Chi nhánh Đắk Lắk những năm tiếp theo.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác phát triển cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu về hoạt động cho vay khách hàng tại NHTM nhưng chỉ giới hạn trong đối tượng nghiên cứu là cho vay khách hàng doanh nghiệp.

– Phạm vi không gian:Chỉ nghiên cứu các nội dung về hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh – Chi nhánh Ðắk Lắk.

– Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu tình hình hoạt động cho vay trong giai đoạn 2018 – 2020 và giải pháp đề xuất tầm nhìn đến năm 2025

4. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu như trên đề tài sử dụng các phương pháp sau:

  • Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo tổng kết công tác cho vay của các tổ chức tín dụng nói chung và công tác cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nói riêng trên địa bàn để xác định phân khúc thị trường và đối tượng khách hàng tiềm năng.
  • Phương pháp phân tích, so sánh: Dựa trên cơ sở số liệu thứ cấp thu thập được từ các tài liệu của ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Đắk Lắk như các báo cáo tín dụng hàng kỳ, báo cáo về khách hàng dư nợ đối với tổ chức kinh tế, báo cáo kinh doanh hàng năm, luận văn so sánh việc thực hiện và kết quả đạt được giữa các năm qua, từ đó thấy được việc phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Đắk Lắk

– Phương pháp quan sát diễn biến hoạt động trên thị trường: Dựa trên sự quan sát tình hình thực tế về công tác phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Đắk Lắk và xu hướng thị trường để có những nhận định, đánh giá về triển vọng phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp, cũng như đề xuất giải pháp phát triển hoạt động này trong thời gian đến phù hợp với điều kiện và khả năng hiện có của Chi nhánh.

5. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung cơ bản của luận văn được chia làm ba chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
  • Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Đắk Lắk.
  • Chương 3: Các giải pháp phát triển hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Đắk Lắk.
Phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Đắk Lắk
Phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Đắk Lắk

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NHTM

      1. 1.1.1. NHTM và hoạt động cấp tín dụng đối với khách hàng
      2. 1.1.1.1. Khái niệm NHTM

Ngân hàng là một tổ chức trung gian về tài chính quan trọng của nền kinh tế, thực hiện việc luân chuyển vốn giữa người cho vay và người đi vay thông qua phương thức gián tiếp. Ngân hàng gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế và hệ thống tài chính. Hiện nay, tùy thuộc vào chức năng, dịch vụ và vai trò của mỗi ngân hàng mà có những định nghĩa về ngân hàng khác nhau. Nếu xét trên phương diện loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thì: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức trung gian tài chính nào của nền kinh tế”. Theo Điều 4, Mục 2 Luật các tổ chức tín dụng 2010: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”.

Đặc biệt hiện nay ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng phổ biến và có vai trò quan trọng trong hoạt động tài chính. Ngân hàng thương mại có lịch sử phát triển lâu dài và phát triển qua rất nhiều hình thái khác nhau, theo xu hướng ngày càng mở rộng về lượng dịch vụ và quy mô dịch vụ. Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng giao dịch trực tiếp với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận các khoản tiền gửi và tiền tiết kiệm rồi sử dụng để cho vay, chiết khấu, cung cấp các dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác. Cho đến nay vẫn có rất nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại. Ở mỗi nước khác nhau lại có một định nghĩa riêng về ngân hàng thương mại.

– Ngân hàng thương mại ở Mỹ được hiểu là công ty kinh doanh về lĩnh vực tiền tệ, chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính.

– Còn ở Pháp, Ngân hàng thương mại lại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên của họ là nhận tiền của người dân dưới hình thức ký thác hoặc các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính.

– Ở Việt Nam, theo Pháp lệnh ngân hàng ban hành vào năm 1990 thì ngân hàng thương mại là “một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Theo luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, định nghĩa “ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận”.

      1. 1.1.1.2. Hoạt động cấp tín dụng của NHTM
      2. a. Khái niệm tín dụng ngân hàng

* Tín dụng ngân hàng là hoạt động mà ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng dưới hình thức cho vay, bảo lãnh, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính và các hình thức khác.

Bản chất của tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định.

* Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2014/QH12), định nghĩa hoạt động cấp tín dụng là “việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.

– Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

– Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.

– Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.

– Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.

– Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán.

– Hoạt động cho thuê tài chính là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính và phải có một trong các điều kiện sau đây:

+ Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận chuyển quyền sở hữu tài sản cho thuê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của hai bên;

+ Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản cho thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản cho thuê tại thời điểm mua lại;

+ Thời hạn cho thuê một tài sản phải ít nhất bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản cho thuê đó;

+ Tổng số tiền thuê một tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.

b. Phân loại tín dụng ngân hàng

* Căn cứ vào thời hạn, tín dụng ngân hàng có các loại:

– Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, được sử dụng để cho vay bổ sung vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cá nhân.

– Tín dụng trung hạn là loại tín dụng ở giữa hai kỳ hạn trên, loại tín dụng này được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.

– Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, được sử dụng để cấp vốn cho các doanh nghiệp, đáp ứng các nhu cầu như: xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng xí nghiệp mới, cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất.

* Căn cứ vào tính chất luân chuyển vốn, tín dụng ngân hàng có các loại:

– Tín dụng vốn lưu động là loại tín dụng được dùng để hình thành vốn lưu động, được sử dụng để bù đắp mức vốn thiếu hụt tạm thời cho các tổ chức kinh tế, được chia ra làm các loại sau: bổ sung vốn lưu động, dự trữ hàng hóa, thanh toán các khoản nợ… Thời hạn cho vay đối với loại tín dụng này là ngắn hạn.

– Tín dụng vốn cố định là loại tín dụng được dùng để hình thành tài sản cố định, thường được đầu tư để mua tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỷ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới. Thời hạn cho vay đối với loại tín dụng này là trung hạn và dài hạn.

* Căn cứ vào tính chất đảm bảo, tín dụng ngân hàng có các loại:

– Tín dụng bằng tín chấp (hay tín dụng bảo đảm không bằng tài sản) là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín, khả năng trả nợ thực chất của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.

– Tín dụng có đảm bảo là loại cho vay được ngân hàng cung ứng phải có tài sản thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có sự bảo đảm. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.

* Căn cứ vào mối quan hệ giữa các chủ thể, tín dụng ngân hàng có các loại:

– Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách hàng có nhu cầu và khách hàng trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng.

– Tín dụng gián tiếp: Là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước, chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán, như chiết khấu thương phiếu, mua các phiếu bán hàng tiêu dùng…

* Căn cứ vào phương pháp cấp tiền vay, tín dụng ngân hàng có các loại:

– Tín dụng từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.

– Tín dụng hạn mức: Ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.

* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, tín dụng ngân hàng có các loại:

– Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại tín dụng dành cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa.

– Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng dành cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu như: mua nhà cửa, xe cộ, du học… thường do các ngân hàng, quỹ tiết kiệm, hợp tác xã tín dụng và các tổ chức tín dụng cung cấp. Ngoài ra, bán trả góp cũng được coi là hình thức tín dụng do các công ty, cửa hàng thực hiện [8].

      1. c. Vai trò của tín dụng ngân hàng

* Đối với NHTM

Tín dụng là nghiệp vụ mang lại nguồn thu lớn nhất và chủ yếu cho Ngân hàng trong quá trình hoạt động của mình.

NHTM là tổ chức trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ thông qua nhiều nghiệp vụ để thu lời. Trong các hoạt động của ngân hàng thì tín dụng là nghiệp vụ truyền thống và đem lại nguồn thu chủ yếu, cũng như lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng. Trước đây, hoạt động này thường đem lại khoảng 70% doanh thu của ngân hàng, nay các ngân hàng trên thế giới đã trở thành tổ chức tài chính đa năng, trong xu thế hội nhập các ngân hàng Việt Nam để tồn tại và đứng vững trong cạnh tranh thì cũng đang tiến hành đa dạng hoá các nghiệp vụ. Mặc dù, tỷ trọng doanh thu từ hoạt động tín dụng mang lại cho ngân hàng có giảm dần nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các nghiệp vụ.

* Đối với nền kinh tế

– Tín dụng ngân hàng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thực hiện chiến lược kinh tế của Nhà nước.

– Kích thích tính năng động linh hoạt của các doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh đáp ứng yêu cầu hội nhập

– Tín dụng ngân hàng giúp tăng nhanh vòng quay của vốn, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông

– Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế

– Điều hoà vốn, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế

1.1.2. Hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của NHTM

      1. 1.1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp

a. Khái niệm doanh nghiệp

Có nhiều định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp, nếu xét quan điểm mục tiêu lợi nhuận thì M.Francois – một nhà kinh tế người Pháp đã định nghĩa: “Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất thông qua đó, trong khuôn khổ một số tài sản nhất định người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ để bán trên thị trường nhằm thu về khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm ”.

Theo Điều 4 luật doanh nghiệp năm 2020, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Như vậy doanh nghiệp được hiểu là một đơn vị sản xuất kinh doanh, có tài sản, được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế. Mục đích kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu là lợi nhuận, tối đa lợi ích cho các chủ thể doanh nghiệp.

b. Đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp

Trong quan hệ vay vốn với ngân hàng, khách hàng doanh nghiệp có đặc điểm sau:

– Thứ nhất, doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh nên mục đích cho vay doanh nghiệp là đáp ứng nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quy mô lớn, hoạt động kinh doanh phức tạp hơn đối tượng là khách hàng cá nhân.

– Thứ hai, doanh nghiệp hoạt động theo qui định của pháp luật, có tư cách pháp nhân độc lập nên các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cần được phản ánh ghi chép đầy đủ và rõ ràng.

– Thứ ba, doanh nghiệp có phạm vi hoạt động kinh doanh đa ngành nghề, phạm vi họa động rộng lớn, có thể là bên ngoài tỉnh thành khác hoặc thậm chí là nước ngoài nên việc đánh giá khách hàng thường khó khăn hơn khách hàng cá nhân. Do đó khách hàng doanh nghiệp có nhiều yếu tố rủi ro trong sản xuất kinh hoanh

      1. 1.1.2.2. Tổ chức hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của NHTM

Tất cả các hoạt động kinh doanh trong ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nói riêng đều được thiết lập bộ máy tổ chức cho vay và ban hành quy trình cho vay. Công tác thực hiện hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp bao gồm nhiều bước, nhiều công đoạn được khái quát dưới đây:

a. Bộ máy tổ chức và đội ngũ làm công tác cho vay:

– Tổ chức bộ máy cho vay: Căn cứ vào giá trị khoản vay, ngân hàng thương mại áp dụng quy định tổ chức bộ máy hoạt động cho vay cũng khác nhau. Thông thường khoản vay có giá trị từ hai tỷ đồng đến hai mươi tỷ đồng được ngân hàng thương mại phân mức phán quyết cho cá nhân trưởng đơn vị kinh doanh. Mức phán quyết cho vay cấp cho cá nhân trưởng đơn vị thường phụ thuộc vào quy mô hoạt động kinh doanh của đơn vị. Đối với các khoản cho vay có giá trị lớn, đơn vị kinh doanh thực hiện công tác thẩm định và đề xuất, cấp quyết định duyệt cho vay là Hội đồng tín dụng, các thành viên của hội đồng thường là: Chủ tịch hội đồng quản trị, thành viên hội đồng quản trị, Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc;

– Con người: Từ các chi nhánh phải tuyển dụng và đào tạo nhân sự đáp ứng được chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt phải phân tích đánh giá được tài chính doanh nghiệp, đánh giá được hiệu quả dự án để thực hiện thẩm định và đưa ra các đề xuất chính xác nhằm đảm bảo rủi ro cho ngân hàng.

b. Quy trình cho vay

Mỗi TCTD đều xây dựng một quy trình cho vay cụ thể đối với từng nhóm khách dựa trên việc tuân thủ các quy định về cho vay đối với khách hàng tại Thông tư 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước, và các yêu cầu về quản trị chiến lược, quản trị rủi ro theo sứ mệnh và định hướng phát triển của TCTD. Quy trình cho vay bao gồm các bước chính và nội dung cơ bản dưới đây:

Bước 1: Lập hồ sơ cho vay

Lập hồ sơ cho vay được thực hiện ngay sau khi cán bộ cho vay tiếp xúc với khách hàng có nhu cầu vay vốn. Tùy theo quan hệ giữa TCTD và khách hàng, loại cho vay yêu cầu và quy mô vốn vay, cán bộ cho vay hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn với những thông tin yêu cầu khác nhau.

Hồ sơ vay vốn gồm:

– Giấy đề nghị vay vốn

– Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng (như giấy phép thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt động).

– Phương án sản xuất kinh doanh, kế hoạch trả nợ hoặc dự án đầu tư.

– Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất.

– Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay

– Các giấy tờ liên quan khác (nếu có).

Thông thường, đối với một bộ hồ sơ vay vốn, TCTD cần thu thập những thông tin sau từ khách hàng:

– Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi dân sự của khách hàng.

– Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng.

– Thông tin về đảm bảo tiền vay.

Về mặt kinh tế, ở thời điểm này quan hệ tín dụng giữa khách hàng và TCTD chưa hình thành, song đây là giai đoạn rất quan trọng, để từ những thông tin thu thập được, TCTD sẽ phân tích, đánh giá chính xác khách hàng vay vốn nhằm tiến hành các bước tiếp theo.

Bước 2: Phân tích và thẩm định hồ sơ

Phân tích thẩm định cho vay là phân tích tình hình thực tế và tiềm năng tài chính của khách hàng, thẩm định tính khả thi của dự án và các phương án sử dụng vốn vay, khả năng hoàn trả, thu hồi vốn vay, tính hợp pháp của tài sản thế chấp, cầm cố của khách hàng. Qua việc phân tích và thẩm định, TCTD sẽ phát hiện ra những nguy cơ tiềm ẩn các rủi ro, khả năng kiểm soát những rủi ro đó và dự kiến các biện pháp phòng ngừa, hạn chế thiệt hại có thể xảy ra. Thông qua việc xem xét tính chân thực của hồ sơ vay vốn mà khách hàng cung cấp, sẽ giúp TCTD nhận định về thái độ trả nợ của khách hàng làm cơ sở quyết định cho vay.

Thông thường việc phân tích và thẩm định hồ sơ cho vay được tiến hành một trong các cách dưới đây:

– Giao cho một người hoặc một nhóm người thực hiện quá trình phân tích tín dụng. Cách này chỉ phù hợp với những món vay nhỏ với yêu cầu về chất lượng và tính phức tạp của quá trình phân tích không cao.

– Quá trình phân tích tín dụng được chuyên môn hóa, theo đó sẽ có những bộ phận chuyên môn cụ thể thực hiện các khâu trong quá trình phân tích tín dụng, gồm các bộ phận như:

+ Bộ phận phân tích đảm bảo tín dụng: Đánh giá các tiêu chuẩn tài sản đảm bảo về mặt pháp lý, giá trị, thị trường, quyền sở hữu hợp pháp…

+ Bộ phận phỏng vấn: Đánh giá các yếu tố định tính để đưa ra kết luận về thái độ trả nợ của khách hàng. Bộ phận này thực hiện chức năng liên hệ và tiếp xúc khách hàng trong suốt thời gian tồn tại quan hệ tín dụng.

+ Bộ phận dự báo: Thực hiện các dự báo về các nhân tố ảnh hưởng đến việc cho vay như lãi suất, tỷ giá, lạm phát, biến động thị trường…

+ Bộ phận quản trị rủi ro: Thực hiện đánh giá rủi ro của khoản vay bằng phương pháp chuyên môn như chấm điểm, ước lượng…

+ Bộ phận tín dụng; Thực hiện đánh giá tài chính và làm tờ trình đề xuất cho vay sau khi đã tham khảo ý kiến của các bộ phận liên quan gửi về bằng văn bản.

Bước 3: Quyết định và ký Hợp đồng cho vay

Trên cơ sở kết quả phân tích và thẩm định từ các bộ phận chuyên môn, nhà quản trị ngân hàng sẽ đưa ra quyết định có cho vay hay không cho vay. Quá trình đưa ra quyết định, có 2 vấn đề cần quan tâm dưới đây:

– Cần đối chiếu các thông tin thu thập được và kết quả xử lý hồ sơ của các bộ phận chuyên môn với các nguồn thông tin khác có tính khách quan và độc lập hơn, như các thông tin từ các công ty nghiên cứu thị trường; xu hướng thay đổi của các chính sách kinh tế, tín dụng vĩ mô; các quy định về hoạt động tín dụng của NHNN; tính ổn định của nguồn vốn cho vay của TCTD; mức độ an toàn và hợp pháp của tài sản đảm bảo nợ vay; đặc biệt là uy tín của người vay trong quan hệ với ngân sách nhà nước, với các tổ chức tín dụng khác, với các đối tác của người vay… để có thể đưa ra các quyết định cho vay một cách hợp lý nhất.

– Sử dụng sự phân cấp phán quyết trong cho vay. Tùy theo tính phức tạp và quy mô của khoản vay để phân thành các cấp được quyết định cho vay, như ở quy mô nào thì phải trình lên chi nhánh cấp trên; hoặc thông qua phê duyệt của Hội đồng tín dụng; hoặc phải trình lên Giám đốc phê duyệt; quy mô nào thì phân cấp cho Phó Giám đốc phụ trách tín dụng được trực tiếp xử lý, phê duyệt… nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, khách quan và phân định trách nhiệm rõ ràng trong các quyết định phê duyệt cho vay của TCTD.

Sau khi được chấp thuận cho vay, cán bộ cho vay sẽ hướng dẫn khách hàng ký kết hợp đồng tín dụng và tiến hành lập hồ sơ cho vay. Hồ sơ cho vay bao gồm các giấy tờ hình thành trong 2 bước trước và bản hợp đồng tín dụng được ký kết. Đây là một tài liệu quan trọng, chứng minh sự hình thành, tồn tại và kết thúc một quan hệ tín dụng của TCTD với khách hàng. Nếu từ chối cho vay, TCTD sẽ có văn bản trả lời và nêu rõ lý do từ chối cho khách hàng được biết.

Bước 4: Giải ngân

Giải ngân là khâu tiếp theo sau khi Hợp đồng tín dụng được ký kết. Đó chính là hình thức cấp phát tiền (bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản) cho khách hàng trên cơ sở mức cho vay, hay hạn mức tín dụng đã được ký kết trong hợp đồng. Tùy vào hình thức và quy mô của từng món vay cụ thể mà TCTD sẽ áp dụng các phương thức giải ngân phù hợp, nhưng nhìn chung thường được thực hiện theo hai cách đó là:

– Giải ngân một lần: Tiền vay được phát cho khách hàng một lần vào đầu kỳ hạn vay tiền. Phương thức này áp dụng cho những món vay nhỏ, kỳ hạn ngắn.

– Giải ngân nhiều lần: Tiền vay được phát cho khách hàng thành nhiều đợt trong phạm vi mức cho vay đã thỏa thuận hoặc hạn mức tín dụng đã thỏa thuận. Phương thức này được áp dụng cho những món vay lớn, thời hạn dài hoặc việc sử dụng vốn vay của khách hàng có quá trình luân chuyển vốn liên tục, đan xen nhiều hoạt động phức tạp.

Thông qua việc giải ngân, TCTD kiểm soát được mục đích của việc sử dụng vốn vay, đồng thời phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai sót ở các khâu trước (nếu có). Tuy vậy, quá trình giải ngân phải đảm bảo được tiến độ hợp lý, để người vay thuận tiện trong việc sử dụng vốn vay hiệu quả nhất.

Bước 5: Kiểm tra và giám sát tiền vay

Nhằm hạn chế rủi ro xảy ra đối với khoản vốn TCTD cho vay, đảm bảo thu hồi nợ vay đúng hạn, công tác kiểm tra, giám sát tiền vay được TCTD quan tâm và xem nó là một nội dung quan trọng của quy trình tín dụng. Việc kiểm tra có thể được tiến hành theo định kỳ (thường là sau thời điểm sử dụng vốn của khách hàng, hoặc đến gần kỳ trả nợ), có thể là đột xuất (trong trường hợp TCTD tiếp nhận được những thông tin bất thường về khách hàng).

Nội dung của việc kiểm tra, giám sát chủ yếu là theo dõi việc tuân thủ các điều khoản trong Hợp đồng tín dụng của khách hàng. TCTD có thể giám sát bằng nhiều hình thức khác nhau như:

– Giám sát tài khoản hoạt động của khách hàng tại TCTD

– Phân tích các báo cáo tài chính của khách hàng theo định kỳ

– Giám sát khách hàng thông qua việc trả lãi định kỳ

– Kiểm tra và kiểm soát địa điểm sản xuất kinh doanh của khách hàng

– Giám sát hoạt động của khách hàng thông qua mối quan hệ với khách hàng khác

– Giám sát khách hàng thông qua những thông tin thu thập được.

Thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát, TCTD sẽ phát hiện ra những hành vi vi phạm hợp đồng đã ký kết của người vay và có biện pháp xử lý phù hợp.

Bước 6: Thu nợ gốc, lãi và xử lý những phát sinh

Đến kỳ trả nợ, TCTD sẽ tiến hành thu nợ trên cơ sở các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Việc trả nợ của khách hàng cũng có thể thực hiện theo nhiều cách như, trả một lần vào cuối kỳ hạn vay, trả nhiều lần trong khoảng thời gian cho vay…

Khi khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho TCTD, thì TCTD sẽ tiến hành thủ tục hoàn trả lại tài sản đảm bảo tiền vay cho khách hàng.

Trường hợp đến kỳ trả nợ, mà khách hàng không đủ hoặc không trả nợ đúng hạn thì ngân hàng có thể xem xét cho gia hạn nợ (trường hợp do nguyên nhân khách quan dẫn đến việc trả nợ không đúng hạn) hoặc chuyển sang nợ quá hạn. TCTD sẽ tiếp tục đánh giá khả năng và mức độ thu hồi nợ đối với các trường hợp trả nợ không đúng hạn và có biện pháp xử lý cụ thể nhằm đảm bảo thu hồi vốn đã cho vay.

Bước 7: Thanh lý hợp đồng cho vay

Đến hết thời hạn hợp đồng tín dụng và khách hàng đã hoàn tất việc trả nợ gốc và lãi, thì mặc nhiên TCTD và khách hàng làm thủ tục thanh lý hợp đồng tín dụng, giải chấp tài sản đảm bảo (nếu có) và chuyển hồ sơ vay vốn đã tất toán vào kho lưu trữ. Trong trường hợp chưa hết thời hạn hợp đồng tín dụng, song TCTD kiểm tra phát hiện khách hàng vi phạm các nội dung đã cam kết trong hợp đồng tín dụng một cách nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến khả năng thu nợ sau này, TCTD có thể yêu cầu và tiến hành thanh lý hợp đồng trước hạn.

      1. 1.1.2.3. Các phướng thức cấp tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp

Theo quy định tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN, hoạt động cho vay của các TCTD được thực hiện thông qua các phương thức cho vay dưới đây: [23]

– Cho vay từng lần

TCTD cho khách hàng vay từng lần, mỗi lần cho vay hai bên tiến thành các thủ tục cho vay và ký kết thỏa thuận cho vay. Phương thức này thích hợp với việc cho vay các dự án đơn giản, doanh nghiệp, các nhân sản xuất kinh doanh có thời hạn ngắn và quy mô vốn không lớn.

– Cho vay hợp vốn

Là việc có từ hai TCTD trở lên cùng thực viện cho vay đối với một khách hàng để thực hiện một phương án, dự án vay vốn. Đối với các dự án có quy mô đầu tư vốn lớn, thường một TCTD không đủ nguồn vốn để tự mình tài trợ cho dự án, đặc biệt là các dự án vay vốn trung, dài hạn. Vì vậy, để thực hiện cho vay dự án, các TCTD phải hợp vốn và chọn một TCTD đầu mối để tiến hành các thủ tục cho vay đối với khách hàng.

– Cho vay lưu vụ

Là TCTD thực hiện cho vay đối với khách hàng để nuôi trồng, chăm sóc các cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hằng năm. Theo đó, TCTD và khách hàng có thể thỏa thuận dư nợ gốc cho vay của chu kỳ trước được sử dụng cho chu kỳ tiếp theo nhưng không quá hai chu kỳ sản xuất liên tiếp.

Phương thức này rất phù hợp với cho vay doanh nghiệp, hộ sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn. Đặc biệt, là các cây công nghiệp như mía đường, cây cao su, cây điều… thu hoạch có tính chất mùa vụ và gối đầu. Nếu ngân hàng tiến hành thu nợ cho vay chu kỳ trước, sau đó giải ngân cho vay chu kỳ tiếp theo thì hoạt động sản xuất kinh doanh bị gián đoạn. Do vậy, TCTD và khách hàng có thể thỏa thuận duy trì nợ vay gốc thêm một chu kỳ, nhưng phải thanh toán tiền lãi vay đầy đủ cho TCTD.

– Cho vay theo hạn mức

TCTD xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dư nợ cho vay tối đa trong một khoảng thời gian nhất định. Trong phạm vi hạn mức đó, khách hàng được vay vốn từng lần trong nhiều lần và chỉ làm thủ tục vay vốn lần đầu. Thời gian duy trì hạn mức căn cứ vào mức luân chuyển vốn bình quân của các phương án vay vốn của khách hàng, và tối đa mỗi năm một lần, TCTD phải xác định lại hạn mức tín dụng mới.

Phương thức cho vay theo hạn mức rất phù hợp đối với các doanh nghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh có nhiều phương án đa dạng, hàng hóa luân chuyển gối đầu nhau liên tục. Cứ mỗi mặt hàng, một phương án phải vay vốn, sau đó trả nợ, xong lại vay mới cho mặt hàng, phương án khác… sẽ gây nhiều bất lợi cho cả khách hàng và TCTD. Để giải quyết vướng mắc này, TCTD và khách hàng phải xác định nhu cầu vốn và thời hạn sản xuất kinh doanh của từng phương án, sau đó xác định nhu cầu vốn và thời hạn cho vay bình quân theo vòng quay vốn, sau khi trừ đi vốn tự có của khách hàng, TCTD sẽ xác định được hạn mức cho vay tối đa và thời gian duy trì hạn mực tín dụng đối với mỗi khách hàng.

Cho vay theo hạn mức sẽ giúp tiết giảm rất nhiều thời gian và thủ tục cho khách hàng trong quá trình vay vốn. Tuy nhiên, việc xác định hạn mức tín dụng cần chính xác để không xảy ra thiếu vốn (ảnh hưởng đến hoạt đọng sản xuất kinh doanh của khách hàng) hoặc thừa vốn (lãng phí và sẽ dẫn đến nguy cơ chiếm dụng vốn cho mục đích khác).

– Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng

TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức cho vay dự phòng đã thỏa thuận. TCTD và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, như không quá 1 năm.

Việc cho vay của TCTD phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn huy động được, tính ổn định của nguồn vốn, kế hoạch cấp tín dụng và phát triển nguồn vốn trong tương lai, không phải mọi lúc TCTD luôn luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng, cho dù khách hàng đó còn trong phạm vị hạn mức tín dụng đã được xác định. Nhất là trong trường hợp thị trường khan hiếm nguồn vốn, hoặc NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, việc cho vay của TCTD sẽ bị suy giảm. Lúc đó, TCTD sẽ ưu tiên vốn cho vay đối với những khách hàng vay theo hạn mức tín dụng dự phòng đã cam kết, hoặc những khách hàng có dự án thật tốt… tùy theo hạn mức cho vay quy định từng thời kỳ của cơ quan quản lý còn hay hết. Để vay vốn và ký cam kết vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, khách hàng phải chấp nhận một tỷ lệ phí nhất định,để bù đắp cho việc TCTD phải để dành nguồn vốn nhằm dự phòng cho vay đối với các khách hàng này.

– Cho vay quay vòng

TCTD và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay đối với nhu cầu vốn có chu kỳ hoạt động kinh doanh không quá 1 tháng. Khách hàng được sử dụng dư nợ gốc của chu kỳ hoạt động kinh doanh trước cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo nhưng thời hạn cho vay không vượt quá 3 tháng.

Phương thức này rất phù hợp với hộ sản xuất kinh doanh nhỏ, trồng cây ngắn ngày, vật nuôi ngắn ngày (từ khi gieo trồng, vật nuôi đến khi thu hoạch dưới 1 tháng), …Khách hàng có thể quay vòng dư nợ gốc cho các chu kỳ tiếp theo đến 3 tháng, mới bắt buộc hoàn trả nợ gốc cho TCTD.

– Cho vay tuần hoàn

TCTD và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay ngắn hạn đối với khách hàng với điều kiện:

+ Đến thời hạn trả nợ, khách hàng có quyền trả nợ hoặc kéo dài thời hạn trả nợ thêm một khoảng thời gian nhất định.

+ Tổng thời hạn vay vốn không vượt quá 12 tháng và không vượt quá một chu kỳ kinh doanh.

+ Khách hàng không có nợ xấu tại các TCTD.

+ Trong quá trình vay, nếu có phát sinh nợ xấu tại các TCTD thì không được kéo dài thời gian trả nợ.

Phương thức này phù hợp với các hộ vay vốn sản xuất kinh doanh hỗn hợp, có nguồn thu ở nhiều thời điểm khác nhau. Khách hàng có thể sử dụng các nguồn thu ở thời điểm trước khi đến hạn để quay vòng tuần hoàn, giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục, không bị gián đoạn, cho đến 12 tháng hoặc đến thời điểm cuối cùng của chu kỳ sản xuất kinh doanh.

– Các phương thức cho vay khác kết hợp 8 phương thức cho vay trên

TCTD có thể nghiên cứu đưa ra một phương thức cho vay mới, trên cơ sở kết hợp8 phương thức trên nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn phục vụ đời sống của khách hàng.

1.2. PHÁT TRIỂN CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

      1. 1.2.1. Khát quát về phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp

Theo quan điểm của triết học thì phát triển là sự vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ thay thế cái lạc hậu. Phát triển là khuynh hướng của sự quá trình vận động của sự vật.

Theo kinh tế học phát triển thì phát triển kinh tế thì phát triển không chỉ đơn giản là sự gia tăng thuần túy về mặt lượng mà nó còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đối về mặt chất của nền kinh tế – xã hội.

Như vậy, phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, theo tác giả đó là sự gia tăng về quy mô cho vay khách hàng doanh nghiệp và việc tuân thủ chặt chẽ định hướng cho vay, quy trình cho vay, quản trị rủi ro để hướng đến nâng cao được chất lượng của khoản vay. Sự phát triển về quy mô đó là việc gia tăng số lượng khách hàng vay vốn, từ đó nâng cao doanh số cho vay khách hàng doanh nghiệp, từng bước mở rộng và chiếm lĩnh thị phần cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng. Phát triển về mặt chất lượng đó là việc nâng cao chất lượng của khoản vay, thể hiện thông qua hoạt động cho vay của ngân hàng gắn với định hướng phát triển kinh tế của nhà nước, của đại phương từng thời kỳ; các sản phẩm cho vay phù hợp với định hướng phát triển tín dụng của nhành ngân hàng (như cho vay đầu tư bất động sản, cho vay chứng khoán … trong một giới hạn nhất định để kiểm soát cơ cấu và rủi ro tín dụng); việc tuân thủ quy trình cho vay, cũng như năng lực chuyên môn, trình độ lành nghề của đội ngũ cán bộ để tạo ra các khoản vay có chất lượng tín dụng tốt.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\LUAN VAN HOAN THANH\LUẬN VĂN ĐÃ HOÀN THÀNH\Documents\DUY TÂN\LV PT TÍN DỤNG HD DAK LACK 2021\FINAL

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *