Pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Toà án trong giải quyết vụ việc lao động
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với mong muốn phát triển thị trường lao động Việt Nam cạnh tranh lành mạnh đồng bộ, hiện đại và hội nhập, xây dựng QHLĐ hài hòa,ổn định vàtiến bộ1 và được xác định là một trong ba khâu đột phá chiến lược nên Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật lao động. Thay thế BLLĐnăm 2012, BLLĐ năm 2019 (có hiệu lực từngày 01/01/2021) được đánh giá giúp Việt Nam tiệm cận hơn với các tiêu chuẩn lao động quốc tế2 đã hoàn thiện thêm một bước hệ thống pháp luật lao động Việt Nam.
QHLĐ được hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ nên lợiích của các bên về cơ bản là thống nhất nhưng cũng luôn tồn tại các mâu thuẫn. Những mâu thuẫn này không được giải quyết kịp thời sẽ làm phát sinh TCLĐ. Kinh tếphát triển nên TCLĐ có xu hướng gia tăng về số lượng, phức tạp về nội dung, cókhi xuất phát từ HĐLĐ hoặc có khi liên quan đến QHLĐ. Bên cạnh đó, trong quátrình lao động còn có thể phát sinh cácvấnđề nhưmộtbên yêu cầu cơ quan cóthẩm quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu, thỏa ước vô hiệu hay tuyên bố về tính hợp pháp của cuộc đình công. Có nhiều phương thức khác nhau để giải quyết TCLĐnhư thương lượng, hòa giải, trọng tài và Toà án. Ở Việt Nam, dù trước đó có lựa chọn phương thức nào nhưng cuối cùng các bên TCLĐ vẫn thường yêu cầu Toà án giải quyết bởi phương thức này không chỉ giúp các bên khôi phục lại các các quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn giúp các bên giải quyết dứt điểm vụ việc.
Thẩm quyền của Toà án là nội dung quan trọng trong giải quyết các vụ việc lao động. Trong thời gian vừa qua, hệ thống pháp luật về tố tụng tư pháp nói chung, quy định pháp luật về thẩm quyền của Toà án nói riêng ngày càng được hoàn thiện. Quyền tiếp cận công lý của các bên trong TCLĐ được đảm bảo, dễ dàng thực hiện.
1 Theo Quyết định1983/QĐ-TTg ban hànhKế hoạch triển khai thực hiện Kết luậnsố92-KL/TW ngày 5/11/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XImột số vấn đềvề chính sách xã hội.
2 https://www.ilo.org/hanoi/Informationresources/Publicinformation/comments-and- analysis/WCMS_721939/lang–vi/index.htm
Các bản án, quyết định của Toà án đã đảm bảo đượcquyền vàlợiích của các bên tranh chấp đồng thời góp phần ổn định xã hội. Song bên cạnh đó, nhiều quyết định của Toà án chưa đảm bảođượctính công bằng, hợp lý và có những vướng mắc, bất cập khi xác định loại vụ việc lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Nhiều hồ sơ khởi kiện đến Tòa án bị trả lại đơn khởi kiện vì lý do không thuộc thẩm quyền của Tòa án. Có sự không thống nhất trong xét xử giữa các Toà án với nhau, thậm chí là trong cùng một Toà án khi áp dụng pháp luật lao động về cùng một nội dung, quy định trong pháp luật lao động. Tỷ lệ các bản án, quyết định của Toà án bịhuỷ, bịsửa còn cao. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022Hộinghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới xác định mục tiêu cụ thể đến năm 2030 là có hệ thống pháp luật hoàn thiện, đồng bộ, dễ tiếp cận vàhoàn thành cơ bản việc xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân. Nghị quyết cũng đặt ra giải pháp và nhiệm vụ là bảo đảmtố tụng tư pháp dân chủ, công bằng, pháp quyền, nghiêm minh, dễ tiếp cận, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; xác định thẩm quyền của Toà án đểthực hiện đầy đủ, đúngđắn quyền tư pháp.
Để đạt được mục tiêu cũng như thực hiện được giải pháp và nhiệm vụ nêu trên, cần thiết phải có sự nghiên cứu đầy đủ về lý luận và thực tiễnđể từđó có kiến nghị, đềxuất hoàn thiện pháp luật cũng nhưđề xuấtcác giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong giải quyết vụ việc lao động.Đây là lý do đểnghiên cứu sinh lựachọnvấnđề“Pháp luật Việt Namvềthẩm quyền của Toà án trong giải quyết vụ việc lao động” làm đề tài cho luận án tiến sĩ của mình nhất là trong bối cảnh chưa có công trình nghiên cứu khoa học nàođề cậpchuyên sâu đến vấn đề này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận vềthẩm quyền củaTòa án trong giải quyết vụviệc lao động, phân tích và đánh giá
thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề này để trên cơ sởđóđề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật vềthẩm quyềncủaToà án trong giải quyết vụ việc lao động. Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
– Làm rõ nhữngvấnđề lý luận vềbản chất vụ việc lao động, thẩm quyền của Toà án, nội dung điều chỉnh pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong giải quyết vụ việc lao động.
– Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động và thực tiễn áp dụng các quyđịnh về thẩmquyền của Toà án.
– Phân tích, làm rõ những vướng mắc về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động.
– Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc laođộng, đồngthời nâng cao năng lực của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện pháp luật vềthẩm quyền củaToà án trong giải quyết vụ việc lao động. Bên cạnh các quyđịnhcủa pháp luật Việt Nam (bao gồm pháp luật tố tụng dân sự mà chủ yếu là BLTTDS năm 2015 và pháp luật lao động mà chủ yếu là BLLĐ năm 2019 và văn bản hướng dẫn thi hành), luận án cũng nghiên cứu quyđịnh củapháp luậtmột số quốc gia làm cơ sở so sánh, tham
khảo trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Toà án trong giải quyết vụ việc lao động.
3.2. Phạm vi nghiêncứu
– Về phạm vi nội dung nghiên cứu: Trong khoa học pháp lý hiện nay, có nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về nội hàm khái niệm thẩm quyền của Toà án trong giải quyết vụ việc lao động. Theo nghĩa hẹp, thẩm quyền của Toà án là quyền xem xét giải quyết một vụ việc lao động cụ thể (gồm thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền các cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ). Theo nghĩa rộng, thẩm quyền của Toà án bao gồm cả quyền hạn của Toà án trong việc ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó.
Vớicách tiếp cận của mã ngành luật Kinh tế, trong luận án này, nghiên cứu sinh nghiên cứu thẩm quyềncủaToà án theo nghĩa rộng bao gồm thẩm quyền xem xét giải quyết các vụ việc lao động và thẩm quyền quyết định khi giải quyết vụ việc đó. Tuy nhiên, thẩm quyền quyếtđịnhcủaToà án được thể hiện trên phương diện ra các quyếtđịnhtố tụng(như đìnhchỉgiải quyết vụ việc lao động, công nhận
sựthoả thuậncủa các đương sự…)và phương diện giải quyết nội dung vụ việc lao
động (sa thải, đơnphương chấm dứt HĐLĐ…). Trong luận án này, đối vớithẩm quyền quyết định của Toà án, nghiên cứu sinh chỉ nghiên cứu ở phương diện giải quyết nội dung vụ việc lao động.
Các VALĐ xảy ra trênthực tế tương đốiđa dạng. Trong luận án này, nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu vào các VALĐ phát sinh từ TCLĐ cá nhân gồm ba loại chính là vụ án về đơn phương chấm dứt HĐLĐ, vụ án vềxửlý kỷ luật sa thải và vụán về hoàn trả chi phí đào tạo. Bởi đây là ba loại án lao động phổ biến, chiếm tỷ lệ nhiều nhất và trong thực tiễn xét xử cũng có nhiều vướng mắc, tranh luận nhất.
-Về phạm vi thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu các quyđịnh của BLTTDS năm 2015, BLLĐ năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành của hai bộ luật trên về thẩm quyền của Toà án trong giải quyết các vụ việc lao động. Tuy nhiên, BLLĐ năm 2019 mới bắt đầu có hiệu lực từ năm 2021 nên số lượng án không nhiều. Trong khi nhiều quy định của BLLĐ năm 2019 có sự kế thừa các quy định của BLLĐ năm 2012, không có sựsửa đổi bổ sung nên Luận án có sửdụng một số bản án áp dụng BLLĐ năm 2012 để minh chứng cho những bất cập thực tiễn thực hiện pháp luật về thẩm quyền của Toà án.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của học thuyết Mác –Lênin. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thực hiện luận án gồm:
– Phương pháp hồi cứu các tài liệu được sử dụng để tập hợp các tài liệu, công trình nghiên cứu trongnước và nướcngoài dựa trên các mốc thời gian, lĩnh vực pháp luật cũng nhưhệthống pháp luật nhằm lựa chọn, tập hợp một cách đầyđủnhất các tài liệu liên quan đến đề tài luận án ở các nguồn khác nhau. Phương pháp này được sửdụng để viết chương 1 của luận án và được kết hợp với các phương pháp khác trong quá trình tìm hiểu các vấn đề lý luận cũng như thực trạng pháp luật Việt Nam về thẩm quyền giải quyết vụ việc lao động của Tòa án;
– Phương pháp phântích được sửdụngđểphân tách và tìm hiểu cácvấn đề lýluận, quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng quyđịnh củapháp luật trong giải quyết các vụ việc lao động, các yêu cầu của việc hoàn thiện quy định của pháp luật cũng như những đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật tại chương 3 và chương 4 của luận án;
– Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm đối chiếu các quan điểm khác nhau giữa các Toà án, nhà khoa học trong các công trình nghiên cứu; giữa quy định của pháp luật hiện hành với quy định của pháp luật các giai đoạn trước đây và pháp luật nước ngoài;
– Phương pháp chứng minh được sử dụng ở hầu hết các nội dung của luận án nhằm đưa ra các dẫn chứng làm rõ các luận điểm của nghiên cứu sinh trong các nội dung của luận án;
– Phương pháp tổng hợp đượcsửdụngchủyếu trong việc rút ra những nhậnđịnh, ý kiến đánh giá sau quá trình phân tích ở từng ý, từng tiểu mục, đặc biệt được sử dụng để kết luận các chương và kết luận chung của luận án.
Các phương pháp nghiên cứu nêu trong luận án được sử dụng linh hoạt, có sựkết hợp tuỳ theo từng nội dung, vấn đề nghiên cứu.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Là công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống, toàn diện pháp luật vềthẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động ở Việt Nam, luận án có những đóng góp mới chủ yếu sau đây:
– Luận án đã phân tích, làm rõ và sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về vụ việc lao động cũng như thẩm quyền của Toà án trong giải quyết vụ việc lao động.Đặc biệt, luận án đã có sự phân tích khá sâu sắc khái niệm và đặc điểm của vụ việc laođộng, giúp nhận diện TCLĐ, phân biệt VALĐ với vụ án dân sự có yếu tố lao động.
– Luận án đã tiếp cận và phân tích một cách đầy đủ và toàn diện nội dung pháp luật thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết vụ việc lao động ở cả hai phương diện: thẩm quyền xem xét giải quyết vụ việc lao động của Toà án và thẩm quyền quyết định của Toà án trong việc giải quyết về mặt nội dung vụ việc lao động.
– Luận ánđãphân tích, làm rõ thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật vềthẩm quyềncủaToà án trong việc xem xét giải quyết và thẩm quyền quyết định của Toà án trong giải quyết vụ việc lao động thông qua các minh chứng vụ việc điển hình cụ thể và luận giải, đánh giá. Luận án đã chỉ ra những khoảng trống pháp luật, những điểm bất cập, tồn tại cũng như những vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật về thẩm quyền của Toà án ở cả phápluật tốtụng dân sự và pháp luật lao động.
– Học thuyết về sựtiếp cận công lý củacông dân và vai trò của Toà án, sựcông bằng và tính hợplý đã đượcluận án luận giải trong nhiều vấn đề, đặc biệt làtrong các phán quyết của Toà án khi giải quyết vụ việc lao động. Luận án cũng luận giải được sựcần thiết của án lệ đối với những quy định mang tính định tính, nhữngđiểm “mờ’ trong pháp luật lao độngcũng nhưsựthống nhất trong việc áp dụng pháp luật lao động của Toà án.
– Luận án đã xác định được cácđịnhhướngcủa việc hoàn thiện pháp luậtvề thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động, đồng thời có một số kiến nghị mới nhằm sửa đổi, bổ sung quy định về pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật lao động Việt Nam hiện hành về thẩm quyền của Toà án trong giải quyết vụ việc lao
động. Luận án cũng đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của Toàán trong giải quyết vụ việc lao động.
6. Kết cấu của luận án
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài mở đầu, kết luận, danh mục công trình đã công bố của tác giả có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được bố cục như sau:
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án.
Chương 1: Cơ sở lý luận về thẩm quyền của Tòa án và pháp luậtvề thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động và thực tiễn thực hiện.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật vềthẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. Những kết quả nghiên cứu pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong giải quyết vụ việc lao động
1.1. Các nghiên cứu lý luận về vụ việc lao động và thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động
1.1.1. Các nghiên cứu về tranh chấp lao động và vụ việc lao động
1.1.2. Các nghiên cứu về thẩm quyềncủaTòa án và thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các vụ việc lao động
1.2. Các nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động và thực tiễn thực hiện
1.2.1. Các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của tòa án trong giải quyết vụ án lao động
1.3. Các nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động
2. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
2.1. Nhận xét tổng quan
Trên cơsở tổng quan tình hình nghiên cứu các tài liệu liên quanđến thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động, có thể nhận thấy những công trình nghiên cứu đến đề tài luận án khá phong phú và đa dạngvà được tiếp cận dưới nhiều góc độ rộng, hẹp khác nhau. Các công trình nghiên cứu cung cấp lượng thông tin giá trị vềlý luận về vụ việc dân sự, TCLĐ, vụ việc lao động, các kiến thức vềthẩm quyền của Toà án cũng như thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết vụviệc lao động. Đây là nền tảng lý luận để tác giả kế thừa, phát triển nghiên cứu thêm về cơ sở lý luận của vụviệc lao động, thẩm quyền của Toà án và pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong giải quyết vụ việc lao động một cách toàn diện hơn.
Tuy nhiên, rất ít các công trình nghiên cứu chuyên sâu về thẩm quyền của Toàán trong giải quyết vụ việc lao động. Một số ít công trình tuy có nghiên cứu thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động song chủ yếu lại tiếp cận ởphương diện thực trạng pháp luật vềthẩm quyền xem xét giải quyết vụ việc (bao gồm thẩm quyền theo loại việc, theo cấp xét xửvà theo lãnh thổ) trong thủ tục tốtụng tại Toà án mà chưa có những công trình nghiên cứu ở phương diện thứ haivề
thẩm quyền của Toà án, đó là quyền quyết định về mặt nội dung đối với các vụ việc lao động. Các công trình nghiên cứu chủ yếu tiếp cận dưới gócđộthẩm quyền xem xét giải quyết bằng việc nêu quy định pháp luật mà chưa đi sâu vào phân tích thẩm quyền của Tòa án trong thực tiễn giải quyết vụ việc lao động để thấy được những khoảng trống, những bất cậpcủapháp luật“tố tụng” cũng như pháp luậtvề“nội dung”, từ đó đề xuất việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật lao động. Bởi vậy, khi nghiên cứu vấn đềnày, nghiên cứu sinhsẽ phải tiếp cận trên cả 2 phương diện pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật lao động cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong giải quyết vụ việc lao động.
2.2. Những kếtquảtrong các công trình nghiên cứuđượckế thừa trong luận án
Căn cứtình hình nghiên cứu trong và ngoàinước liên quan đến chủ đề của luận án, có thể tiếp thu một số nội dung sau:
Thứ nhất, vềlý luận thẩm quyềncủaTòa án và pháp luậtvề thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết vụ việc lao động.
Thẩm quyền chỉ các quyền củachủ thể đượclàm những gì mang tính chất bao hàm và đầy đủ còn quyền hạn là giới hạn các quyền mà chủ thể được phép thực hiện theo thẩm quyền củamình ởmộtsố lĩnh vực nhất định. Sau khi nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến vấn đề pháp luật Việt Nam vềthẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động, có thể thấy rằng: Các công trình nghiên cứu đã đề cập, phân tích làm rõ một số vấn đề chung của TCLĐvà giải quyết TCLĐ. Các nội dung đượcđề cập đến nhiều là:khái niệm, phân loại, phương thức, nguyên tắc và yêu cầu khi giải quyết TCLĐ.
Về vụviệc laođộng,các công trình nghiên cứu thống nhất theo cách tiếp cận của BLTTDS gồm VALĐ và việc laođộng,trong đó giành sự nghiên cứu đặc biệt cho TCLĐ. Những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, phân loại, các nguyên tắc và yêu cầu đòi hỏi khi giải quyết TCLĐ tại Tòa án thường xuyên được đề cập vàluận giải trong nhiều công trình nghiên cứu. Về thẩm quyền của Tòa án, các công
trình nghiên cứu đã chỉ rõ hai phương diện của thẩm quyền của Tòa án gồm thẩm quyền xem xét giải quyết và thẩm quyền quyết định về nội dung vụ việc. Các công trình nghiên cứu tùy theo giới hạn, phạm vi, mức độ nghiên cứu có đề cập đến nội dung pháp luật về thẩm quyền xem xét giải quyết của Tòa án. Các công trình cũng có đề cập đến mộtsốvấn đề lý luận liên quan đếndấuhiệu đặc trưng của một TCLĐTT cũng như khái niệm về TCLĐTT, thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động. Đâylà những tài liệu có giá trịtham khảo nhấtđịnh khi nghiên cứu sinh viết Chương 1 của luận án.
Tuy nhiên, do được thực hiện trong khuôn khổ của bài tạp chí hoặc góc độ tiếp cận khác nhau mà các công trình nghiên cứu này chưa phân tích đầy đủ, toàn diện và chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu vềvụ việc lao động, đặc biệt làviệc lao động. Hơn nữa, QHLĐ đã có nhữngsựthay đổi nhất định, đặc biệt là trong cuộc cách mạng 4.0 và kỹ thuật số nên TCLĐ (VALĐ) cũng cầncó sựthay đổi trong nhìn nhận và nhận diện. Hiện nay rất ít các công trình nghiên cứu đề cập đến hoặc nếu có thì cũng chưa được các tác giả phân tích cụ thể và đầy đủ.
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứuvềthẩm quyền của Tòa án chủyếu tiếp cận ở phương diện thẩm quyền xem xét giải quyết mà chưa đề cập đến thẩm quyền quyết định của Toà án trong giải quyết nội dung vụ việc. Bởi vậy các nghiên cứu đã công bố về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết vụviệc lao động chưa thực sựđược đầyđủ và toàn diện. Đây vẫn còn khoảng trống để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu.
Thứ hai,vềthực trạng pháp luậtvềthẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động và thực tiễn thực hiện.
Ở những góc độ khác nhau, các công trình nghiên cứu khoa học được công bốđã đề cập và phân tích thực trạng thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết vụviệc lao động. Trên cơ sở quy định BLLĐ năm 2004, các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLLĐ, BLLĐ năm 2012 và quy định pháp luật về tố tụng tương ứng gồm BLTTDS năm 2005, BLTTDS năm 2015, các công trình nghiên cứu đã phân tích, làm rõ được một số nội dung pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án, thực
trạng xét xửcác vụviệc lao động khi xác địnhthẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền các cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ. Đồng thời, đã chỉ ra những vướng mắc, khó khăn khi xác địnhthẩm quyền theo loại việc của Tòa án. Kết quả nghiên cứu của các công trình nàysẽ được luận ántiếp thu để làm cơsở cho việc nghiên cứu sâu. Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nêu trên còn chỉ ra những bất cập của pháp luật dướigóc độ pháp lí và từnhững vụ việc thực tiễn; một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, những bấtcập nảy sinh trong thực tiễn, các kiến nghị, giải pháp được đưa ra sẽ được Luận án tiếp tục kế thừa có chọn lọc vào giai đoạn hiện nay khi nghiên cứu pháp luật hiện hành.
Tuy vậy, cómộtsốhạn chếlà các tácgiảmới chỉ dừngởviệc nêu ra các vướng mắc, bất cập theo hướng liệt kê mà chưa cósựphân tích theo hệ thống vàtheo từng nhóm riêng biệt; chưa làm rõ đâu là những vướng mắc, bất cập nảy sinh do pháp luật quy định chưa đầy đủ, toàn diện, mâu thuẫn, chồng chéo; đâu là những vướng mắc, bất cập nảy sinh do cách hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đặc biệt, hầu như chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết việc lao động. Một sốcông trìnhnếucó nghiên cứu vềHĐLĐ vô hiệu, thỏaước vôhiệu…chủ yếu dưới góc độ luật nội dung mà chưa nghiên cứu ở phương diện thẩm quyền của Tòa án. Bên cạnh đó, BLLĐ năm 2019đãcó nhiều thay đổi trong việc xác định TCLĐ. TCLĐ không còn chỉ là các tranh chấp phát sinh từ QHLĐ nữa màcòn cả các tranh chấp phát sinh từ quan hệ liên quan đến QHLĐ. Cơ chế giải quyết tranh chấp cũng đượcquy định theo hướnglinh hoạt hơn và mở rộng hơn thẩm quyền của Tòa án. BLLĐ năm 2019 bắt đầu có hiệu lực từ 1/1/2021 và hiện tại chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu một cách đầy đủ và sâu sắc về vấn đề này. Bởi vậy, tuy đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, một số công trình đến nay vẫn có giá trị tham khảo song vẫn còn có các khoảng trống cần nghiên cứu để vấn đềthẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụviệc lao động được sâu sắc hơn, toàn diện hơn và cách tiếp cận mới hơn.
Thứ ba, về hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong giải quyết vụ việc lao động.
Một số nghiên cứu của các công trình khoa học nêu trên có đề cập đến các giải pháp hoàn thiện thẩm quyền của Tòa án nói chung trong đó có liên quan đến thẩm quyền của Toà án trong giải quyếtvụviệc lao động. Các giải pháp này cóthểphân chia thành giải pháp chung, các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nhóm các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật. Những giải pháp, kiến nghị cũng được các công trình nghiên cứu trên cơ sở phân tích thực trạng áp dụng pháp luật và từ thực tiễn xét xử khi gặp những khó khăn vướng mắc.
Về các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật, một số công trình cũng đưa ra những giải pháp sửa đổi quy định pháp luật về thẩm quyền chung, thẩm quyền riêng biệt hay thẩm quyền theo sự lựa chọn của các bên. Ở các mức độ khác nhau đã có những phân tích, bình luận có giátrị vềcác quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng, còn chỉ ra những bất cập dưới góc độ pháp lý và từ những vụ việc thực tiễn, một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Với những vấn đềđã được các học giảchỉ ra, luận án sẽ cân nhắc vận dụng, chọn lọc và nghiên cứu tiếp thu.
Tuy nhiên, lạihầu như chưa có các công trình nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật lao động từ việc nghiên cứu pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong giải quyết vụ việc lao động. Dođó, vẫn còn nhiều khoảng trống trong việc nghiên cứu để đưa ra hướng hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động cả về pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật lao động.
2.3. Những vấn đề chưa được nghiên cứu, luận án cần tiếp tục triển khai nghiên cứu
Thứ nhất, Luận án tiếp tục làm rõ mộtsố vấn đề lý luận về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết vụ việc lao động.
Cụ thể luận án sẽ làm rõ khái niệm vụ việc lao động (hiện nay chưa có công trình nào làm rõ khái niệm này). Luận án sẽ làm rõ việc nhận diện các VALĐ
(TCLĐ) trong bối cảnh có sự nhận thức lý luận mới về nhận diện QHLĐ cũng nhưQHLĐ trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0. Bên cạnh đó luận án cũng sẽlàm rõ những vấn đề lý luận về thẩm quyền của Tòa án ở phương diện thẩm quyền xem xét giải quyết vụ việc lao động và thẩm quyền quyết định về nội dung vụ việc lao động đó cũng như sự điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này.
Thứ hai, Luận án sẽ nghiên cứu phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật vềthẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết VALĐ ở hai phương diện: thẩm quyền xem xét giải quyết các VALĐ và thẩm quyền quyết định về mặtnộidung các VALĐ đó để chỉ ra những điểm phù hợp và những điểm còn bất cập, những khoảng trống trong việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật lao động
Thứ ba, Luận án cũngsẽ nghiên cứu phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết việc lao động. Vấn đề này hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu hoặc nếu có nghiên cứu cũng chỉ ở mức độ rất hạn hẹp và thiên về nghiên cứu dưới góc độ của pháp luật tố tụng dân sự.
Thứ tư, Luận án sẽ phân tích, bình luận và đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động. Bằng việc phân tích, bình luận các vụ án cụ thể, luận án sẽ không chỉ đánh giá về thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét giải quyếtvụ việc lao động mà còn đánh giá ở phương diện thẩm quyền quyết định của Toà án khi giải quyết về mặt nội dung vụ việc laođộng đó để làm cơ sở cho việc đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật lao động.
Thứ năm, Thông qua việc nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật, Luận án sẽđề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luậtvề thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động( bao gồm cả pháp luật về tố
tụng và pháp luật về nội dung). Đồng thời luận án cũng dề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vai trò của Tòa án trong việc giải quyết vụ việc lao động.
3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 3.1. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu 1: Đặc trưng pháp lý vụ việc lao động là gì?
Để trả lời câu hỏi nghiên cứu này cần phải hướng đến việc làm rõ các vấn đềsau: bản chất và các dấu hiệu nhận biết vụ việc lao động trong sự so sánh với các vụviệc dân sự khác, phân loại vụ việc lao động, sự khác biệt đòi hỏi khi giải quyếtvụviệc lao động.
Câu hỏi nghiên cứu 2: Thẩm quyền của Tòa án trong giải quyếtvụviệc laođộng cần được hiểu như thế nào?
Câu hỏi nghiên cứuvềThẩm quyền củaTòa án trong giải quyếtvụ việc laođộng hướng đến các khía cạnh như bản chất của thẩm quyền, cơ sở và ý nghĩa của việc xácđịnhthẩm quyền củaTòa án, yếu tố tác động đến việc thực hiện thẩm quyền cũng như áp dụng quy định pháp luật về thẩm quyền của Tòa án và nội dung pháp luật điều chỉnh thẩm quyền của Tòa án khi xét xử vụ việc lao động. Việc tòa án xác định sai, thực hiện không đúng thẩm quyền ảnh hưởng như thế nào đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong vụ việc lao động.
Câu hỏi nghiên cứu 3: Thực trạng áp dụng pháp luậtvềthẩm quyền của Tòa án trongbốicảnh áp dụng BLLĐ năm 2019 như thế nào? Tính công bằng vàhợplýcủa Tòa án đối với các vụ việc lao động có được đảm bảo?
Câu hỏi này hướng đến việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về thẩm quyền của Tòa án. Những điểm đã phù hợp và những điểm còn bất cập, hạn chế trong pháp luật về thẩm quyền của Tòa án đối với các vụ việc lao động là gì? Thực tiễn thực hiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động như thế nào. Các quyết định của Toà án đã đảm bảo tính công bằng và sựhợp lýgiữa các vụ việc chưa.
Câu hỏi nghiên cứu 4: Các giải pháp đượcđặt ra đểhạn chếbấtcập, hạn chếvà hoàn thiệnhệthống pháp luật Việt Namvề thẩm quyền củaTòa án đối với vụviệc laođộng đểphù hợp với quá trình phát triển,hộinhập và đáp ứng đượcyêu cầu cải cách tư pháp hiện nay là gì? Cần áp dụng giải pháp nào đểnâng cao hiệu quả thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết vụ việc lao động?
Câu hỏinàyhướngđếnviệc đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luậttốtụng dân sựvà pháp luật lao động về các nội dung liên quan đến thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động. Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thẩm quyền của tòa án, thẩm phán, luật sư NLĐ, NSDLĐ cần phải làm gì?
3.2. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu 1: Giả thuyết nghiên cứu cho câu hỏi 1 là hiện chưa cókhái niệm thống nhất về vụ việc laođộngtrong khoa học pháp lý. Từđó ảnh hưởngđến việc xác định thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết các vụviệc lao động. Cách tiếp cậngiải quyết vụ việc lao động tạiTòa án giống như giải quyết các vụviệc dân sự, vụ việc kinh doanh – thương mại. Việc thực hiện quyền xét xử của Tòa án trong các vụ việc là giống nhau mà chưa thấy đặc thù của việc giải quyết vụ việc lao động tại Tòa án.
Kết quảnghiên cứu: Kết quả nghiên cứu cho vấn đềnày là chỉra được khái niệm vụ việc lao động với các dấu hiệu đặc trưng trong giải quyết vụ việc lao động tại Tòa án, tác động đến vấn đề thẩm quyền của Tòa án.
Giảthuyết nghiêncứu2:Giảthuyết nghiên cứu cho câuhỏinày là có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau trong hệ thống pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc dân sự nói chung, vụ việc lao động nói riêng. Vậy nên hiểu và tiếp cận như thế nào về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động.
Kết quảnghiên cứu: Đưa ra cách tiếp cận về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết vụ việc lao động ở các phương diện khác nhau và phân tích vấn đề thẩm quyềncủaTòa án cóảnhhưởng như nào đối với quyền lợi của các bên có tranh chấp.
Giả thuyết nghiên cứu 3: Giả sử thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành vềthẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động còn có những tồn tại, bất cậpvà chưa đảm bảo quyền tiếp cận công lý, tính công bằng trong xét xử.
Thực tiễn cũng cho thấy việc xét xử các vụ việc lao động còn có những vướng mắc, bất cập trong quá trình Tòa án thực hiện quyền xét xử của mình. Để làm rõ vấn
đề này, nghiên cứu sinh cho rằng cần phải đánh giá toàn diệnhệthống pháp luật hiện hành về vấn đề nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu: Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyếtvụviệc lao động, chỉ ra nhữngđiểmđã phù hợp và những điểm còn bất cập hạn chế. Cùng với quy định pháp luật, luận án sẽ bình luận các vụ việc cụ thể trong thực tiễn để thấy được thực trạng thực thi pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động.
Giả thuyết nghiên cứu 4: Giả sửhiện nay chưa có những giải pháp và kiến nghị đầyđủ cho việc hoàn thiện pháp luậtvề thẩm quyền của Tòa án trong xu hướng hộinhập, cách mạng 4.0 cũng nhưcảicách tư pháp. Ngoài ra cũng chưa cónhững giải pháp thật sựhiệu quả cho việc nâng cao thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết vụ việc lao động.
Kết quảnghiên cứu: Luận ánsẽ đề xuất những yêu cầu củaviệc hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động, đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc lao động. Đồng thời cũng sẽ đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạtđộng của Tòa án trong việc giải quyết vụ việc lao động.
4. Cơ sở lý thuyết của đề tài
Luận án nghiên cứu dựa trên sở các lý thuyết sau đây:
– Lý thuyết về quyền tiếp cận công lý của công dân và vai trò của Tòa án.
Quyền tiếp cậncông lý là quyền củangườidân đượchưởng thụ (hoặc sửdụng) những thiết chế trong hệ thống pháp luật để tìm kiếm sự công bằng giữa các bên trong việc giải quyết các tranh chấp. Tòa án với vai trò là cơ quan công quyền có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, có trách nhiệmđảmbảo công bằng, công lý cho các bên, phải đảm bảo vụ việc như nhau thì được Toà án xét xử giống nhau.
Đểđảm bảo việc xét xử công bằng, trong những trường hợp nhất định, Toà án sẽ xem xét về tính bất hợp lý trong những thoả thuận giữa các bên. Lý thuyết về tính
bất hợp lý được cho là bắt nguồn từ nước Anh vào khoảng thế kỷ thứ 1715. Theo đó, Toà án có quyền can thiệp, điều chỉnh thoả thuận giữa các bên trong một số trường hợp nhằm đảm bảosựcông bằng của các giao dịch dân sự.Tuy nhiên, những nghiên cứu nền tảng cho sự ra đời của học thuyết mà chủ yếu liên quan đến công lý trong các giao dịch dânsựđã bắt đầu từrất sớm. Ở thời La Mã, pháp luật cũng thừa nhận một số nguyên tắc giúp bảo đảm công bằng trong giao dịch. Chẳng hạn, trong lĩnh vực giao dịch nhà đất, học thuyết laesio enormis được thừa nhận, cho phép một bên ký kết có khả năng hủy bỏ thỏa thuận nếu giá trao đổi thấp hơn một số tiền nhấtđịnh giá trị thực của nó16. Luật gia La Mã Pomponius cũng đã tuyên bố rằng: “Theo luật tựnhiên, là công bằng nếu không ai trởnên giàu có bằng sựmất mát và bất công đối với người khác17”18. Lý thuyết này đã được áp dụng trong nhiều hệ thống pháp luật. Trong hệ thống Thông Luật, học thuyết về tính bất hợp lý ban đầu được xem xét bởi các Tòa án công lý ở Anh để bảo vệ những người thừa kế vì lý do tuổi tác và dễ bị tổn thương, sau đó được mở rộng sang đối tượng là những người nghèo, kém hiểu biết19. Học thuyết này được cho là xuất hiện lần đầu tiên trong vụ James v. Morgan tại Anh năm 166320. Vụviệc nàyđược cho là bằng chứng về sựthừa nhận học thuyết về tính bất hợp lý trong Thông luật21.
Tại Mỹ,vào đầu thế kỷ19, các Tòa án đãvậndụng học thuyết về tính bất hợp lý để giải quyết một sốvụ án. Đến những năm 1950, học thuyết này được trình bày rõ ràng khiđược Bộluật Thương mại thống nhất quy định về hợp đồng hoặc điều khoản bất hợp lý. Trong hệ thống Dân luật, những nghiên cứu vềcác thỏa thuận mang tính không công bằng cũng đã được thực hiện từ nhiều thế kỷ trước trong luật
15 Ying Khai Liew, Debbie Yu, The Conscionable Bargains Doctrine in England and Australia: Cousins or Siblings?, 2020, https://law.unimelb.edu.au/__data/assets/pdf_file/0007/3846526/Liew-and-Yu-451- Advance.pdf, truy cập ngày 28/9/2022.
16 Brian M. McCall, tlđd.
17 Nguyên văn tiếng Latin: “Iure naturae aequum est neminem cum alterius detrimento et injuira fieri locupletiorem”
18 Gerald Henry Louis Fridman, Unjust Enrichment (Dis)Contented, Kỷ yếu hội thảo Understanding Unjust Enrichment, University of Western Ontario, Hart Publishing, 2004, tr. 35-44.
19 Ying Khai Liew & Debbie Yu, tlđd. 20 James v. Morgan, 1 Lev. 111 (1663).
21 Per Gustafsson, The unconscionability doctrine in U.S. contract law, Luận văn thạc sĩ (Lund University), 2010, tr. 6.
của Pháp vàĐức22. Khoản 2 Điều 138 Bộ luật Dân sự Đức có quyđịnh: “Một giao dịch hợp pháp bị vô hiệu khi một người, bằng cách khai thác tình trạng khó khăn, thiếu kinh nghiệm, phán đoán không đúng đắn hoặc sự yếu kém đáng kể về ý chí của người khác, khiến cho bản thân hoặc bên thứ ba, để đổi lấy việc thực hiện nghĩa vụ, được hứahoặc được mộtkhoảnlợivề tiền bạc mà không tương xứng với việc thực hiện nghĩavụ của họ23”
– Lý thuyết tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên trong quan hệ lao động. QHLĐ được hình thành trên cơ sở sựtựdo thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ.
Cũng giống như quan hệ dân sự, đây là quan hệ thuộc luật tư. Bởivậy, học thuyết về tựdo hợp đồng được xem là học thuyết cơ bản được áp dụng vào mối quan hệ. ỞAnh, cho đến giữa thế kỷ XIX, học thuyếtvề tựdo hợp đồng và tính tuyệt đối của hợp đồngvẫn giữvị trí thống trị trong pháp luật hợp đồng của Anh. Điển hình là án lệ Paradine v.Jane. (1647)24. Nguyên tắc về tính tuyệt đối của hợp đồng tồn tại tại Anh trong nhiều thế kỷ và chỉ bắt đầu thay đổi bởi học thuyết frustration of contract (sựvô vích của hợp đồng). Học thuyết này được tạo ra bởi Toà án Anh trong quátrình xét xử. Theo học thuyết, khi mục đích của hợp đồng không đạt được do có sựthay đổi của hoàn cảnh thì các bên có thể được giải phóng khỏi nghĩa vụ hợp đồng.
Trong quan hệ lao động, quyền và nghĩa vụ là do các bên tự thoả thuận trên cơsở quy định của pháp luật . Bởi vậy nên khi có tranh chấp phát sinh, các bên cũngđược tựlựa chọn cách thức ứng xử, tự quyết định các vấn đề về quyền lợi và lợi ích, trong đó có quyền tiếp cận công lý, yêu cầu Toà án bảovệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó khi các bên tranh chấp khởi kiện ra Toà án, Tòa án cần phải tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên. Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết các nội dung trên cơ sở các yêu cầu của đương sự. Nhưng nội dung nào đương sự
22 John P. Dawson, “Economic duress and the fair exchange in French and German Law”, Tulane Law Review, số 11, tập 3, 1937, tr. 345-376.
23 Nguyên văn: “A legal transaction is void by which a person, by exploiting the predicament, inexperience, lack of sound judgement or considerable weakness of will of another, causes himself or a third party, in exchange for an act of performance, to be promised or granted pecuniary advantages which are clearly disproportionate to the performance”.
24 Hugh Beale (2009), Chitty on Contracts (volum 1: Gereral principles),Swet & Maxwel
không yêu cầu giải quyết, Toà án cũng sẽ không có quyền giải quyết. Tuy nhiên, quyền tựđịnhđoạtcủacác bên phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật cho phép, gắn với các quyền, lợi ích được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.
– Lý thuyết về nhà nước pháp quyền.
Tư tưởng về Nhànướcpháp quyền gắn liền với tư tưởng phát triển dân chủ đãhình thành từ thờicổđại, thểhiện trong quanđiểm củacác nhà tưtưởng thời cổ đại như Xôcrat (469-399 Tr.CN), Arixtốt (384-322 Tr.CN), Xixêrôn (l06-43 Tr.CN). Những tưtưởngnàyđã được cácnhà tư tưởng chính trị và pháp lý tư bản sau này như John Locke (1632 – 1704), Montesquieu (1698 – 1755), J.J.Rút-xô (1712 –
1778), I.Kant (1724 – 1804), Hêghen (1770 – 1831)… phát triển như một thế giới quan pháp lý mới. Cùng với các nhà lý luận nổi tiếng nói trên, nhiều nhà luật học, nhà tư tưởng vĩ đại khác cũng đã góp phần phát triển các tư tưởng về Nhà nước pháp quyền như Tômát Jepphecxơn (1743 – 1826 – tác giả của Tuyên ngôn độc lập
Mỹ năm 1776), Tômát Pên (1737 – 1809), Jôn A đam (1735 – 1826)…
Các nhà tư tưởng, các nhà lý luận chính trị – pháp lý có đưa ra quan điểm khác nhau vềnhà nước pháp quyền, song về bản chất có thể quy về các giá trị có tính tổng quát sau: i) Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ, ii) Nhà nước pháp quyềnđược tổ chức và hoạtđộng trong khuôn khổ Hiến pháp vàpháp luật; iii) Nhà nước pháp quyền tôn trọng, đề cao và đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nướcvà xã hội; iv) Quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền đượctổchức và thực hiện theo các nguyên tắc dân chủ:
phân công quyền lực và kiểm soát quyền lực; v) Trong nhà nước pháp quyền, quyền
lực nhà nước luôn được giới hạn trong các mối quan hệ: Nhà nước và kinh tế; Nhà nước và xã hội. Đặc biệt ở nhà nước pháp quyền mô hình quan hệ giữa Nhà nước vàcá nhân đượcxác địnhtheo nguyên tắc: Đối với cơ quan nhà nướcchỉ được làm những gì luật cho phép; đối với công dân được làm tất cả trừ nhữngđiều luật cấm.
Kết luận tổng quan
Nội dung đã đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về thẩm quyền của Toàán và pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong giải quyết vụ việc lao động. Trên cơ sởnghiên cứunộidung các công trình nghiên cứu đã công bố ở trongnướcvànước ngoài, Luận án đã nêu tómtắtnộidung, kếtquảnghiên cứu và phân tích những kết quả sẽđược Luận án kếthừa, những kết quả sẽ được Luận án tiếp tục nghiên cứu phát triển thêm bổ sung để làm toàn diện, hệ thống hơn vấn đề thẩm quyền của Toà án và pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong giải quyết vụ việc lao động.
Thông qua đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả nhận thấy cơ sở lýluận về thẩm quyền của Toà án, thực trạng pháp luật về thẩm quyền của Toà án cũng như thực tiễn thực hiện trong giải quyết vụ việc lao độngcần tiếp tục phảiđược nghiên cứu một cách toàn diện, thấu đáo, bình luận sâu sắc và sáng tỏ thêm. Một sốquyđịnhphápluật vềthẩm quyền của Tòa án đang có hiệu lực chứa đựng những bất cập cần hoàn thiện,sửa đổi.Ngoài mục tiêu xây dựng cơsở lýluận của việc xác định thẩm quyền của Tòa án đối với các vụ việc lao động, hoàn thiện quyđịnh pháp luật về vấn đề này, luận án còn chú trọng đến việc nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Chính vì vậy, việc lựachọn đề tài “Pháp luật Việt Namvề thẩm quyền của Toà án trong giải quyết vụ việc lao động” làm Luận án Tiến sĩ Luật học là có tính thời sự, cần thiết cả vềphương diện lý luận và thực tiễn. Nội dung của Chương 1 cũng đã đặt ra những vấn đề cơ bản cần giải quyết trong Luận án, xác địnhđịnh hướng nghiên cứu chủ đề này và xácđịnhcác câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu trong quá trình nghiên cứu chủ đề này của Luận án.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN VÀPHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC LAO ĐỘNG
1.1. Một số vấnđề lý luận về thẩmquyền của Tòa án trong giải quyết vụviệc lao động
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của vụ việc lao động
Khái niệm vụ việc laođộng thườngxuyênđược sửdụng trong thực tế nhưngđến nay vẫn chưa có định nghĩacụ thể vềvụviệc lao động, mà thường đượchiểu thống nhất gồm VALĐ và việc lao động.Bởi vậy, nghiên cứu vềkhái niệm, đặcđiểm của vụ việclao động chính là nghiên cứu về khái niệm,đặc điểm của VALĐvà khái niệm, đặc điểm của việc lao động.
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của vụ án lao động – Khái niệm vụ án lao động
Theo Từ điển Luật học, vụ ánlà “một vụ việccó dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật được đưa ra toà án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết”25. Theo tác giả Lê Thị Hà, vụ án dân sựlà “vụ cótranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ giữa cá nhân, tổchức với nhau. Khi một tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, được đương sự yêu cầu Tòaán giải quyết sẽ trở thành vụ án dân sự”26. Tác giả Liễu Thị Hạnh có đưa ra khái niệm: “Vụ án dân sự là các tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức về quyền và nghĩa vụ phát sinhtừ quan hệ pháp luật dân sự,hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, được đưa ra Tòa án giải quyết theo quy định của
25 Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, (2006),TừđiểnLuật học, Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 860.
26 Lê Thị Hà (2005), Phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống tòa án ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 30-31.
pháp luật tố tụng dânsự”27. Tác giả Nguyễn Thị Hương cũng đưa ra khái niệm tương tự: “Vụán dân sự là các tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chứcvề quyền và nghĩa vụ phát sinhtừquanhệpháp luật dânsự,hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được đưa ra Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự”28. Như vậy, đa số các quan điểm đều cho rằng vụ án dân sự nói chung về bản chất đều phải là các tranh chấp và các tranh chấp này phải được giải quyết bởi Tòa án. VALĐ thuộc vụ án dân sựtheo nghĩa rộng nên trước hết cũng phải là TCLĐ và được đưa ra Tòa án giải quyết. Vậy TCLĐ là gì?
Tranh chấp theo nghĩa chung nhất được hiểu là mâu thuẫn, bất đồng, xung đột về một vấn đề mà các bên quan tâm. QHLĐ về bản chất được hình thành trên cơ sởsựthương lượng, thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ nhưng khi tham gia QHLĐ, các bên đều có nhữngmụcđích, mong muốn riêng nên những mâu thuẫn về lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ trong QHLĐ là điều khó tránh khỏi. Song, mâu thuẫn mới chỉ biểu hiện một mặt nào đó của TCLĐ, là những phản ứng tức thời, tuy có ý thức nhưng chưa thể hiện rõ nét mục đích của chủ thể. Mâu thuẫn cũng có thể tự mất đi. Chỉ khi mâu thuẫn, xung đột đạt đến mức độ nhất định và một trong các bên thể hiện sự bất đồng với bên kia bằng hành vi xửsựcụ thể như phản đối, bằng yêu cầu đối với bên kia, bằng việc khiếu nại hoặc yêu cầu chủ thể thứ ba hỗ trợ, can thiệp vào để giải quyết bất đồng thì khi đó mới phát sinh tranh chấp.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), tranh chấp trong QHLĐ được hiểu là:
“Mâu thuẫn giữa lao động và quản lý lao động phát sinh khi các bên không có khả năng giải quyết những bất đồng. Tranh chấp trong QHLĐ có thểdẫnđến những hậu quả như đình công. Đối tượng của tranh chấp trong QHLĐ có thể quyết định liệu tranh chấp nằm trong phạm vi pháp luật lao động và quyền tài phán củamột
27 Liễu Thị Hạnh (2009), Thụ lývụán dân sự- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ, TrườngĐại học Luật Hà Nội, tr. 8.
28 Nguyễn Thị Hương (2011), Khởi kiệnvụán dân sự theo quy định của BLTTDS 2004, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật- Đại học Quốc Gia Hà Nội, tr. 7.
bên thứ ba nào (ví dụ: Tòa trọng tài lao động) được trao đểhỗ trợ các bên giải quyết các vấn đề thông qua thương lượng, hòa giải hoặc/và trọng tài”29.
Ở Anhđịnhnghĩa đầu tiên về TCLĐđược đề cập trongĐạoluật Tranh chấp Thương mại năm 1906 và sau này được đưa vào Đạo luật Công nghiệp năm 1919 với nghĩa là bất kỳ tranh chấp nào “giữa NSDLĐ và NLĐ hoặc giữa NLĐ với nhau – liên quan đến việc được tuyển dụng hay không được tuyển dụng hoặc điều khoản tuyển dụng hoặc các điều kiện lao động của bất kỳ người nào”30. Đây là định nghĩađược nhiều nước từng là thuộc địa của Anh đưa vào trong pháp luật quốc gia31. Ở
Hoa Kỳ,khái niệm TCLĐ đượcđề cập trong Đạoluật Noris –La Guardia năm 1932, sau này được đưa vào Đạo luật Quan hệ Quản lý – Lao động năm 1947. Theođó, TCLĐ được hiểu là “bất kỳ vụ tranh chấp nào liên quan đến các điều khoản, thời hạn hoặc điều kiện tuyển dụng hoặc liên quan đến tổ chứchoặc đại diện của những cá nhân trong thương lượng, tổ chức, duy trì, thay đổi hoặccố gắng thỏa thuận các điều khoản hoặc điều kiện tuyển dụng, bất kể là người tranh cãi có quan hệ gắn với NSDLĐ và NLĐ32. Tại Úc, TCLĐ được Uỷ ban QHLĐ xác định là “bất đồng giữa NSDLĐ và NLĐ. Các vấn đề TCLĐ thường gặp là tiền lương, điều kiện làm việc, an toàn vệ sinh lao động, sa thải bất công hoặc các vấn đề môi trường”.Ở Trung Quốc, TCLĐ được hiểu theo nghĩa rộng “gồm bất kỳ tranh chấp nào giữa NLĐ và NSDLĐ phát sinh theo HĐLĐ, hoặc bất kỳ tranh chấp nào trong trường hợp tồntạiQHLĐ giữa hai bên, hoặc những tranh chấp liên quan đến cácvấnđề
lợi ích như BHYT, BHXH33”.
TCLĐ có nhiều loại. Theo Trung tâm Đào tạo quốc tế của ILO, TCLĐ gồm:
“Tranh chấp cá nhân là bất đồng giữa cá nhân NLĐ và NSDLĐ của mình, thường là về những quyền lợi hiện có. Tranh chấp tập thể làbấtđồnggiữa một nhóm NLĐ
29 David Macdonald and Caroline Vardenabeele (1996), (2), tr.15
30 NguyễnHữuChí và Nguyễn Văn Bình (Chủ biên), (2021), Bình luận khoahọcBộluật Laođộngnăm 2019, Nxb Tư pháp, tr. 475.
31 International Labour Office, (1985), Canciliation and Arbitration Procedures in Labour Disputes: Acomparative Study, p. 4.
32 NguyễnHữuChí và Nguyễn Văn Bình (Chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Lao động năm 2019, Nxb Tư pháp, tr. 475.
33 Simon Deakin và Zoe Adams (2015), Báo cáo nghiêncứuso sánh: Kinh nghiệm quốc tế trong giải quyết tranh chấp lao động, tr. 14.
thường là, nhưng không nhất thiết được công đoàn đại diện, và một NSDLĐ hoặc nhóm NSDLĐ về những quyền lợi hiện có hoặc những lợi ích trong tương lai. Tranh chấp vềquyền là bất đồng giữamộtNLĐ hoặc nhiều NLĐ với NSDLĐ của họ liên quan đến sự vi phạm một quyền lợi hiện có được quy định bởi pháp luật, thoả ước lao động tập thểhoặc HĐLĐ. Tranh chấp vềquyền mang tính chất cá nhân hoặc tập thể. Tranh chấp vềlợi ích là bất đồng giữa NLĐ và NSDLĐcủa họliên quan
đến quyền và nghĩa vụ trong tương lai theo HĐLĐ. Hầu hết các tranh chấp về lợi ích đềudo quá trình thương lượng thất bại khi các bên không đạt được thoả thuận về các điều khoản và điều kiện việc làm sẽ áp dụng trong tương lai. Tranh chấp về
lợi ích thường mang tính chất tập thể”34.
TCLĐ chỉ được phát sinh giữa các chủ thể của QHLĐ và quan hệ liên quan đến QHLĐ về các quyền và lợi ích mà các bên được hưởng từ các quan hệ đó. Vì vậy, cóthể đưa ra khái niệm về TCLĐ như sau: “TCLĐ là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ, lợiích giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt QHLĐ, giữa các tổchứcđạidiện NLĐ với nhau và giữatổ chứcđạidiện NLĐ với NSDLĐ hay tổ chức của NSDLĐ; giữa các bên trong quan hệ có liên quan đến QHLĐ”.
TCLĐ gồm nhiều loại, có thể là TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể hoặc TCLĐvề quyền và TCLĐ về lợi ích. TCLĐ cá nhân là tranh chấp giữa cá nhân NLĐ với NSDLĐ của mìnhvề quyền, nghĩa vụ và lợi ích hiện có phát sinh giữa các bên trong QHLĐ hoặc quan hệ có liên quan đến QHLĐ. Tranh chấp này cũng có thể bao gồm các tình huống màmột sốNLĐ không đồng ý với NSDLĐ của họ về cùng một vấn đề nhưng mỗi NLĐ lại hành động riêngrẽ.Điểm đặc biệt của TCLĐ cá nhân so với các tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh doanh – thương mại là trong TCLĐ cánhân có thể phát sinh một hoặc nhiều quan hệ tranh chấp bởi vì QHLĐ bao gồm nhiều quan hệ liên quan khác đến HĐLĐ. Chẳng hạn, trong tranh chấp về đơn phương chấm dứt HĐLĐ có thể phát sinh thêm tranh chấp về hoàn trả chi phí đào
tạo, tranh chấp về tiền lương, tiền thưởng… TCLĐ tập thểlà tranh chấp giữa một
34 Trung tâm Đàotạoquốc tế của ILO (2013), Các hệ thống phòng ngừa và giải quyết tranh chấp lao động, tr. 18.
nhóm NLĐ và một NSDLĐ hoặc một nhóm NSDLĐ về những quyền lợi hiện cóhoặc những lợi ích trong tương lai.
TCLĐ về quyền là tranh chấp giữa một NLĐ hoặc nhiều NLĐ và NSDLĐ của họ liên quan đến sựvi phạm một quyền lợi hiện có được quy địnhbởi pháp luật, TULĐTT hoặc HĐLĐ. TCLĐ về quyền có thể mang tính cá nhân hoặc tập thể. TCLĐ về lợi ích là tranh chấp giữa NLĐ và NSDLĐ của họ liên quan đến quyền vànghĩa vụ trong tương lai theo HĐLĐ. Các TCLĐ về lợi íchđềudo quá trình thương lượng thất bại, các bên khôngđạtđượcsựthoả thuận về cácđiềukhoản, điều kiện làm việc sẽ áp dụng trong tương lai.
Giữa TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể có những điểm khác biệt nhất định:
–Về chủ thể, TCLĐ cá nhân là tranh chấp giữa cá nhân NLĐ hoặc một sốNLĐvớiNSDLĐ. TCLĐ tập thể là tranh chấp giữa tập thể NLĐ với NSDLĐ. Nếu trong một vụ TCLĐ có nhiều NLĐ tham gia mà mỗi người chỉ quan tâm đến quyền
lợi củabảnthân mình thì đó là TCLĐ cá nhân còn nếu tất cả mọi người tham gia vụ tranh chấp đó quantâm đếnquyềnlợicủanhau thì đó là TCLĐ tập thể. Về pháp lý, các bên tranh chấp là bình đẳng nhưng thựctếNLĐ luôn là bên yếu thế, không tương xứngvề lợi thếtrong các TCLĐ. Việc xác định đúng loại TCLĐ, nhận diệnđược vị thếtố tụng của các bên tranh chấp có ý nghĩa quan trọng giúp cho Toà án áp dụng đúng pháp luật về thẩm quyền và ra phán quyết hợp tình, hợp lý.
– Về nội dung, bản chất của QHLĐ là quan hệ mua bán sức lao động nên nội dung của TCLĐ cá nhân chỉ liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của NLĐ, một nhóm NLĐ hoặc NSDLĐ,nảysinh trên cơ sở của HĐLĐ hoặc quanhệliên quan đến HĐLĐ. Còn TCLĐtậpthểnộidung của tranh chấp sẽ liên quan đến quyền, lợi ích và nghĩavụ củatập thể laođộng. BởivậyTCLĐ tập thể thường phát sinh trong quá trình thương lượng tập thể, về thoả ước lao động tập thể.
–Về tính chất, TCLĐ cá nhân là tranh chấp chỉ phát sinh giữa mộtNLĐ vàNSDLĐ về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ vàlợiích của một cá nhân NLĐ.Sựảnh hưởng của nó đến hoạtđộngsản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
chỉ ở mứcđộ hạn chế. TCLĐ cá nhân không có tính tổ chức, quy mô, phức tạp, mang tính chất đơn lẻ cá nhân. TCLĐtập thểbao giờ cũng mang tính tập thể, có sựtham gia liên kết của nhiều người, cùng thể hiện ý chí chung.
–Về sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể NLĐ, trong TCLĐ cá nhân, tổchức này chỉ tham gia với tư cách là người đại diện và bảo vệ quyền lợi cho NLĐ,đề nghị NSDLĐ xem xét những yêu cầu củaNLĐ, không tham gia với tư cách làmột bên tranh chấp, trực tiếp yêu cầu NSDLĐ giải quyết quyền lợi cho tập thể laođộng như trong TCLĐ tập thể.
VALĐ xuất phát từTCLĐ nhưng không phải cứphát sinh TCLĐ thì được xem là VALĐ. Vềvấnđề nàycó hai quan điểm. Quanđiểmthứ nhất (như các tác giả Lê Thị Hà, Liễu Thị Hạnh, Nguyễn Thị Hương định nghĩa về vụ án dân sự của nêu ở trên) cho rằng khi nào tranh chấp được đưa ra Toà án thì khi đó hình thành vụán. Quanđiểmthứ hai xác định chỉ khi nào Toà án thụ lý vụ án thì khi đó mới hình thành vụ án dân sự. Tác giả Nguyễn Hồng Nam xác định “Chỉ khi các đương sự nộpđơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện và thực hiện nghĩa vụnộp tạm ứng án phí (nếu không thuộc diện được miễn nộp tạm ứng án phí theo quyđịnh của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án) và Tòa án thụ lý vụ án dân sự thì nhưvậy mới phát sinh nghĩa vụ giải quyết vụ án dân sựcủaTòa án”35. Giáo trình Luật Tốtụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh cũng xác định “Vụ việc dân sự phát sinh tại Tòa án nhân dân trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đơn tới Tòa án có thẩm quyền đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề tranh chấp, các yêu cầu không có tranh chấp, phát sinh từ các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và được Tòa án thụ lý theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự”36.
Nghiên cứu sinh cho rằng các quan điểmnêu trên chưa hoàn toàn chính xác. TCLĐ có thể đượcgiải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau như thương
35 Nguyễn Hồng Nam (2018), Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự cóyếu tốnước ngoài, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 25.
36 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình “Luật Tố tụng dân sự Việt Nam”, NXB Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam, trang 18.
lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án. Khi yêu cầu Tòa án giải quyết, người khởi kiện phải có đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án xem xét thụ lý VALĐ song không phải cứ có đơn khởi kiện ra Tòa án đã là VALĐ. TCLĐchỉ được xác địnhlà VALĐchỉkhi tranh chấp đó đáp ứng cácđiềukiện thụ lý vàđược Tòa án thụ lý, vào sổ thụ lý vụ án thì khi đó mới được xác định là VALĐ. Trong giai đoạn khởi kiện, Tòa án đang xem xét các điều kiện thụ lý thì chưa thểxác địnhđólà VALĐ bởi tranh chấp đó không biếtcó đủ điều kiện để Tòaán thụ lýhay Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Cũng có trường hợp Toà ánđã có thông báo thụ lý vụ án nhưng sau đóphát hiện vụviệc không thuộc thẩm quyền giải quyết, chuyển vụ việc cho Toà án có thẩm quyền. Khi đó, Toà án có thẩm quyền mớixem xét và thụlý lại. Chỉ khi nào việc khởi kiện của người khởi kiện được Toà án có thẩm quyền thụ lý thì khi đó mới hình thành VALĐ.
Từđó, có thể đưa ra khái niệm về VALĐ như sau: “VALĐ là các TCLĐ được Tòa án có thẩm quyền thụ lý, giải quyết theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy địnhđối với đơn khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.
– Đặc điểm (dấu hiệu) của vụ án lao động
Nhận diện đặc điểm hay dấu hiệu của vụ án là công việc rất quan trọng đối với Toà án, bởi xác định sai vụ án là dân sự, kinh doanh – thương mại, hành chính hay lao động thì sẽ sai về thẩm quyền, áp dụng sai quy định pháp luật được áp dụng đểgiải quyết vụ án, nhất là khi các quan hệ luôn có sự giao thoa, đan xen và khó có thể tách bạch rõ ràng. Để nhận diện thế nào là VALĐ và phân biệt VALĐ với các vụ án khác, người ta thường dựa vào một số đặc điểm, dấu hiệu sau đây:
Thứ nhất, về dấu hiệu nhận diện hình thức của vụ án lao động.
Để phân biệt các vụ án khác nhau (là dân sự, kinh doanh – thương mại, laođộng hay hành chính) dù ở bất cứ quốc gia nào, Toà án thường có quy định về cách thức xácđịnhcác loại án này.Mụcđích của việc quy định này làđể nhằmphụcvụcông tác quản lý hoạtđộng xét xử,thống kê. Vì thế, chúng ta có thể nhận diện làVALĐ thông qua ký hiệu đượcthểhiện trong các văn bản tố tụng mà Toà án ban
hành trong quá trình xét xử. Ở Việt Nam, VALĐđược kýhiệu tắt trong các văn bản tố tụng do Toà án ban hành là LĐ, kinh doanh thương mại ký hiệu tắt là KDTM, dân sự ký hiệu tắt là DS. Nhìn vào thông báo thụ lý, quyết định đưa vụ án ra xét xửhay bản án của Toà án, chúng ta dễ dàng nhận diện đó là VALĐ hay vụ án khác.
Các bên tranh chấp của VALĐđược gọilàđươngsự.Khi Toà án thụ lý VALĐ, người khởi kiện trở thành nguyên đơn, người bị kiện là bị đơn. Bên cạnh đó, kết quảgiải quyết vụ áncủaToà án về nội dungluôn đượcthể hiện bằng các bản án hoặc quyết định công nhận sựthoả thuận của các đương sự.Đây cũng là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt VALĐ với việc lao động.
Thứ hai, về bản chất của vụ án lao động
Như trên đã phân tích, VALĐ phát sinh từ TCLĐ. Để nhận diện bản chất vụán có phải là VALĐ hay không, người ta phải nhận diện, đánh giá xem tranh chấp giữa các bên có phải là TCLĐ không? TCLĐ sẽ được nhận diện, xác định thông qua các dấu hiệu, đặc điểm sau đây.
+ Một là, về chủ thể của tranh chấp lao động.
Chủ thể là dấu hiệu quan trọng, đầu tiên khi nhận diện VALĐ. Chủ thể của TCLĐ thông thường là chủthể của QHLĐ và trong một số trường hợp là các chủthể trong quan hệ có liên quan đến QHLĐ. Bởi TCLĐ là tranh chấp phát sinhtừcác mâu thuẫn xung đột giữa các chủ thể củaQHLĐ và các quan hệ có liên quan đến QHLĐ. TCLĐ gồm hai loại TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể. Do đó tùy theo từng loại tranh chấp mà chủ thể tranh chấp ở đây có thể là giữa NLĐ với NSDLĐ, giữa tổ chức đại diện NLĐ với NSDLĐ hoặctổ chức đại diện NSDLĐ. Ngoài ra trong một số trường hợp chủ thể của TCLĐ còn thể xảy ra giữa một số chủ thể không phải là chủ thểcủa QHLĐ như giữa tổ chức đưa NLĐ đi làm việc có thời hạnở
nước ngoài với NLĐ, giữa DN thuê lại lao động với NLĐ thuê lại…
+ Hai là, về nội dung tranh chấp lao động.
Không phảitất cảmọi tranh chấp giữa cácchủ thểtrong QHLĐ đều là TCLĐvà từđó phát sinh VALĐ. Tranh chấp giữa các chủ thể của QHLĐ chỉ đượcxác
định là TCLĐ nếu nộidung của nó liên quan đến quyền, nghĩa vụ,lợi ích của các bên trong QHLĐ nhưvề việc làm, tiền lương, BHXH, quyền lợi của các bên khi chấm dứt HĐLĐ, trợ cấp thôi việc… Những tranh chấp nếu xảy ra giữa các chủ thểcủa QHLĐ nhưng không liên quan đến nội dung của QHLĐ thì cũng không được xác định là TCLĐ. Chẳng hạn như NLĐ vay tiền NSDLĐ. Khi phát sinh tranh chấp giữa các bên về việc vay tiền này thì đó là tranh chấp dân sự, không phải là TCLĐ.
+ Ba là, về quan hệ phát sinh tranh chấp lao động.
TCLĐ phát sinh từQHLĐ hoặc quan hệ liên quan đến QHLĐ. QHLĐ bao gồm QHLĐ cá nhân, QHLĐ tập thể. TCLĐ bao gồm TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể. TCLĐ cá nhân thường gắn với HĐLĐ. TCLĐ tậpthể thường gắn với thương lượng tập thể, TULĐTT. Để xác định tranh chấp giữa các bên có phải là TCLĐ cánhân hay không, Toà án thường yêu cầucác bên tranh chấp phải cung cấp bản HĐLĐ. Trường hợp không có HĐLĐ bằng văn bản thì Toà án sẽ căn cứvào các tình tiết, sự kiện tronghồ sơ vụ án đểxác định, đánh giá xem giữa các bên có tồn tại QHLĐ trước khi tranh chấp được khởi kiện tại Toà án không thông qua các dấu hiệu mà các bên đã thoả thuận về công việc phải làm, tiền công và đặc biệt làyếu tốphụ thuộc về quản lý, điều hành của bên thực hiện công việc đối với bên trả tiền.
Tuy nhiên đối với TCLĐ tậpthể, không phải TCLĐtậpthểnào cũng đượcđưa ra Tòa án giải quyết. Tòa án chỉ tiến hành giải quyết TCLĐ tập thể về quyền, không giải quyết TCLĐtập thể vềlợi ích. Bởi TCLĐtập thể vềquyền là tranh chấp trong trường hợp có vi phạm pháp luật, một bên tranh chấp cho rằng bên kia đã hiểu sai hoặc thực hiện không đúng pháp luật hoặc cam kết thỏa thuận giữa các bên nên có căn cứ, cơ sở để Tòa án giải quyết, ra phán quyết. Khác với TCLĐ tập thểvề quyền, TCLĐ tập thể về lợi ích là tranh chấp phát sinh trong trường hợp không cóvi phạm pháp luật, thường là trong quá trình các bên thương lương tập thể, tập thểlao động muốncó được lợiích cao hơn. Bởi vậy không thể đưa ra Tòa án giải quyếtđể đưa ra phán quyết mà chỉ có thể giải quyết bằng các phương thức thương lượng, hòa giải, trọng tài và nếu không giải quyết được thì tập thể lao động tiến hành đình công để gây sức ép với NSDLĐ.
1.1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của việc lao động –
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Pháp luật Việt Nam về Thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ việc Lao động


