Pháp luật về tổ chức tín dụng là hợp tác xã

Pháp luật về tổ chức tín dụng là hợp tác xã

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống các TCTD là HTX ở Việt Nam được thành lậptừnăm 1993 với đề án thí điểm thành lập hệ thống QTDND thay thế cho hệ thống HTX tín dụng bị suy yếu và sụp đổ. Tính đến thờiđiểmhiện tại hệ thống TCTD là HTX đã ra đời và tồn tại trong khoảng thời gian hai thập kỷ, mặc dù tồn tại với quy mô nhỏvề vốn, phạm vi hoạt độnghạn chế nhưng với sốlượng 1182 QTDND vớisố lượng thành viên là

1.711.618 (bình quân 1.448 thành viên/1 quỹ)1, hệ thống TCTD là HTX chiếm mộtvịtrí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Thực trạng hoạt động của hệ thống các TCTD là HTX trong thời gian qua cho thấy, các TCTD là HTX đã có những đóng góp rất lớnđối với việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đặc biệt là ở các địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa nơi mà mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch của các NHTM chưa vươn tới.

Bên cạnhnhững kết quả đạt được,tổ chức và hoạt động của hệ thống TCTD làHTX cũng phát sinh nhiều vấnđềcần giải quyết, gồm: Hiện tượng các QTDND phát triển với quy mô lớn, địa bàn hoạt động quá rộng vượt khả năng quản lý; có nhiều sai phạm trong cho vay; công tác quản trị, điều hành, kiểm soát chưa tuân thủ quy định; mối liên kết hệ thống bị xem nhẹ và đặc biệt là hiện tượng một sốQTDND được tổchức và hoạt độngxa rời nguyêntắc“vìthành viên và xuất phát từ thànhviên”, nguyên tắc quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của HTX nói chung và TCTD là HTX nói riêng. Thực trạng trên đãđặtra một sốcâu hỏiliên quan đếnTCTD làHTX, cụ thể như: Có nên duy trì loại hình TCTD là HTX hay không? Liệu những ưuđãi củapháp luậtđốivới các TCTD là HTX đã tạo nên một sân chơi không bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, mà cụ thể là giữa các loại hình TCTD với nhau?

Xuất phát từ thực tế là hầu hết các nước trên thế giới dù là nước đang phát triển

hay nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Ca Na Đa, Đức, Hà Lan…đềuđang duy trì và phát triển loại hình TCTD được tổ chức dưới mô hình HTX. Đối với Việt Nam,

1 Nguồn số liệu: Hiệp hội QTDND Việt Nam (2020), Báo cáo kết quả hoạt động năm 2020 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2020.

2

một nền kinh tế đang phát triển đi lên từsảnxuất nông nghiệp là chủ yếu, loại hình kinh tế tập thể ra đời, tồn tại trong một thời gian khá dài và có những đóng góp rất to lớn đốivới kinh tế – xã hội, thì việc duy trì và phát triển loại hình TCTD là HTX làđiều cần thiết. Chính vìthế, Đề án “cơ cấucấulại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011- 2015”2 đã xác định chủ trương “Tiếp tục hoàn thiện mô hình QTDND 2 cấp hiện nay gắn liền với tăng cường các thiết chế an toàn hoạt động và tạo điều kiện thuận lợi cho QTDND phát triển. Đẩy mạnh chấn chỉnh, củng cố và nâng cao mức độ an toàn, hiệu quả các quỹ tín dụng nhân hiện có đi đôi với tiếp tục mở rộng vững chắc các QTDND mới ở khu vực nông thôn; bảo đảm QTDND tuân thủ đúng theo quy định của Luật các TCTD và Luật TX; tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cùng có lợi, hợp tác và phát triển cộng đồnghướngtới mục tiêu chủ yếu tương trợ giữa các thành viên của QTDND để góp phần xóa đói, giảm nghèo, phát triển nông nghiệp, nông thôn và hạn chếtình trạng cho vay nặng lãi”. Sau hơn 08 năm thực hiện, hệ thống các TCTD là HTX đã có những chuyển biến tích cực: Việc chuyển đổi QTDND trung ương thành Ngân hàng HTX Việt Nam đã biến mô hình QTDND 3 cấp thành mô hình 2 cấp với tổ chức đầu mối là Ngân hàng hợp tác Việt Nam; mối liên kết hệ thốngđược củng cố và nâng cao; nhiều vấn đề trong tổ chức và hoạt động của hệ thống QTDND được chấn chỉnh, củng cố. Tuy nhiên, đánh giá một cách toàn diện, vấn đề tổchức và hoạtđộngcủa hệ thống TCTD là HTX vẫn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, hiện tượng các TCTD là HTXđược tổchức và hoạt động không tuân thủ các nguyên tắcđặc thù của HTX vẫn tồn tại và hơn nữa là hiện tượng các doanh nghiệp núp bóng QTDND để được hưởng các chính sách ưu đãi của pháp luật đối với các TCTD là HTX. Nguyên nhân chính của những hạn chế bất cập trên xuất pháttừsựthiếu vắng một hệthống pháp luậtđồngbộ, các quy định của pháp luậtđiềuchỉnh việc tổ chức vàhoạt độngcủa hệthống TCTD là HTX được quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau; các văn bản quy phạm pháp luật thường xuyên được sửa đổi, bổ sung dẫn đếntình trạng pháp luật thiếu tínhổnđịnh cầnthiết, thiếu nhất quán, còn mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật; nhiều vấn đề được quy định chưa hợp lý cần phải sửa đổi.

2 Ban hành kém theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ Tướng Chính phủ phê duyệtđề án “Cơ cấulại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015”

3

Những lý do trên chothấy sựcầnthiết phải có những nghiên cứu chuyên sâuvề các TCTD là HTX dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn pháp lý. Chính vì thế, nghiên cứu sinh lựa chọn vấnđề “Pháp luật về tổ chức tín dụng làhợp tác xã”làm đề tài luận án tiến sĩ.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Luận án là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về TCTD là HTX và pháp luật về TCTD là HTX; trên cơ sở các vấn đề lý luận, đánh giásựphù hợp cũng như những tồn tại, hạn chế trong các quy định pháp luật hiện hành vềTCTD là HTX cũng như chỉ ra những nguyên nhân của những hạn chế, tồn tạicủa pháp luật thực định; từđó đề xuất những giảipháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật điều chỉnh TCTD là HTX. Với mục đích nghiên cứu trên, nhiệm cụ nghiên cứu của Luận án được xác định bao gồm:

– Làm rõ nhữngđề lý luận cơ bản về TCTD là HTX và pháp luật điều chỉnh TCTD là HTX, bao gồm: Khái niệm TCTD là HTX, nhữngđặc thù của TCTDT làHTX so với các loại hình TCTD khác; các loại hình TCTD là HTX; vai trò của TCTD là HTX trong nền kinhtế; hệthống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh TCTD làHTX, nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với TCTD là HTX và các yếu tố chi phối,ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh TCTD là HTX.

– Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và thực tiễn thi hành pháp luật về TCTD làHTX, từ đó chỉ ra những điểm tích cực và những hạn chế, bất cập cần hoàn thiện, đồng thời tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh TCTD là HTX.

– Phân tích, làm rõ các quan điểmhoàn thiện pháp luật về TCTD là HTX,đề xuất các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về TCTD là HTX ở Việt Nam.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu các quyđịnhcủa pháp luật điều chỉnh loại hình TCTD được tổ chức dưới mô hình HTX, trong đó xác định cụ thể:

Về nội dung: Pháp luật về TCTD là HTX là một vấn đề rất rộng với nhiều nội dung. Luận án nàysẽchỉđi vào nghiên cứu những vấnđềpháp lý quan trọng nhất,

4

những vấn đề mà thực trạng quy định cũng như thực tiễn thi hành còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế. Cụ thể, luận án sẽ nghiên cứu, giải quyết 05 (năm) vấn đề:

– Pháp luật về mô hình tổ chức hệ thống TCTD là HTX; – Pháp luật về thành lập TCTD là HTX;

– Pháp luật về cơ cấu tổ chức quản trị, điều hành TCTD là HTX; – Pháp luật về hoạt động của TCTD là TX;

– Pháp luật về tổ chức lại, giải thể, phá sản TCTD là HTX.

Về không gian: Luận án nghiên cứu pháp luật về TCTD là HTX ởViệt Nam.Để cóđược đầy đủcơsở lýluận và thực tiễn để phân tích đánh giá các quy định của pháp luật cũng như đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quyđịnh của pháp luật về TCTD là HTX, trong quá trình nghiên cứu, luận án sẽ tham khảo kinh nghiệm xây dựng và thực thi pháp luật điều chỉnh TCTD là HTXcủa một số nước.

Về thời gian: Luận án sẽ nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật vềTCTD là HTX và thực tiễn thi hành trong khoảng thời gian từnăm 1993đếnnay, trong đó tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ năm 2010 đến nay.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Là một đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học pháp lý, để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề tài đặt ra, các phương pháp nghiên cứu khác nhau đã được sử dụng một cách phù hợp với yêu cầu của đề tài như: Phương pháp hệ thống hóa; lịch sử; phân

tích; tổng hợp khái quát hóa; phỏng vấn chuyên gia; so sánh luật; khảo sát; thống kê… Các phương pháp này được vận dụng để nghiên cứulàm rõ từng nội dung cụthể, nhằm hoàn thành những nhiệm vụ đã xác định của luận án. Cụ thể:

– Các phương pháp nghiên cứu: Tiếp cậnlịch sử, phân tích, tổng hợp và khái quát hóa được sử dụng để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về TCTD là HTX, pháp luật về TCTD là HTX

– Để đánh giá thực trạng pháp luật về TCTD là HTX từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật cũng như các khó khăn vướng mắc trong quá trình thực

5

hiện pháp luật nghiêncứusinhsửdụng các phương pháp nghiên cứu:Hệthống hóa; tiếp cận lịch sử; phân tích, tổng hợp; phỏng vấn chuyên gia; so sánh luật; khảo sát và thống kê.

– Phương pháp phân tích, tổnghợpvà khái quát hóa đượcsửdụng để xây dựng định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về TCTD là HTX.

5. Những điểm mới của luận án

– Luận án làm rõ một số vấn đề lý luận về TCTD là HTX, bao gồm: Khái niệm TCTD là HTX; các loại hình TCTD là HTX; mô hình tổ chức, mốiliên kết hệ thống giữa các loại hình TCTD là HTX.

– Luận án nghiên cứu thực trạng và thực tiễn thi hành pháp luật về TCTD là HTX và đưa ra những phân tích, đánh giá về những ưu điểm cũng như những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật điều chỉnh TCTD là HTX.

– Luận án xây dựng quan điểm hoàn thiện và đề xuất các giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện pháp luật về TCTD là HTX.

6. nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án là công trình khoa học chuyên sâu, toàn diện có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Kết quả nghiên cứu của Luận án là nguồn tài liệu hữu ích đối với các cơquan Nhà nước có thẩm quyền trong việc đánh giá hiệu quả của các quy định pháp luật về TCTD là HTX, làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật và là nguồn tài liệu có giátrị đối với các cơ sở nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập.

Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ các vấnđề lýluận về TCTD là HTX và pháp luật về TCTD là HTX, Luận án đã cung cấp mộtbức tranh tổng quát về thực trạng pháp luật về TCTD là HTXtừđó chỉ ra những hạn chế, bất cập và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về TCTD là HTX.

7. Kết cấu của luận án

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần mở đầu, phần tổng quan về vấn đề nghiên cứu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của Luận án bao gồm 3 chương:

6

Chương 1. Lý luận về TCTD là HTX và pháp luật về TCTD là HTX

Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về TCTD là HTX Chương 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về TCTD là HTX

7

PHẦN TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án 1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

27

2. Đánh giá khái quát về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

Qua nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố về TCTD là HTX ở trong và ngoài nước, có thể rút ra một sốđánh giávề kết quả của các công trình khoa học nói trên như sau:

2.1. Đánh giá khái quát về tình hình nghiên cứu ngoài nước

Thứ nhất, những vấn đề đã được giải quyết mà luận án sẽ kế thừa và tiếp tục phát triển

Một là, các nghiên cứu ngoài nước đã làm rõ các vấn đề liên quanđến nguồn gốc, vai trò của loại hình TCTD là HTX, chứng minh được sự ra đời và tồn tại của loại hình TCTD là HTX là cần thiết và tất yếu.

Hai là, các công trình nghiên cứu về TCTD là HTX ngoài nước đãphân tích,đánh giá, làm rõ đượcnhững đặc thù, sựkhác biệt của TCTD là HTX so với các NHTM. Các tácgiảđã chứng minh đượcsựcần thiết phải có mộtquy chế pháp lý riêng đối với các TCTD là HTX, bên cạnh quy chế pháp lý điều chỉnh các NHTM.

Ba là, một số vấn đề pháp lý cụ thể liên quan đến kiểm soát và quản lý TCTD làHTX như cơ chế kiểm soát, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động, cơ cấu tổ chức, ngườiđại diện là luật sư trong tranh tụng, mối liên hệ giữa các thành viên đã được đề cập và giải quyết. Với những vấn đề pháp lý nói trên, các tác giả đã phần nào phân tích, đánh giá, chỉ ra được những tồn tại của pháp luật và đề xuất các giải pháp hoàn thiện.

Bốn là, các nghiên cứu ngoài nước đã làm rõ các vấn đề liên quan rủi ro trong hoạt độngcủa các TCTD là HTX cũng như những cơ hội, thách thức đối với loại hình TCTD là HTX.

Thứ hai, những vấn đề chưa được giải quyết hoặc cần phải tiếp tục nghiên cứu Một là, về phạm vi nghiên cứu, hầu hết công trình nghiên cứu ngoài nước về

các vấn đề liên quan đến TCTD là HTXđều đặt trong bối cảnh của một quốc gia cụthể và phần lớn là ở các nước có nền kinh tế phát triển. Thực tế đó đặt ra vấn đề, để có được cái nhìn tổngthể đối vớiTCTD là HTX và đưa ra các giải phápthúc đẩy sựphát triển của hệthống các TCTD là HTX trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển và kém phát triển, cần phải tiếp tục nghiên cứu những vấn đề tương tựở các quốc gia khác hay trên một phạm vi rộng hơn.

28

Hai là,về mặtthời gian, các nghiên cứu ngoài nước về TCTD là HTXđược thực hiện từ nhiều năm trước đây, ở thời điểm quá xa so với hiện tại. Chính vì vậy, đến thời điểm hiện tại nhiều công trình nghiên cứu hầu như không còn giá trị khoa học và thực tiễn.

Ba là, các nghiên cứu ngoài nước được thực hiện chủ yếu dưới cấp độ là các bài báo khoa học. Chính vì vậy, mỗi nghiên cứu đề cập giải quyết một vấn đề nhỏ liên quan đến TCTD là HTX. Thực tếcác nội dungđượcđề cập và giải quyết trong các công trình nghiên cứu ngoài nước còn khá hạn chế, nhiều vấn đề chưa được đề cập vàgiải quyết.

Bốn là, về nội dung của các công trình nghiên cứu ngoài nước đã tập trung vào một sốvấn đề như: Lý luận về TCTD là HTX; mô hình tổchức hệthống các TCTD làHTX; thành lập TCTD là HTX; cơ cấutổchức quản trị, điều hành TCTD là HTX; hoạt độngcủa các TCTD là HTX. Tuy nhiên, các vấn đề được nghiên cứu còn ở mứcđộ khái quát, chưa đi vào nghiên cứu các nội dung cụ thể, các quy định cụ thể. Còn rất nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến TCTD là HTX chưa được nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu nước ngoài như: Quy chế phép pháp lý về tổ chức lại, giải thể, phá sản TCTD là HTX.

2.2. Đánh giá khái quát về tình nghiên cứu ở trong nước

Thứ nhất, những vấn đề đã được giải quyết mà luận án sẽ kế thừa và tiếp tục phát triển

Một là, các công trình nghiên cứu trong nước đã phân tích, đánh giá được những đặc thùvềtính chất, mục tiêu hoạt động, hình thức pháp lý của TCTD là HTX so vớicác loại hình TCTD khác; giải quyết được một số khái niệm cơbảnnhưQTDND, QTDND cơ sở, hệ thống QTDND, TCTD hợp tác.

Hai là, các công trình nghiên cứu trong nước đã nghiên cứu được lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống các TCTD là HTXởViệt Nam, phân tích, đánh giá vàchứng minh vai trò quan trọng của loại hình TCTD là HTX nói chung và QTDND nói riêng trong phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là ở các địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa nơi mà hệ thống chi nhánh, phòng giao dịch của các NHTM chưa vươn tới.

29

Ba là, các nghiên cứu trong nước đãphân tích được những cơ hội, thách thứcđặt ra đối với TCTD là HTX trong giai đoạnhiện nay, cũng như quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển hệ thống các TCTD là HTX.

Bốn là, các vấnđề liênquan đến tổ chức, hoạt động, các giải pháp bảo đảm an toàn, và tính liên kết trong hệ thống các TCTD hợp tác đã được các tác giả phân tích,đánh giá và đưa ra các giải pháp hoàn thiện. Mặc dù là các công trình nghiên cứu dưới góc độ kinh tế học nhưng các tác giả cũng đã phần nào phân tích, đánh giá các quyđịnh của pháp luật có liên quan và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật.

Năm là,vấnđềkinh nghiệm hoàn thiệntổchức, hoạtđộng,tính liênkếtvà các biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động của hệ thống các TCTD là HTX của một sốnước như Canada, Đức đã được nghiên cứu để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Thứ hai, những vấn đề chưa được giải quyết hoặc cần phải tiếp tục nghiên cứu Bên cạnh nhữngkết quả đạt được nêutrên,kết quảnghiên cứu các công trình

nghiên cứu trong nước về TCTD là HTX cho thấy còn một số hạn chế và mộtsố vấnđề chưa được giải quyết thấu đáo cần tiếp tục nghiên cứu.

Một là, hầu hết các công trình nghiên cứu trong nước về TCTD là HTXđược thực hiện dưới góc độ kinh tế. Các công trình nghiên cứu về TCTD là HTX dưới góc độ luật học không chỉít về sốlượng mà còn hạn chế về cấp độ vàchiều sâu. Các nội dung dựkiến nghiên cứu của Luận án mặc dù đã được đề cập trong các nghiên cứu trong nước nhưngđó là đề cậpdướigóc độ kinh tế,nếu có đượcnhìn nhận dưới gócđộ luật học, thì mới chỉ dừng lại ở việc mô tả quyđịnh của pháp luật. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ, tổng thể và chi tiết các quy định của pháp luậtvề TCTD là HTX,để từđó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quyđịnh pháp luật là hết sức cần thiết.

Thứhai, về mặt thời gian, các văn bản pháp luật cơ bản điềuchỉnh TCTD làHTX là Luật các TCTD ban hành năm 2010, Luật HTX ban hành năm 2012, trong khiđó các công trình nghiên cứu về TCTD là HTX trongnước hầu hếtđược thực hiện từnăm 2010 trở về trước. Chính vì thế, các vấn đề pháp lý được các tác giả viện dẫn vàphân tích, đánh giá đến nay đã không còn giá trị thực tiễn.

Thứba, các TCTD là HTXtồntại mang tính hệ thống, trong đó đứng ở vị trí trung tâm với vai trò liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính và điều hòa vốn là Ngân hàng

30

HTX Việt Nam (trước đây là QTDND TW). Chính vì vậy, việc nghiên cứu về hai loại hình chủ thể trên trong mối liên kết hệ thống để có được cái nhìn tổng thể về toàn bộ hệ thống các TCTD là HTX là điều cần thiết, nấn đề này đã được các nghiên cứu dưới góc độ kinh tế học tiếp cận và giải quyết. Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện dưới góc độ luật học, thì mới chỉ dừng lại ở việc tiếp cận nghiên cứu về một loại chủ thể là QTDND cơ sở.

3. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứuvà dự kiến kết quả nghiên cứu của đề tài

3.1. Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, Luận án cần phải trả lời được các câu hỏi nghiên cứu sau:

– Về mặt lý luận, TCTD là HTX làmộtdoanh nghiệp hay là một chủ thể độc

lập với doanh nghiệp?

– Các TCTD là HTX được tổ chức và hoạt động với tư cách là các chủthể độc lập, không tồn tạimốiliên kết hệthống giữa các TCTD là HTX hay các TCTD là HTX được tổ chức và hoạt động trong mối liên kết hệ thống nhằm bảo đảm sự hiệu quả và an toàn trong tổ chức và hoạt động?

– Việt Namđã tạo lập được một hệ thống quy phạm pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ và phù hợp điều chỉnh tổ chức và hoạt động của hệ thống các TCTD là HTX hay chưa?

– Có thực sự tồn tại các hiện tượng: (i) Một số TCTD là HTX được tổ chức và hoạt động xa rời các nguyên tắc đặc thù của HTX; (ii) Các doanh nghiệp núp bóng QTDND để được hưởng các chính sách ưu đãi của pháp luật đối với các TCTD là HTX.

3.2. Giả thuyết nghiên cứu

Luận án được triển khai với các giả thuyết nghiên cứu sau đây:

(1) TCTD là HTX làmộtloại hình doanh nghiệpđượctổchứcdướimô hình HTX; các TCTD là HTXđượctổchức trong mốiliênkếthệthống nhằmbảođảmsựhiệu quả và an toàn trong tổ chức và hoạt động; pháp luật về TCTD là HTX ở Việt Nam chưa đủchặt chẽ, còn tồn tại nhiệu hạn chế,bất cậpvà đó là một trong những nguyên

 

Pháp luật về tổ chức tín dụng là hợp tác xã
Pháp luật về tổ chức tín dụng là hợp tác

nhân dẫnđến cáchiện tượng: (i) Các TCTD là HTXđược tổ chức vàhoạt độngkhông tuân thủ các nguyêntắcđặc thù của HTX; (ii) Các doanh nghiệp núp bóng QTDNDđểđược hưởngcác chính sách ưu đãi của pháp luật đối với các TCTD là HTX.

(2) TCTD là HTX không phải là một loại hình doanh nghiệp do sự khác biệt về nguyên tắctổ chức và hoạt động;các TCTD là HTX được tổ chức và tồn tại với tưcách là cácchủthể độc lập, không có có mối liên kết hệ thống giữa các TCTD là HTX; Việt Nam đã tạolập được một hệthống quy phạm pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ vàphù hợp điều chỉnh tổchức và hoạt động của hệ thống các TCTD là HTX; thực tếkhông tồn tại các hiện tượng: (i) Các TCTD là HTX được tổ chức, hoạt độngkhông tuân thủ các nguyên tắc đặc thù của HTX; (ii) Các doanh nghiệp núp bóng QTDNDđể được hưởng các chính sách ưu đãi của pháp luật đối với các TCTD là HTX.

3.3. Dự kiến kết quả nghiên cứu của luận án

Thứs nhất, Luận án sẽ là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ Luận án tiến sỹ về pháp luật điều chỉnh TCTD là HTX ở Việt Nam.

Thứhai, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận về TCTD là HTX và pháp luật về TCTD là HTX Luận án rút ra được các khái niệm TCTD là HTX, ngân hàng HTX, QTDND, hệ thống các TCTD là HTX.

Thứba, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về TCTD là HTX theo năm (05) nhóm vấn đề bao gồm: Mô hình tổ chức hệ thống; quy chế thành lập; cơ cấutổ chức quản lý, điều hành; hoạt động của TCTD là HTX; tổchức lại, giải thể, phá sản, Luận án chỉ ra những ưu điểm cũng như những hạn chế, bất cập của pháp luật.

Thứtư, trên cơ sở kết quả nghiên cứu về lý luận và thực trạng pháp luật Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về TCTD là HTX.

32

KẾT LUẬN PHẦN TỔNG QUAN

1. TCTD là HTX là một chủ đề thu hút được khá nhiều sự quan tâm của các nhàkhoa học. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu về TCTD là HTXđược thực hiện dưới góc độ kinh tế, số lượng các công trình nghiên cứu về TCTD là HTXdưới góc độ luật học còn hết sức khiêm tốn.

2. Về mặt thời gian, hầu hết các công trình nghiên cứu về TCTD là HTX trong và ngoài nước được thực hiện trước thờiđiểmnăm 2010, đến thờiđiểmhiện tại đã không còn nhiều giá trị khoa học và thực tiễn.

3. Các công trình nghiên cứu về TCTD là HTX trong và ngoài nước đã cónhững đóng góp nhất định,giải quyết được một số vấn đề liên quan đến nguồn gốc, vai trò và nhữngđặctrưng cơ bảncủaTCTD là HTX. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề,đặc biệt làcác vấn đề pháp lý liên quan đến TCTD là HTX chưa được giải quyết hoặc chưa được giải quyết triệt để.

4. Việc nghiên cứu các vấn đề pháp lývề TCTD là HTX, đánh giá thực trạng quy định, thực tiễn thi hành pháp luật về TCTD là HTX và đề xuất những giải pháp hoàn thiện các quyđịnh pháp luật về TCTD là HTXở Việt Nam làcần thiết và không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã được thực hiện.

33

CHƢƠNG 1

L LUẬN VỀ TỔ CHỨC TÍN DỤNG LÀ HỢP TÁC XÃ

VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH TỔ CHỨC TÍN DỤNG LÀ HỢP TÁC XÃ

1.1. Lý luận về tổ chức tín dụng là hợp tác xã1.1.1. Khái niệm tổ chức tín dụng là hợp tác xã

Nghiên cứu lịch sử ra đời của loại hình TCTD là HTX cho thấy: do khó tiếp cận với nguồn vốn của các NHTM, những ngườinông dân, công nhân, thợ thủ công, và tiểu thương đã cùng nhau thành lập loại hình TCTD được tổ chức dưới mô hình HTX với mục đích khai thác được nguồn vốn tại chỗ, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo vàhạn chế cho vay nặng lãi. Tuy nhiên, tên gọicủa loại hình TCTD nàyđược sửdụng không thống nhất giữa các quốc gia, ở Đức quốc gia được coi là cái nôi của loại hình TCTD là HTX sửdụng tên gọingân hàng HTX; ở Canada nơi có mô hình TCTD là HTX rấtphát triển, sửdụng tên gọi quỹtín dụng (Desjadins); ởHà Lan sửdụng tên gọi ngân hàng HTX (Rabobank); ở Trung Quốc sử dụng tên gọi quỹ tín dụng; ở Thái

Lan có hai mô hình TCTD là HTX là quỹ tín dụng, HTX tiết kiệm và tín dụng…45Ở Việt Nam, loại hình TCTD là HTX cũngđược quyđịnhvới các tên gọi khác nhau trong các vănbảnluật qua các thời kỳ. Trong Pháp lệnh ngân hàng, HTX tín dụng vàcông ty tài chính năm 1990 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh 1990) , TCTD là HTX được quy định với tên gọi HTX tín dụng; Quyết định số 390/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 7 năm 1993 sử dụng tên gọi QTDND; Luật TCTD 1997 sử dụng tên gọi TCTD hợp tác, và Luật TCTD 2010 sử dụng tên gọi TCTD là HTX (Để tiện cho việc nghiên cứu, trong Luận án này têngọiTCTD là HTX sẽđược sửdụng thống nhất cho mọi giai đoạn phát triển của loại hình TCTD này).

Để làm rõ khái niệm TCTD là HTX, cần phân biệt khái niệm TCTD là HTX với các khái niệm QTDND TW, QTDND khu vực, QTDND cơ sở, ngân hàng HTX trungương, ngân hàng HTX cấp khu vực, ngân hàng HTX cấp cơ sở,ngân hàng HTX,

45 Bùi Chính Hưng (2004), tlđd, tr.21; Trần Quang Khách (2004), tlđd, tr. 7-8; Nguyễn Đình Lưu (2008), tlđd, tr. 8-9; DoãnHữuTuệ (2010), tlđd, tr. 11.

34

QTDND. Nếu như TCTD là HTX là một khái niệm chung để chỉ các loại hình TCTDđược tổ chức dưới mô hình HTX tồn tại trong mối quan hệ hệ thống, thì các khái niệm nói trên là để chỉ một loại hình TCTD cụ thểtrong hệ thống các TCTD là HTX của mỗi quốc gia.

Ở Việt Nam, pháp luật trong từng thời kỳ đã sử dụng tên gọi không giống nhau cho loại hình TCTD là HTX, đồng thời cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về loại hình TCTD là HTX. Trong Pháp lệnh 1990, TCTD là HTX được pháp luật cho phép thành lậpvà hoạt động với tên gọiHTX tín dụng. Điều 1 Pháp lệnh 1990 quyđịnh, “HTX tín dụng là TCTD thuộc sở hữutập thể, được thành lập bằng vốn đóng góp của xã viên, huy động các nguồn vốn của xã viên và cho xã viên vay”. Nghiên cứu lịch sửhình thành và phát triển của TCTD là HTX nói chung và HTX tín dụng nói riêng ở Việt Nam cho thấy, quy định trên là để chỉ loại hình HTX tín dụng đã ra đời và

tồn tại ở Việt Nam từ năm 1956 trên cơ sở Chỉ thị số 15/CT-TU ngày 27/3/1956 của Ban bí thư TW Đảngvề việctổ chức xây dựng HTX tín dụng ở nông thôn. Sau công cuộc đổi mới kinh tế năm 1986, hệ thống ngân hàng được chuyển đổi từ mô hình một cấp sang mô hình hai cấp, các HTX tín dụng hoạt động theo cơ chế cũ (làm đại lý huyđộng tiềngửi tiết kiệm và cho vay cho NHNN) không còn phù hợp, phần lớn các HTX tín dụng phải ngừng hoạt động46. Sau năm 1993 với sựra đời của mô hình QTDND, các HTX tín dụng còn sót lạiđã thực hiện chuyển đổi sang mô hình QTDND, đánh dấu sự sụp đổ của mô hình HTX tín dụng đã tồn tại hơn 40 (bốn mươi) năm.

Mô hình QTDND ở Việt Nam hiện nay và mô hình TCTD là HTX nói chung trên thế giới có sựkhác biệt rất lớnso với mô hình HTX tín dụng đã tồn tại ở Việt Nam trước đây. Chính vì thế, khái niệm HTX tín dụng được quy định trong Pháp lệnh 1990 đã không còn đúng với khái niệm TCTD là HTX hiện nay.

Năm 1997, Luật các TCTD (sauđâygọi tắtlà: Luật TCTD 1997) được Quốc hội ban hành thay thế cho Pháp lệnh 1990. Trong Luật TCTD 1997, loại hình TCTD làHTX được quy định với tên gọi “TCTD hợp tác”. Khoản 5 Điều 20 Luật TCTD 1997 quy định, “TCTD hợp tác là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng, do

46 Trần Quang Khánh (2014), Đề tài khoa học cấp ngành, “Giải pháp cơ cấu lại hệ thống TCTD là HTX đến năm 2020 đảmbảophát triển an toàn, ổn định và bềnvững”,tr.5-7.

35

các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thànhlậpđể hoạt động ngânhàng theo Luật này và Luật HTX nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đờisống. TCTD hợp tácgồmngân hàng hợp tác, QTDND, HTX tín dụng và các hình thứckhác”. Khái niệm TCTD hợptác đượcquyđịnh trong Luật TCTD 1997 sau một thời gian áp dụng đã bộc lộ một số hạn chế.

Thứnhất, nội dung quy định quá dài nhưng lại chưa làm rõ được vấn đề TCTD hợp tác là loại hình TCTD được tổ chức dưới hình thức pháp lý là HTX, một đặcđiểm quan trọng để nhận dạng và phân biệt TCTD là HTX với các loại hình TCTD khác.

Thứhai, nghiên cứu khái niệm TCTDhợptác được quy định trong Luật TCTD 1997 có thể thấy, có hai định nghĩa về TCTD hợp tác, một định nghĩa mang tính khái quát và một định nghĩa mang tính liệt kê. Định nghĩa mang tính khái quát xác định, “TCTD hợp tác là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng, do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạtđộngngân hàng theo Luật này và Luật TX nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống”. Trong khi đó, địnhnghĩa mang tính liệt kê lại quyđịnh,TCTD hợp tác bao gồm “ngân hàng hợp tác, QTDND, TX tín dụng và các hình thức khác”. Xét về mặt lý luận, định nghĩa mang tính khái quát, tính bao hàm, tính dự liệu cao vàdo đó có thể áp dụng lâu dài và thuận lợi hơn. Tuy nhiên, để xây dựng được định nghĩa mang tính khái quát chuẩn xác rất khó khăn. Trong khi đó, định nghĩa mang tính liệt kê có tính khoa học và tính khái quát không cao nhưng lại đơn giản, tiện lợi, dễ xây dựng. Chính vì thế, trong một số trường hợp, nếu dùng cách định nghĩa mang tính khái quát mà không sát đúng với khái niệm hoặc gây nên những trở ngại nhất định cho hoạtđộng thực tiễn, thì có thể chấp nhận cách định nghĩa liệt kê trong những trường hợp

nhất thời, cụ thể nào đó47. Trong Luật TCTD 1997, khi chưa xây dựng được định nghĩa mang tính khái quát chuẩn xác nhà làm luật đã đưa ra hai định nghĩavềTCTD hợp tác.Vấnđề đặt ralà, khi đã cóđịnhnghĩa mang tính liệt kê, thì định nghĩa mang tính khái quát không còn ý nghĩa với việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn, bởi khi đó để xác định một chủ thể có phải là TCTD hợp tác không, chỉ cần xem xét nó có đượcđịnh nghĩa mang tính liệt kê nhắc tới không mà không cần phải xem xét chủ thể đó có

47 https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/02/28/134/, truy cập ngày 19/11/2016.

36

đáp ứng đầyđủ các dấu hiệu được quyđịnh trong định nghĩa mang tính khái quát. Ngoài ra, quyđịnh “các hình thức khác”tạikhoản 5Điều 20 Luật TCTD 1997 vôhình chung đã tạo điều kiện để các chủ thể có liên quan trong quá trình thực thi pháp luậtmở rộng phạm vi các đối tượngđược coi là TCTD hợp tác. Đóchính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật một cách tùy tiện, thiếu nhất quán.

Hơn nữa, trong các loại hình TCTD hợp tác cụ thể được liệt kê trong khái niệm có những loại hình màở thờiđiểmLuật TCTD 1997 có hiệu lực không tồn tại trên thực tế(HTX tín dụng) và chưa được thành lập (ngân hàng HTX). Như đã phân tíchởtrên, sau năm 1993 các HTX tín dụng đã không còn tồn tạitrên thực tế. Việc liệt kêtrong định nghĩa về TCTD hợp tác một chủ thể đã không còn tồn tại trên thực tế là một hạn chế trong kỹ thuật lập pháp. Đối với ngân hàng HTX, có lẽ nhà làm luật đãdựliệuđược chủ trương QTDND TW sẽ được chuyển đổi thành Ngân hàng HTX Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là quy định về ngân hàng HTX trong Luật TCTD 1997 chưađược áp dụng một lần nào trên thực tế cho đến khi hết hiệu lực và được thay thế bởi Luật TCTD 2010.

Về tên gọi TCTD hợp tác được quy định trong Luật TCTD 1997, có quanđiểm cho rằng không phù hợp vì theo từđiểntiếng việt “hợp tác”là động từtrong khi “HTX” là danh từ. Việc sửdụng tên TCTD hợp tác sẽ dẫn đến cách hiểu,đó là hoạtđộng hợp tác giữa các TCTD với nhau mà không phải là tên gọi của một loại hình TCTD. Quan điểm trên cũng cho rằng, tên gọi HTX tín dụnglà đểchỉ nhiều loại hình HTX hoạtđộngtrong lĩnh vực tín dụngchứkhông phải chỉ có mộthay hai loại hình như hiện tại. Chính vì thế, tác giả này cho rằng, nên sử dụng tên gọi TCTD HTX thay cho tên gọi TCTD hợptác được quyđịnh trong Luật TCTD 1997 48. Tên gọi TCTD hợp tác cần được phải nghiên cứu và trao đổi thêm, cụm từ“hợp tác”có thể được xem xét là danh từhoặc động từtrong các ngữ cảch khác nhau, ví dụ: khisửdụng cụm từ“sựhợp tác”, thì chắc chắn nó phải là danh từ chứ không thể động từ. Việc hiểu cụm từ“TCTD hợp tác” trong định nghĩa về TCTD là HTX của Luật TCTD 1997 là hoạtđộng hợp tác giữa các TCTD với nhau mà không phải là tên gọi của một loại hình TCTD có lẽ chưa đúng với ngữ nghĩa tiếng Việt.

48 VănTạo(2003), “Tổ chức và hoạt động của hệ thống QTDND với Luật các TCTD”,Tạpchí Ngân hàng, sốchuyên đề năm 2003 “Hoàn thiện Luật các TCTD trước yêu cầu tiếptục đổi mới”,tr. 52-53.

37

Văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất và đang có hiệu lực ở Việt nam, quy định về tên gọi và khái niệm TCTD là HTX là Luật TCTD 2010. Do có những ý kiến, quan điểm khác nhau về tên gọi TCTD hợp tác được quy định trong Luật TCTD 1997, Luật TCTD 2010 đã sử dụng tên gọi TCTD là HTX. Không chỉ thay đổi về tên gọi, Điều 70 Luật TCTD 2010 còn đưa ra định nghĩa mới về TCTD là HTX, theo đó, TCTD là TX là loại hình TCTD được tổ chức theo mô hình TX hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nhằm mục đích chủyếulà tương trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống. TCTD là

TX gồm ngân hàng TX, QTDND. Nghiên cứu quyđịnh của Luật TCTD 2010 về khái niệm TCTD là HTX có thể thấy một số hạn chế:

Một là, về tên gọi TCTD là HTX. Tên của một sự vật, hiện tượng phải là một danh từhoặc trong trường hợp đặc biệt, có thể có thể dùng cấu trúc danh ngữchứkhông thể là cấu trúc câu. Tuy nhiên, tên gọi TCTD là HTX là một cấu trúc câu, thậm chí là câu hoàn chỉnh với đầy đủchủ ngữ(TCTD), vị ngữ (là HTX). Điều đó cho thấy cách sửdụng tên củaLuật TCTD 2010 (TCTD là HTX) để chỉ các loại hình TCTD được tổ chức theo mô hình HTX là không phù hợp trong tiếng Việt.

Hai là, tương tựLuật TCTD 1997, khi làm rõ khái niệm TCTD là HTX Luật TCTD 2010 cũng đưa ra hai định nghĩa: định nghĩa mang tính khái quát và định nghĩa mang tính liệt kê. Định nghĩa mang tính khái quát xác định “TCTD là HTX là loại hình TCTD được tổ chức theo mô hình HTX hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nhằm mục đích chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sảnxuất, kinh doanh dịchvụ và cải thiện đời sống.” Trong khi đó, định nghĩa mang tính liệt kê lại quyđịnh,TCTD là HTX bao gồm“ngân hàng HTX, QTDND”.Điều đó có nghĩa rằng Luật TCTD 2010 chưa khắc phục được hạn chế trong cách định nghĩa của Luật TCTD 1997 như đã phân tích ở trên.

Ba là, định nghĩa về TCTD là HTX được quy định trong Luật TCTD 2010 mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các tiêu chí về hình thức tổ chức và mụctiêu hoạt động đểphân biệt TCTD là HTX vớicác loại hình TCTD khác, chưa chỉra được những đặc thù về phạm vi hoạt động, về rủi ro trong hoạt động và về tính liênkết hệthống của các TCTD là HTX.

38

Để có thể đưa rađượcmột định nghĩa đầyđủ và khoa họcvề TCTD là HTX cần phải nghiên cứu làm rõ những đặc trưng cơ bản vànổibật của loại hình TCTD này. Mặc dù, tên gọi của loại hình TCTD này không thống nhất giữa các quốc gia, thậm chí trong một quốc gia ở các thời điểm khác nhau tên gọi cũng khác nhau nhưng loại hình TCTD là HTX ở các quốc gia có chung những nét đặc thù.

Thứ nhất; TCTD là TX là doanh nghiệp tập thể được tổ chức dưới hình thức TX. Pháp luật thực định Việt Namđã từngthừa nhận HTX là một loại hình doanh

nghiệpvớiquy định “HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp”49. Tuy nhiên, quan điểm của các nhà làm luật về HTX đã thay đổi khi Luật HTX năm 2012 (sau đây gọi tắt là Luật HTX 2012) được ban hành thay thế cho Luật HTX năm 2003. Điềuđóthể hiện ở việc xóa bỏquyđịnh “HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp” trước đâyvà không còn coi HTX làmộtloại hình doanh nghiệp. Sựthayđổi trong quanđiểm lậppháp này tiếp tục đượcthể hiện trong Luật Đầu tư năm 2014vớiquyđịnh, “Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, HTX, liên hiệp HTX và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”. Định nghĩa này coi HTX là một loại tổ chức kinh tế, tồn tại song song với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. Quy định của Luật HTX 2012 và Luật Đầu tư năm 2014 cho thấy, pháp luật Việt Nam hiện nay đã không còn thừa nhận HTX là một loại hình doanh nghiệp mà khẳng định HTX là một chủ thểđộc lập, tồn tại song song với các doanh nghiệp.

Một câu hỏi đặt ra là, dưới góc độ kinh tế học, HTX là một loại hình doanh nghiệp hay là một tổ chức kinh tế độc lập và tồn tại song song với doanh nghiệp.Đểtìm kiếm câutrảlờicho câuhỏinày,cầnphải nghiên cứu, nhằm làm sángtỏvề cả phương diện lý luận và thực tiễn để tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng pháp luậtđiềuchỉnh việc thành lập,tổchức và hoạtđộngcủaloại hìnhtổchức kinh tế đặc biệt này.

Về phương diện lý luận, xung quanh câu trả lời cho câu hỏi liệu HTX có phải làdoanh nghiệp vẫn còn hai trường phái quanđiểmđối lập. Trường phái quanđiểm thứ

49Điều1 Luật HTX năm 2003

39

nhất cho rằng HTX không phải doanh nghiệp; trong khi trường phái quanđiểm thứhai lại cho rằng HTX là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt.

Đại diện cho trường phái quan điểm thứ nhất, PGS.TS. Dương Đăng Huệ, nguyên Vụ trưởng Vụ Dân sự Kinh tế, Bộ Tư pháp đã khẳng định HTX không phải là doanh nghiệp và chỉ ra ba sự khác biệt cơ bản để minh chứng cho nhận định của mình50.

Một là, lý do ra đời và mục tiêu hoạt động của HTX hoàn toàn khác với những yếu tốđó của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được thành lập là vì thị trường, còn HTX được thành lập trước hết là vì các thành viên HTX, nhằm đáp ứngnhu cầu, nguyện vọng, lợi ích chung của các thành viên. Chính vì vậy, nếu như mục tiêu hoạt động quan trọng nhấtcủadoanh nghiệp là lợi nhuận, thì đối với HTX bên cạnh mục tiêutốiđa hóa lợi ích cho các thành viên, còn hướng tới các mục tiêu cao cả khác mà doanh nghiệp không có đó là nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên của HTX.

Hai là, tư cách của người tham gia thành lập doanh nghiệp cũng khác với tưcách của những người cùng nhau thành lập HTX. Nếu như người tham gia thành lập doanh nghiệp chỉ có một tư cách duy nhất là chủ doanh nghiệp, thì với HTX thành viên luôn có hai tư cách, vừa là người chủ của HTX lại vừa là khách hàng của HTX vì thành viên HTX trực tiếp sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của HTX mà họ thành lập ra hoặc tham gia.

Ba là, quyđịnh của pháp luật về quyền biểu quyết đối với các quyết định của doanh nghiệp cũng khác với của HTX. Theo PGS.TS Dương Đăng Huệ, đối vớihầu hết các loại hình doanh nghiệp, việc biểu quyết các vấn đề trong chương trình nghị sựcủa hội đồng thành viên (công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh) hoặc củađại hội cổ đông(công ty cổ phần) của doanh nghiệp được phân bổ cho các thành viên (cổ đông) theo tỷ lệ vốn góp, thì HTX lại theo nguyên tắc bình đẳng, tất cả các thành viên đều có quyền ngang nhau, không phụ thuộc vào số lượng vốn góp.

Cùng quanđiểm với PGS.TS Dương Đăng Huệ, nguyên Thứtrưởng Bộ Kế

hoạch –Đầu tưĐặng Huy Đông phản bác lại quan điểm cho rằng, HTX về bản chất là

50 http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/TT_TINLAPPHAP/View_Detail.aspx?ItemID=622, truy cập ngày 23/11/2016.

40

doanh nghiệp với lập luận; nếu xác định HTX là một loại hình doanh nghiệp, thì không cần xây dựng Luật HTX làm gì. Tất cả các Luật HTX trênthếgiới không có nước nào quyđịnh HTX là doanh nghiệp, mà xem HTX là mô hình kinh tế dành cho những người yếu thế, người nghèo tập hợp lại để làm ăn và nơi nào có nhiều người yếu thế

trên thị trường, thì có nhiều HTX phát triển51.

Nghiên cứu quan điểm và lập luận của các nhà khoa học pháp lý tiền bối, có thểthấy cần phải bàn luận thêm để thấy rõ, liệu thực chất HTX có đúng là một loại hình tổchức kinh tế khác với doanh nghiệp.

Một là, đúng là có sựkhác biệt về mục tiêu hoạt động giữa doanh nghiệp và HTX như PGS.TS Dương Đăng Huệ đã phân tích. Tuy nhiên, ngaycảsựkhác biệt giữa mục tiêu hoạt động của hai loại hình tổ chức kinh tế này tồn tại, khó có thể phủ nhận rằng mục tiêu sâu xa, mục tiêu cuối cùng của cả hai đều nhằm đem lại lợi ích cho các chủ sở hữu của các tổ chức kinh tế này. Hơn nữa, nếu chỉ căn cứ vào mục tiêu hoạtđộng để khẳng định HTX không phải doanh nghiệp, thì khó có thể lý giải tại sao doanh nghiệp xã hộiđượccoi là một loại hình doanh nghiệp khi mà các doanh nghiệp xã hội cũng không hoạt độngvì mục tiêu lợi nhuận mà vì các mục tiêu kinh tế – xã hội nói chung. Điểm b khoản 1 Điều 10 Luật DN 2014 cho thấy rõ điều đó với quy định doanh nghiệp xã hội được thành lập và hoạt động với mục tiêu: “nhằm giải quyết vấn đề xãhội, môi trường vì lợi ích cộng đồng”.

Hai là, căn cứvào “hai tư cách” củathành viên HTX (vừa là người chủ của HTX lại vừa là khách hàng của HTX vì sửdụng sản phẩm, dịch vụcủa HTX) trong mối quan hệ với “một tư cách” của các chủ sở hữu doanh nghiệp để khẳng định HTX không phải là một loại hình doanh nghiệp cũng không hoàn toàn thuyết phục. Trên thực tế, khó có thể chứng minh rằng trong cơ chế thị trường, người tham gia thành lập doanh nghiệp hoàn toàn không phải là khách hàng của doanh nghiệp; đồng thời cũng không dễđểchứng minh rằng tất cả thành viên HTX đềulà khách hàng của HTX. Chính vì thế, dường như quá mạo hiểm khi khẳng địnhrằng ngườithành lập doanh nghiệp chỉ có tư cách là chủ doanh nghiệp mà không có tư cách khác hàng của doanh

51http://www.baomoi.com/hop-tac-xa-khong-phai-la-doanh-nghiep/c/9079791.epi, truy cập ngày 23/11/2016

41

nghiệp; đồng thời thành viên HTX luôn có hai tư cách; vừa là chủ, vừa là khách hàng của HTX.

Ba là, lập luận dựa vàosựkhác biệt giữa nguyên tắc biểu quyết của thành viên HTX với nguyên tắc biểu quyết của các chủ sở hữu doanh nghiệp lại càng không phải là một căncứthuyết phục để khẳng định rằng HTX không phải là một loại hình doanh nghiệp. Đành rằng nguyên tắc biểu quyết áp dụng trong phiên họp Đại hộithành viên khi biểu quyết thông qua nghị quyết của Đại hội thành viên HTX không giống với nguyên tắc phiếu biểu quyết trong đại hội chủ sở hữu của một vài loại hình doanh nghiệp (công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn). Tuy nhiên, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn không phải là toàn bộ các loại hình doanh nghiệp mà bên cạnh đó còn có những loại doanh nghiệp khác, tùy theo pháp luật của mỗi nước quy định. Ở Việt Nam, điểm a khoản 1 Điều 176 Luật Doanh nghiệp 2014 cũng quyđịnh nguyên tắc biểu quyết của thành viên hợp danh trong công ty hợp danh tươngtựnhư nguyên tắcbiểu quyết trong Đại hội thành viên HTX, nhưng chưa có nhà khoa học pháp lý nào ở Việt Nam vì thế mà khẳng định công ty hợp danh không phải làdoanh nghiệp, mặc dù theo pháp luật của một số nước Unlimited Partnership (hợp danh vô hạn) và Limited Partnership (hợp danh hữu hạn) không phải là công ty (tức doanh nghiệp theo cách gọi của Việt Nam) và không có tư cách pháp nhân, chỉ cóLimited Liability Partnership mới là công ty và có tư cách pháp nhân52.

Vẫn chưa hết, công ty hợp danh không phải là loại doanh nghiệp duy nhất ở Việt Nam có cùng nguyên tắc biểu quyết với HTX mà công ty bảo hiểm tương hỗcũng sửdụng nguyên tắc biểu quyết này. Điều 59 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (được sửa đổi bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2010) đã quy định tổ chức bảo hiểm tương hỗ là một loại hình doanh nghiệp bảo hiểm (ở các nước Common Law gọi là doanh nghiệp tương hỗ (mutual enterprises)). Khoản 2Điều 22 Nghị định 28/2005/NĐ-CP, ngày 24 tháng 02 năm 2005 (quyđịnh vềviệc thành lập,tổ chức và hoạtđộngcủa tổ chức bảo hiểm tương hỗ) quy định: Quyền biểu quyết của thành viên tổ chức bảo hiểmtương hỗ được xác

52 Xem thêm: Mỹ: Uniform Partnership Act (last revision 1997) and the Uniform Limited Partnership Act (last revision 1976); Anh: Partnership Act (1890); Limited Partnerships Act (1907); Limited Liability Partnerships Act (2000); và Úc: Partnership Act (1958, Vic.).

42

định theo nguyên tắc mỗi thành viên một phiếu biểu quyết mà không phụ thuộc vào tỉ lệ vốn góp.

Như vậy, xem ra tiêu chí nguyên tắc biểu quyết cũng không phải là tiêu chí thỏa đáng để khẳng định HTX không phải là doanh nghiệp.

Bốn là, việc nguyên Thứtrưởng Bộ Kế hoạch –Đầu tưĐặng Huy Đông khẳng định“tất cả các Luật HTX trên thế giới không có nước nào quyđịnh HTX là doanh nghiệp” có lẽ là võ đoán. Các quốc gia trên thế giới thường gọi HTX là “Cooperative Enterprises” nghĩa là “doanh nghiệp HTX hay doanh nghiệp tập thể”53, thậm chí cóquốc gia còn đặt tên cho các HTX là “Cooperative Companies” hoặc “Cooperative Corporations” nghĩa là công ty HTX hay công ty tập thể54. Bên cạnh đó, lập luận cho rằng HTX không phải là doanh nghiệp bởi vì các quốc gia đều điều chỉnh HTX bằng hệ thống văn bản pháp luật độc lập với hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh doanh nghiệp cũng không thuyết phục. Lý do là, HTX là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt được pháp luật thừa nhận và cho phép thành lập để chủ yếu thực hiện các mục tiêu xãhội của mỗi quốc gia, nhằm hỗ trợ những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, giải quyết công ăn việc làm, đặc biệt ở những địa bàn kinh tế – xã hội khó khăn; thu hẹp khoảng cách giàu nghèo; giảm thiểu tệnạn xã hội. Với mụctiêu đặc biệt nhưvậykhi thừa nhận sựtồn tại của các HTX, các nhà làm luật ở các nướcthường tách HTX ra điều chỉnh bằng một đạo luật riêng để tạo điều kiện cho các HTX được hưởng những ưu đãi mà các loại hình doanh nghiệp khác không được hưởng và cũng là để khuyến khích phát triển loại hình doanh nghiệp này ở những địa bàn có hoàn cảnh địa lý, kinh tế – xãhội đặc thù.

Từnhững phân tích và lập luận trên có thể thấy HTX có một số điểm khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, những sự khác biệt đó không làm mấtđi hay thậm chí lu mờ bản chất doanh nghiệp của HTX. Về bản chất, HTX là một

tổ chức kinh tế, một chủ thể kinh doanh như các loại hình doanh nghiệp khác, chỉ có

53 Tim Mazzarol, “Cooperative Enterprises: A Discussion Paper and Literature Review”, University of Western Australia, Feb. 2009; Tim Mazzarol, Sophy Rebound, Elena Alexandra Mamouni Limnios, “Cooperative

Enterprises –A Unique Business Model”, Paper presented at Future of Work and Organizations, 25th Annual ANZAM Conference, 7-9 November 2011, Wellilngton, Newzealand.

54 D. Cracogna et al. (eds.), “International Handbook of Cooperative Law”, © Springer-Verlag Berlin Heidelberg 2013, tr.9.

43

điều, tương tự các doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp phi lợi nhuận khác, mục tiêu lợi nhuận không phải là mục tiêu hàng đầu của HTX. Nói cách khác, HTX là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt. Thực tế cho thấy, ở các quốc gia khác nhau, TCTD làHTX có hình thức, quy mô khác nhau và có tên gọi khác nhau (ngân hàng HTX, QTD, hiệp hội tín dụng). Tuy nhiên, TCTD là HTX ở tất cả các quốc gia đều được thành lập

theo hình thức sở hữu tập thể dưới dạng các HTX55.

Thứ hai; mục tiêu hoạt động chính của TCTD là TX là tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên.

Sựkhác biệt cơ bản nhất giữa HTX và các loại hình doanh nghiệp khác là ởmục tiêu hoạt động. Mục tiêu hoạt động của các doanh nghiệp nói chung là lợi nhuận, những người bỏ vốn(cổ đông, chủ sở hữu, chủ doanh nghiệp) đầu tư vào doanh nghiệp, hoặc thành lập doanh nghiệp là để tìm kiếm lợi nhuận, lợi nhuận là mục tiêu quan trọng nhất đối với doanh nghiệp. Trong khi đó, HTX nói chung và TCTD là HTX nói riêng lại xác định mục tiêu quan trọng nhất là tương trợ, giúp đỡ giữa các thành viên trong sản xuất, kinh doanh nhằm cải thiện đời sống. Chính vì thế, nguyên tắc quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của HTX nói chung và TCTD là HTX nói riêng là “vì thành viên và xuất phát từ thành viên”.

Mục tiêu cụ thể, quan trọng nhất mà các TCTD là HTX hướng đến là tận dụng nguồn vốn của chính các thành viên, cung cấp các dịch vụ, sản phẩm tài chính, ngân hàng, giúp cho các thành viên được tiếp cận với nguồn vốn tại chỗ với lãi suất phù hợpđể tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh cải thiện đời sống. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên, giải quyết các vấn đề xã hội, và duy trì sựtồn tại phát triển của TCTD là HTX, hoạt động của các TCTD là HTX cũng phảihướngđến việc tìm kiếm lợi nhuận. Lợinhuận không phải là mục tiêu chính, nhưng lại chính là cơ sở để TCTD là HTX có thể tồn tại, phát triển và thực hiện được mục tiêu tương trợ, giúp đỡ thành viên. Chính vì thế, các TCTD là HTX phải tiến hành hoạt động kinh doanh, thông qua việc cung ứng dịch vụ, sản phẩm ngân hàng cho thành viên và các đối tượng khách hàng không phải là thành viên, thông qua các hoạt

55 Trần Quang Khánh (2003), “Một số nét đặc trưng về tổ chức và hoạt động của mô hình QTDND”, Tạp chí Ngân hàng, (12/2003), tr.35-37.

44

động trên các TCTD là HTX sẽ đạt được mục tiêu tương trợ, giúp đỡ giữa các thành

viên đồng thời cũng thu được một khoản lợi nhuận nhất định để duy trì và phát triển56.

Thứ ba; TCTD là HTX có phạm vi hoạt động hạn chế so với các loại hình TCTD khác, điều này thể hiện ở những điểm sau:

Một là, hạn chế về phạm vi khách hàng mà TCTD là TX được phục vụ.Các TCTD là HTX được thành lập bởi các thành viên là những người có chung một vài đặc

điểm nào đó, có thể là nơi cư trú, nơi làm việc, ngành nghề kinh doanh…, hoạt động với mục tiêu “tương trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạtđộngsản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống”. Nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạtđộng của TCTD là HTX là “vì thành viên và xuất phát từthành viên”. Để bảo đảm tổ chức và hoạt động của các TCTD là HTX luôn hướng đến mục tiêuđược xác định vàtuân thủ đúng nguyên tắc “vì thành viên và xuất phát từthành viên”, pháp luật các quốc gia đều có quy định nhằm giới hạn đối tượng khách hàng của các TCTD là HTX, theo đó TCTD là HTX chỉ được cung cấp dịch vụ cho người nghèo, người có thu thấp và phải ưu tiên phục vụ khách hàng là thành viên của TCTD là HTX.

Vớiviệc cung ứng dịch vụ tài chính, ngân hàng cho những người nghèo, người có thu thấp, hoạt động của TCTD là HTX có nhiều nét tương đồng với hoạt động tài chính vi mô, bởi “Tài chính vi mô là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu củangườinghèo”57. Tuy nhiên, các TCTD là HTX cung ứng dịch vụ tài chính, ngân hàng cho người nghèo, người có thu nhập thấp theo cơ chế riêng, không theo cơ chế hoạt động của tổ chức tài chính vi mô. Bên cạnh đó, TCTD là HTX và tổ

chức tài chính vi mô còn có sự khác biệt về mô hình tổ chức, mục tiêu hoạt động58.

Hai là,hạnchế về phạm vi hoạt độngtheo địa giới hành chính, ngành nghềkinh doanh. Với những đặc thù về thành viên, về mục tiêu hoạt động và về quy mô,

56 Phạm Quang Vinh (2001), “Về tính chất và mục tiêu hoạt động của QTDND”, Tạp chí Ngân hàng, (7/2001), tr.39-41.

57 Ledgerwood Joanna (2000), Microfinance Handbook (Rural Finance Handbook): An Institutional and Financial Perspective, Washington, DC, tr. 1. Xem thêm khái niệm tài chính vi mô: CGAP (2004), Key principles of Microfinance, Washington D.C, tr. 1; Nguyễn Kim Anh và Lê Thanh Tâm (đồng chủ biên) (2013), Mứcđộ bềnvững của các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam: Thực trạng và một số khuyến nghị – Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Giao Thông Vận tải, Hà Nội 2013, tr. 24.

58 http://tapchitaichinh.vn/ngan-hang/ban-ve-cac-chu-the-cung-cap-dich-vu-tai-chinh-vi-mo-o-viet-nam- 302819.html – truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2020.

45

tiềm lực tài chính, trình độ quản trị, điều hành, nếu để cho các TCTD là HTX hoạtđộng mà không bị giới hạn trong một địa giới hành chính hay một phạm vi ngành nghề

kinh doanh nhất định…, thì nguy cơ đổ vỡ là khó tránh khỏi. Chính vì vậy, pháp luậtởnhiều quốc gia đềucó quyđịnhgiới hạn phạm vi hoạtđộng của các TCTD là HTX nhằm bảo đảm an toàn cho chính các TCTD là HTX và hệ thống các TCTD nói chung. Theo đó, các TCTD là HTX được thành lập bởi các thành viên có cùng nơi cư trú, nơi làm việc chỉ được hoạt động trong một đơn vị hành chính nhất định; các TCTD làHTX được tổ chức theo ngành nghề do các tổ chức kinh tế hoặc nghiệp đoàn ngành nghề được pháp luật công nhận, đứng ra tổ chức chỉ được phép hoạt động trong phạm vi từng loại ngành nghề trên địa bàn tỉnh, thành phố.

Ba là, hạn chế về phạm vi các hoạt động ngân hàng mà TCTD là TX được phép thực hiện. Như đã phân tích, các TCTD là HTX thường có quy mô nhỏ, tiềm lực tài chính và năng lực quản trị,điềuhành hạn chế trong khiđóhoạt động ngân hàng làhoạt động mang tính rủi ro cao, nhiềusảnphẩm, dịchvụdo ngân hàng cung ứng đòi hỏi tiềm lực tài chính lớn, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ và trình độ quản trị, điều hành cao. Nếu cho phép các TCTD là HTX thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng, khi đó rủi ro cho các TCTD này sẽ rất lớn, nguy cơ đổ vỡ cao. Chính vì vậy, đểbảo đảm an toàn cho chính TCTD là HTX và hệ thống các TCTD nói chung, pháp luật ở nhiều quốc gia đều đặt ra các giới hạn đối với phạm vi hoạt động ngân hàng của các TCTD là HTX. Do điều kiện kinh tế – xãhộivà thực trạng tổ chức và hoạt động của các TCTD là HTX ở các quốc gia là khác nhau. Chính vì thế, giới hạn về phạm vi hoạtđộng ngân hàng của các TCTD là HTX ở các quốc gia được quy định khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản các TCTD là HTX chỉ được phép thực hiện các hoạt động ngân hàng cơ bản, truyền thống như; nhận tiền gửi thông qua các hình thức tiền gửi có kỳhạn, tiền gửi không kỳhạn, tiền gửi tiết kiệm; cấp tín dụng bằng hình thức cho vay. Các TCTD là HTX không được thực hiện các hoạt động ngân hàng hiện đại, đòi hỏi tiềm lực tài chính lớn, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ và trình độ quản trị, điều hành cao, cụ thể như: Huy động vốn thông qua việc phát hành giấy tờ có giá; cấp tín dụng thông qua các hình thức bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán, cho thuê tài chính; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.

46

Thứ tư; TCTD là TX phải đối mặt với rủi ro lớn hơn, nguy cơđổ vỡhệ thống cao hơn các loại hình TCTD khác.

Cùng hoạtđộngtrong lĩnh vực ngân hàng nhưng các TCTD là HTX phải đối diện với rủi ro lớn hơn, nguy cơ đổ vỡ cao hơn so với các loại hình TCTD khác. Điềuđó xuất phát từcác đặcthù của TCTD là HTX về quy mô, về đối tượng khách hàng và tính liên kết hệ thống của các TCTD là HTX.

Về quy mô, các TCTD là HTX thường có quy mô nhỏ, tiềm lực tài chính hạn chế, trình độ của người quản lý, điều hành còn hạn chế so với các NHTM. Trong khiđó, đối tượng khách hàng chủ yếu của các TCTD là HTX là các thành viên là nông dân, công nhân, thợ thủ công, và tiểu thương ở địa bàn kinh tế – xã hội khó khăn. Hoạtđộng sửdụng vốn của các đối tượng khách hàng trên tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn so vớiđối tượng khách hàng của các NHTM. Chính vì thế, các TCTD là HTX phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn, nguy cơ đổ vỡ cao hơn.

Về tính liên kết hệ thống, các TCTD là HTX là các pháp nhân độc lập về kinh tế, hoạt động ở các địa bàn khác nhau nhưng ở mỗi quốc gia các TCTD là HTX đều tồn tại dướimộttêngọichung, có cùngmộthình thứctổchức, có chungmộtbiểu tượng, có chungmộtđốitượng khách hàng, và được tổ chức trong một mô hình tổ chức hệ thống riêng,tồntạitrong mô hìnhtổchứchệthống các TCTD nói chung. Chính vì vậy, khi một TCTD là HTX gặp khó khăn, thì khả năng xảy ra phản ứng dây chuyền, lây lan cho các TCTD là HTX khác trong hệ thống là rất cao, nếu không có giải pháp xử lý kịp thời,

thì nguy cơ đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống là khó tránh khỏi59.

Thứ năm; TCTD là TX bao gồm các loại hình cụ thể và tồn tại trong một môhình tổ chức hệ thống.

Một trong những đặc thù của các TCTD là chúng không tồn tại một cách đơn lẻ màtồntại trongmốiliên kếthệ thống.Điềuđó xuất phát từyêu cầu của hoạt động ngân hàng, yêu cầu quản lý Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, góp phần bảo đảm sựan toàn và hiệu quả cho hoạt động củacác TCTD. Là một loại hình TCTD, nhưng

59 Trần Quang Khách (2003), “Những giải phápđảm bảoan toàn cho hoạt động của hệ thống QTDND”, Luận án tiến sĩ, Học viện Ngân hàng 2003.

47

TCTD là HTX có những đặc thù, hạn chế nhất định so với các loại hình TCTD khác, cụ thể là: Quy mô nhỏ, tiềm lực tài chính hạn chế; địa bàn hoạt động chủ yếu là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; thành viên và khách hàng chủ yếu là nông dân, công nhân, thợ thủ công, và tiểu thương. Những đặc thù và hạn chế đó đòi hỏi các TCTD làHTX phải được tổ chức với một mô hình riêng, tồn tại trong mô hình tổ chức hệ thống các TCTD nói chung. Tùy theo mô hình tổ chức hệ thống các TCTD là HTX của từng quốc gia, có thể là mô hình hai cấp (TCTD là HTX cấp TW và TCTD là HTX cấp cơsở) hoặc mô hình ba cấp(TCTD là HTX cấp TW, TCTD là HTX cấp Khu vực vàTCTD là HTX cấp cơ sở). Trong đó, TCTD là HTX cấp TW là tổ chức đầu mối, hoạt động với mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệthống các TCTD là HTX; TCTD là HTX cấp khu vực là tổ chức đầumối đứng đầuhệ thống các TCTD là HTX trong mộttỉnh (một khu vực), hoạt động vớimục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốntrong hệ thống các TCTD là HTX ở trong phạm vi địa bàn mình phụ trách, và TCTD là HTX cấp cơ sở là đơn vịnhỏ nhất trong hệ thống các TCTD là HTX của mỗi quốc gia, trực tiếp thực hiện các hoạt động kinh doanh với mục tiêu chủ yếu là tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên, nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất và kinh doanh.

Từ những phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa về TCTD là HTX như sau: TCTD là TX là khái niệm chung để chỉ các loại hình TCTD thuộc sở hữu tập

thể, hoạt động với mục tiêu vì thành viên và xuất phát từ thành viên, được tổ chức thành một hệ thống riêng tồn tại trong mô hình tổ chức hệ thống các TCTD nói chung, có phạm vi hạn chế hơn so với các loại hình TCTD khác về đối tượng khách hàng, vềcác hoạt động ngân hàng được phép thực hiện và địa bàn hoạt động.

1.1.2. Các loại hình tổ chức tín dụng là hợp tác xã

Nghiên cứu mô hình tổ chức hệ thống các TCTD là HTXở một số quốc gia như: Canada, Đức, Hà Lan, Thái Lan, Trung Quốc cho thấy trên thực tế tồn tại hai môhình tổ chức hệ thống các TCTD là HTX, đó là mô hình tổ chức hai cấp và mô hình tổ chức ba cấp. Ở các quốc gia hệ thống các TCTD là HTX tổ chức theo mô hình ba cấp, hệ thống các TCTD là HTX bao gồm: TCTD là HTX cấp TW, TCTD là HTX cấp khu

48

vực và TCTD là HTX cấp cơ sở. Ở các quốc gia hệ thống các TCTD là HTX tổ chức theo mô hình hai cấp, hệ thống các TCTD là HTX bao gồm: TCTD là HTX cấp TW vàTCTD là HTX cấp cơ sở.

1.1.2.1. Tổ chức tín dụng là hợp tác xã cấp trung ương

Tên gọi của TCTD là HTXcấpTWở cácquốc gia khác nhau là không thống nhất. Mô hình QTD Desjardins ở Canada gọilà QTD TW Desjardins, mô hình ngân hàng HTX ở Đức gọi là Ngân hàng HTX TW Đức (trước đây, được gọi là DG Bank, nay được cơcấusáp nhập với 2 ngân hàng HTX cấp khu vực trở thành DZ Bank), mô hình Ngân hàng Rabobank ở Hà Lan gọi là Ngân hàng Rabobank quốc gia. Ở Việt Nam, TCTD là HTX cấp TW từ năm 1993 đến tháng 6 năm 2013 tồn tại với tên gọi QTDND TW. Tháng 6 năm 2013, QTDND TW chuyển đổi thành Ngân hàng HTX Việt Nam theo giấy phép số 166/GP-NHNN, ngày 4 tháng 6 năm 2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Mặc dù tồn tại với tên gọi khác nhau ở các quốc gia khác nhau, nhưng TCTD làHTXcấpTW ở các quốc gia có những dấu hiệu chung vềbảnchất và vịtrí pháp lýtrong hệ thống các TCTD là HTX nói riêng và trong hệ thống các TCTD ở các quốc gia nói chung.

Thứ nhất, TCTD là HTXcấpTW làtổ chứcđứng đầuhệ thống các TCTD làHTXở mỗi quốc gia60. TCTD là HTXcấpTW đóng vai trò là tổ chức liên kết hệthống, đại diện cho hệ thống các TCTD là HTX trong mối quan hệ với ngân hàng TW, tham gia hệ thống thanh toán bù trừ với các định chế tài chính khác, tổ chức thanh toán bù trừtrong hệ thống,đại diện cho hệ thống các TCTD là HTX trên thị trường tài chính quốc tế và quan hệ với các ngân hàng trên thế giới61. Với vị trí là tổ chức đầu mối trong hệ thống các TCTD là HTX, TCTD là HTX cấp TW có những quyền hạn nhất định trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các TCTD là HTX thành viên nhằm bảo đảmcác TCTD là HTX cấp khu vực, TCTD là HTXcấpcơ sở hoạt độngđúng tôn chỉ, mục đích và vì sự an toàn của hệ thống nói chung.

60 Riêng Trung Quốc, do đặc thù về mặt diện tích lãnh thổ, hệ thống “TCTD là HTX”được tổchức theođơnvị hành chính cấp tỉnh, đứng đầu hệ thống “TCTD là HTX” của một tỉnh là “TCTD là HTX” cấp TW.

61 Trần Quang Khánh (2003), “Một sốvấnđề về mô hình tổchức QTDND”, Tạp chí Ngân hàng, số 10/2003.

49

Thứ hai, TCTD là HTX cấp TW là liên hiệp HTX cấp quốc gia của các TCTD là HTX cấp khu vực và TCTD là HTX cấp cơ sở, do các TCTD là HTX cấp khu vực và các TCTD là HTX cấp cở sở thành lập và tham gia. Vì sự an toàn của hệ thống các TCTD nói chung và hệ thống các TCTD là HTX nói riêng, pháp luật các quốc gia đều quy định việc trở thành thành viên của TCTD là HTX cấp TW là bắt buộc đối với các TCTD là HTX cấp khu vực và cấp cơ sở.

Thứba, TCTD là HTX cấp TW hoạtđộng vớimục tiêuchủyếulà liênkếthệ thống,hỗ trợ tài chính,điềuhòa vốntronghệthống các TCTD là HTX. Đốitượng khách hàng chính của TCTD là HTX cấp TW là các TCTD là HTXcấpkhu vựcvàTCTD là HTXcấpcơsở.Trong hoạtđộngkinh doanh, TCTD là HTXcấpTW phải tuân thủ nguyên tắc không được cạnh tranh với các TCTD là HTX cấp khu vực và cấp cơ sở. Với vai trò là trung tâm điều hòa vốn, hỗ trợ tài chính của hệ thống, ở gócđộ nào đó cóthểhiểu TCTD là HTX cấp TW chính là ngân hàng TW của các TCTD là HTX.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định:

TCTD là HTXcấpTW là tổchức đầu mối,đứng đầu hệ thống các TCTD là HTX, là liên hiệp TX cấp quốc gia của các TCTD là HTX cấp khu vực và TCTD làHTX cấp cơsở,hoạt động với mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các TCTD là HTX.

1.1.2.2. Tổ chức tín dụng là hợp tác xã cấp khu vực

TCTD là HTX cấp khu vực chỉ được tổ chức và tồn tại ở những quốc gia mà hệthống các TCTD là HTXđược tổ chức theo mô hình 3 cấp. Nếu như TCTD là HTX cấp TW tồn tại với tư cách là liên hiệp HTX cấp quốc gia, thì TCTD là HTX cấp khu vực tồn tại với tư cách là liên hiệp HTX cấptỉnh (khu vực). TCTD là HTX cấp khu vực đóng vai trò là tổ chức đầu mối của hệ thống các TCTD là HTX của một tỉnh (một khu vực), đại diện cho hệ thống các TCTD là HTX của một tỉnh (một khu vực) trong mối quan hệ với TCTD là HTXcấpTW và hệ thống các TCTD là HTXcủamộtquốc gia. Thành viên của TCTD là HTX cấp khu vực là các TCTD là HTX cấp cơ sở. Với vị trí là tổ chức đầu mối trong hệ thống các TCTD là HTX của một tỉnh (một khu vực), TCTD là HTX cấp khu vực cũng được trao những quyền hạn nhất định trong việc

50

kiểm tra, giám sát hoạt động của các TCTD là HTX thành viên nhằm bảo đảmcác TCTD là HTX cấp cơsở hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích và vì sựan toàn của hệthống nói chung.

TCTD là HTX cấp khu vực hoạt động với mục tiêu điều hoà vốn, cho vay đối với các TCTD là HTX cấp cơ sở, đồng thời có nghĩa vụ tạo điều kiện về tiền mặt, thanh toán, bảo hiểm tiền gửi, bảo lãnh tiền vay trong nội bộ các thành viên, cung cấp thông tin, kiểm tra giám sát hoạt động và tổng hợp báo cáo định kỳ, báo cáo quyết toán của các TCTD là HTX cấp cơ sở thành viên trên địa bàn phụ trách lên TCTD là HTX cấp TW.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định:

TCTD là HTX cấp khu vực là một bộ phận trong hệ thống các TCTD là HTX của mỗi quốc gia, là tổ chức đầu mối đứng đầu hệ thống các TCTD là HTX trong một tỉnh (một khu vực), là liên hiệp TX tỉnh (cấp khu vực) của các TCTD là HTXcấpcơsở,hoạt động với mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các TCTD là HTX ở trong phạm vi địa bàn mình phụ trách.

1.1.2.3. Tổ chức tín dụng là hợp tác xãcấpcơ sở

TCTD là HTX cấp cơ sở là đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống các TCTD là HTX của mỗi quốc gia. Ở các quốc gia hệ thống các TCTD là HTX được tổ chức theo môhình hai cấp, TCTD là HTX cấp cơ sở là thành viên của TCTD là HTX cấp TW. Ở các quốc gia hệ thống các TCTD là HTXđược tổ chức theo mô hình ba cấp, TCTD là HTXcấpcơ sở là thành viên của mộtTCTD là HTX cấp khu vực và TCTD là HTX cấpTW. Với tư cách là thành viên, TCTD là HTX cấp cơ sở được tham gia vào việc quản lý, điều hành TCTD là HTX cấp khu vực và TCTD là HTX cấp TW nhưng cũngđồng thời phải chịu sự quản lý kiểm tra giám sát về tổ chức và hoạt động của hai chủthể trên.

TCTD là HTXcấpcơ sở có số lượng nhiều nhất trong hệ thống các TCTD làHTXở tất cả các quốc gia, là bộ phận quan trọng nhất, trực tiếp thực hiện các hoạtđộng kinh doanh phục vụ thành viên, mang đầy đủ các đặc thù của TCTD là HTX nhưđã phân tích đó là: TCTD Được tổ chức dưới hình thức pháp lý là HTX; mục tiêu hoạtđộng chính là tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên; hoạt động ở lĩnh vực có

51

rủi ro cao và mang tính dây chuyền; có phạm vi hoạt động hạn chế so với các loại hình TCTD khác;tồn tại trong một mô hình tổ chức hệ thống.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định:

TCTD là HTX cấp cơ sở là đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống các TCTD là HTX của mỗi quốc gia, trực tiếp thực hiện các hoạt động kinh doanh với mục tiêu chủ yếu là tương trợ, giúp đỡ giữa các thành viên, nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất và kinh doanh.

1.1.3. Vai trò của tổ chức tín dụng là hợp tác xã trong phát triển kinh tế – xã hội

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC TÍN DỤNG LÀ HỢP TÁC XÃ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *