Pháp luật về mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD ở Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tínhcấpthiết của đề tài
Trong nền kinh tếthịtrường, mua bán nợxấu từhoạt động cho vay của các TCTD không còn là một hoạt độngquá xa lạ.Đặc biệt trong những thập niên gầnđây, khi nền kinh tế của nhiều quốc gia lâm vào tình trạng khủng hoảng, gây ra những tácđộngtiêucựctới hoạt độngcủacác doanh nghiệp nói chung và các TCTD nói riêng, kéo theo hậu quả là các khoản nợ xấu phát sinh từhoạt độngcấp tín dụng của các TCTD tăng cao. Trước thực trạngđó,giải pháp được Chính phủ các nước lựa chọn để giải quyết nhanh chóng và triệt để nợxấu là tập trungđẩy mạnh hoạt độngmua bán nợxấu giữa TCTD (với tư cách là bên bán nợ) với các công ty mua bán nợchuyên nghiệp hoặc cáctổ chức, cá nhân có nhu cầu (với tưcách là bên mua nợ), quađó từngbước xây dựng thị trường mua bán nợ tập trung.
Hiện nay,ởViệt Nam, mua bán nợnói chung và mua bán nợxấu từhoạtđộngcho vay của các TCTD nói riêng đã có sự phát triển rõ rệt trong thời gian qua. Tính từ thời điểm ngày 26/03/1988 với sự ra đời của Nghị định số 53/HĐBT, đánh dấu cho sựchuyển đổi của hệthống ngân hàngởViệt Nam theo mô hình hai cấp trong đó tách bạch chức năng quản lý nhà nước của NHNN và chức năng kinh doanh ngân hàng cho các TCTD đi kèm với việc trao quyền tựchủ,tựchịu trách nhiệmvề hoạt độngkinh doanh,hệ thống ngân hàngđã có sựphát triển mạnh mẽđóng góp quan trọng vào sựđi lên của đời sống kinh tế – xã hội của nước ta. Tuy nhiên, khi các TCTD,đặc biệt là các NHTM không ngừng cạnh tranh nhằm theođuổi mục tiêu lợi nhuận đã kéo theo nhữnghệ lụy khôn lường,đó chính là các khoản nợ xấu phát sinh ngày càng nhiều từhoạt độngcấp tín dụng của các TCTD.
Đứngtrước thực trạngđó,một trong những giải pháp được các TCTD lựa chọn đó là thành lập công ty mua bán nợ và khai thác tài sản (viết tắt là AMC). Tính
từthời điểmnhững năm 1999, 2000 khi các AMC –Vietcombank và AMC –Vietinbank ra đời đến thời điểm hiện nay, số lượng các AMC trực thuộc các TCTDđã tăng lênmộtcách nhanh chóng. Tuy nhiên, sựtồntại củacác AMC này không phát huy hiệu quả thực sự do chủ yếu tập trung vào hoạt động mua bán nợ xấu trong nội bộ TCTD, ít có khả năng mua nợxấucủa các TCTD khác. Chínhsựtồn tại của
các AMC mang tính chất riêng lẻ, không tạo thành mối liên kết hệ thống cùng với những khoảng trống trong chính sách điều hành của Nhà nước đã làm cho hoạt động của các AMC không hiệu quả. Vì vậy, năm 2008, khi nền kinh tế thế giới bắtđầu rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, tác độngtiêu cực đến nền kinh tế Việt Namvà đã đẩy tỷlệ nợxấu trong hoạt động ngân hàng tăng cao, hoạt động của các AMC bắt đầu bộc lộ rõ hơn những hạn chế do thiếu liên kết hệ thống và cơ chế hoạtđộng.Vì vậy, ngày 18/5/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 53/2013/NĐ- CP thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (viết tắt làVAMC). Sự ra đời của VAMC đánh dấu một bước ngoặt lớn trong nỗ lực xửlý nợxấu của Chính phủ và NHNN. Những tín hiệu khả quan ban đầu cho thấy VAMC đãbắt đầu phát huy hiệu quả tronghoạt độngxử lý nợxấu đồngthời giúp cải thiện tính thanh khoản của các TCTD.Kể từkhi thành lập vào tháng 10/2013 đến hết ngày 31/12/2017, VAMC đãmua 26.221 khoản nợxấu của 16.269 khách hàng tại các TCTD, với tổng dưnợgốcnội bảng là 307.932 tỷ đồng, giá muanợlà 277.755 tỷđồng, quađó đưa tỷ lệ nợxấu của ngành ngân hàng giảm từ 3,61% của năm 2013 xuống còn 2,18% vào cuối năm 20171. Tuy nhiên,sựra đời của VAMC có phải là nhân tố thúc đẩy sự hình thành của thị trường mua bán nợ hay không vẫn cần nhiều thời gian để kiểm chứng.
Ngoài VAMC và các AMC, công ty TNHH mua bán nợ Việt Nam (viết tắt làDATC) cũng là một chủ thể đặc biệt tham gia vào quan hệ mua bán nợxấu. Tuy nhiên,điểmkhác biệt củaDATC so với VAMC và AMC là DATC chủ yếu tập trung vào việc mua các khoản nợcủa các doanh nghiệp nhà nước theo chỉ thị của Chính phủ, tức là các khoản nợ của các NHTMNN và có mở rộng sang mua nợ xấu của các NHTM do Nhà nước nắmgiữcổ phần chi phối. Chính phạm vi chủ thể vàđối tượngmua bán gò bó nên khả năng và vai trò tham gia vào quan hệ mua bán nợxấu của DATC không đáng kể. Theo số liệu báo cáo từ DATC cho thấy, năm 2016 DATC đã mua và xử lý được hơn 7.132tỷ đồng nợxấu, năm 2017 là gần 7.000 tỷđồngnợxấu của các TCTD đã được DATC mua và xử lý2. Những con số này mặc
dù rất đáng ghi nhận nhưng so với quy mô khổnglồ của nợxấu tronghệ thống TCTD vào khoảng 600.000 tỷ đồngnăm 2016 và 566.000 tỷ đồngnăm 2017 đểthấy rằng vai trò của DATC vẫn còn rất nhỏ bé3.
Như vậy, mua bán nợxấu từhoạt động cho vay của các TCTD ở Việt Nam hiện nay đang có sự tham gia chủ yếu của VAMC, các AMC trực thuộc các TCTD và DATC. Các chủ thể khác có khả năng tham gia mua bán nợ xấu rất hạn chế, hay mới dừng ở mức tiềm năng. Mỗi chủ thể có vai trò, phạm vi và mục tiêu hoạt động khác nhau. Mặc dù VAMC có những lợi thế và sứ mệnh đặc biệt khi tham gia vào hoạt độngmua bán nợ xấu, nhưngsựtồn tại của một công ty mua bán nợ của Nhà nước chỉ mang tính giai đoạn, sau khi giải quyết được cơ bản tình trạngnợxấu ngân hàng, thường công ty này sẽ tự chấm dứt hoạtđộnggiống như IBRA (công ty mua bán nợ quốc gia của Indonesia) đã chấm dứt hoạt động năm 2004, DANAHARTA (công ty mua bán nợ quốc gia của Malaysia) năm 2005 và TAMC (công ty mua bán nợquốc gia của Thái Lan) năm 2011 [97,160]. Bên cạnh đó, DATC chỉ có khả năng tham gia hạn chế, cho nên, chủ thể chính tham gia vào hoạt động mua bán nợ xấu vẫn là các AMC thuộc các TCTD.
Bên cạnh thực trạng báo độngcủa tình hình nợxấu tronghệ thống TCTD, hoạt độngmua bán nợ xấy trên thị trường chưa thực sự hiệu quả và giải quyết được tận gốc vấnđề có nguyên nhân rất lớn xuất phát từ các quyđịnh củapháp luật hiện hành. Hiện nay có rất nhiều quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ mua
bán nợ xấu giữa TCTD bán nợ với bên mua nợ là VAMC và các chủ thể khác đang gây ra nhiều tranh cãi, thậm chí có nhiều quy định khó áp dụng trong thực tiễn nhưnhững quy định của Nghị định 34/2015/NĐ-CP về công cụ trái phiếu, trái phiếu đặc biệt còn nhiều hạnchế cho TCTD nắmgiữ,đồngthời thiếu cơ chế bảo lãnh của Chính phủ hay NHNN, quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 cho phép VAMC mua được mua nợ xấu theo giá trị thị trường và thanh toán bằng tiền nhưng thiếu phương án hiệu quả để huy động vốn cho VAMC.
Cùng với đó,mặcdù các cơ quan nhànước cóthẩm quyền đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật nhằm đa dạng hóa các chủ thể tham gia mua bán nợxấu
3 Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia: Báo cáo tổng quan thị trường tài chính năm 2016, 2017
trên thị trường, ngoài các công ty mua bán nợchuyên nghiệp, pháp luật đã trao quyền cho chính các TCTD tham gia mua bánnợxấu của các TCTD khác, hay các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đặc biệt là cơ chế pháp lý cho sự ra đời của mô hình doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, tuy nhiên, quy định về mức vốn pháp định và điều kiện với người quản lý, người điều hành khi thành lập Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ trong Nghị định 69/2016/NĐ-CP không phùhợp với thực tế.
Những quy định này vô hình chung là rào cản đối với hoạt động mua bán nợxấu, cũng như tác độngtiêu cực tới tâm lý của TCTD khi buộc phải lựa chọn phương án bánnợxấu cho VAMC hay các chủ thể khác. Vì vậy,để phát huy hơn nữa vai trò cũng như hiệu quả tronghoạt động củaVAMC và các chủ thể muanợkhác trong thực tiễn, cần phải xâydựng hệthống pháp luật điều chỉnh các quanhệmua bán nợxấu đồng bộ và hoàn chỉnh, qua đó để nâng cao hiệu quả thực thi của các quy định này.
Xuất phát từnhững lý do nêu trên, việc lựa chọn đề tài:“Pháp luật về mua bán nợxấu từhoạt động cho vay của các TCTD ở Việt Nam” làm luận án tiến sĩ làviệc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về mua bán nợ xấu và pháp luật vềmua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD,từđó làm cơsởcho việc đánh giásựphù hợp cũng như những hạn chế,tồntại của các quy định pháp luật hiện hành về mua bánnợxấu từhoạt độngcho vay của các TCTD ởViệt Nam; chỉra những nguyên nhân củanhững hạn chế,tồntạicủa pháp luật thựcđịnh,từđó đềxuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật,có tính đến việc đảm bảo sựphùhợp giữa pháp luật với yêu cầu thực tiễn mua bán nợxấu từhoạt độngcho vay của các TCTD ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Phân tích làm rõ các tiêu chí phân loại nợ xấu, vai trò của các chủ thể tham gia mua bán nợxấu, giá mua bán nợxấu, phương thức mua bán nợxấu, côngcụ
thanh toán trong quan hệ mua bán nợxấu… Sởdĩ cần làm rõ những vấn đề này là vìđây là những vấn đề then chốt nhưng đang tồn tại nhiều quan điểm trái chiều giữa các TCTD, NHNN và các cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, việc làm sáng rõ các vấnđề trên sẽ tạo cơsởđể các cơquan nhà nước có thẩm quyền xây dựng và hoàn thiện pháp luật về mua bán nợxấu từhoạt độngcho vay của các TCTD.
– Đánh giá thực trạng pháp luật về mua bán nợxấu từhoạt độngcho vay của các TCTD ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về mua bán nợxấu từhoạt động cho vay của các TCTD thời gian qua: thành tựu và những hạn chế, khó khăn còn gặpphải trong quá trình áp dụng pháp luật,đồng thời tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn đó làm cơsởđề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật.
– Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệuquảthực thi pháp luật về mua bán nợxấu từhoạtđộngcho vay của các TCTD ởViệt Nam trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu
– Các quan điểm khoa học pháp lý về mua bán nợxấu từhoạt động cho vay của các TCTD;
– Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về mua bán nợxấu từhoạt độngcho vay của các TCTD;
– Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật Việt Nam về mua bán nợ xấu từhoạt độngcho vay của các TCTD;
– Kinh nghiệm xây dựng và thực tiễn thi hành pháp luật điều chỉnh quan hệmua bán nợxấu nhằm giải quyết tình trạng nợxấu tăng cao trong hệthống ngân hàng ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á có điều kiện, hoàn cảnh gần giống với Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Về nội dung: Luận án nghiên cứu cácvấn đềlý luận về mua bánnợxấutừhoạt độngcho vay củacác TCTD và thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về mua bán nợxấu từhoạt độngcho vay của các TCTD, trong đó xác định:
Thứnhất, tập trung vào nghiên cứu các khoảnnợxấu phát sinh từ hoạt động cho vay của các TCTD đối với khách hàng.
Trước tiên có thể thấy rằng, pháp luật Việt Nam không có sự phân biệt giữa các khoản nợ xấu phát sinh từ nghiệp vụ cụ thể của hoạt động cấp tín dụng như phát
sinh từhoạt độngcho vay, bảo lãnh, bao thanh toán hay chiết khấu giấy tờ có giá… Tuy nhiên, căn cứ vào thực tiễn hoạt động của hệ thống TCTD thấy rằng, cho vay chiếmtỷ trọng đặc biệtlớn trong cơ cấu dưnợtín dụng, đồng thời đây cũng là hoạtđộngphát sinh nợxấu lớn nhất4. Vì vậy, việc tập trung nghiên cứu các khoản nợxấu phát sinh từhoạt độngcho vay của các TCTD là cần thiết, phù hợp với thực tiễn.
Thứhai, tập trung vào nghiên cứu các quanhệ mua bán nợxấuphát sinh giữa TCTD (giữ vai trò là bên bánnợxấu) với các tổ chức, cá nhân mua nợ (giữ vai trò là bên mua nợ xấu). Nói cách khác, luận án chỉ nghiên cứu quan hệ mua bánnợxấu trên thịtrường sơcấpgiữa các TCTD bánnợxấu phát sinh từhoạtđộngcho vay với các tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua các khoản nợxấu đó.
Các khoản nợphát sinh từhoạt độngcho vay của các TCTD đối với khách hàngđược xếp hạng từnợnhóm 1 tới nợ nhóm 5 (trong đó nợ nhóm 1 và nhóm 2 không phải là nợ xấu;nợnhóm 3, 4 và 5 là nợ xấu) đều có thể trở thành đối tượng của quan hệ mua bán, tuy nhiên, các khoản nợ nhóm 1 và nhóm 2 ít mức độ rủi ro hơn nợxấu nên các nhà làm luật thườngđể cho luật dân sựđiều chỉnh. Riêngnợxấu có mức độ ảnh hưởng rất lớn tới nềnkinhtế và đời sốngxã hội nên nhận được sựquan tâm đặc biệt của các nhà làm luật. Vì vậy, luận án tập trung nghiên cứu vềquan hệ mua bán nợ xấu là phù hợp.
Thứba, nội dung của pháp luật về mua bán nợ xấu bao gồm rất nhiều nhóm quy định khác nhau, tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung giải quyết năm nhóm quy định về: đối tượngmua bán, chủ thể mua bán, phương pháp xác định giá mua bán, phương thức mua bán và công cụ thanh toán trong giao dịch mua bán nợ xấu. Việc tập trung nghiên cứu năm nhóm quy định này không phải làviệc làm ngẫu nhiên hay tuỳ tiện mà xuất phát từ bài học kinh nghiệm của mộtsốquốc gia đã phải đối mặt với nợxấu từhoạt độngcho vay của các ngân hàng. Một là, về đối tượng mua bán, pháp luật các nước quy định về nợ xấu không giống nhau. Vì vậy, việc nghiên cứu quy định này của Việt Nam trong mối quan hệ với quy định tương ứng của một số nước có điềukiện, hoàn cảnh khá tương đồng với Việt Nam để tìm lời giải đáp là việc làm cần thiết. Hai là,về chủ thể mua bán, hiện còn có quan điểm khác nhau vềvị trí, vai trò, yêu cầu năng lực chuyên môn, năng lực tài
chính và mức độ điêu luyện trong quản trị kinh doanh… của các công ty quản lý tài sản của các TCTD thuộcsởhữu nhànước (gọi tắt: AMCs tập trung) và thuộcsởhữu tư nhân (gọi tắt: AMCs phi tập trung).Vấn đề đặt ralà nên cho phép tất cả các AMCs tham giao vào thị trường mua bán nợ xấu sơ cấp; hay chỉ cho phép một trong hai loại AMCs này; trường hợp nào thì việc tham gia của AMCs tập trung có lợi
hơn AMCs phi tập trungvà ngược lại… Vì lẽ đó,vấn đề chủ thể được thamgia vào thị trường mua bán nợ cũng cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để tìm ra câu trả lời hữu ích nhất, thiết thực nhất cho thị trường mua bán nợxấunon trẻ của Việt Nam. Ba là, về phương pháp xác định giá mua bán khoản nợ xấu hiện cũng có những cách khác nhau (giá mua bán nợ xấu sẽ được xác định theo giá thị trường hay giá trị trên sổ sách kế toán của khoản nợ). Xuất phát từ tính rủi ro cao của hoạt động mua bán nợxấu, việc tìm ra phương pháp thích hợp để xác định giá cả của khoản nợxấu trong giao dịch mua bán nợxấu của Việt Nam là việc làm có ý nghĩa. Bốn là,về phương thức mua bán nợ xấu, thực tiễn hoạt độngmua bán nợ xấu ở Việt Nam vàthế giới đều ghi nhận hai phương thức cơ bản là thỏa thuận và đấu giá. Tuy nhiên pháp luật có cần thiết phải can thiệp vào việclựachọn phương thức mua bán của các bên hay không? Phươngthức nào đảm bảo được đầy đủ quyền lợi của các bên,đồngthời góp phần thúc đẩy nhanh quá trình xác lập và thực hiện giao dịch mua

bán nợxấu là vấn đề quan trọng cần làm sángtỏ.Năm là,về côngcụ thanh toán trong quan hệ mua bán nợ xấu, cả công cụ trái phiếu đặc biệt và tiền đều tác động trực tiếp tới tâm lý của TCTD khi bán nợ xấu nhưng lại thiếu đi giải pháp phát huy hiệu quả của hai công cụ này. Mỗi công cụ thanh toán này đều có thể phát huy vai trò to lớn khi được đặt vào trong những quanhệ mua bán nợxấu phù hợp, vì vậy cần phải được nghiên cứu thấu đáo.
Cũng cần lưu ý rằng mặc dù luận án nghiên cứu về pháp luật điều chỉnh hoạt độngmua bán nợxấu từhoạt độngcho vay của TCTD nhưng trongbốicảnh các AMCs tập trungđược phép tham gia mua bán nợxấu và thậm chí còn là chủ thểthường xuyên trong các giao dịch mua bán nợxấu. Do các AMCs phi tập trungởViệt Nam quá yếu về năng lực tài chính, việc nhà nước sử dụng các biện pháp hành chính song song với điều chỉnh bằng pháp luật để can thiệp vào các giao dịch màmột bên chủ thể là các doanh nghiệp nhà nước này là điều khó tránh khỏi. Một khiđã phải tuân theo mệnh lệnh hành chính, dù ở mức độ nào đi chăng nữa, rõ ràng làkhó có thể nói các chủ thểtham gia giao dịch được tựdo về ý chí. Vì vậy trong nhiều trường hợp, khó có thể nhìn nhận các giao dịch loại này dưới giác độ quan hệhợp đồng. Vì lẽ đó,luận án không nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán nợ xấu với tư cách là một chế định dân luật mà nghiên cứu pháp luật ngân hàng điều chỉnh loại quan hệ xã hội này. Có lẽ không cần bàn luậnnhiều ở đây về vấnđềluật ngân hàng bao gồm cả bộ phận luật công (điều chỉnh những quan hệ xã hội giữa NHNN với các TCTD) vàbộ phận luật tư (điều chỉnh những quanhệ xãhội
giữa các TCTD với nhau và với đối tác trong kinh doanh và với khách hàng…).
– Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về mua bán nợxấu từhoạt độngcho vay của các TCTD. Trong trường hợp cần thiết, các quy định đã hết hiệu lực thi hành sẽ được viện dẫn nhằm làm sáng tỏsựphù hợp của pháp luật hiện hành với những yêu cầu,đòi hỏicủa thực tiễn.
– Về không gian: Luận án nghiên cứu các quy định của pháp luật thực định về mua bán nợxấu từhoạt động cho vay của các TCTD ở Việt Nam. Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, khi cần, các quy định tương ứng của pháp luật cũng nhưkinh nghiệm thực thi pháp luật của một số nước có điều kiện gần giống Việt Nam
như Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc… sẽ được viện dẫn nhằm làm sáng tỏ một sốvấn đề còn khúc mắc trong các quy định của pháp luật Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để làm sángtỏ mục đích và nhiệmvụ nghiên cứu, luận án được thực hiện
trên cơsởphương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó trọng tâm dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịchsửđể nghiên cứu các vấn đề lý luận về đối tượng mua bán nợ xấu,chủ thểmua bán nợxấu, giá mua bán nợxấu, phương thức mua bán nợxấu và côngcụthanh toán trong quan hệ mua bán nợxấu.Đồngthời, các chủ trương, chính sách của Đảngtrong việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật điều chỉnh quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từhoạt độngcho vay của các TCTD là cơsởlý luận quan trọng để luận án đánh giá sự phù hợp của pháp luật và xây dựng các giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợxấu phát sinh từhoạt độngcho vay của các TCTD.
Bên cạnh đó,trong quá trình nghiên cứu, luận án sửdụng một sốphương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
– Phương pháp phân tích: Phương pháp này được sửdụngđể nghiên cứu nhữngvấn đề lý luận nổi cộmvề mua bán nợxấu và những ưu điểm, hạn chế, tồn tại của pháp luật về mua bán nợtừhoạt động cho vay của các TCTD. Trên cơsởđó,đánh giá sự phù hợp của thực trạng pháp luật vào quá trình áp dụng trên thực tiễn.
– Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sửdụngđể thu thập các thông tin về những hoạt độngmua bán nợxấu đã được VAMC và các Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ thực hiện nhằm đánh giá những thành tựu đãđạt được và những vướngmắccòn tồn tại khi áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về mua bán nợxấu từhoạt độngcho vay của các TCTD.
– Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được sửdụngđể lấy ý kiếnđánh giá của các chuyên gia về ngân hàng, đặc biệt là các chuyên gia về rủi ro tín dụng và các chuyên gia pháp lývề ngân hàng làm cơsởđể đềxuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về mua bán nợxấu từhoạt động cho vay của
các TCTD ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay trong Chương 4 của Luận án. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã có những trao đổi trực tiếp xoay quanh những nội dụng cốt lõi của luận án với những nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng và luật ngân hàng, như GS. TS. Nguyễn Văn Tiến, TS. Nguyễn Thái Hà, TS. Bùi Hữu Toàn, TS. Vũ Văn Cương.
– Phương pháp so sánh luật học: được sửdụng nhằm học hỏinhững kinh nghiệm làm luật và thực thi pháp luật của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh vàđiều kiện của Việt Nam, từ đó nghiên cứu tìm kiếm giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong nước.Thông qua phương pháp này, luận án chỉ ra được cơsởdẫn tới sựra đời của các Nghị quyết tạo hành lang pháp lýcho công ty mua bán nợ quốc gia tại các nước Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốctừđó có những so sánh, liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam.
5. Những đóng góp mới của luận án
Là một công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống, toàn diện về pháp luật mua bán nợxấu từhoạt độngcho vay của các TCTD ở Việt Nam, luận án có những đóng góp mới chủ yếu sau đây:
Thứnhất, những nghiên cứu củaluận án đãgiải quyết khá đầyđủ và toàn diện những vấn đề lý luận về mua bán nợxấu và pháp luật về mua bán nợxấu từhoạt độngcho vay của các TCTD.
Thứhai, luận ánđã làm sáng tỏ sựkhác biệt giữa khái niệm nợxấu(Bad Debt) với khái niệm các khoản cho vay không hiệu quả (Nonperforming loans),đồng thời chỉ ra các tiêu chí xácđịnh về mặt định lượng và định tínhlàm cơsởxácđịnh nợxấuđược phápluật Việt Nam quyđịnh đã tiếnsát chuẩn mực quốctế về nợxấu được IMF, Basel thừa nhận. Đây là cơsởquan trọngđể hiểu đúng và thống nhất về bản chất của nợxấu giữa các TCTD, NHNN và các cơ quan có thẩm quyền.
Thứba, luậnán đã chỉra vai trò, cũng nhưthếmạnh và hạn chế của các chủthể tham gia mua nợ xấu của các TCTD trên thị trường sơ cấp,từcác công ty mua bán nợchuyên nghiệp như VAMC, DATC cho tới các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ hay các tổ chức, cá nhân là các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Sựđa dạng của các chủ thể tham gia thị trường mua bán nợxấu góp phần quan trọng vào việc xây dựng thị trường mua bán nợ xấu trong tương lai, với vai trò chủđạo của VAMC.
Thứtư, luận án làm rõ sự cần thiết phải xây dựng phương án mua bán nợ xấu theo giá trị thị trường của khoản nợxấu được định giá tạithời điểmmua bán, vừa thể hiện bản chất của quan hệ mua bán trong nền kinh tế thị trường, vừa hạn chế rủi ro đối với bên mua nợ,đặc biệt đối với VAMC, khi nguồn vốnđược sửdụngđểmua nợ xấu xuất phát từnguồn vốn được cấp từNSNN.
Thứnăm, luận án đã chứng minh được vai trò chủ đạo của phương thức thỏa thuận trong việc xác lập và thực hiện giao dịch mua bánnợxấu và thúc đẩy nhanh quá trình “thu gom” nợxấu từTCTD bán nợ sang VAMC.
Thứsáu, luận án đã chứng minh được những hạn chế, tồn tại của công cụ trái phiếu, trái phiếu đặc biệt, cũng như sự cần thiết phải chuyển đổi sang công cụ thanh toán bằng tiền trong quan hệ mua bán nợ xấu giữa TCTD bán nợ và VAMC.
Thứbảy, trên cơsởnhững hạn chế, tồn tại của các quy định hiện hành, luậnán đã đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về mua bán nợxấu từhoạtđộngcho vay của các TCTD ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
– Luận án là công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu,có hệthống và toàn diện để giải quyết nhữngvấn đề lý luận cốt lõi và thực tiễn về mua bán nợ xấu vàpháp luật về mua bán nợxấu từhoạt độngcho vay của các TCTD.
– Luận án là nguồn tài liệu hữu íchđối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc đánh giá hiệu quả của các quy định pháp luật về mua bán nợ xấu từhoạt động cho vay của các TCTD, làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới.
– Luận án còn là nguồn tài liệu có giá trị đối với các cơsởnghiên cứu khoa học, giảng dạy,họctậpvề mua bánnợxấu và pháp luật về mua bánnợxấutừhoạtđộngcho vay của các TCTD.
– Với những cơsởlý luận và thực tiễn được rút ra từquá trình nghiên cứu, mỗi giải pháp và kiến nghị liên quan tới pháp luật về mua bán nợxấu từhoạt động cho vay của các TCTD được luận án đưa ra có giá trị tham khảo đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình hoàn thiện pháp luật, đặc biệt là quá trình xây dựng thị trường mua bán nợ xấu.
7. Kết cấu của luận án
Với mụcđích và nghiệmvụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần mởđầu,kết luận, danh mục các công trình đã công bố có liên quan tới luận án, danh mục tài liệu tham khảo,bảng từviết tắt, phụ lục, nội dung của luận án được kết cấu thành bốn chương như sau:
– Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu pháp luật về mua bánnợxấu từhoạt độngcho vay của các tổ chức tín dụng
– Chương 2: Nhữngvấn đềlý luận về mua bán nợ xấu và pháp luật về mua bán nợxấu từhoạtđộngcho vay của các tổ chức tín dụng
– Chương 3: Thực trạng pháp luật về mua bán nợxấu từhoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
– Chương 4: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợxấutừhoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ
XẤU TỪ HOẠT ĐỘNGCHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1.1. Khái quát về tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
. 1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
1.2. Đánh giá khái quát về tình hình nghiên cứu liên quan tới các nội dung cơ bản của luận án
Thông qua việc nghiên cứu và đánh giá những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước liên quan trực tiếp tới nội dung của luận án, có thể rút ra một số kết luận như sau:
Thứnhất, về các công trình nghiên cứu liên quan tới đối tượng của quan hệ mua bán nợ xấu
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều có chung quan điểm trong việc phân loại nợxấu. Theo đó,dựa trên phương pháp phân loại nợđược các tổ chức uy tín trên thế giới đưa ra như của Ủy ban Basel II, Ngân hàng trung ương Châu Âu ECB, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF,nợxấu cơ bản được xác định dựa trên hai yếu tố là: nợ quáhạn trên 90 ngày và khả năng trảnợđáng ngờ. Tác giả Nguyễn Thị Tú khẳng định:
“Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợxấukhi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ” [88,7]. Quan điểm này cũngnhận được sựủnghộ của các nhà nghiên cứu khác khi đưa ra cách thức phân loại nợtrong hoạt độngngân hàng, như trong các công trình nghiên cứucủa tác giả Trà Đình Thử, Nguyễn Thị Hoài Phương, Phạm Thị Thương. Khi nghiên cứu về vấn đề này, các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng có chung quan điểm về cơsởđể xác định nợxấu,đồngthời còn chỉ ra những
khoản nợ xấu này được hình thành chủ yếu từ quan hệ hợp đồng cho vay giữa ngân hàng và khách hàng.
Sự thống nhất này đạt được từgóc độ lý luận của các nhà nghiên cứu cho tới góc độ xây dựng pháp luật thực định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mặc dùcác nhà khoa học trong nước và ngoài nước khá nhất trí về phương pháp phân loại nợnhưng trên thực tế, các nhà hoạt động thực tiễn ở Việt Namlại dườngnhư chưa có sựđồngthuận trong cách hiểu và vận dụng phương pháp này. Thực tiễn chỉ ra rằng, khi phân loại nợvà xếp một khoản nợvào nhómnợxấu, bản thân giữa các
NHTM nói riêng và TCTD nói chung đang tồn tại những cách hiểu và vận dụng không thống nhất. Thêm vào đó,giữa TCTD và NHNN dườngnhư cũng đangtồn
tại vấn đề tương tự. Trong khi NHNN muốn áp dụng triệt để các chuẩn mực quốctếvề phương pháp phân loại nợ theo cơ sở quá hạn 90 ngày thì các TCTD vì những lợiích riêng của mình lại cố gắng trì hoãn hoặc lựa chọn phương pháp phân loại nợkhác.Đâythực sựlà vấnđề lớn nhưng lại chưa được nhiều công trình nghiên cứu tiếp cận và giải quyết. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, luận án một mặt củng cốcơsởlý luận về phân loại nợ xấu, mặt khác đưa ra các cơsở xếp hạngcác nhómnợxấu thống nhất giữa các TCTD.
Thứhai, về các công trình nghiên cứu liên quan tới chủ thể tham gia mua bán nợ xấu
Nếu như các công trình nghiên cứu về đối tượngcủa quan hệ mua bán nợxấu cho thấycó sựtương đồng trong quan điểm của các nhà nghiên cứu về phương pháp phân loại nợ, các công trình nghiên cứu về chủ thể tham gia mua bán nợ vẫn còn rất nhiều các quan điểmtrái chiều.Sựbất đồngquan điểmnày không chỉ gắn với vấn đề nhưchủ thể nào được tham gia vào hoạt động mua bán nợ xấu ngân hàng mà còn gắn với vai trò của từng loại chủ thể ra sao trên thị trường mua bán nợ; nếu Nhà nước thành lậpcác công ty mua bán nợtập trung thì các chủ thể nàysẽ hoạtđộngdưới hình thức công ty cổ phần hay công ty TNHH một thành viên; nguồn vốn
được lấy từđâu để hoạt động… Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những quan điểm khác biệt giữa các nhà nghiên cứu xuất phát từsựphụ thuộc của tác giả liên quan
tới thể chế chính trị của quốc gia, điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, thậm chí là sự
khác biệt giữa các giai đoạn phát triển của thị trường mua bán nợ khi chưa có sự can thiệp của Nhà nước với giai đoạn khi đã có sự can thiệp của Nhà nước.
Với các nhà nghiên cứu ởtrongnước có thể dễ dàng chia các công trình nghiên cứu ra làm hai phần với mốcsựkiện đặc biệt là sự ra đời củaVAMC năm 2013. Nếu như trước khi VAMC được thành lập,hầu hết sự tậptrung của các nhànghiên cứu hướng vào công ty mua bán nợ thuộc Bộ Tài chính (DATC) và các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc các TCTD (AMC),đồng thời bắt đầuđưa ra các khuyến nghị đối với mô hình của công ty mua bán nợ tập trung khi Nhànước thành lập, thì sau khi VAMC ra đời, các nhà nghiên cứu gần như hoàn toànbỏrơi vai trò của các chủ thể này đối với thị trường. Đây là một sai lầm, bởi thực tiễn ởThái Lan, Maylaysia, Indonesia, Trung Quốc đã chỉ ra,sựtồntại của công ty mua bán nợdo Nhà nước thành lậpchỉ ởmột giaiđoạn lịch sựnhất định với sứmệnh chung là giải quyết nhanh chóng tình trạngnợxấu tăng cao ở quốc gia đó.Sự tồn tại này mang tính định hướngthị trường nhằm phát huy hiệu quả hoạt độngcủa các công ty mua bán nợ tư nhân hướng tới việc thành lập thị trường mua bán nợ xấu.
Trong bài viết “Hiện trạng thị trường mua bán nợViệt Nam và chính sách phát triển”,thông qua việc phân tích vai trò của DATC và hơn 20 AMC trên thịtrường, tácgiảnhấn mạnh đếntầm quan trọng của việc xây dựng quy chế pháp lýđặc thù để phát huy hiệu quả hơn nữa hoạt động của các chủ thể này. Trong khuyến nghị của mình, tác giả khẳng định: “Để hình thành thị trường mua bán nợ xấu, việc thành lập công ty mua bán nợ trực thuộc NHNN rất quan trọng” [32,23]. Khi công ty này ra đời sẽ mang tính định hướng chosựphát triểncủa thịtrường. Tuy nhiên, tác giả lại không chỉ ra được mô hình hoạt động,phương án mua bán nợxấu của chủ thể này.
Cũng nghiên cứu về vai trò của công ty mua bán nợ do Nhà nước thành lập, tác giả Đào Thị Hồ Hương tập trung nhấn mạnh tới vai trò của Chính phủ trong việc tạo ra quyền lực đủ mạnh và cơ chế hoạt độngđủ linh hoạt cho chủ thể này nếu muốn phát huy hiệu quả của hoạt độngmua bán nợxấu của NHTM. Theo đó,tác giảkhẳng định: “Công ty quản lý tài sản (AMC) đượchình thành phải cóđịnh hướng và quyền lực rõ ràng. Quyền lực của AMC phải được giao với nguồn ngân
sách nhất định và thờihạn cụthể” [38,33]. Đây là quan điểm rất phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
Đây cũng là quan điểmđược hầu hết các nhà nghiên cứu trên thế giới ủng hộ.Ở Trung Quốc, vai trò củacác công ty quản lý tài sản của Nhànước vô cùng quan trọng. Như trong nghiên cứu của hai tác giả Guonan Ma và Ben S C Fung khẳng định năm 1999, Trung Quốc thiết lập bốn AMC nhằm tiếp thu, quản lý và xửlý nợxấu từbốn NHTM quốc doanh lớn. Nguồn lực tài chính bốn AMC ban đầu bao gồm ba yếu tố sau đây: 10 tỷ nhân dân tệ vốn được cung cấp bởi Bộ Tài chính cho mỗi AMC, một khoản vay mới là 548 tỷ nhân dân tệ từ PBoC, và 846 tỷ nhân dân tệ trái phiếu do các AMC phát hành (với lãi suất 2,25 %). Mặc dù không được quy định rõ ràng, các trái phiếu đã mặc nhiên được bảo đảmbởi Bộ Tài chính
[101,12]. Hay như ở khu vực sử dụng đồng tiền chung Euro, nghiên cứu của nhóm tác giả đến từ Quỹ tiền tệ quốctế IMF kết luận khi đánh giá vai trò của các AMCđược thành lập ở các nước như Hungary, Ireland, Latvia, Slovenia và Tây Ban Nha. Chỉ đến khi các AMC được thành lập,hiệu quả xửlý nợxấu mới thực sựphát huy và thị trường mua bán nợ xấu mới bắt đầu hình thành.
Như vậy, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã có những phân tích cụ thể để làm sáng tỏ vai trò của các công ty mua bán nợ với nguồn vốn lấy từNSNN trong việcxửlý tình trạng nợ xấu và định hướng phát triển thị trường mua bán nợ. Tuy nhiên, về hình thức pháp lý và nguốn vốn hoạt động của mô hình này cũng như chính sách bảo lãnh của Chính phủ hoặc ngân hàng trung ương đảm bảo cho hoạt độngmua bán nợxấu chưa được các tác giả nghiên cứu thấu đáo. Ngoài ra, hầu như các tác giả không có những nhìn nhận đúngvề vai trò quan trọng của các công ty mua bán nợ tư nhân trong việc xây dựng thị trường mua bán nợ xấu tập trung. Vì vây,đây sẽlà một trong các vấn đề cốt lõi được luận án tập trung nghiên cứu.
Thứba, về các công trình nghiên cứu liên quan tới phương pháp xác định giá mua bán nợ xấu
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều chỉ ra có hai phương pháp xác định giá mua bán nợxấu được lựa chọn,đó làxác định theo giá trị thị trường hoặc theo giá trị ghisổ.Hai phương pháp xác định giá này được xác lập trong những quan hệmua bán nợkhác nhau với sựtham gia của các chủ thể khác nhau. Theo đó,việc mua bánnợxấu theo giá trị ghi sổ của khoản nợ được xác lập khi các công ty mua bán nợ do Nhà nước thành lập muanợxấu của hệ thống ngân hàng, còn việc mua bán nợ xấu theo giá trị thị trường được xác lập chủ yếu bởi quan hệ mua bán có sựtham gia của công ty mua bán nợ tư nhân hoặc công ty mua bán nợ của Nhà nước khi không chịu áp lực về thực hiện mục tiêu quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng.
Một trong những quốc gia thực hiện triệt để nhất nguyên tắc mua bán nợ xấu theo giá trị trên sổ sách kế toán là Trung Quốc. Một nghiên cứu của tác giả LI Jiangfeng cho thấy năm 1999, khi bốn AMC Huarong, Cinda, Orient và Great Wallđược thành lập,cảbốn AMC muanợxấutheo giá trị sổ sách bằng việc phát hành trái phiếu đặc biệt chứ không phải theo giá trị thực tế của khoản nợ. Qua quá trình phân tích, tác giả tìm thấy nguyên nhân ảnh hưởng tới phương thức này đó mụcđích của Chính phủ Trung Quốc hướngtới bên cạnh việc đưa tỷ lệ nợxấu vềngưỡng an toàn còn nhằm bơm vốn cho bốn ngân hàng quốc doanh để duy trì tốc độtăng trưởng của nền kinhtế.Kết quả nghiên cứu này cũng nhận được sự đồng thuận của hai tác giả Guonan Ma và Ben S C Fung trongbài “Các công ty quản lý tài sản của Trung Quốc”.
Đối với các nhà nghiên cứu trong nước, trước khi VAMC ra đời, hầu hết các công trình nghiên cứu đều nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc thành lập công ty mua bán nợ sử dụng vốn NSNN.Ở đó,các tác giả định hướng công ty này sẽ mua bán nợ xấu theo giátrị thịtrường, tức là dựa trên giá trị thực tế củanợxấu tại thờiđiểmgiao kết,chứkhông theo giá trị ghi sổ của khoản nợxấu như trong bài viết “Bànvề hướng xửlýnợxấucủa hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”. Nguyên nhân được các tác giả lý giải cho đề xuất này vì phương án này không gâyáp lực lên ngân sách vốnđã rấteo hẹpở ViệtNam và phản ánh đúng bản chất của quan hệ mua bán trên thị trường.
Đối với các quốc gia như Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc hay khu vực EU, mua bán nợxấutheo giá trị thị trường là phương án phổ biến nhất. Ở các quốc gia này giá mua trung bình dao động từ khoảng 1/3 đến 1/2 giá trị sổ sách của khoản nợxấu. Nhìn chung, phương pháp định giá theo giá trị thị trường hạn chế được rủi ro vềmặt đạo đức cũngnhư tâm lý bức xúc của xã hội khi sử dụng tiền nộp thuế của người dân để giải quyết vấn đề nợxấu.
Như vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu đều thống nhất có hai phương pháp xác định giá mua bán nợ xấu,gồmmua bán nợ xấu theo giá trị thị trường vàtheo giá trị sổ sách. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, áp
lực đối với NSNN cũng như mục tiêu theo đuổi của Chính phủ khi mua bán nợ xấu của hệ thống ngân hàng, phương pháp mua bán nợxấu theo giá trị thị trường hay giá trịsổ sách sẽ được lựa chọn. Tuy nhiên các công trình này chưa làm rõ được nhữngđiềukiện mà các khoảnnợxấu phải thỏa mãn để công ty mua bán nợlựa chọn việc mua bán theo giá trị thị trường hay giá trị sổ sách.
Bên cạnh đó, nguyên tắc xác định giá nợ xấu theo giá trị thị trường cũng cầnđược nghiên cứu làm sáng tỏ thêm. Việc mua nợ xấu bằng 1/3 hay ½ hay một tỷ lệkhác của khoản nợxấu cần được làmrõ bằng những luận chứng cụ thể. Đây là yêu cầu quan trọng mà các công trình đã nghiên cứu chưa giải quyết thấu đáo.
Thứtư, về các công trình nghiên cứu liên quan tới phương thức mua bán nợ xấu
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đều chỉ ra hai phương thức cơ bản các bên có thể lựa chọn bao gồm thỏa thuận hoặc thông quađấu giá. Việc lựa chọn phương thức mua bán nào chịusựảnh hưởngrất lớn bởi phương pháp xác định giá mua bánnợxấu,bên cạnh yếu tố về nguồn vốn được sửdụng để thanh toán trong quan hệ mua bán này. Theo đó, phương thức mua bán nợxấu thông qua đấu giá được lựa chọn khi các bên mua bán theo giá trị thị trường của khoản nợ xấu.Việc sửdụng phương thức này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi và hạn chế rủi ro đối với các bên.
Đối với các quan hệ mua bán nợxấu sửdụng phương pháp xác định giá theo giá trị sổ sách của khoản nợ xấu như ở Trung Quốc, các công trình đều khẳng định, thỏa thuận là phương pháp chính vì việc mua bán nợ giống như việc chuyển giao nợxấu từTCTD bán nợ sang các công ty mua nợxấu hoạt độngtừNSNN.
Thứnăm, về các công trình nghiên cứu liên quan tới công cụ thanh toán trong giao dịch mua bán nợ xấu
Để đảmbảo quan hệ mua bán nợxấu thực sựphát huy hiệu quả, yêu cầu xây dựng được phương án mua bán với công cụ thanh toán vừa có tính thanh khoản cao,được các ngân hàng chấp nhận, vừa tránh áp lực đối với NSNN vô cùng quan trọng. Với yêu cầu này, hầu hếtcác công trình nghiên cứu ởtrong và ngoài nước đều có chung quan điểm, đó là thay vì thanh toán trực tiếp cho các ngân hàng bán nợ xấu bằng tiền mặt, công ty mua bán nợsẽ phát hành trái phiếu đặc biệt để thanh toán cho các ngân hàng.
Trong bài nghiên cứu về “Các công ty quản lý tài sản của Trung Quốc”, nhóm tác giả Guonan Ma và Ben S C Fung chỉ ra, với cơ cấu nguồn vốn hoạt động của bốn AMC được cấp từngân sách rất nhỏ, khả năng thanh toán trực tiếp cho các ngân hàng bán nợ xấu bằng tiền mặt là bất khả thi. Vì vậy việc phát hành trái phiếu làm công cụ thanh toán trong quan hệ mua bán nợ xấu là công cụ cơbảnvà tối ưu nhất. Nhận định này cũng nhận được sự đồng tình của tác giả LI Jiangfeng trong bài nghiên cứu: “Các khoản cho vay không hiệu quả và Các công ty quản lý tài sảnởTrung Quốc: Những thách thức đối với pháp luật và quản lý để xử lý và thu hồi nợhiệu quả”.
Không chỉ ở Trung Quốc, những nghiên cứu của các tác giả về mua bánnợxấu ởThái Lan, Malaysia, EU cũng chỉ ra, mua bán nợxấu bằng phát hành trái phiếu đặc biệt là phương án hiệu quả nhất, phù hợp với tình hình ngân sách của các quốc gia nhất. Nghiêncứucủa Masahiro Inoguchichỉra nguồnvốnđược cấptừngân sách cho hoạt động của các AMC ở Thái Lan và Malaysia rất thấp, mà chủ yếu từphát hành trái phiếu của AMC này. Hay như trong công trình nghiêncứucủa nhóm tác giảShekhar Aiyar, Wolfgang Bergthaler, Jose M. Garrido, Anna Ilyina,
Andreas Jobst, Kenneth Kang, Dmitriy Kovtun, Yan Liu, Dermot Monaghan vàMarina Moretti:“Chiến lược giải quyết những khoản cho vay có vấn đềcủa châuÂu” ở các nước Hungary, Ireland, Latvia, Slovenia và Tây Ban Nha cũng cho thấy, mua bán nợxấu bằng phát hành trái phiếu là phương án quan trọng nhất được lựa chọn.
Trong khi đó, đối với các công trình nghiên cứu ở trongnước,hầu hết các tác giảđều nhấnmạnh tới vai trò của việc phát hành trái phiếuđặc biệtcủa VAMC làm công cụ thanh toán trong quan hệ mua bán nợ xấu như trong bài viết của ThS Đào Thị Hồ Hương“Bànvề hướng xửlý nợxấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”,TS Hoàng Xuân Hòa, Ths Trần Kim Anh “Vấn đề nợxấu và một số giải pháp” hay của Lê Thị Thu Thủy, Đỗ Minh Tuấn “Nợ xấu ngân hàng dưới khía cạnh pháp lý”.
Tuy nhiên có một vấn đềchưa được các công trình nghiên cứu trongnước làm rõ, đó là yếu tố nào đảm bảo cho tính thanh khoản của các trái phiếu đặc biệt do công ty mua bán nợ do Nhà nước thành lập phát hành? Đó là dựa trên sự bảo lãnh của Chính phủhay ngân hàng trung ương? Nếu nhưởTrung Quốc, trái phiếu do bốn AMC phát hành được bảo lãnh bởi Bộ Tài chính, Malaysia là Chính phủ, Thái Lan là ngân hàng trung ương, các nước EU là ngân hàng trung ương, thì ởViệt Nam, trái phiếu củaVAMC có cầnđược bảolãnh không? Nếu có,đólà cơ quan nào? Đây là câu hỏi cần sớm tìm lời giải nếu muốn nhanh chóng giải quyết vấn đềnợ xấu của hệ thống ngân hàng ở Việt Nam. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án,đây sẽ là một nội dung quan trọng được tập trung giải quyết.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 1.3.1. Câu hỏi nghiên cứu
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU TỪ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM
Pháp luật về mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD ở Việt Nam Pháp luật về mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD ở Việt Nam Pháp luật về mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD ở Việt Nam Pháp luật về mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD ở Việt Nam Pháp luật về mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD ở Việt Nam


