Pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật tố tụng hình sự là phương tiện, cách thức của các nhà nước đươngđại thực hiện để phát hiện, điều tra, truy tố, xét xửcác hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm. Trong xã hội cónhà nước nhiệm vụ đấutranh phòng, chống tội phạm được đặt ra cho các cơ quan bảo vệ pháp luật của nhà nước, nhà nước có trách nhiệm duy trì quyền lực công bảo vệ các lợi ích, giá trị xã hội mà nhà nước đó xácđịnh. Việc nhà nước nhân danh công quyền truy cứu trách nhiệm hình sựngười thực hiện hành vi phạm tộiđược gọi làquyền công tố. Tính chất công tốtrởthành nguyên tắc chung và là xu thế tất yếu của hầu hết nhà nước hiện nay [86, tr.20]. Tuy nhiên, phụ thuộc vào kiểu tố tụng, mô hình tố tụng và truyền thống pháp luật mỗi nhà nước có cách thức thực hiện khác nhau. Hiện nay nguyên tắc công tố được coi là nền tảng của tất cả các nước, bên cạnh đócó nước cũng quyđịnhcơ chế điều chỉnh pháp luật tốtụng hình sựvề “quyền tưtố” đối với vụ án hình sựbên cạnh quyền công tố. Về phạm vi tư tố trong trường hợp nàychỉáp dụngđối với một sốlượng ít các tội phạm có tính chất xâm hại đến quyền riêng tư cá nhân người bị hại về thể chất, tinh thần và tài sản.
Việc lựa chọn quy định cách thức nào để khởi động tố tụng hình sự với vụ án bằng con đường công tố hay tưtố phải xuất phát từcác nhu cầu và đòi nhất định, phải dựa trên các triết lý nhất định, phản ánh truyền thống văn hóa pháp luật của quốc gia đó,đánh giá được hiệu quả mà pháp luật quốc gia đó quy định cho cách thức tố tụng mà họ lựa chọn. Trong tố tụng hình sựcó một kết quả chung hướngđến là nhà nướcphải chủ độngnắm được nhiệmvụđấu tranh phòng chống tội phạm, xử lý tội phạm, kiểm soát được tội phạm, duy trì trật tự xã hội, bảo vệ quyền
lợi hợp pháp của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra. Tuy nhiên, nhà nước không chỉ hướng tới mục tiêu duy nhất là bảo vệ các giá trị nhà nước xác định, lợi ích xãhội mà còn phải tínhđến bảo vệ hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia tốtụng, bảo vệ quyền con người nhất là quyền của người bị hại, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra.
Xét về hiệu quả điều chỉnh pháp luật của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người, tổ chức bị hại trong tốtụng hình sựkhông phải chỉ là các lợi ích thực tế vật chất mà còn là các lợi ích tinh thần, lợi ích khác; lợi ích không chỉ đặt
1
trong một quan hệ nhất định mà phải đặt trong tổng thể các quan hệ xã hội. Chính vì vậy pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã quy địnhvề khởitố vụ án hìnhsựtheo yêu cầu của người bị hại, dành cho bị hại (cá nhân vàtổchức) đượclựa chọn cách thức bắt đầu và chấm dứt tố tụng bằng quy định “Quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sựtheo yêu cầucủabị hại”; nộidungcủaquyền này bao gồm các yếu tố là: Quyền yêu cầu khởi tố vụ ánhình sự, quyền rút yêucầukhởi tố vụ án hình sựcủabị hại trong vụ án. Trong lịchsửlập pháp tố tụng Việt Nam, quyền này được ghi nhận lầnđầu tiên tại Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sựnăm 1988 và tại Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nay là Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Thực hiện các quy định pháp luật về khởi tố vụ án hìnhsựtheo yêu cầu của bị hại thời gian qua còn nhiềubấtcập, hạn chếvề: phạm vi và chủ thể thực hiện quyền, về cách thức thực hiện quyền, hậu quả pháp lý của việc thực hiện quyền khởi tố hoặc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Việc nhận thức và thực hiện chưa thống nhất các nội dung trên làm cho pháp luật chưa nghiêm, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại. Mặt khác các quy định nêu trên chưa đáp ứngđược yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay theo hướng bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự, đa dạng hóa các biện pháp xử lý về tội phạm và người phạm tội, dođócần phải nghiên cứu làm rõ hạn chế, đưa ra giải pháp khắc phục.
Nghiên cứu về nội dung này, đã có nhiều bài báo, công trình khoa học, đề tài luận văn, luận án đề cập dưới nhiều giác độ khác nhau: lý luận, thực tiễn pháp luật thực địnhvề khởi tố vụ án hình sựtheo yêu cầu của người bị hại; nghiên cứu chuyên đềvề quyền của người bị hạidựa trên “phươngpháp tiếp cận dựatrên quyền”, nghiên cứuvềviệc khởi tốvụ án hình sựtheo yêu cầu của người bịhại trong tố tụng hình sự.Các công trình nghiên cứu đãluận giải sâu sắc khái niệm người bị hại, về quyền của người bị hại, phân biệt người bị hại và những người khác có tính chất, quan hệ tương đồng trong tố tụng hình sự như: nghiên cứu về nạn nhân
tội phạm, nguyên đơn dân sự, người bị oan trong tố tụng hình sự…theo quan điểm tiếp cận của các tác giả.
Đánh giá các kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy:
i) Còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu tiếp cậndưới giác độpháp luật và điều chỉnh của pháp luậtthực định về khởitố vụ án theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự: nghiên cứu nhu cầu điều chỉnh của xã hội đối với quyđịnh
2
pháp luật khởi tố vụ án hình sựtheo yêu cầu của người bị hại; nghiên cứu sựtácđộngcủa các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hộiđến việc lựa chọn phương pháp điều chỉnh, lựa chọn đối tượng điều chỉnh, quy định nội dung điều chỉnh cũng như làm rõ triết lý tốtụng củaquyđịnh pháp luật khởi tố vụ án hình sựtheo yêu cầu của người bị hại.
ii) Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật đã giải quyết căn bản các hạn chế của quyđịnh trong Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2003 mà chưa có điều kiện làm rõnhững hạn chế, vướng mắc, kiến nghị về các quy định mới phát sinhcủa Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2015.
iii) Các nghiên cứuđãcông bố chưa chỉ ra được bằng cácsố liệu khảo sát, minh chứng từ thực tiễn về nhận thức và thực hiện quy định pháp luật về khởi tố vụ
án theo yêu cầu của người bị hại… từđó đưa ra các khuyến nghị cần giải thích, nhận thức thống nhất để thực hiện.
vi) Việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu của các công trình đã công bố còn thiếu vắng các nghiên cứu mang tính chuyên khảo tiếp cận dướigiác độ liên ngành, đa ngành và xã hội học pháp luật; còn ít các nghiên cứu tiếp cận vấn đề điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của ngườibị hạidựa trên việc “bảo vệ quyền của người bịhại” với tính chất là quyền con người trong tư pháp hình sự.
Hiến pháp năm 2013 đã được Quốc hội thông qua và đi vào đời sống xã hội, theo đó nhiều nội dung mới cần phải được triển khai, cụ thể hóa sâu sắc trong đó nhu cầu về bảo vệ quyền con người nói chung và trong pháp luật tố tụng hình sự nói riêng đang là nội dung cấp bách. Nội dung của việc bảo vệ quyền con ngườitheo cách tiếp cận mới không chỉ đơnthuần là ghi nhận mà cần phải tôn trọng và bảo đảmthi hành là những yêu cầu phải tính đến. Mặt khác, nhìn nhậnvề chính sách hình sự và chính sách về pháp luật tố tụng hình sự cũng cần phải được thay đổi đểđáp ứng các nhu cầu điều chỉnh xã hội hiện nay trên những phương diện mới để hướng đến một nền tưpháp đồng bộ, minh bạch, dân chủ, công lý, tôn trọng và bảo vệ các quyền con người.
Chính vì lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đềtài: “Pháp luật về khởi tố vụán hìnhsự theo yêu cầu của người bịhại trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ Luật học của mình.
3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận án là nhằm làm sáng tỏmột sốvấn đềlý luận, thực tiễn pháp luật và điều chỉnh pháp luật, thực hiện pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, đưa ra các định hướng, các luận cứ khoa học nhằm kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chếbảođảmthực hiện pháp luật vàđiềuchỉnh pháp luậtvềkhởitốvụán hìnhsựtheo yêu cầu củangười bị hạitrong tố tụng hình sự ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu được nghiên cứu sinh xác định cụ thể nghiên cứu về bảnthân pháp luật và hoàn thiện pháp luật thực định về nội dung nghiên cứu như sau:
– Phân tích, đánh giá bản chất pháp lý, nhu cầu khách quan điều chỉnh bằng pháp luật đối với việc khởi tố vụ án hình sự; cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện pháp luật về khởi tố vụ án hình sự; cơ chế điều chỉnh pháp luật và các yếu tố tác động đến điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án hìnhsựtheo yêu cầu của người bị hại.
– Phân tích, đánh giá điều chỉnh pháp luật của một số nước và mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới có liên quan đến đề tài, nêu ra kinh nghiệm cóthểtham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
– Phân tích, đánh giá làm rõ pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật, vai trò của điều chỉnh pháp luật về khởi tốvụ án theo yêu cầu củangười bị hạitrong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, làm rõ những vướng mắc, hạn chế, bất cập vànhu cầu hoàn thiện.
-Đềxuất, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật và điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án hình sựtheo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sựViệt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các vấn đề lý luận, thực tiễn pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luậtvềkhởi tố vụán hình sự theo yêucầu của người bịhại trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay.
4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, phạm vi nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn pháp luật vàthực hiện pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam; so sánh đối tượng nghiên cứu với pháp luật tố tụng hình sự một sốnước trên thế giới có mô hình tố tụng hình sự điển hình, có chế độ chính trị và truyền thống văn hóa pháp lý tương đồng.
Vềkhông gian và thời gian, phạm vi nghiên cứu của Luận án là các quy định pháp luật và thực hiện pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bịhạitrong tốtụng hìnhsựViệt Namtừnăm 2003đếnnăm 2016.Số liệu giải quyếtđược phân tích, tổng hợp, đánh giá từ năm 2010 đến năm 2015.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử.Các phương pháp nghiên cứu cụ thểgồm: phân tích, tổng hợp, hệ thống, liên ngành và đa ngành, luật học so sánh, nghiên cứu trường hợpđiển hình, phương pháp sử dụng số liệu thống kê để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu trong phạm vi luận án. Các nội dung cụthể củaLuận án, nghiên cứu sinhsửdụng các biện pháp sau đây:
Chương 2, mục 2.1. Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệthống, phương pháp nghiên cứu đánh giá liên ngành giữa ngành luật học và các ngành khoa học xãhộikhác để làm rõkháiniệm, đặcđiểm pháp luậtvề khởi tố vụán theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hìnhsựViệt Nam.
Chương 2, mục 2.2. Luận án chủ yếu sửdụng phương pháp phân tích hệthống, phương áp nghiên cứu đánh giá liên ngành giữa ngành luật học và các ngành khoa học xã hội khác, tiếp cận và đánh giá liên ngành của các chuyên ngành trong luật học như giữa: pháp luật tố tụng hình sự với pháp luật hình sự; pháp luật tố tụng hình sự với chuyên ngành luật hiến pháp, pháp luật về kinh tế, pháp luật về quyền con người, pháp luật dân sự, pháp luật tố tụng dân sự; phương pháp tiếp cậndựa trên quyền để chỉ ra các yếu tố tác độngvà điều chỉnh pháp luật về khởi tốvụ án theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 2, mục 2.3. Luận án chủ yếu sửdụng phương pháp phân tích hệthống và phương pháp so sánh luật để làm rõ đối tượng, nội dung và phương pháp
5
điều chỉnh của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và pháp luật tố tụng hìnhsựmột số nước quyđịnh liên quan đến việc khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự.
Chương 3, mục 3.1. Luận án sửdụng phương pháp lịch sửvà phân tích hệthống đểlàm rõ sự hình thành và phát triển của pháp luật và điều chỉnh pháp luậtvềkhởi tốvụ án theo yêu cầu củangười bị hạitrong tốtụng hìnhsựViệt Nam thời gian qua.
Chương 3, mục 3.2. Luận án chủ yếu sửdụng phương pháp phân tích, tổng hợp để nêu lên các đánh giá của nghiên cứu sinh về quyđịnh pháp luật và điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại trongtố tụnghìnhsựViệt Nam.
Chương 3, mục 3.3. Tại mục này tác giả sử dụng các phương pháp:
Phương pháp sử dụng số liệu thống kê, phân tích, phương pháphệ thống đểchỉ ra thực trạng pháp luật và điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp hệ thống, tiếp cận liên ngành để lập luận xác định hiệu quả, đánh giá mức độ hoàn thiện thực trạng pháp luật và điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án theo yêucầu của ngườibị hạitrongtố
tụng hình sự Việt Nam.
Chương 4, mục 4.1. Tại mục này luận án sử dụng các phương pháp:
Phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp hệ thống, tiếp cận liên ngành để lập luận để khẳng định rõ các yêu cầu xã hội đặt ra trong điều chỉnh pháp luật và xây dựng pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại trong tố
tụng hình sự Việt Nam hiện nay và thời gian tới.
Phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp hệ thống, tiếp cận liên ngành để lập luận để đưa ra các định hướng cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật và điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay và thời gian tới.
Chương 4, mục 4.2. Luận án sửdụng phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp hệ thống, tiếp cận liên ngành, phương pháp so sánh luậtđể lập luận đểđưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật vàđiều chỉnh pháp luật nhằm nâng cao
hiệu quả về khởi tố vụán theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam thời gian tới.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
– Luận án làm rõ khái niệm pháp luậtvề khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam, nhu cầu điều chỉnh của xã hội và các yếutốtác độngđến điều chỉnh bằng pháp luật về khởitố vụ án theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay.
– Luận án luận giải rõ nguyên lý điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu củangười bịhại trong tố tụng hình sự Việt Nam dựa trên phương pháp điều chỉnh đặc thù là “phương pháp ghinhận và bảo đảm” quyền tựquyết định về ý chícủa người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ trong thực hiện quyền yêu cầu, rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự trong giới hạn pháp luật tố tụng hình sự quy định.
– Luận án làm rõ bản chất củapháp luật về quyền yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hạitrong tố tụng hình sự là“trường hợp đặc biệt” của phápluật về khởi tốvụ án, đây là quyền “yêu cầu khởi tố đối với vụ án hình sự” của người bị hại trong giới hạn pháp luật quy định; là cơ sở, là điều kiện để phát sinh quyền công tố nhànước vớicác tội phạm khi nhànước áp dụng chính sách hình sựdành quyềntựquyết định việc xử lý tội phạm cho người bị hại.
– Luận án phân tích rõ vai trò của pháp luật điều chỉnhvề khởitố vụ án theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sựViệt Nam trong việc bảo đảmcác yêu cầu của pháp luật tố tụngvề bảo vệquyền con người, đấu tranh phòng, chống và kiểm soát tội phạm như: vai trò là phương tiện pháp lý người bị hại thực hiện quyền của họ; là phương tiện pháp lý quan trọng để nhà nước thực hiện chính sách hình sự và đấu tranh phòng ngừa tội phạm, kiểm soát tội phạm; là phương tiện pháp lý để nhà nước bảo đảm dân chủ, công bằng trong tố tụng hình sự.
– Luận án trình bày khái quát lịch sử phát triển, thực trạng quy định pháp luật vàthực trạng thực hiện pháp luật về quyền yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại trong tốtụng hình sự; đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự và những vấn đề còn tồn tại, hạn chế.
– Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và điều chỉnh pháp luật về khởi tốvụ án theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện
7
nay thông qua các giải pháp cụthể trước mắtvà lâu dài, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về nội dung này trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án đã làm sáng tỏnhững vấn đềlý luận và thực tiễn về pháp luật và điều chỉnh pháp luật về quyền yêucầu khởi tố vụán hìnhsựcủangườibị hạitrong pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung lý luận về hoàn thiện pháp luật và điều chỉnh pháp luật về quyền củangười bị hại trong pháp luậttốtụng hìnhsự,cungcấpcác kết luận khoa học, luận cứđểgóp phần làm sáng tỏ thêm lý luận và thực tiễn thực hiện quy định phápluật về “khởi tốvụ ánhìnhsựtheo yêu cầu của người bị hại” trong pháp luật tố tụng hìnhsựViệt Nam trước yêu cầu của cải cách tư pháp.
Kết quả nghiên cứu luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các hoạtđộng nghiên cứuvà giảng dạyvề luật hình sự, luật tốtụng hình sự, pháp luật về phòng ngừa tội phạm trong tội phạm học, các chuyên đề về nâng cao nhận thức trong xử lý các vụ án hình sự khởi tố theo yêu cầu của người bị hại; Luận án có thểsửdụng như nguồn tham khảo đối với việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Bộ luật tố
tụng hình sự.
7. Cơ cấu của luận án
Chương 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2. Những vấn đề lý luận pháp luật về khởi tố vụ án hình sựtheo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự
Chương 3. Các quyđịnh pháp luật vềkhởi tố vụ án hình sựtheo yêu cầu của người bị hại và thực tiễn thực hiện
Chương 4. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật vềkhởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Nghiên cứu về pháp luật và điều chỉnh pháp luật về vấn đề khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầucủa ngườibị hại trong tố tụng hìnhsự thời gian qua được các tác giả trên thế giới và Việt Nam công bố cụ thể:
1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.2. Nghiêncứu vềđiều chỉnh pháp luật tố tụng hìnhsự vềkhởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại:
19
1.2.3. Nghiên cứuđánh giá mứcđộ hoàn thiện của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại
20
1.2.4. Đánh giá tình hình nghiên cứu đã đạt đượcliên quan đến đề tài Luận án
Qua nghiên cứu các tài liệu, công trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu “Pháp luật về khởi tố vụ án hìnhsựtheo yêu cầu của ngườibị hạitrong tố tụng hình sựViệt Nam” từ trước đến nay trên thế giới và ở Việt Nam mà nghiên cứu sinh tiếp cận được, tácgiả đưa ra một vài đánh giá về những kết quả nghiêncứu trước đây đãđạt được:
Về mặt lý luận:
– Các nghiêncứuđãxácđịnh rõ: về khái niệm,đặcđiểmcủangườibị hại trongvụ ánhình sự khởi tố theo yêucầucủahọ (như luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Đinh Thị Mai, Lê Nguyên Thanh); đồng thời cũng đã chỉ ra kháiniệm, đặcđiểm củakhởitốvụán hình sựtheo yêucầucủangườibịhạitrongtốtụng hìnhsựViệt Nam; có tác giả nêu bản chất pháp lý của khởi tố vụ án theo yêu cầucủa người bị hại chính là“quyềnbuộctộicủangườibịhạitrongtố tụng hìnhsựViệt Nam”,đâylà quyền có tính chất tư tố; việc thực hiện quyền của người bị hại là điều kiện phát sinh quyền công tố của nhà nước nằm trong giới hạn quyền công tố; chỉ racơ sở để nhà nướcthiếtlậpquyền yêucầukhởitốvụán hìnhsựtheo yêucầucủangườibịhại trong tố tụng hình sự (như luận áncủaNguyễn Đức Thái) [49],[82], [84].
– Các công trình nghiên cứu đã xác định quy định khởi tốvụ ánhình sự theo yêu cầu của người bị hại là quy định quan trọng“về quyền của người bị hại” để bảo vệ người bị hại trước tộiphạm với tư cách là quyền con người trong tư pháp hình sự, nhà nước dành cho họ quyền năng pháp lýđể định đoạt số phận pháp lý của người đã thực hiện hành vi tội phạm đối với họ trong phạm vi pháp luật quy định. Việc thực hiện quyền năng tư pháp này làm căn cứ hình thành và chấm dứt tố tụng hình sựvới vụ ánđược khởi tố theo yêu cầucủa ngườibị hại; các nghiên cứu đãđồng thời có so sánh với pháp luật của một số nước gần và cùng mô hình tốtụng Việt Nam như: Liên bang Nga, CHLB Đức, Trung Quốcđể thấy điểmtương đồng và khác biệt. [32],[76],[90].
– Một số công trình nghiên cứu cũng đã chỉ ra những yếu tố cần thiết phải quyđịnhtrách nhiệm nhànướctrongbảođảm quyền yêucầunhư: cácbảođảm
21
thực hiện quyềncủangườibịhạikhihọtựthểhiệnýchí bằng việc hòa giải, thương lượng, rút đơn; so sánhlợiíchcủangườibịhại khi cân nhắc thực hiện quyền; đề xuất mởrộng quy định của quyền này sang một số tội danh cho phù hợp yêu cầu thực tiễn và có đối chiếu tham khảo với pháp luật một số nước [20, tr.30 – 36], [21, tr.33-36], [32], [49],[90],
Đây là những kết quả lý luận quan trọng mà các tác giả trước đó đã đạt được, cung cấp cho nghiên cứu sinh cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu lý thuyết với đề tài, đócũng là cơ sở để nghiên cứu sinh kế thừa làm sáng tỏ hơn trong các nghiên cứu của mình.
Với các nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sựnước ngoài tác giả tiếp cận đượcđã cung cấp cho tác giả cái nhìn toàn diện về “Quyền tư tố” hay “Quyền truy
tố cá nhân”trong tố tụng hình sựcủa họ dướigiác độ luật so sánh; từ đó tác giả cócái nhìn đa chiều, có cơ sởđể nghiên cứu so sánhvớithực trạng pháp luật Việt Nam, làm cơ sở luận giải và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tốtụng hình sự hiện hành về quy định này.
Về mặt thực tiễn:
Các nghiên cứu chỉ ra với quy định này trong pháp luật tố tụng hìnhsựViệt Nam quyền của người bị hại được quan tâm bảo vệ; ngườibị hạidành được thế chủđộng khi yêu cầu thực hiện thủ tục tố tụng hình sự với vụ án mà họ là người bị thiệt hạiđể tự bảo vệmình.
– Các nghiên cứu cũng chỉ ra nhiềutồn tạitrong quá trình áp dụng quy định củaBLTTHSvềkhởitốvụán hìnhsựtheo yêucầucủangườibịhạiởnhững nội dung:thủtục công nhậnngườibịhại; quy trình vànộidung thực hiện quyền; việc thực hiện quy định này vào xử lý đối vớimột sốtrường hợp cụ thể có nhiềubấtcập.
Các nghiên cứu thực tiễn đã mang lại bức tranh sinh động, chứng minh sức sống của quy định trong thực tế đó là các cơ sở khoa học rất có giá trị để nghiên cứu sinh tổng kết thực tiễn, tiếp thu các kết quả nghiên cứu đã thu được, kiến nghị hoàn thiện chế định này trong đề tài luận án.
-Vềnội dung hướngnghiên cứucủa các công trìnhđã công bố: hầu hết đềcập về nội dung “việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trongtố
22
tụng hình sự Việt Nam” mà chưa có công trình nào nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về “thực trạngpháp luật và điều chỉnh pháp luật” về khởi tố vụ án hình sự theo yêucầucủangườibị hạitrong tố tụng hìnhsựViệt Namđểluận giải, đánh giávềcácnộidung quyđịnhpháp luật:vềnộidung,đốitượng, phương thứcđiều chỉnh, hiệuquảđiềuchỉnh pháp luật, cácyếutốảnhhưởngđếnviệcđiềuchỉnh pháp luậtvềkhởitốvụán hìnhsựtheo yêucầucủangườibịhạitrongtốtụng hình sự Việt Nam hiện nay.
– Các nghiên cứu về “thực trạng pháp luật và điều chỉnh pháp luật” về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam đãcông bố mang tính chất đơn lẻ, cũng chỉ dừng lại ở phạm vi bài báo khoa học, một phần trong sách chuyênđề,mà chưa có tácgiảnào nghiên cứu trong phạm vi Luận án tiến sĩ Luật học.
1.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tổng hợp các công trình nghiên cứu đã công bốliên quan đến luận án, tác giảxác định các vấn đềđặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án này là:
– Thứ nhất, nghiên cứu, phân tích làm rõ nội hàm khái niệm pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam; làm rõ cơ sở lý luận về nội dung, vai trò và những yếu tố tác động đến pháp luật và điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam.
-Thứhai, nghiên cứulàm rõ quá trình hình thành và phát triển, thực trạng pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật vềkhởi tốvụán hình sựtheo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam; đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật vềkhởi tốvụán hình sựtheo yêu cầu của người bịhại trong tốtụng hình sựViệt Nam hiện nay; so sánh với pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới đểrút ra kinh nghiệm tham khảo vận dụng trong xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật, xác định nhu cầu và biện pháp điều chỉnh pháp luật về quy định này.
– Thứ ba, làm rõ và luận giải bằng cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về
23
khởi tố vụ ánhình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam; khuyến nghị các dự báo, giải pháp hoàn thiện pháp luật và điều chỉnh pháp luật vềkhởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam thời gian tới.
Để giải quyết các vấn đề đặt racần tiếp tục nghiên cứu trong luận án, nghiên cứu sinh dựa trên cơ sở lý thuyết, đặt ra câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu và hướng tiếp cận sau đây:
1.3.1. Cơ sở lý thuyết
Luận án sử dụng một số lý thuyết sử dụng khi nghiên cứu sau đây:
– Lý thuyết chung mà luận án dùng để tiếp cận được thực hiện trên cơ sở học thuyết Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nướcvà pháp luật; các quanđiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về định hướng và hoàn thiện hệ thống pháp luậtđáp ứng yêu cầu đổi mới đấtnước,hộinhập quốc tế; tưtưởngvàđịnhhướngxây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tư tưởng và yêu cầu của Hiến pháp 2013 về ghi nhận, bảo vệ và thực hiện các quyền con người phổ quát.
– Lý thuyết mà luận án tiếp cận nghiên cứu cụ thể là quan điểmcủa Đảng, nhà nước về tính thống nhất của quyền lực nhà nước vào phân tích điều chỉnh pháp luật về khởitố vụ án theo yêu cầu của ngườibị hạitrongtố tụng hình sựlàm rõ:
nguyên lý quyền công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam, nguyên lý trách nhiệmxửlý tội phạm thuộc về nhà nước, nguyêntắc bảo đảm quyềncon người trong tư pháp hình sự; nguyên lý về phối hợp và kiểm soát trách nhiệm giữa các cơ quan tiến hành
tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự…
– Lý thuyết về chính sách hình sự và phòng ngừa tội phạm;
– Lý thuyết bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự; – Lý thuyết về tính hiệu quả trong tố tụng hình sự.
1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu
– Câu hỏi thứ nhất. Pháp luật vềkhởi tố vụ án hìnhsựtheo yêu cầu của người bị hạiđược tiếp cận dưới giác độ nào?Bản chất và đặc điểm của pháp luật vềkhởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam?
24
– Câu hỏi thứ hai. Cơsở lý luận và thực tiễn xây dựng pháp luật và điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu củangườibị hại trongtốtụng hình sự Việt Nam hiện nay?
– Câu hỏi thứ ba. Vai trò, hiệu quả điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại trong giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam? Những yếu tốtác độngảnhhưởngđến điềuchỉnh pháp luậtvềkhởitốvụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại hiện nay?
– Câu hỏi thứ tư. Thực trạng pháp luật và điều chỉnh pháp luậtvề khởi tố vụ án hình sựtheo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sựViệt Nam? Còn những tồn tại, bất cập nào?
– Câu hỏi thứ năm. Các giải pháp hoàn thiện và đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật vềkhởi tố vụán hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam?
1.3.3. Giả thuyết nghiên cứu:
Thứ nhất, khái niệm, nội dung pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sựViệt Nam hiện nay chưa rõ ràng, chưa đầy đủ được tiếp cận khác nhau.
Thứ hai, cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng pháp luật và điều chỉnh pháp luật vềkhởi tố vụ án hình sựtheo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sựViệt Nam như hiện nay chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện, chưa đáp ứng được yêucầuđổi mới về tố tụng hình sự trong nhà nước pháp quyền.
Thứ ba, điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam còn chưa rõ ràng, bất cập, thiếu tính hệ thống, còn nhiều hạn chế trong bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự. Những yếu
tố tác độngảnh hưởng đến điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hạichưa được đánh giá đầy đủ.
Thứ tư, thực trạng pháp luật và điều chỉnh pháp luậtvềkhởitốvụán hình sựtheo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam còn nhiều bất cập, hạn chế, vướng mắc, thiếu nhất quán.
25
Thứ năm, chưa có các phương hướng rõ ràng về mặt lý luận và thực tiễnđểhoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam theo hướng bảo vệ tốt hơn quyền của người bị hại trong vụ án hình sựkhởi tố theo yêu cầu của họ. Các giải pháp chưađồng bộ, thiếu tính khả thi, tính dự báo để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luậtvềkhởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự.
1.3.4. Hướng tiếp cận của luận án
– Tiếp cận hệ thống: tác giả đặt vấn đề nghiên cứu trong cả hệ thống vấn đềchung của tố tụng hình sự, coi quyền yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại là một quyền đặc thùcủangười bịhại trong tố tụng hình sự. Đặt mối quan hệ pháp luậttốtụng hình sựvới hệ thống các ngành luật khác. Khi phân tích từng nội dung đều
phải áp dụng nguyên tắc hệ thống để giải quyết, tách rời nguyên tắc hệ thống sẽ không tìm được đúng bản chất của vấn đề nghiên cứu.
– Tiếp cận lịch sử: quan điểm lịch sử cụ thể là yêu cầu của nguyên tắc biện chứng khi giải quyết vấn đềnghiên cứu. Phương pháp tiếp cận này luôn đòi hỏi nghiên cứu, phân tích đánh giá vấn đề khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sựphải đặt trong bối cảnh cụ thể của các giai đoạn hoàn thiện pháp luật, xem xét đánh giá các yếu tố nào chi phối đến việc xây dựng pháp luật và điều chỉnh pháp luật về nội dung này.
– Tiếp cận liên ngành: đây là cách tiếp cận phổ biến hiện nay trong khoa học luật vì khoa học luật là bộ phận nghiên cứu của khoa học xã hội, trong đó các ngành khoa học nghiên cứu xã hội hiện nay đan xen nhau, bổ sung cho nhau, lý giải các vấn đề nghiên cứu của nhau, phản ánh các khái niệmđồng nhất nên cần phải tiếp cận liên ngành. Áp dụng phương pháp này trong nghiên cứu pháp luật và điều chỉnh pháp luật khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sựtrong mối quan hệ tiếp cận ngành luật với các ngành khoa học xã hội, ngành kinh tế, chính trị khác; đặt chuyên ngành luật tố tụng hình sựtrong mối quan hệ với các
chuyên ngành luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng dân sự, luật hiến pháp…
– Luận án sẽ kế thừa có chọn lọc, phân tích, bình luận các kết quả nghiên cứu đã được công bố trướcđề tài, từđó tácgiảđưa ra quanđiểm củamình vềvấnđề nghiên cứu.
26
– Qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả sẽ đánh giá toàn bộ các quy định pháp luật hiện hành đối với quy định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, chỉ ra những mặt đạt được, làm rõ những hạn chếvà tìm rađịnhhướng khắc phục, hoàn thiện kiến nghịvớiĐảng, Nhà nước ban hành chính sách pháp luật phù hợpbảo vệtốt hơn quyền của người bị hại trong vụ án hình sự.
Kết luận chương 1
Pháp luật và điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu củangười bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam là vấn đề mới ở mỗi giai đoạn phát triển, đang
từng bước hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo vệtốt hơn quyền con người trong tư pháp hình sự. Do vậy trong thực tiễn và lý luận còn nhận thức khác nhau, các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều và chưa chuyên sâu.
Việc đánh giá tình hình nghiên cứu ở Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài liên quan đến đề tài nghiên cứu Luận án là cơ sở để nghiên cứu sinh xác định được mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi, phương pháp nghiên cứu phù hợp. Đánh giá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quanđếnđềtài, giúp cho nghiên cứu sinh cóđược tri thức của các tác giả đi trước về hướng nghiên cứu để kế thừa, đồng thời phát hiện ra các vấn đề chưa được giải quyếttừđónghiên cứu sinh đưa ra câu hỏi nghiên cứuvà giả thuyết nghiên cứu phù hợp. Nhiệm vụ của luận án là phân tích làm sáng tỏcác vấn đềchính sau đây ở chương 2 và 3 của Luận án: chỉ rõ bản chất và đặc điểm, vai trò, các nhân tố ảnh hưởng và nội dung của điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bịhại trong tố tụng hình sự Việt Nam. Trên cơ sở đó chỉ ra các bất cập, hạn chế, tồn
tại của quyđịnh pháp luật hiện hành về khởi tố vụ án hình sựtheo yêu cầu của người bị hại, kiến nghị đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện quyđịnh pháp luật và điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam.
27
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
2.1. Điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự
2.1.1. Sự cần thiết khách quan của nhu cầu điều chỉnh pháp luật vềkhởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại ở Việt Nam
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức độ nghiêm trọng nhất, gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội mà nhànướcbảo vệ, bằng các quy định của pháp luật hình sự, nhà nướcxác định những hành vi nguy hiểm nào là tội phạm và quyđịnh hình phạt tương ứng với tính chất, mứcđộ nguy hiểm của hành vi. Để xửlý hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm nhà nước phải quy định một trình tự thủ tục, quy trình, các bước chặt chẽ bảo đảm việc xửlý chủ thể thực hiện hànhđó làcó cơ sở, khách quan, công bằng, minh bạch, góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm, bảo vệ quyền con người. Trình tự, thủ tục để giải quyết một vụ án hình sựbao gồm các bước khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được gọi là thủ tục
tố tụng hình sự (gọi tắt là tố tụng hình sự).
Tố tụng hình sự là trình tự (quá trình) tiến hành giải quyết vụ án hìnhsựtheo quyđịnh của pháp luật (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xửvà thi hành án hình sự) [100, tr.09]. Khởi tố vụ án hình sựlà giai đoạnđầu tiên của tố tụng hình sự, giaiđoạn này có nhiệm vụ đánh giá vụ việc đang giải quyết để đưa đến kết luận có hay không códấuhiệu tội phạm đểquyếtđịnhkhởi tố hay không khởi tố vụ án hìnhsựnhằm khẳng định về mặt pháp lý có hay không có tội phạm xảy ra. Theo pháp luật tố tụng hình sựViệt Nam, về nguyên tắc, việc khởi tố vụ án hình sựlà hoạt động
của các cơ quan có thẩm quyền được pháp luật quy định không phụ thuộc vào ý chí của ai ngoài nhà nước như người bị hại,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan… Nội dung này xuất phát từnguyên tắc công tố của pháp luật tố tụng hình sựViệt Nam là nghĩavụ xử lý tội phạm thuộc về nhà nước. Pháp luật tố tụng hìnhsựcủa bất kỳnhà nước nào đều có mụcđích chung là trừng trị và phòng ngừa tội phạm,
28
bảo vệ các quan hệ xã hội đã xác định, trật tự pháp luật và quyền con người, quyền công dân. Bên cạnh nguyên tắc chung vềxửlý tội phạm pháp luật tố tụng hình sựViệt Nam còn quy định những trường hợp riêng biệt, đặc thù là việc khởi tố vụ án hình sựphụ thuộc vào ý chí của người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ (sauđây Luận án gọi chung là người bị hại) bằng quy định“khởi tố vụ án hình sựtheo yêu cầu của người bị hại”.
Quy định pháp luật “khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại” xácđịnh một số trường hợp riêng biệt, đặc thù đó là các trường hợp hành vi phạm tội xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân người bị hại, trong trường hợp này pháp luật dành để người bị hại có quyền lựa chọn cách thức bảo vệ quyền của mình bằng việc có hay không việc yêu cầucơ quan có thẩm quyền khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sựđể bảo vệ quyền củahọ. Tuy nhiên, khi quy định chongười bị hại cóquyền yêu cầu khởitốvụ án hình sự thì việc thực hiện quyền này cũng phải trên cơ sở quy định của pháp luật.
Việc giới hạn về quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sựcủangười bịhại phảiđược xác định rõ về: chủ thể, phạm vi các tội phạm được quyền yêu cầu, phạm vi thực hiện quyền và hậu quả pháp lý xuất phát từ việc người bị hại thực hiện quyền này, phải được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng hình sự. Sựcần thiết điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại được lý giải bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất, điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng hình sự là biện pháp đặc trưng có hiệu quả nhất cần áp dụng để bảo đảm quyền của người bị hại
Khởi tố vụán hìnhsựnói chung vàkhởi tốvụ án hình sự theo yêu cầu của người bịhại nói riêng là hoạt động chính thức phát động quy trình tố tụng đối với vụ án hình sự, xác nhận về mặt pháp lý một vụ án hình sựđã xảyra và nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết đối với vụ án đó, có ý nghĩa chính trị, pháp lý rất quan trọng. Vì vậy, nhà nước dùng pháp luậttố tụng hình sựđể điều chỉnh với lýdo: điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng hình sự mang cácđặctrưng mà các biện pháp điều chỉnh khác không có như tính quy phạm phổ biến, tính bắt buộc chung, tính
29
cưỡng chế,đồngthời mang tính chất riêng biệt của biện pháp điềuchỉnh trongtốtụng hình sự.
Pháp luật tố tụng hìnhsựthừa nhận có một số trường hợp phạm tội được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là xác nhận quyền đặc thù của người bị hại trong tố tụng hình sự. Đâylà biện pháp bảo vệcao nhất, là việc nhànước thông qua công cụ là Bộ luật hình sự (BLHS) tác động vào chủ thể thực hiện hành vi tội phạm, buộc họ phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi là hình phạt đối với hành vi mà họ gây ra, hình phạt có tính răn đe cao tác động mạnh mẽ vào ý thức người phạm tội.
Nhà nước bằng pháp luật tố tụng hình sự điều chỉnh việc khởi tố vụ án hình sựtheo yêu cầu của người bị hại để xác nhận, ghi nhận các nội dung: chủ thể cóquyền yêu cầu khởi tố, giới hạn về các hành vi và phạm vi thực hiện quyền, biện pháp thực hiện quyền và hậu quả pháp lý của việc thực hiện quyền yêu cầu khởi tốvụ án của người bịhại, để từđó thiết lập cơchế điềuchỉnhbảovệ tốt nhấtquyền vàlợi ích của người bị hại trong tố tụng hình sự.
Phương pháp điều chỉnh của pháp luật tố tụng hình sự là phương pháp quyền uy, nghĩa là thể hiện sức mạnh của nhà nước thông qua các biện pháp bảo đảm của nhà nước (bằng sức mạnh cưỡng chế). Do đó điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng hình sựvới việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại thông qua quy định quyền và nghĩavụcủangười bịhại,ngườiđại diện hợp pháp của họđồng thờixácđịnh trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) bảođảmquyền của người bị hại khi họ thực hiện quyền, sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để người bị hại, nhà nước thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự.
Thứ hai, điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng hình sự với việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại xuất phát từ hiệu quả của chính sách hình sựvà các biện pháp pháp lý hìnhsự
Mỗinhànướctồntạivà hoạtđộngđềuphải duy trìmộtquanđiểmhọc thuyếtđịnhhướngphát triển, trong tổngthểcác loại chính sáchcủanhànướccóchính sách phòng chống tội phạm (chính sách hình sự). Chính sách hìnhsựlàmột
30
bộphậncủachính sách pháp luật,thểhiện phảnứngcủanhànước,củaxãhội đối vớicác hành vi phạmtộivàngườiphạm tội,mặtkhácđólà chính sách,đường hướngcho việctổchứcđấutranh và phòng chốngtộiphạm. Nói cách khác chính sách hìnhsựlà chính sáchvềtộiphạm vàvềtổchứcđấutranh phòng, chống tội phạm [48].[104, tr.182-184].
Thông qua chính sách hìnhsựở mỗithời kỳ, quốc gia xácđịnhđược raloại quanhệpháp luật nào ưu tiên (giới hạn)cầnđiềuchỉnh bằng pháp luật hìnhsự. Vềbảnchất đây chính là việc phải xácđịnhphạm vicủanhucầuđiềuchỉnh bằng pháp luật hìnhsự,nhucầunày phải căncứvàohệthống cácyếutốchủquan và khách quan như: trìnhđộphát triểnvềkinhtế,xã hội, văn hóa vàbốicảnh xãhộicủaquốc giaở mỗigiaiđoạnnhấtđịnh[48]. Khiđãxác địnhđượcnhu cầuđiềuchỉnh bằng pháp luật hìnhsự(quy định hành vi nào,ở mức độnào làtộiphạm) thìcầnphải xácđịnhphương phápđiềuchỉnh nó (biện pháp tác động nó)đểđạtmụctiêuđềra.
Nhà nước quy địnhđểngười bịhạitrongtốtụng hìnhsựđược lựa chọn giải pháp thực hiệnbảovệquyền củahọbằng việc yêu cầukhởi tốhay khôngkhởi tốvụán hìnhsự đốivớimộtsốtộiphạm nhấtđịnhgây rahậuquảchohọlà một biện phápcủachính sách hìnhsựtrongxửlýtộiphạm. Căncứvào chính sách hìnhsựở từng giaiđoạn, sựtăng hay giảm sốlượng tộiphạm mà BLHS quy định bằng quyền yêucầucủangườibịhạilà nhucầukhách quanvềphòng ngừa tội phạm,đấutranh phòng chốngtộiphạmđểđiềuchỉnh bằng pháp luậtởmỗigiaiđoạncụthể.Đâycũng chính là lý luậnvềvai tròcủacác biện pháp pháp lý nói chung vàcủabiện pháp hìnhsựnói riêng:
– Biện pháp pháp lý nói chung là việc xác định nhucầuđiềuchỉnh bằng pháp luật và xácđịnhphương phápđiềuchỉnh các quanhệxãhộicầnthiết trong xã hội bằng pháp luật nên tăng hay giảm cho phù hợp, việc tăng hay giảm các quanhệxãhộicầnsựcan thiệp(điềuchỉnh) bằng pháp luật chính là xácđịnhvai tròcủapháp luật trongđờisống xã hội.
-Điềuchỉnh xãhộibằng pháp luật hìnhsựlà biện pháp nghiêm khắc nhất trong các biện pháp mà nhànướcáp dụngđểđiềuchỉnh xã hội, biện phápđiều chỉnhcủapháp luật hìnhsựcàng ítsựlựa chọn trong giải quyết từng quanhệpháp
31
luậtcụthểthì cũngđồngnghĩavớipháp luật càng nghiêm khắc;nếuđa dạng các biện phápđiềuchỉnh quanhệpháp luật hìnhsựsẽđồngnghĩavớisựmềmdẻo, giảm bớt nghiêm khắc trong giải quyết các hành vibịcoi làtộiphạm. Pháp luậttốtụng hình sự Việt Nam giaiđoạn(từnăm 1945 đến 1988 trải qua 43 năm) nhànước chỉquyđịnhbiện pháp pháp lý duy nhất là quyếtđịnhviệc truytốkẻphạmtộilàthuộcvềquyềncủanhà nước (quyền công tốcủanhà nước).Từnăm 1988,vớiviệc ban hành BLTTHS, nhànướcbắtđầughi nhận quyền yêucầukhởitốvụán của ngườibịhại ở 06tộiphạm, đếnnay là 17tộiphạm2. Đây là minh chứng cho việc áp dụng biện pháp hìnhsựnói riêng có nhiềuhướngphát triển thaythếdầncác biện pháp nghiêm khắccủapháp luật hìnhsựgiai đoạn trước, phù hợp tình hình kinhtế- xã hội, ý thức pháp luật củangườidân trong xãhộihiện tại.
Thứba,điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng hình sự với việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại xuất phát từ phương diệnmụcđíchcủapháp luật hìnhsự
Pháp luật hìnhsựxácđịnhrõmụcđíchbảovệlà quyền con người, quyền công dân,bảovệchủquyền quốc gia, an ninh củađấtnước vàtrậttựxã hội, các giátrịkhác chống lại mọi hành vi phạm tội; giáodụcmọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa vàđấutranh phòng chốngtộiphạm(Điều01 BLHS năm 1985, năm 1999, năm 2015). Như vậy, mục đíchbảovệ,đấutranh, phòng ngừa vàtrừngtrịlàmộtthểthống nhấtcủapháp luật hìnhsự,trongđólấyphòng làm chính, coi trọng mục đíchbảovệ,xửlý công minh, nghiêm khắc hành vi phạm tội.Đểđạtmục tiêu này nhà nước cầnsửdụng các biện pháp tổnghợp đểđạtmục tiêu kiểm soát,đẩy lùitộiphạmở mức độthấp nhất; coitộiphạm là sai lệch xãhộido nhữngyếutốxãhộigây ra. Vì vậy, muốn loạitrừtộiphạm phải khắc phục các nguyên nhân xãhộigây ratộiphạm; cònxửlýtộiphạmchỉlà biện pháp mang
2 17 Tội phạm BLHS năm 1999 quy định là: Đ 104 tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác; Đ 105. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại Các cho sức khỏe của người khác trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh; Điều 106. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Điều 107. Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác trong khi thi hành công vụ; Điều109. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; Điều111. Tội hiếp dâm;Điều113. Tội cưỡng dâm; Điều121. Tội làm nhục người khác; Điều 122. Tội vu khống; Điều 171. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
32
tính sau cùng. Nhànướcban hành ra pháp luật hìnhsựđểđiềuchỉnh xã hội, nhưng tiếpcậndưới nguyên lý mục đích và tính hiệuquảxãhộicủaluật hìnhsựcho thấy rằng“chỉnênsửdụng pháp luật hìnhsựnhư giải pháp sau cùng khitấtcảcác giải pháp khácđãđược ápdụngtỏra không hiệuquả”[104, tr.73].
Tốtụng hình sự Việt Nam duy trì triết lýxửlýtộiphạm thuộcvềnhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế không ít nhữngtộiphạm xảy ra gây thiệthạichocảlợiích nhànước,xãhộivà cá nhânngườibịhại. Có nhiềutộiphạm gây ra những thiệt hại khôngchỉvềvậtchất màcảnhững thiệt hại nghiêm trọngvềmặttinh thầnđốivới ngườibịhại. Việc khởitốhìnhsự,xửlýngườiphạmtộitrong những trườnghợpđó,mặc dầunhằm góp phầngiữnghiêm trậttựkỷcương và manglại lợiích cho xãhội, nhưng chính việc khởitố,điềutra, truy tố xétxửđólạigây ra tiếp những tổn thươngvềtinh thần chongườiđãbịtộiphạm gây thiệt hại. Vì vậy, nhànướcxác lậpmộtkhảnăng, điều kiệnđểngườibịhạiđượccân nhắc tính toán khởitốnhưthếcó quábấtlợichocảlợiíchcủahọhay không.Điềunày cũng biểu hiệnmộtkhía cạnhcủanguyêntắccông bằng trong luật hìnhsựViệt Nam [128, tr.234].
Việc nhànước điềuchỉnh bằng pháp luật tố tụng hình sự với việc khởi tốvụán hình sự theo yêu cầu của người bị hại chính là việc áp dụng các khả năng để cho người bị hạilựa chọn biện pháp xửlý tộiphạm gây ra cho mình, nếu không lựa chọn biện pháp khác phù hợp với pháp luật thì biện pháp yêu cầu xử lý về hình sự làbiện pháp cuối cùng của người bị hại.
Thứ tư, điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng hình sự với việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại xuất phát từ phương diện về phòng ngừa tội phạm và phụ thuộc mô hình phòng, chống, kiểm soát tội phạm
Qua nghiên cứu tư pháp hình sựcủa một số nước, có thểthấy rằng: việc quyđịnh chobị hại cóquyền yêu cầu khởi tố vụ án hìnhsựcònphụthuộc kiểu tố tụng mà quốc gia thực hiện. Trên thế giới hiện nay tồn tại ba kiểu tố tụng là: kiểu tố tụng tranh tụng, kiểu tố tụng thẩm vấn và kiểu tố tụng có sự đan xem giữa thẩm vấn vàtranh tụng. Với mỗi kiểu tố tụng đó hình thành mô hình tương ứng: kiểu tố tụng thẩm vấn hình thành nên mô hình kiểm soát tội phạm; kiểu tố tụng tranh tụng hình thành nên mô hình tố tụng công bằng [116, tr.81-85].
33
Trong mô hình tố tụng công bằng (kiểu tố tụng tranh tụng), tố tụng nhấn mạnh một quy trình tìm kiếm bằng chứng nặng tính hình thức thông qua tranh tụng, trong mô hình này đặt ra nguyên tắcđòihỏivị trí bình đẳng của các bên tranh tụng, xác định trách nhiệm và khả năng chứng minh của các bên trong quá trình tố tụng đối vớivụ án. Các nước theo mô hình này thừa nhận “quyền tưtố”.Đồng thời với việc ghi nhận quyền tưtố còn quyđịnh thủ tục riêng biệt với án tưtố (thủ tục tố tụng đốivớivụán tư tố). Quyền tưtố đượccoi là quyền riêng tưcủa người bị hại cho phép cá nhân người bị hại có quyền hòa giải, thỏa thuân với người phạm tội đãdẫn đến tình trạng nhiều vụ án nghiêm trọng không bị xét xử và trừng trị. Chính từthực tế này, dần dần nhà nước thấy cần thiết phải can thiệp vào quá trình giải quyết các vụ án tư tố trong các trường hợp người bị hại không muốn thực hiện quyền tưtố nhằm bảo vệ các lợi ích công cộng. Vì vậy, xu thế quyền tưtố dần bị hẹp lại trởthành thứ yếu; cơ chế vận hành của hệ thống tư pháp hình sựđã có sựthay đổi cơbản. “Từchỗ vậnhành dựa vào tưtố là chủyếu,tốtụng hình sựchuyển sang vận hành chủ yếu dựa vào quyền công tố” [86, tr.17-21].
Mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm (kiểu tố tụng thẩm vấn), có thiên hướng sửdụng quyền lực nhà nước và uy thế của các cơ quan nhà nước để chứng minh tội phạm. Nhà nước chủ động phát động tố tụng, thi hành tố tụng và chấm dứt tố tụng theo cácđiềukiện nhànước đặtra. Từ đó nhà nước cân nhắc hạnchế mức độthấp nhất sựràng buộc của cá nhân, tổ chức khác vào hoạt động của nhà nước trong lĩnh vực tố tụng. Trong mô hình này quyền tưtố được ghi nhậndưới nhiều hình thức khác nhau (quyền tư tố hoặc khởi tố theo yêu cầu của bị hại) nhưng vị trí vai trò bị giảm đi, nội dung của tưtố chỉ còn tồn tại trong một số ít tội danh có khung hình phạt thấp, là tội phạm ít nghiêm trọng, xâm hại đến khách thể trực tiếp là các quyền riêng tư của cá nhân về sức khỏe, tinh thần, uy tín. Nội dung và thủ tục pháp lý thực hành quyền tưtố cũngbị hạn chế, có nước chỉ quyđịnh đâylà quyền yêu cầu, đềnghị của người bị hại hoặc đại diện của họ, còn nhà nước giữ vai trò đứng ra truy tố
tội phạm. “Nhà nước lấytừbị hạinghĩavụđiều tra, truy tố và phạt người phạm tội” [116, tr.118].
34
Mô hình tố tụng ở Việt Nam giai đoạn trước khi ban hành BLTTHS năm 2015 được đa số các nhà luật học thừa nhận là “mô hình tố tụng pha trộn”[70]. BLTTHS năm 2015 trên cơ sở kế thừa nguyên lý tố tụng trước đây thừa nhận công khai nguyên tắc tranh tụng. Vì vậy, mô hình tố tụng Việt Nam được đa số các nhàkhoa học đều đi đến thống nhất “đặcđiểm chung của mô hình tố tụng hìnhsựhiện nay ở nước ta về cơ bản là mô hình pha trộn nghiêng về thẩm vấn. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, mô hình nàyđã tiếp thu một số điểmtiến bộ của mô hình tốtụng hình sự tranh tụng, có vận dụng cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội cụ thể của Việt Nam” [33, tr.63-64]. Mục đích của tố tụng được xác định là
nhằm xácđịnhsựthật khách quan của vụ ánđể đấutranh phòng chống tộiphạm (kiểm soát tội phạm), nên nhà nước không quyđịnh quyền tư tố, đồng thời khẳng định dứt khoát nguyên tắc công tố trong tố tụng. Việc nhà nước ghi nhận để người bị hại có “quyền yêu cầu khởitốvụ án hình sự”, nghĩa là chỉ thừa nhận ngườibị hại có quyền yêu cầu mà không có quyền khởi tố vụ án hình sự (phát động tố tụng) nhưquyền tư tố ở một số nước.
Lý luận này dựa trên quan điểm: trong nhà nước XHCN quyền công tố thuộc về nhà nước do viện kiểm sát đại diện; quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sựcủa người bịhạicũng chỉ giới hạn trong phạm vi mà nhànước thừa nhận đối với một số trường hợp nhất định, có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi không cao, xâm hại đến thể chất, tinh thần, tàisảncủa cá nhân người bịhại. Thực hiện quyền yêu cầu khởi tốvụ án của người bị hại cũng chỉ trong phạm vi nhất định;đồng thời không có một thủ tục tố tụng riêng biệt, người bị hại thực hiện quyền màkhông phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh tội phạm, buộc tội như trong thủ tục tư
tố đối với vụ án. Trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại duy trì quyền công tố và buộc tội là thuộc về nhà nước.
Thứ năm, điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng hình sự với việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại xuất phát từ phương diện bảo vệ quyền con người, quyền công dân
Pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu của ngườibị hại xác định người bị hại (bị hại) gồmcá nhân và cơ quan, tổ chức trong đó số lượng tội phạm xâmhại
35
đến cá nhân là 16/17 tội phạm (xâm hại đến cơ quan, tổ chức là 01 tội phạm3) được quyền yêu cầu khởi tố. Vì vậy, trao quyền yêu cầu khởi tố vụ án cho bị hại trong đóchủ yếu là cá nhân là biện pháp quan trọng để bảo vệ quyền con người trong tưpháp hình sự.
Mục đích của pháp luật trong nhà nước pháp quyền hướng đến nhiều giá trị, trong đó có giá trị là bảo vệ quyền con người. Lý luận về quyền con người xácđịnh về nội dung bảo vệ quyền con người gồmcác yêu cầu là thừa nhận, bảo đảmvà thực thi quyền con người nhưlà yếu tố tựnhiên vốn có của nó, không phụ thuộc ýchí nhà nước [17, tr.46-47]. Trong lĩnh vực tư pháp hình sự nội dung thừa nhận đãđược quy định rất sớm và rộng rãi; việc thừa nhận được nêurõ từcác lĩnh vực thiết thân nhất như: bảo vệ quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự
do, quyền nhân thân đến danh dự, nhân phẩm… trong các tội danh cụ thể thông qua xác định khách thể và đối tượng bảo vệ của pháp luật hình sự. Về nội dung bảo đảm và thực thi về quyền con người trong pháp luật hình sựđược xác lập bằng hai phương thức: là phương thức nhà nước tựquyết định biện pháp bảo vệ cho mọi công dângọilà công tố và phương thức cá nhân được phép sử dụng quyền mà nhànước ghi nhận và bảo đảm. Trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại ghi nhận quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự là việc ghi nhận, bảo đảm “quyền con người” ở phạm vi nhất định.
Vì vậy, tôn trọng quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự là việc để cho người bị hạicó quyền tự do lựa chọn biện pháp bảo vệ quyền của họ mà họ coi làtốt nhất và thực hiện theo quyđịnh pháp luật về “khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại”. Mục đích của quy định này là nhằm để người bị hại cân nhắc về mặt lợi ích nào cần đạt có lợi cho họ nhất: như lợi ích vật chất, tinh thần, lợi ích khác. Chỉ có họ (bị hại)mớicó điềukiện đánh giá chính xácvà tựquyết định trong giới hạn pháp luật cho phép. Tuy nhiên, việc xây dựng và áp dụng quyđịnh này phải tính tới yếu tố bảo vệ lợi ích hợp pháp của mọi công dân khác và các lợi ích hợp pháp chung của Nhà nước, của xã hội, bảo đảm nguyên tắc nhà nước duy trì quyền
công tố trong xử lý tội phạm. Điều này lý giải ngay trong trường hợp vụ án khởi tố
3 Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp quy định tại Điều 171 BLHS năm 1999.
36
theo yêucầucủangườibịhạithì việcđấutranh,bảovệquanđiểmtruy tốcủa viện kiểm sát (quan điểm buộc tội) vẫn do kiểm sát viên thực hiện, là nghĩa vụ, chức trách của họ, người bị hại có quyền mà không có nghĩa vụ thực hiện nhiệm vụ buộc tội.

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY
Pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay Pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay Pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay

