Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

NTD là một bên trong quan hệ thương mại, dân sựvớitính chất là người tiêu thụ những sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ. Tuy nhiên, trong mối quan hệ này NTD luôn ở vị thế yếu hơn và có nguy cơ gánh chịu rủi ro, thiệt hại. Luật BVQLNTD được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 17/11/2010, có hiệu lực từ ngày 01/7/2011, nhưng cho đến nay, quyền lợi của NTD vẫn đang và có nguy cơ tiếp tục bị vi phạm nghiêm trọng. Mặc dù có nhiều tiến bộ, song vì nhiều lý do khác nhau, Luật BVQLNTD năm 2010 vẫn chưa thực sự là một côngcụ bảo vệtốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của NTD hiện nay. Một trong các lĩnh vực quan trọng mà NTD bịvi phạm quyền và lợi ích rất đáng quan tâm hiện nay đó là ATVSTP.

ATVSTP là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt. Được tiếp cận với thực phẩm an toàn đang trở thành quyền cơ bảnđối vớimỗi con người. Thực phẩm an toànđóng góp to lớn trong việc cải thiện sức khoẻ con người, chất lượng cuộc sống vàchất lượng giống nòi. Ngộ độc thực phẩm và các bệnh do thực phẩm gây ra không chỉ gây ảnhhưởngtrực tiếp tới sức khoẻ và cuộc sống củamỗingười, mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế, là gánh nặng chi phí cho chăm sóc y tế; liên quan chặt chẽđến năng suất, hiệu quả phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội. Bảo đảm ATVSTP góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, xoá đói giảm nghèo và hội nhập quốc tế. Mặc dù đã có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhưng công tác bảo đảm ATVSTP ở nước ta còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình trạng ngộ độc thực phẩm có xu hướng tăng và ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻcộng đồng. Sản xuất, kinh doanh thực phẩm ở nước ta cơ bản vẫn là nhỏ lẻ, quy môhộ gia đình nên việc kiểm soát an toàn, vệ sinh rất khó khăn. Mặc dù Việt Nam đã có những tiến bộ rõ rệt trong bảo đảm ATVSTP trong thời gian qua, song công tác quản lý ATVSTP còn nhiều bất cập, hạn chế. Điều đó đã dễn đếnthực trạng vi phạm trong lĩnh vực ATVSTP diễn ra khá nhiều, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng của người dân. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là việc điều chỉnh pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu BVQLNTD khi quyền lợi của họ bị xâm phạm. Thực trạng công tác BVQLNTD cho thấy, mặc dù đã có Luật BVQLNTD và nhiều vănbảnquyđịnhliên quan nhưng chưa thực thi có hiệu quả,

1

chưa có chế tàiđủ mạnhđể ngăn chặn, xử phạt, bồi thường thỏa đáng cho NTD. Các thiết chế Nhà nước và tổ chức BVQLNTD còn có vai trò khá mờ nhạt khi thực hiện chức năng BVQLNTD, thậm chí còn chưa xác định được vai trò, chức năng cụ thể trong công tác quản lý. Khi vụ việc vi phạm xảyra không xácđịnh được thẩm quyền hoặc đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà nước cho nhau.

Trước tình hình đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành vềBVQLNTD nói chung và trong lĩnh vực ATVSTP nói riêng là nhu cầu cấp bách đặt ra hiện nay. Điều này có ý nghĩa rất lớn với sự phát triển kinh tế, chính trị đất nước và bảo vệ chất lượng của giống nòi. Chính vì vậy, nghiên cứu đề tài “Pháp luật vềbảo vệquyềnlợingười tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩmở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Luận án nhằm góp phần làm rõ thêm lý luận pháp luật, cũng như thực trạng pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ởViệt Nam hiện nay, từđó, đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam trong thời gian tới.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, Luận án xác định các nhiệm vụ sau:

Một là, nghiên cứu để làm sáng tỏ được những vấn đề lý luận phápluật vềBVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP.

Hai là, phân tích, đánh giá được một cách thấu đáo, toàn diện thực trạng pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sởso sánh với pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới nhằm chỉ ra được các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Ba là, đề xuất, kiến nghị được các giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chếthực hiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam trong thời gian tới theo hướng hoàn chỉnh, đồng bộ, khả thi, hiệu lực, hiệu quả.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn các quy định pháp luật vềBVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP.

2

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về nộidung: Luận án tập trung nghiên cứu một số vấn đề chung về cơ sở lýluận, thực trạng pháp luật về BVQLNTD được soi chiếu trong lĩnh vực ATVSTP mà không nghiên cứu riêng về từng lĩnh vực BVQLNTD và ATVSTP. Dođó,cácđề xuất, kiến nghị sẽ tập trung để hướng tới BVQLNTD thực phẩm.

Về không gian và thời gian: Luận án được nghiên cứu trong phạm vicả nước và kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của các quốc gia khác trong khu vực, cũng nhưtrên thế giới. Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian 3 năm (2014 đến 2017).

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận

Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng HồChí Minh về nhà nước, pháp luật, kinh tế, xã hội; chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Namvềvấn đề bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền lợi của NTD. Trên cơ sở đó, Luận án sử dụng các phương pháp tiếp cận giải quyết vấn đềcụ thể như sau:

– Phương pháp tiếp cận hệ thống: cách tiếp cận này hướng đến việc đánh giá, xem xét đối tượng nghiên cứu một cách toàn diện, đặt vấn đề nghiên cứu trong mối tương quan với nhiều yếu tố, bộ phận cấu thành của cùng một hệ thống và sựtácđộng qua lại với các hệ thống khác.

– Phương pháp tiếp cận đa ngành và liên ngành: dựa trên cách tiếp cận này, Luận án sẽ khai thác, phân tích thông tin ở nhiều góc cạnh, phương diện của các ngành khoa học xãhộinhư: tâm lý học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học, luật

học so sánh… để trảlời các câu hỏi nghiên cứu; soi chiếu, luận giải, chứng minh cho các luận điểm của giả thuyết nghiên cứu.

– Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền: quyền của NTD thực phẩm có nền tảng dựa trên quyền con người, trong đó quyền được an toàn về tính mạng, sức khỏe giữvai trò trung tâm. Do đó, Luận án sẽ sửdụng phương pháp tiếp cận dựa trên

phương diện nhân quyền để soi chiếu các quy định pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP. Đồng thời, đánh giá việc thực hiện quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việcbảo đảm quyềncủaNTD thực phẩm trên thực tế, từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi, với phương trâm quyền an toàn của NTD giữ vị trí trung tâm và quan trọng hàng đầu mà NTD tất yếu

3

cần phải được bảo vệ.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ các vấn đềnghiên cứu, Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như sau:

– Phương pháp thống kê và hệ thống hóa: Được sử dụng để phân loại và nghiên cứu nội dung pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam và một số nước trên thế giới. Trên cơ sở tập hợp, hệ thống ở mức đầy đủ nhất các công trình, tài liệu thứ cấp liên quan đến pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP đã được công bố, Luận án phân tích, đánh giá, kế thừa có chọn lọc nhằm mang lại các kết quảnghiên cứu về lý luận và thực tiễn ở Chương 1, Chương 2 và Chương 3

– Phương pháp phân tích, tổng hợp:Được sử dụngđể gắnkếtnhữngvấn đề mang tính lý luận ở Chương 2 với thực trạng pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Chương 3. Trên cơ sở các nghiên cứu lý luận, phân tích và đánh giá thực trạng, tác giả đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTPở ViệtNam trong Chương 4.

– Phương pháp nghiên cứu so sánh luật:Đượcsửdụng để nghiên cứutổng quan các công trình nghiên cứu liên quanđến đề tài vàso sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài nhằm làm sâu sắc thêm nội dung toàn bộcác chươngcủaLuận án vàđúcrút các kinh nghiệm nhằm kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

– Phương pháp nghiên cứu tình huống: Đượcsử dụngtrong nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTPở Chương 3. Các tình huống là cơsởthực tiễnđểminh chứng, luận giải việc thực hiện các quyđịnh pháp luật trên thựctếvà đánh giámứcđộhoàn thiện, phùhợpcủa pháp luật, cũng như công tác tổ chức thực hiện pháp luật.

5. Những đóng góp mới của Luận án

Là một công trình khoa học nghiên cứu pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP, những đóng góp mới của Luận án được thể hiện:

Thứ nhất, Luận án đã làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP như: xây dựng khái niệm và làm rõ đặc điểm, nội dung, nguyên tắc pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP.

Thứ hai, Luận án phân tích, bình luận, đánh giá một cách toàn diện và khách

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay
Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay

quan về thực trạng pháp luật, cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam. Qua đó làm rõ thành tựu và những điểm còn bất cập chưa hợp lý, thiếu khả thi của pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam trên thực tế.

Thứ ba, qua phân tích, tham khảo nội dung có liên quan đến đề tài Luận án từpháp luật của một số nước và các hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về BVQLNTD và ATVSTP, Luận án đưa ra kiến nghị để sửa đổi, bổ sung, ban hành quy định mớiđể hoàn thiện pháp luật, cũng như tổ chức thực hiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án

Luận ánđược hoànthành sẽ là công trình nghiên cứu toàn diện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP. Từ những nghiên cứu lý luận và phân tích đánh giá về tình hình thực thi pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP hiện nay, trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm pháp luậtcủa mộtsố nướctrên thế giới, Luận án đề xuất nhữngkiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

Kết quả nghiên cứu của Luận án có giá trị tham khảo cho các cơ quan lập pháp trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP; góp phần xây dựngcơ chế chỉ đạovà điềuhành công tác tổ chức thực hiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam.

Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạytại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật; có giá trị tham khảo đối với các cơquan quản lý nhà nước trong quá trình thực thi, giải quyết các vấn đề liên quan.

7. Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luậtvề bảovệ quyền lợi người tiêu

dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay

Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam

5

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ

CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊNCỨU

Vấn đề BVQLNTD nói chung và BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP đã được nhiều học giả trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Trên cơ sở tiếp cận khái quát các giáo trình, sách, báo, bài viết, luận văn, luận án của các học giả trong và ngoài nước, tác giả tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đếnđề tài Luậnán theo các nhóm vấn đề sau đây:

1.1.1. Các công trình nghiên cứu về quyền người tiêu dùng và sự cần thiết bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm

1.1.2. Các công trình nghiêncứuvềkhái niệm,đặcđiểm,nộidung pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm

1.1.3. Các công trình nghiên cứuvề pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm của thế giới

1.1.4. Các công trình nghiên cứu về hoạt động kiểm soát an toàn, vệ sinh thực phẩm

1.1.5. Các công trình nghiên cứu về thiết chế thực thi pháp luật về bảo vệquyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm

1.2. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊNCỨU

1.2.1. Đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài Luận án

Qua nghiên cứucác công trình có liên quanđến đề tài Luận án, xin đưa ra một số đánh giá như sau:

Một là, về mặt lý luận: Tuy còn có những điểmkhác nhau về khái niệm NTD, nhưngvề cơ bản các công trình nghiên cứu đều thống nhất coi NTD là đối

14

tượng thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng vì nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt riêng, không vì mục tiêu thương mại. Cách hiểu này phùhợpvớixu hướng chung mang tính thông lệ trong pháp luật BVQLNTD ở các quốc gia trên thế giới: NTD chỉ nên giới hạn là cá nhân mua sắm hàng hóa, dịch vụ vì mục đích không nhằm mục đích hoạt độngkinh doanh, thương mại hoặc hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp. NTD được ghi nhận tám quyền và bốn nhóm nghĩa vụ. Các tác giảđều khẳngđịnh tồn tạisựbấtcân xứng trong quanhệpháp luật tiêu dùng, dẫntớivị thế yếucủa

NTD trong mối quan hệ cung ứng hàng hóa. Do đó, NTD cần phải được hưởng các quyền ưu tiên và được bảo vệ trong quan hệ pháp luật tiêu dùng nói chung và càng phải đặc biệt quan tâm trong quan hệ tiêu dùng thực phẩm nói riêng. Khái niệm, đặcđiểm, nội dung pháp luật về BVQLNTD cũng được các tác giả nghiên cứu tươngđối thống nhất. Một số công trình đã tiếp cận dưới dạng nghiên cứu so sánh kinh nghiệm của một số quốc gia hoặc hướng dẫn bảo đảm ATVSTP của Liên Hợp Quốc và đúc rút kinh nghiệm với việc xây dựng pháp luật về BVQLNTD và ATVSTP của mỗi quốc gia. Các công trình cũng đã đề cập gián tiếp đến pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực về ATVSTP ở khía cạnh quyềnđược tiếpcậnvới thực phẩm an toàn của NTD và trách nhiệm của ngườisản xuất, kinh doanh với NTD khi thực phẩm không bảo đảm tiêu chuẩn, gây ngộ độc hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe của NTD.

Hai là, về mặt thực tiễn: Các công trình cũng đã nghiên cứu và xác định rõthiết chế thực thi pháp luật về BVQLNTD gồm: các cơ quan quản lý nhà nước, tổchức xã hội tham gia BVQLNTD, các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp giữa NTD với tổ chức, cá nhân kinh doanh. Các tác giả cũng đánh giá hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về ATVSTP và BVQLNTD, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực thực thi pháp luật. Đánh giá chung về thực trạng thi hành pháp luật, các tác giả đã chỉ ra những gì đã làm được và những gì còn khó khăn, vướng mắctrong bảođảm quyền củaNTD. Nhiều công trình nghiên cứu đã cung cấp các số liệu đáng tin cậyvề kết quả thực hiện pháp luật nhằm bảo đảmATVSTP thực phẩm trong các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; xuất nhập khẩu thực phẩm; chế biến, kinh doanh thực phẩm; kinh doanh thực phẩm ở các chợ, siêu thị; tình hình ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm. Các tác

15

giả đã bước đầu đánh giá khả năng áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về ATVSTP, chỉ ra những hạn chế và khó khăn trong việc kiểm soát, phát hiện hành vi vi phạm và áp dụng trách nhiệm hình sự, hành chính.Từđó,đánh giá hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về ATVSTP và đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước vàhoàn thiện văn bản pháp luật liên quan đến BVQLNTD và ATVSTP.

Ba là, cácvấnđề còn tranh luận hoặc chưa đượcđề cập: Các công trình nghiên cứu hầu như chưa đề cập đến khái niệm, đặc điểm, nội dung, nguyêntắccủa pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP, mà đa phần mới chỉ đề cập đến một trong hai lĩnh vực BVQLNTD hoặc ATVSTP. Còn thiếu công trình nghiên cứu vềthực trạng pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP mang tính hệ thống. Một sốcông trình đãđề cập đến những vướngmắc trongxửlý hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự với hành vi vi phạm phápluật vềATVSTP, nhưng chưa chỉ rõcơ chế riêng đối với xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Đặc biệt là nghĩa vụ chứng minh lỗi và thiệt hại của NTD thực phẩm.

1.2.2. Những vấn đề mà Luận án kế thừa

Các tài liệu cũng đã cung cấp các thông tin tương đối đầy đủ và toàndiện vềkhái niệm NTD, pháp luật về BVQLNTD, các quyền và nghĩa vụ của NTD, cấu trúc pháp luật BVQLNTD, trách nhiệm sản phẩm, cơ chế giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó nhiều công trình cũng đề cập đến việc thực thi pháp luật về BVQLNTD và pháp luật về ATVSTP. Do vậy, ở mức độ nhất định, trong quá trình nghiên cứu, Luận ánsẽ cósựtiếp thu, kế thừa những thành quả, các giá trị mà các nghiên cứu trước đó đã chỉ ra, làm nền móng cho việc tiếp tục nghiên cứu vềcả trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn. Ngoài ra, một số tài liệu đã đề cập đến kinh nghiệm thế giới về xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật về ATVSTP và pháp luật vềBVQLNTD. Đâylà những kết quả nghiên cứu quý báusẽ được kế thừa nhằm cónhững kiến nghị phù hợp cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

1.2.3. Những vấn đề Luận án tiếp tục triển khai nghiên cứu

Thứ nhất, Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu để làm rõ các vấn đề lý luận của pháp luật vềBVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP. Trong đó, xácđịnhrõ trục quy chiếu là

16

quyền của NTD đượcđảmbảo như thế nào trong lĩnh vực ATVSTP; chỉ ra yếutốnền tảng, chi phối quanhệpháp luật này. Luận án cũng nghiên cứu kinh nghiệm của thế giới trong xây dựng pháp luậtvềBVQLNTD thực phẩm theo hướnghệthống hóa theo từng lĩnh vực, phương diện. Quađó,tiếptụclàm sángtỏcơchếBVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTPđể thấy nhữngđặctrưng riêng biệt; cơ sở, mối quan hệ giữa các chế tài hình sự, chếtài hành chính,chếtài dânsựtrongxửlý hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.

Thứ hai, Luận án sẽ nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật và hoạt động tổ chức thực hiện pháp luậtvề BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam hiện nay; đánh giá cơ chế BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP với những đặc trưng riêng biệt so với cơ chế BVQLNTD trong các lĩnh vực khácvề khả năng chứng

minh, khả năng kiểm soát, khả năng khởi kiện của NTD và tính hiệu quả của chúng. Từ đó,chỉ ra những điểm còn hạn chế, bất cập trong lĩnh vực này.

Thứ ba,từkết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật, Luận án sẽ đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi dưới gócđộ bảo vệ quyền con người theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013.

1.3. CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1.3.1. Một số lý thuyết sử dụng

– Lý thuyếtvềvị trí, vai trò của NTD với tư cách mộtbộ phận cấuthành của nềnkinhtế,là động lực thúcđẩyviệcsảnxuất và tiêu thụ hàng hóa. NTD cóvịtrí quyếtđịnhtrong quanhệtiêu dùng,nếukhông có NTD thìnềnsảnxuất hàng hóa không tồn tại. Trong nền kinhthế thịtrường, NTD là chủ thểđiềutiết quan hệ cung cầu; quyết định chủng loại, chất lượng, số lượng, giá cả của sản phẩm hàng hóa được sản xuất, kinh doanh. Chính sách tăng trưởng kinh tế vĩ mô của các quốc gia bao giờ cũng bao hàm cả biện pháp kích cầu tiêu dùng. Do đó, việc ghi nhận và bảo vệ các quyềncủaNTD nhằmbảođảmlợiích chungcủacảcộngđồng.Vì vậy, NTD phải được đảmbảo an toàn về tính mạng, sức khỏe khi mua và sử dụng hàng hóa của các nhàsảnxuất hay kinh doanh, không nhữngthếhọcòn có quyền yêu cầupháp luật bảo vệtrong trườnghợphàng hóađượchọ mua gây thiệt hại đến tàisản của họ, đến

17

môi trường sống xung quanh. Lý thuyết này có xuất phátđiểmtừ phát biểu của Tổng thống Mỹ John Kennedy tại Thượng viện Mỹ ngày 15/3/1962. Theo đó, khẳng định NTD là nhóm người đông đảo nhất, có ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng của hầu hết các quyết định về kinh tế, dù là của nhà nước hay tư nhân. Nhưng NTD lại là nhóm người quan trọng độc nhất mà quanđiểmcủahọkhông được chú ý tới. Đây là tư tưởngđầu tiên nhằmcổ vũcho bảo vệ quyền lợi NTD, phản đối những bất công trong xã hội và lạmdụng trên thị trường làmhại đếnNTD. Tiếp đó, lý luận về vị trí quan trọng của NTD trong nền kinh tế được LiênHợpQuốc đã khẳng định vị trí, vai trò trung tâm,

tốithượng của NTD trong tuyênbốxácđịnhNgày QuyềncủaNgườitiêu dùng thế giới (ngày 15/3). Lý thuyết này là cơ sở lý luậnđể luận giải sự cầnthiết BVQLNTD thực phẩm trong Luận án ở Chương 2 và phân tích các quy định pháp luật, biện pháp sử dụngcơchế thị trường đểBVQLNTD trong Chương 3, Chương 4.

– Lý thuyết về kiểm soát thực phẩm an toàn nhằm bảo đảmquyềnđược có thực phẩm, trong đó có quyền được sửdụng thực phẩm an toàn. Theo đó, quyền quan trọng nhất của con người là quyền sống. Để bảo đảmquyền sống đó, con người cần phải được bảo đảman toàn. Nhân tố quan trọng để bảo đảmtính mạng, sức khỏe con người đó là thực phẩm an toàn. Vì vậy, để bảo vệ quyền con người thì NTD phải được quyềnsửdụng thực phẩm an toàn. Nhà nước phải có trách nhiệm làm cho yêu cầu đó được triển khai trong thực tế. Lý thuyết này sẽ chi phối toàn bộnội dung lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về BVQLNTD và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP.

Hội nghị quốc tế về dinh dưỡng (Rome, 1992) với sự tài trợ bởi WHO và Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) đã đưa ra Tuyên bố “Tiếp cận với thực phẩm đầyđủ dinh dưỡng và an toàn là mộtquyền cá nhân của tất cả người tiêu dùng”. Đồngthời Hội nghị cũng kêu gọi các chínhphủthiếtlậpcác biện phápđểbảo vệ NTDtừkhông an toàn, chất lượng thấp, pha trộn, ghi nhãn sai, hay thực phẩmbị ô nhiễm. Năm 2015, Tổ chức Y tếThế giới (WHO) đã chọn chủ đề cho Ngày sức khỏe thế giới (ngày 7/4/2015) là “An toàn thực phẩm”. Theo đó, mục đích của chủđề nhằm kêu gọi trách nhiệm của các bên liên quan trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm, cụ thể: “Các nhà sản xuất, các nhà chế biến và người kinh doanh

18

thực phẩm cần phải chịu trách nhiệm đối với sự an toàn của thực phẩm mà họ sản xuất và kinh doanh trong khi người tiêu dùng cần phải thực hiện các biện pháp dự phòng và tuân thủ các thực hành tốt vềan toàn thực phẩm”. Nội dung của WHO không chỉ tập trung vào trách nhiệm của ngườisản xuất, kinh doanh mà còn nhấn mạnh vào nghĩa vụ của NTD trong việc bảo đảm ATVSTP. Theo nội dung kêu gọi của Tổ chức này, tất cả các bên đều có vai trò trong việc bảo đảm ATVSTP.

– Lý thuyết thông tin bất cân xứng giữa người sản xuất, kinh doanh và NTD. Lý thuyết thông tin bất cân xứng lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và đã khẳngđịnh được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sựkiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế cho công trình nghiên cứu:

“Phân tích các thị trường với tình trạng thông tin bất cân xứng”. Lý thuyết thông tin bất cân xứng xây dựng giả thuyết rằng các bên tham gia giao dịch, nhà sản xuất và người tiêu dùng có lượng thông tin không cân xứng nhau. Người bán có lợi thế vềthông tin còn NTD không dễ tiếp cận với những thông tin này. Với giả thuyết đó, các nhà kinh tế sẽ xem xét tác động của sự mất cân bằng thông tin tới sự lựa chọn của khách hàng và quyếtđịnh đầu tư của các doanh nghiệp và đã rút ra kết luận thông tin bất cân xứng sẽ gây bất lợi cho cả người mua và người bánvà sẽ dẫn đến sự thất bại của thị trường. Lý thuyết này cũng đề cập đến yêu cầu về sự công bằng xãhội trong mối tương quan giữa NTD và nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ. Trong quan hệ tiêu dùng, NTD luôn ở vị trí bất cân xứng với thương nhân trên cả phương diện thông tin, hiểu biết và khả năng tự bảo vệ. Do đó,bảo đảmcông bằng xã hội trong quan hệ tiêu dùng giữa NTD thực phẩm và thương nhân là hạn chế một phần quyền

tựdo hợp đồng (các điều khoản thỏa thuận hạn chế quyền của NTD); người sản xuất, kinh doanh phải cung cấp thông tin trung thực và đầy đủ cho NTD để giảmbớt sựbất cân xứng trong thông tin. Công bằng về thông tin và quyền lợi của NTD sẽ được bảo đảmthông qua công cụ pháp lý cần thiết của Nhà nước. Lý thuyết này sẽ được sửdụng để nghiên cứu nhằm đề ra các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Chương 4 của Luận án.

– Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách phát triển kinh tế, xã hội

19

và bảo đảmsựphát triển bền vững trong sựnghiêp xây dựng CNXH thời kỳđổi mới; chính sách bảo vệ quyền con người, BVQLNTD trong giai đoạn hiện nay là cơ sở lý luận để đánh giá thực trạng pháp luật và là định hướng để xây dựng các giải pháp nhằm BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP. Nội dung quan điểmnày được thểhiện trong Hiến pháp năm 2013, Chỉ thị 08-CT/TW năm 2011 củaBan Bí thưvề tăng cườngsựlãnhđạo của Đảng đối vớivấn đề ATVSTP trong tình hình mới; Nghị quyếtsố 46-NQ/TW ngày 25/02/2005 của Bộ Chính trị vềtăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới; Kết luận số 43-KL/TWcủaBộChính trịvề 03 năm thực hiện Nghị quyếtsố 46-NQ-TW; Nghị quyết số 34/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện chính sách pháp luật về quản lý chất lượng, ATVSTP; Nghị quyết số 48- NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam; Quyếtđịnh số 20/QĐ-TTg ngày 04/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia ATVSTP giai đoạn 2011-2020 và tầmnhìn 2030; Kết luận số 11- KL/TW, ngày 19/01/2017 của Ban Bí thưvềtiếp tục thực hiện Chỉthị 08-CT/TW ngày 20/10/2011 của Ban Bí thư khoá XIvềtăng cường sựlãnh đạo của Đảng đối với vấn đề an toàn thực phẩm trong tình hình mới.

1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu

(i) Tại sao phải BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP?

(ii) Các quyđịnh pháp luật pháp luật và việctổ chức thực hiện pháp luật ởViệt Nam hiệnnay đã đáp ứng đượcyêu cầu bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực ATVSTP hay chưa?

(iii) Làm thế nào đểbảo vệ hiệu quả quyền lợi của NTD trong lĩnh vực ATVSTP ở điều kiện nước ta hiện nay?

1.3.3. Giả thuyết nghiên cứu

(i) ATVSTP có ý nghĩa quan trọngvớisức khỏe, tính mạng con người, quátrình hội nhập và phát triển kinh tế, cũng nhưsựphát triển của giống nòi. Tuy nhiên, hiện nay quyền của NTD thực phẩm chưa thực sựđược bảo vệvà tiếp tục có nguy cơ bị xâm hại.

(ii) Các quy định của pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP cònhạn

20

chế và bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu BVQLNTD thực phẩm. Việc thực thi pháp luật về BVQLNTD thực phẩm ở nước ta hiện nay bị ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế –

xã hội, tập quán, nhận thức xã hội, khả năng của các chủ thể áp dụng pháp luật… nên NTD thực phẩm gặp khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình.

(iii) Muốn BVQLNTD thực phẩmởViệt Nam hiệu quả, thìcầncó giải pháp toàn diện từ chủ trương, chính sách, pháp luật, đến cơ chế thực hiện pháp luật phù hợp và sự vào cuộc của toàn xã hội trong đó có chính NTD.

KẾTLUẬN CHƯƠNG 1

BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP là một lĩnh vực quan trọng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trên các phương diện khác nhau. Các công trình nghiên cứu đều hướng đến mụcđích khắc phục sựbất cân xứng về khả năng BVQLNTD trong mốiquan hệ vớichủ thể sản xuất, kinh doanh. Mặc dù đã cókhông ít các công trình nghiên cứu là các đề tài khoa học, luận văn, luận án, bài báo xung quanh vấn đề BVQLNTD hoặc ATVSTP, song đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP.

Tổng quan các công trình nghiên cứu cho thấy, NTD trong đó có NTD thực phẩm luôn được coi là đối tượng yếu thế trong quan hệ tiêu dùng cần được bảo vệ. Do đó, NTD được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận các quyềnlợiđặc biệt, đồng thời các quyền nàyđược bảođảmthực thi bằng một cơ chế riêng. Lĩnh vực ATVSTP là một lĩnh vực nhạy cảm, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn về tính mạng, sức khỏe của NTDvà sựphát triển của kinh tế, xã hội đất nước. BảođảmATVSTP là BVQLNTD. Từkết quả của các công trình nghiên cứu đã được tổng hợp, tác giả tiếp cận, kế thừa và tiếp thu có chọn lọc nhằm tiếp tục làm sáng tỏvấn đề nghiên cứu. Đểthực hiện nhiệm vụ này, tác giả đặt ra các giả thiết, câu hỏi nghiên cứu và đi tìm hiểu, luận giải nhằm thực hiện yêu cầu mà Luận án đặt ra.

21

Chương 2

NHỮNG VẤNĐỀLÝ LUẬN PHÁP LUẬT

VỀ BẢO VỆQUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN, VỆ SINH THỰC PHẨM

2.1. NGƯỜI TIÊU DÙNG THỰC PHẨM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN, VỆ SINH THỰC PHẨM

2.1.1. Người tiêu dùng thực phẩm

Người tiêu dùng (NTD) là một bên trong quan hệ pháp luật dân sự, thương mạivới tư cách là người sửdụng dịch vụhoặc tiêu thụ sảnphẩm hàng hóa của thương nhân – chủ thể còn lại trong quan hệ pháp luật. NTD là khái niệm rộng và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ kinh tế, NTD là phạm trù chỉ những chủ thểtiêu thụ của cải, vật chất được tạo ra bởi nền kinh tế [77, tr.34]. Tuy nhiên, khác với người mua nguyên liệu hoặc mua hàng để bán lại, họ là những người sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử dụng đó [84, tr.7]. Trong bất cứ nền kinh tế nào, NTD cũng giữ vai trò quan trọng,bởilẽ chính họlà nhân tố định hướngcho hoạt động sảnxuất vàkhiến cho nó trở nên có ý nghĩa. Nếukhông có hoạt động tiêu dùng sản phẩm thì không có thương mại hàng hóa. Theo đó, nền kinh tế không thể vận hành, nhu cầuđa dạngcủacon người cũng không đượcđáp ứng, xã hộikhông thể phát triển. Chính vì lẽ đó, các thương nhân luôn đặt sự quan tâm đặc biệt đến việc thu hút NTD sửdụng hàng hóa, dịch vụ và cân bằng lợi ích của họ [54, tr43]. Dưới góc độ pháp lý, quan hệtiêu dùng là một loại quan hệpháp luật được thực hiện trên cơ sở các giao dịch hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quan hệ pháp luật này, tồn tại hai chủ thểcơ bản là bên cung cấphàng hóa, dịch vụ (bên bán) và bên sửdụng hàng hóa, dịch vụ (bên mua). Nguyên tắc tự do thỏa thuận và nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể sẽ chi phối các giao dịch này. Tuy nhiên, do tính chất xã hội của quan hệ tiêu dùng, mà NTD khó có cơ hội được tự do, bình đẳng với bên còn lại. Nhằm hướng tới việc khắc phục thế yếu của NTD, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng là loại

22

pháp luật mang tính can thiệp vào quyền tự do của bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ, buộc họ phải tuân thủ các chuẩn mực theo hướng BVQLNTD theo góc độ quyền cơbản của con người. Như vậy, dưới góc độ pháp lý NTD là đối tượng được bảo vệtheo luật BVQLNTD với tư cách là bên yếu thế. Nghiên cứu pháp luật BVQLNTD nhất thiết phải nghiên cứu khái niệm về NTD. Việc xác định rõ nội hàm khái niệm NTD có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn trong việc xác định đối tượng, phạm vi điều chỉnh pháp luật; đảm bảo ý nghĩa nhân văn; tránh sự can thiệp quá sâu và không cần thiết của nhà nước vào các quan hệ dân sự.

Trên thế giới, pháp luật của các quốc gia cũng có sựkhác biệt nhất định trong cách khái niệm NTD. Khái niệm NTD trong các văn bản pháp luật vềBVQLNTD của Liên minh Châu Âu đã được giải thích trong Chỉ thị số 1999/44/EC ngày 25/5/1999 về việc mua bán hàng hóa tiêu dùng và các bảo đảmcó liên quan (Directive 1999/44/EC of the European Parliament and of the Council of 25 May 1999 on certain aspects of the sale of consumer goods and associated guarantees).

Chỉ thịnày giải thích “NTD là bất cứtự nhiên nhân (tức là cá nhân) nào… tham

gia vào các hợp đồng điều chỉnh trong Chỉ thị này… vì mục đích không liên quan tới hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của mình.” [107]. Quan niệm này trướcđó cũng đã từng được thể hiện trong phán quyết của Tòa Công lý Châu Âu (European Court of Justice) năm 1991 khi giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên.

Các quyđịnh về BVQLNTD ở Hoa Kỳđược ghi nhận trong pháp luật của liên bang và pháp luật của các bang. Tuy không có một đạo luật chung thống nhất về BVQLNTD mà trong đó khái niệm NTD được giải thích rõ ràng, nhưng theo các chuyên gia pháp luật của Hoa Kỳ, khái niệm NTD chỉ được quan niệm là cá nhân cụ thể. Cụthể, “NTD là cá nhân tham gia giao dịch với mục đích chủ yếu vì nhu cầu cá nhân hoặc sinh hoạt hộ gia đình” [114].

– Luật BVQLNTD năm 1993 của Trung Quốc tại Điều 2 có quy định “Trường hợp NTD, vì nhu cầu cuộc sống, mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ thì các quyền và lợiíchhợpphápcủamìnhsẽđượcbảovệtheo quyđịnhcủaLuật này và trường hợp Luật này không quy địnhthì sẽ được bảovệ theo các quy định khác có liên quan của

23

phápluật.”.Điềuluật này có nghĩa là, NTD theo quan niệmcủapháp luật Trung Quốc chỉ là cá nhân (mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ vì nhu cầu sinh hoạt của mình chứ không phải vì mục đích kinh doanh hoặc hoạt động nghề nghiệp).

Như vậy, hầu hết các quốc gia đều quy định NTD là cá nhân, nhưng cũng cómột số quốc gia ghi nhận NTD baogồm cả tổchức. Chẳng hạn như, pháp luật củaẤn Độ vàĐài Loan. Luật bảo vệ NTD Đài Loan ban hành ngày 11/01/1994, bổ sung năm 2005 ghi nhận NTD là“ngườitham gia vào các giao dịch,sửdụng hàng hóa hoặc dịchvụvì mụcđích tiêu dùng”,không phân biệt thể nhân hay pháp nhân [24, tr.17]. Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Ấn Độ năm 1986 có một số quy định nhưsau (Điều 2(1d) và 2(1m)): Điều 2(1d): “NTD là bất kỳ người nào mua bất kỳ loại hàng hóa nào hoặc thuê hay sử dụng bất kỳ dịch vụ nào bao gồm cả những người sử dụng hàng hóa hoặc được hưởnglợi từdịch vụ khác vớingười mua hàng hóa hoặc thuê sử dụng dịch vụ đó, không bao gồm người mà có được hàng hóa hoặc sửdụng dịch vụ như vậyđể bán lại hoặc để cho bất kỳ mục đích thương mại nào” Điều 2(1m) giải thíchchữ“người” ở đây được hiểu bao gồm: hãng (doanh nghiệp), cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, tổ chức xã hội [24, tr.15-16].

Mặc dù có sự khác biệt nhất định, nhưng có thể thấy rằng, hầu hết các quốc gia đều thống nhất ở mục đích của hành vi mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, sản phẩm là phục vụnhu cầu tiêu dùng củacá nhân, gia đình, không nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận. Nhìn chung, pháp luật của các nước trên thế giới đều kháthống nhất với quan điểm NTD chỉ bao gồm các cá nhân mà không bao gồm các tổchức. NTD cũng có thể là người được cho, tặng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ để tiêu dùng chứ không phải là người mua, nhưng họ là người tiêu thụ sản phẩm đó. Ở một góc độ khác, nếu tổchức mua hàng hóađể các con người cụthể của tổ chức sửdụng, mà việc sử dụng đó dẫn đến việc họ bị thiệt hại thì những người sử dụng này cũng được coi là NTD cần được bảo vệ. Chẳng hạn, công ty mua thực phẩm, nước uống cho người lao động dùng và bị ngộ độc.

Sở dĩ pháp luật của các quốc gia không xác định tổ chức là NTD vì các tổchức thường có những vị thế và điều kiện tốt hơn so với cá nhân trong quanhệvới nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và có đủ khả năng để đối mặt được với các vi phạm

24

từphía nhà sản xuất kinh doanh, nên Luật BVQLNTD không cầnthiết phải can thiệp vào quan hệ tiêu dùng của họ. Ngoài ra, tổ chức khi tham gia vào các giao dịch thương mại đã được bảo vệ bởi các pháp luật hiện hành khác như: pháp luật vềthương mại, pháp luật kinh doanh và các quy định pháp luật chuyên ngành khác.

Ở Việt Nam, khái niệm NTD được ghi nhận tại Khoản 1, Điều 3, Luật BVQLNTD năm 2010. Theo đó, “NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụcho mụcđích tiêu dùng sinh hoạtcủacá nhân, gia đình,tổchức”. Quyđịnhđãkhông chỉ rõ NTD chỉ là các cá nhân hay còn bao hàm cả các tổ chức. Nhưng cũngđã chỉ ra mục đích của việc mua sắmhàng hóa, dịch vụ tiêu dùng sinh hoạt chứkhông phải mục đích kinh doanh. Cách quy định không rõ ràng này đã gây ra 2 cách hiểu khác nhau. Quanđiểm thứnhất, NTD chỉ là cá nhân, để có thêm điều kiện tập trung nguồn lực cho việc bảo vệ nhóm NTD yếu thế nhất. Ở góc độ này, nếu xét mối quan hệ giữa tổ chức với các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ thì tính yếu thế đãgiảm đi rất nhiều. Các tổ chức thường có có địa vị pháp lý bình đẳng với bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ và có năng lực tự bảo vệ trước các rủi ro. Việc coi tổ chức làNTDsẽ dẫn đến sựbất bình đẳng, thậm chí thiệt hại cho phía nhà cung cấp hàng hóa, dịchvụ do có sựcan thiệp và bảo vệ của pháp luật vềBVQLNTD dành cho bên mua hàng hóa, sửdụng dịch vụ; ảnh hưởng đến trật tựvà tính ổn định của các giao dịch dân sự. Bên cạnh đó,việc xácđịnhmộttổ chức muamộtloại hàng hóa hay sử dụng một loại dịch vụ vìmụcđích thương mại hay mục đích tiêu dùng cũng không phải dễ dàng.Đối vớicác giao dịch tổchức xác lập đểphục vụ nhu cầu của các thành viên trong tổ chức (như mua thực phẩm cho công nhân), thì các cá nhân này trở thành NTD và không có bất kỳ cản trở nào về mặt pháp lý ngăn cản họ yêu cầu khôi phục quyền lợi với tư cách là những NTD. Pháp luật bảo vệ NTD chỉ yêu cầu NTD là người tiếp nhận hàng hóa, dịch vụ để tiêu dùng chứ không đòi hỏi phải có giao dịch trực tiếp với người cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Còn nếu bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ không tuân thủ cam kết gây thiệt hại cho tổ chức thì tổ chức hoàn toàn có thể áp dụng các biện pháp của pháp luật dân sự để yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho mình. Như vậy, mục đích BVQLNTD cũng nhưbảo vệlợiích của tổ chức với tư cách là một bên trong giao dịch vẫn đạt được mà không cần coi các tổ chức là

25

NTD. Quan điểm thứ hai cho rằng, nếu xét ở phương diện tiêu dùng, chỉ hiểu NTD là cá nhân là hoàn toàn bất hợp lý. Bởi trên thực tế, các tổ chức này cũng giống nhưcác cá nhân đơn lẻ, họ cũng phải mua các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu để phục vụ cho các cán bộ, nhân viên của họ và các giá trị giao dịch giữa những đối tượng này với các nhà mua bán hàng hóa dịch vụ là tương đối lớn. Không phải lúc nào các tổchức cũng là đối tượng đủ khả năng để đối mặtđược vớicác vi phạm từ phía nhàsản xuất kinh doanh và hậu quả là nếu Luật BVQLNTD không bảovệ họ nhưđối với các cá nhân tiêu dùng khác, thì quyền lợi của một nhóm đối tượng khá lớn trong xã hội bị xâm phạm, gây thiệt hại chung cho toàn xã hội. Những thiệt hại mà tổchức gánh chịu có thể là thiệt hại về uy tín cũng như vật chất một cách gián tiếp.

Nghiên cứupháp luật BVQLNTDcủacác quốc gia trên thế giới cho thấy, phần lớncác quốc gia chỉ quyđịnhNTD là cá nhân, thể hiện quan điểm Luật BVQLNTD chỉ bảo vệ đối với cá nhân, còn pháp nhân có những vị thế và điều kiện tốt hơn so với cá nhân trong quan hệ với nhà cung cấp nên luật BVQLNTD không

nhất thiết phải can thiệp vào quan hệ của họ. Bên cạnh đó, mặc dù có các quan điểm khác nhau, tuy nhiên xu hướng chung mang tính thông lệ trong pháp luật BVQLNTD ở các quốc gia trên thế giới đều đề cập đến khái niệm BVQLNTD với những đặc điểm sau:

i) Là các cá nhân muasắmhàng hóa, dịchvụ vìmụcđích không nhằmmụcđích hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp. Việc quan niệm NTD bao gồm cả tổ chức sẽ không phù hợp với thông lệ chung quốc tế, vì đa số các quốc gia đều không coi tổ chức là NTD. Ngoài ra, việc quy định NTD chỉ là cá nhân sẽ góp phần khubiệt hóa đối tượng đượcbảo vệ,tập trung nguồn lực vốncóhạncủanướcta cho việcbảovệnhóm NTDyếuthếnhất,cầnđượcbảovệ nhất – đó chính là các cá nhân tham gia mua sắm hàng hóa, dịchvụ nhằmmụcđích sinh hoạt tiêu dùng cá nhân của bản thân hoặc của gia đình mình. Khi tham gia vào các quanhệpháp luật dânsự,vớitư cách là các cá nhânđơnlẻ,NTD không bìnhđẳng vớithươngnhân về địavịpháp lý, thông tin, khả năng tự bảovệ.Quy định theo hướngnày cũng góp phần nâng caoýthứctựbảovệcủacácchủthểkhác có hoạt động mua và sửdụng hàng hóa khi tham gia quan hệ thị trường, đảmbảotốthơn

26

nguyên tắc tự do hợp đồng – điều rất cần thiết trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta trong giai đoạn hội nhập mạnh mẽ như hiện nay.

ii) Giao dịch mà NTD tham gia là phải là giao dịch hợp pháp. Để xác định tính hợp pháp của giao dịch cần căn cứ vào đối tượng; mục đích, chủ thể, nội dung của giao dịch. Trong trường hợp giao dịchbị coi là bấthợppháp nhưng ngườisửdụng hàng hóa, dịch vụ không được xác định là có lỗi thì có thể được xem xét bảo vệ dưới góc độ pháp luật hình sự, dân sự. Ví dụ: người mua phải hàng giả; thực phẩmsửdụng chất cấm. NTD theo nghĩa chung nhất cũng cònđược bảo vệ trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ chưa được cung cấp thông qua một giao dịch cụ thể.

iii) Việc mua hàng hóa, dịch vụ là nhằm mục đích tiêu dùng cho cá nhân hộ gia đình.Điềunày, phân biệt với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ để bán lại hoặc phục vụcho hoạt động của quá trìnhsảnxuất, kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Trong một số trường hợp, NTD cóthểkhông cần phải làmộtbên xác lập quan hệpháp luật dân sự trực tiếp với thương nhân, mà có thể do một quan hệ phái sinh từ

việc tặng, cho… Khi đó, người sửdụng sản phẩm cuối cùng (end consumer) sẽđược coi là NTD và đương nhiên được bảo vệ bởi pháp luật BVQLNTD.

NTD thực phẩm, trước hết, là một NTD với đầy đủ các đặc điểm vốn có. NTD thực phẩm làđốitượngđượcbảovệbởipháp luậtvềBVQLNTD.Họlà những cá nhân cụ thể trực tiếp tiêu dùngsảnphẩm là thực phẩm thông qua việc: ăn, uống (qua hệtiêu hóa). Hiểu theo nghĩa rộng, thực phẩm là những thức ăn,đồuốngcủacon người dưới dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến; baogồmcảđồ uống, nhai ngậm và các chất đãđược sử dụngtrong sản xuất, chế biến thực phẩm [76]. Khoản 20, Điều 2, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 định nghĩa: “Thực phẩm là sản phẩm mà conngườiăn, uốngởdạng tươi sống hoặcđã qua sơ chế,chếbiến, bảoquản. Thực phẩm không baogồm mỹphẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm”. Như vậy, Luật An toàn thực phẩm xác định phạm vi thực phẩm tươngđối rộngtheo nghĩa là: “sản phẩm mà con người ăn, uống”, tuy nhiên, sẽ chỉ được coi là thực phẩm khi an toàn cho con người và phù hợp với văn hóa của cộngđồng.Đồng thời,định nghĩa trên cũng loại trừ mỹ phẩm, thuốc lá và dược phẩm. Thực phẩm có thể tồn tại dướidạngđãquachếbiến (thực phẩm ăn liền, thực phẩm đóng hộp, thực phẩm sơ

27

chế) hoặc còn tươi sống; cóthểlànướcuống, sữa,rượu,bia; có thể làdượcphẩm (thực phẩm chức năng); thực phẩm có nguồn gốc độngvật hoặctừthực vật. Thực phẩm không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng giúp con người phát triển, duy trì sự sống và sức lao động, mà còn có thể gây ra ngộ độc cho con người nếu thực phẩm không được bảo đảm an toàn. Nói cách khác, vấn đề an toàn thực phẩm có ảnh hưởng lớntớisức khỏe NTD. Phạm vi và mứcđộ an toàn của thực phẩm không chỉ có liên quan đến bản thân thực phẩm, mà nó còn liên quan đến quá trìnhchếbiến,bảoquản và sử dụng thực phẩm. Sức khỏe và tính mạng của mỗi cá nhân luôn được coilà yếu tốquan trọngnhất cần đượcbảovệ. Trong khi đó thực phẩm luôn có sự tác động trực tiếp tới sức khỏe con người. Những tác động tiêu cực của sửdụng thực phẩm không an toàn tới sức khỏe NTD đã đặt ra vấn đề bảo vệ quyền lợi của NTD trong lĩnh vực này. NTDthực phẩm cần đượcbảo vệ làNTDsửdụng thực phẩm cuối cùng có nguy cơ chịu tác độngcủa thực phẩm đến sựan toàn tính mạng và sức khỏe. NTD thực phẩm có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, là các cá nhân tiêu dùng thực phẩm một cách trực tiếp bằng việc ăn, uống. Việc xácđịnhNTD thực phẩm là cá nhânsẽphùhợpvớithônglệquốc tế, đồng thời cũng phù hợp với thực tiễn. Trong một số trường hợp, NTD có thể không cần phải là một bên xác lập quan hệ tiêu dùng trực tiếp với thương nhân mà có thể do

một quan hệ phái sinh từ việc tặng, cho… Bởi lẽ, cho dù tổ chức là chủ thể mua thực phẩm, thì các cá nhân của tổ chức mới làngười sử dụngthực phẩmđó, họ làngười thực sự bị tổn hại sức khỏe, tính mạng. Do đó, họ mới là đối tượngcần được bảo vệ.

Thứ hai, thực phẩm là đối tượng của quan hệ tiêu dùng phải là loại hàng hóa được phép giao dịch. Nghĩa là, hàng hóa phải thỏa mãn tiêu chuẩn của thực phẩm an toàn, không thuộc danh mục hàng hóabịcấmlưu thông, hoặc chưa được phép lưu thông (do chưa đủ các điều kiện pháp luật quy định).

Thứ ba, mục đích tham gia giao dịch phải nhằm phục vụ nhu cầu ăn, uống của cá nhân. Điều này, phân biệt với trường hợp mua thực phẩm để bán lại hoặc phục vụ chohoạt độngcủa quá trình sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích sinh lời kể cả trong trường hợp cá nhân được cho, tặng. Khi đó, người sử dụng thực phẩm cuối cùng (end consumer) sẽ được coi là NTD và được pháp luật bảovệ.

28

Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu NTD thực phẩm là cá nhân sử dụng hàng hóa thực phẩm với mục đích ăn, uống. NTD thực phẩm là một bên trong quan hệ tiêu dùng mà đối tượng là thực phẩm. Quan hệ pháp luật tiêu dùng là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội (trao đổi hàng hóa, dịch vụ) giữa người bán và người

mua đối với hàng hóa, giữa bên cung ứng dịch vụ và bên thụ hưởng dịch vụ… Quan hệpháp luật tiêu dùng hình thành trên cơsở các quy phạm pháp luậtđiềuchỉnh quyền và nghĩavụcủa cácchủthểtham gia quanhệ,vớinhữngmụcđíchcụthể, được ápdụng khi phát sinh sự kiện pháp lý [43, tr.21]. Quan hệ tiêu dùng là một loại quan hệ được thực hiện trên cơ sở hợp đồng mua bán, theo đó, NTD mua hoặc sửdụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của người cung cấp mà không vì mục đích kinh doanh (bán lại). Như vậy, quanhệ tiêu dùng không phải là quan hệ thương mại,được điều chỉnh bởi Luật Thương mại mà chỉ có thểlà quan hệ dân sựđược điều chỉnh chung bởi Bộ luật Dân sự[77, tr.39]. Quan hệtiêu dùng thực phẩm là một dạng cụ thể của quan hệ pháp luật, dođó nócũng được cấu thành bởi ba bộ phận:

chủ thể, khách thể và nội dung. Về chủ thể, quan hệ tiêu dùng gồmhai nhóm: một là, NTD – bênsửdụng hàng hóa, dịch vụ và được coi là bênyếu thế cần đượcbảo vệ; hai là, cá nhân, tổ chức kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng. Vềkhách thể, NTD phải hướng đến mục đích phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt mà không phải là việc bán lại hoặc là nguyên liệu cho hoạt động sản xuất một sản phẩm khác. Về nội dung, là quyền và nghĩa vụ của NTD và cá nhân, tổ chức kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.Trong quanhệtiêu dùng thực phẩm, NTD là người ăn, uống và chịu sự tác động trực tiếp của chất lượng và mức độ an toàn thực phẩm. Là bên mua hàng hóa, NTD thực phẩm có vai trò quan trọng, quyết địnhsự tồn tại và phát triển của hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Nói một cách khác, nếu không có NTD thì không tồn tại quan hệ tiêu dùng thực phẩm và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm cũng không tồn tại. Tất nhiên, với nền sản xuất tự cung, tựcấpthì việcđặtra các quyđịnhpháp luậtđiềuchỉnh hoạtđộngtiêu dùng và BVQLNTD cũng không cần thiết. Mặc dù, vị trí, vai trò của NTD là không thể phủnhận, songxuất phát từ đặc điểmquan hệ tiêu dùng mà NTD vẫn luôncó vị thếyếu hơn, bất cân xứng về thông tin, kinhtế,khả năng khởi kiện.Đặc biệt,trong quan hệ

29

tiêu dùng thực phẩm thì những nguy cơ hiện hữu đang đe dọa đến sức khỏe của NTD; khả năng và cơ hội được lựa chọn sản phẩm chính là những yếu tố khiến cho nguyên

tắc tựdo hợp đồng và trung thực, tận tâm trong thực hiện thỏa thuận hợp đồng sẽ không còn giá trị. Chính vì lý do này, việc BVQLNTD nói chung và BVQLNTD thực phẩm là vô cùng quan trọng, có ý nghĩa là các biện pháp tác động bằng các quyđịnh bên ngoài các quyđịnh của pháp luật dân sự, thương mạinhằm khắc phục những hạn chế, bất bình đẳng trong quan hệ tiêu dùng.

2.1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm

Thực phẩm với tư cách là nguồn cung cấp năng lượng, các chất dinh dưỡng cần thiếtđể con người sống và phát triển. Thế nhưng thực phẩm cũng là nguồn truyền bệnh nguy hiểm, nếu như không bảođảmđược an toàn. ATVSTP đang làvấn đềquan tâm của toàn xã hội, bởi lẽ ATVSTP tác động trực tiếp đến sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống con người, do đó,ảnh hưởng đếnchất lượngphát triển của xã hội và giống nòi; liên quanđến đến phát triển kinhtế,văn hoá và an ninh của mỗi địa phương, mỗi quốc gia. An toàn thực phẩm hay ATVSTP hiểu theo nghĩa hẹp, là việc xửlý, chế biến, bảo quản và lưu trữthực phẩm bằng những phương pháp nhằm phòng tránh tác hại do thực phẩm gây ra cho sức khỏe con người. ATVSTP cũng bao gồm mộtsốthói quen, thao tác trong khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ tiềmẩn cho sức khỏe của NTD. Hiểu theo nghĩa rộng, ATVSTP là toàn bộ những vấnđềcần xửlý liên quanđến việc bảođảm vệ sinhđốivớithực phẩm nhằm bảo đảmcho sức khỏe của NTD. Trên thế giới, khái niệm ATVSTPđược tiếp cận ở nhiều phương diện khác nhau. Khái niệm an toàn thực phẩm được WHO định nghĩa (năm 1983): “An toàn thực phẩm là tấtcảcác điều kiện và các biện pháp cần thiết trong quá trình sảnxuất,chếbiến, bảoquản, lưu thôngđểbảo đảmthực phẩm an toàn, lành ngon và phùhợpcho người tiêudùng”. Luật An toàn thực phẩm năm 2010 của Việt Nam định nghĩatạiĐiều 2, Khoản 1: “An toàn thực phẩmlà việc bảo đảm để thực phẩmkhông gây hạiđến sức khỏe, tính mạng con người”. Có thể thấy, theo cách hiểu của pháp luật Việt Nam, an toàn thực phẩm hay ATVSTP không chỉ là điều kiện của vệ sinh thực

30

phẩm, dụng cụ chế biến hay bao bì, mà còn là biện pháp cần thiết để bảo đảm thực phẩm không trở thành nhân tố gây hại cho sức khỏe con người. Như vậy, ATVSTP là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết trong tất cả các khâu từsản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển, cũng nhưsửdụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng NTD. Vì vậy, ATVSTP làcông việc đòi hỏi sựtham gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú y, cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, NTD.

Thực phẩm an toàn là kết quảcủa hoạt động sản xuất, kinh doanhđạt tiêu chuẩn ATVSTP. Để coi là thực phẩm an toàn thì nó phải đạt được các tiêu chuẩn an toàn nhất định mà quốc gia hoặc quốc tế quy định. Các tiêu chuẩn này khá đa dạng, có thể là không tồndư thuốc BVTV, hoá chất, kháng sinhbị cấm hoặc vượt quágiới hạn cho phép; không chứa tạp chất gây nguy hại; không chứa tác nhân sinh học gây bệnh (vi rút, vi sinh vật, ký sinh trùng…); sản xuất theo đúng quy trình tiêu chuẩn… Nhìn chung, thực phẩm an toàn phải là thực phẩm không gây tổn hại cho sức khỏe, tính mạng của con người cả trong hiện tại và tương lai.

Thực phẩm sạch là thực phẩm không chứa chất bẩn,đó là những chất cónguy cơ gây hại cho sức khỏe của con người như: chất hóa học độc hại từ thuốc trừsâu, các ion kim loại nặng, ô nhiễm vi sinh vật hay đơn giản là bụi bẩn từmôi trường nhiễm vào thực phẩm. Thực phẩm có thể được coi là sạch nhưng chưa hẳnđã an toàn cho người sử dụng (chẳng hạn như cá nóc, nấm độc). Nhưng thực phẩm an toàn thì trước hết phải là thực phẩm sạch. Ngoài ra, cũng cần phải phân biệt giữa ATVSTP và chất lượng thực phẩm. ATVSTP là một phần của chất lượng thực phẩm hay chất lượng thực phẩm là khái niệm rộng hơn, bao gồm cả ATVSTP. Bên cạnh ATVSTP, chất lượng thực phẩm còn bao hàm các tiêu chí khác nhu giá trị dinh dưỡng, mùi vị, kích thước, màu sắc sản phẩm… [94, tr.14-15]. Như vậy, thực phẩm an toàn nhưng chưa hẳn đã đạt chất lượng như mong muốn của NTD. Do đó, BVQLNTD không chỉxét đếnkhía cạnh ATVSTP mà còn phải bảo đảmđể NTDđược sửdụng thực phẩm chấtlượngtheo đúng cam kết của nhà sản xuất.Bảođảm ATVSTP có vai trò, vị trí quan trọng trongsựnghiệpbảovệ sứckhỏe củacộngđồng; không những làm giảm tỷ lệ bệnh tật, tăng cường khả năng lao động mà còn

31

góp phần phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và thể hiện nếp sống văn minh của một dân tộc. [41, tr.10-35]

Trong bối cảnh hiện nay, BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP đang ngày càng trởlên vấnđềbức thiết hơn bao giờ hết, không chỉ có ý nghĩa với mỗicá nhân màcòn rất quan trọng với toàn xã hội. Điều này thể hiện qua các phương diện sau đây:

Thứnhất, BVQLNTD trong lĩnhvựcATVSTP nhằmbảođảmthực hiện quyền con người nói chung và quyền an toàn tính mạng, sức khỏe của NTD nói riêng

Quyền con người hay nhân quyền (human rights) là những quyền lợi cơ bản màmỗingườikhi sinh rađềuphải có trong nhữngđiều kiện lịch sửxã hội nhất địnhmà khôngphụthuộc vào hình thái xã hộihaychếđộchính trị. Quyền con ngườibao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, song nhìn chung,đólà quyềnđược

sống,đượctựdo và mưucầuhạnh phúc [77, tr.134-135]. Quyền conngườilà quyềntựnhiênđượcthừa nhận và bảohộbằng pháp luật quốctếvà pháp luật quốc gia. Về phương diện quốc tế, có thể kể đến các công ước trực tiếp liên quan đến quyền con người trong lĩnh vực an toàn tính mạng, sức khỏe như: Tuyên ngôn nhân quyền (1948); các Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, quyền kinh tế văn hóa và xã hội (1966); Công ước về quyền trẻ em (1989). Nhìn chung, các Công ướcđềuđềcậpđếncác quyền cơbảnnhư: quyềnđượcsống và hưởng một cuộc sống hạnh phúc, an toàn tính mạng, sức khỏe, được bảo đảm cộng bằng trong các quan hệ xã hội… Đây là những chuẩn mực pháp lý để nội luật hóa vào hệthống pháp luật quốc gia,trởthành quyềncủacông dân. Trongđó,NTD thực phẩm là một nhóm chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt. Những tác động tiêu cực của thực phẩm không an toàn tới sức khỏe NTD, đã đặt ra vấn đề bảo vệ quyền lợi của NTD trong lĩnhvựcnày. BVQLNTD thực phẩm là việcbảođảm cho NTDđược sử dụng các thực phẩm an toàn và nếu quyền họ bị xâm hại thì phải có cơ chế đểkhôi phục quyềnlợiđómộtcách tương xứng. BVQLNTD thực phẩm cóýnghĩa vô cùng to lớn với sự phát triển của kinh tế, xã hội và tồn tại của quốc gia. Do đó, nó được xem là vấn đề quan trọng hàng đầu trong quyết sách quốc gia. Pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP là “lá chắn”, “hàng rào” kỹ thuật, pháp lýcần thiết, hữu hiệu để phòng ngừa và chống lại các hành vi xâm hại đến quyền lợi

32

NTD. Pháp luật ghi nhận quyền vàtạora côngcụpháp lýbảođảmthực thi các quyền lợi đó. Tuy vậy, các quyền và lợi ích của NTD thực phẩm chỉ thực sựđược bảo đảm nếu cácquy định của pháp luật phù hợp với những biến đổi của thực tiễn xã hội. Do đó, việc BVQLNTD nói chung và NTD thực phẩm nói riêng bằng công cụ pháp luật và các công cụ khác như: kinh tế, thiết chế xã hội, cơ chế tựvệ của NTD… là một nhu cầu tất yếu, trong đó, quyền an toàn là trục tham chiếu quan trọng phải được bảo đảm.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN, VỆ SINH THỰC PHẨM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *