Pháp luật quốc tế và việc xây dựng pháp luật Việt Nam về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn nghiên cứu đề tài
Khoảng không vũ trụ đã và đang chiếm một vị thế ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Các tổ chức thƣơng mại luôn dànhsựquan tâmđặc biệt đến khoảng không vũ trụ bởi lẽ, nhiều ngành kinhtế hiện đại sẽkhôngthể tồn tạivà phát triển đƣợc nếu thiếu vai trò của các ứng dụng công nghệ vũ trụ. Hệ thống quy phạm pháp luật quốc tế về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình nói chung vàkhai thác khoảng không vũ trụ nhằmmụcđích thƣơng mại nói riêng là công cụ cần thiết và hữu hiệu để đƣa các hoạt động khai thác khoảng không vũ trụ vào“quỹ đạo” pháp lý quốc tế.
Một là, về lý luận: Khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại cũng nhƣ xu thế thƣơng mại hóa khoảng không vũ trụlà những vấn đề pháp lý khámới nhƣng có tầm quan trọng đặc biệt trong pháp luật quốc tế hiệnđại. Tuy nhiên, khía cạnh pháp lý của việc khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại tính đến nay vẫn hầu nhƣ chƣa đƣợc tiếp cận nghiên cứu chuyên sâu với tƣ cách một lĩnh vực đặc thù, có tính độc lập tƣơng đối với sử dụng khoảng không vũ trụ vì các mục đích hòa bình khác trên thế giới. Do đó, cơ sở lý luận pháp lýcủa vấn đề này vẫn còn đang để ngỏ, chƣa đƣợc hoàn toàn minh định trong nền khoahọcpháp lý quốc tếhiện đại nói chung và khoa học pháp lý của Việt Nam nói riêng.
Hai là, về thực tiễn: Các tổ chức thƣơng mại trên thế giới đang ngày càng quan tâm đến khoảng không vũ trụbởi nó có giá trị kinh tế vô cùng to lớn, đem lại cho chúng ta tài nguyên, vật chất để phục vụ sản xuất, kinh doanh. Nghiên cứu; ứng dụng khoa học công nghệ vũ trụ đem lại cho chúng ta những tiến bộ trong cuộc sống, làm giảm sự vất vả lao động cho conngƣờivà khiến cuộc sống của con ngƣời hiệnđại, văn minh hơn. Bắt đầu từcuối những năm 1980, thƣơng mại hóa vũ trụ đãtrở thành một vấn đề thực tiễn. Ngoài dịch vụ viễn thông và truyền hình, vệ tinh và viễn thám, hiện nay du lịch vũ trụ đang đƣợc xem nhƣmộtlĩnh vực đầyhứa hẹn trong thập kỷ qua.Đặcbiệt là một số hƣớng khai thác mới trong khoảng không vũtrụđang
đƣợc các cƣờngquốc vũ trụ mở ra. Thay vì đi tìm các tài nguyên, kim loại quý hiếm
dƣới lòng đất hoặc trong lòng đại dƣơng, một số quốc gia trên thếgiới đang có kếhoạch đi tìm các “kho báu” trong khoảng không vũ trụ. Thật có lý khi cho rằng khoảng không vũ trụ – “chiến trƣờng thầm lặng” đang trở thành “chiến trƣờng nóng” trong thế kỷXXI. Vào 22 giờ 16’ ngày 18/04/2008, Việt Namđãtiến hành phóng Vinasat-1 – vệ tinh viễn thông địa tĩnh đầu tiên vào vũ trụ mở đầu quá trình khai thác vũ trụ đầyhứa hẹn vàthửthách của đấtnƣớc. Ngày 14/06/2006, Thủ tƣớng Chính
5
phủ đã ban hành Quyết định số 137/2006/QĐ-TTg vềviệc phê duyệt“Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ Vũ trụ đến năm 2020”. Theo đó, mục tiêu cấp bách trƣớc tiên mà nhànƣớc ta đặtra đến năm 2010 là “hình thành chính sách quốc gia và khung pháp lý về nghiên cứu, ứng dụng và hợp tác quốc tế trong lĩnhvựccông nghệ Vũ trụ”. Khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại đã và đang mở ra nhiều cơ hội nhƣng cũng đầy thách thức cho Việt Nam. Nghiên cứu pháp luật quốc tế trong lĩnh vực này giúp chúng ta rút ra những quy tắc ứng xử tuân theo cácđiều ƣớc quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ. Thông qua kinh nghiệm pháp lýcủa các quốc gia trên thế giới, chúng tacó thể dựliệu những vấn đềpháp lýcần đối mặt trong quá trình khai thác vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có thể đƣa ra những bài học pháp lý thực tiễn sâu sắc cho quá trình khai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thƣơng mại của Việt Nam. Mặt khác, kết quả nghiên cứu của đềtài cũng có thể giúp các nhà làm luật hoạch định chính sách trong lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thƣơng mại phù hợp,
tƣơng thích với các điều ƣớc quốc tế.
Ba là, về khía cạnh khoa học: Có thể nói rằng Việt Nam có nền công nghệ vũ trụ và quá trình nghiên cứu pháp luật quốc tế về vũ trụ phát triển sau nhiều quốc gia khác. Những quan điểm, phƣơng hƣớng và kiến nghịcụthể để xây dựng, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về khai thác khoảng không vũ trụđƣợc đƣa ra từkết quả nghiên cứu đề tài sẽ có thể góp phần hình thành hành lang pháp lý cho công nghệ vũ trụ phát triển cũng nhƣ thúc đẩy những nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực này.
Những nội dung trình bày trên đây là lý do chính để tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Pháp luật quốc tế và việc xây dựng pháp luật Việt Nam về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại”trong khuôn khổ Luận án tiến sỹ luật học này.
2. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
Xuất phát từlý do lựa chọn đề tài nhƣ nêu trên, tác giả xác định mục đích nghiên cứu đề tài trong Luận án này là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn,đồng thời lập luận và đề xuất những quan điểm,phƣơng hƣớng và kiến nghị cụ thểnhằm hoàn thiện pháp luật quốc tế và xây dựng pháp luật Việt Namvề khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại.
Với mục đích chung đó, nhiệm vụ nghiên cứu chính của Luận án là:
Thứ nhất, nghiên cứu chuyên sâu và phân tích về pháp luật quốc tế điều chỉnh lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thƣơng mại; bình luận và nhận xét các quy định pháp luậtquốc tế điềuchỉnh lĩnh vực khai thác khoảng không
6
vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại; tìm ra những điểm tƣơng thích có thể áp dụng tại Việt Nam và những điểm chƣa phù hợp cần hoàn thiện.
Thứ hai, đƣa ra nhận định chung về hệ thống quy phạm pháp luật liên quan đến việc sửdụng, khai thác khoảng không vũ trụ của một số quốc gia điển hình trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam; đồng thời đánh giá tình hình xây dựng pháp luật của Việt Nam về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại.
Thứ ba, phân tích các thách thức pháp lý và rút ra các kinh nghiệm pháp lýtừquá trình nghiên cứu pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mụcđích thƣơng mại; đồng thời bằng những lập luận, phân tích khoa học, rút ra những bài học pháp lý cho Việt Namđể tham gia mộtcách an toàn vào lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụnhằmmụcđích thƣơng mạiphù hợpvới quyđịnh pháp luật quốc tế.
Thứ tư, góp phần hình thành luận cứkhoa học, phƣơnghƣớngcụ thể về xây dựng và hoàn thiện hệthống quy phạm pháp luật trong lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại của Việt Nam trong tổng thể mô hình khung pháp luật về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình.
2.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là pháp luật quốc tế và hệ thống quy phạm pháp luật Việt Namvềkhai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thƣơng mại. Tuy nhiên, trong khuôn khổ một luận án tiến sĩ vớigiới hạn vềsố trang tối đa, phạm vi nghiên cứu của đề tài đƣợc xác định nhƣ sau:
Thứ nhất,đề tài không nghiên cứu tổng hợp toàn bộ các quyđịnhpháp luật quốc tế về sửdụng khoảng không vũ trụvì mục đích hoà bình mà chỉ tập trung nghiên cứu các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề sửdụng, khai thác khoảng không vũtrụnhằm mục đích thƣơng mại.Đềtài cũng không nghiêncứu lịch sửquátrình phát triển của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực này mà chỉ nghiên cứu pháp luật quốc tế hiện hành, bao gồm: (i) Các nguyên tắc cơ bản và nguyên tắc đặc thù của pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại; (ii) Các điều ƣớc quốc tế thực định về hoạt động khai thác khoảng không vũ trụ: các hiệpđịnh, công ƣớc của Liên hợp quốc, các nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc; (iii) Các quan điểm, học thuyết của các nhà khoa học trên thế giới hiện nay về vấnđề khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại. Trong khuôn khổ luận án, việc hoàn thiện pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích
thƣơng mại không đƣợc đặt ra trong toàn bộ các lĩnh vực mà tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu giải pháp hoàn thiện của một sốlĩnh vực cụ thể, điển hình. Tuy nhiên, không thể tách rời một cách tuyệt đối vấn đề khai thác khoảng không vũ trụnhằm
7
mục đích thƣơng mại ra khỏisửdụng khoảng không vũtrụnhằm mục đích hoà bình. Do vậy,đề tài vẫn tiếp cận các nguyên tắcchung trong hệthống pháp luật quốc tế, quốc gia vềsửdụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hoàbình đểlàm cơ sở nền tảng nghiên cứu góc độ pháp lý của vấn đề khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích
thƣơng mại trên thế giới và Việt Nam.
Thứ hai,đềtài không nghiên cứu toànbộhệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại mà chỉ tập trung nghiên cứu sâu về các mô hình khung điển hình, tổng kết các kinh nghiệm pháp lý cô đọng nhất. Từđó, tác giảđƣa ra các kiến nghị trong quá trình xây dựng hệthống quy phạm pháp luật về khai thác khoảng không vũtrụnhằm mục đích thƣơng mại ở Việt Nam.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Nghiên cứu đề tài “Pháp luật quốc tế và việc xây dựng pháp luật Việt Nam về khai thác khoảng không vũ trụnhằm mụcđích thương mại”sẽ tổng hợp, phân tích các quy định pháp luật quốc tế liên quan đến khai thác khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình nói chung và nhằm mục đích thƣơng mại nói riêng trên thế giới, bao gồm: (i) Cácđiều ƣớc quốc tếthực định vềhoạt độngkhai thác khoảng không vũ trụ, các hiệp định, công ƣớc của Liên hợp quốc, các nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc; (ii) Các quy định pháp luật quốc gia về vấn đề khai thác khoảng không vũtrụ, tình hình xây dựng pháp luật về khai thác khoảng không vũ trụ của các quốc gia trên thế giới. Vấn đề này đang ngày càng dành đƣợc sựquan tâm nhiều hơn từcác quốc gia. Nếu chúng ta nắmchắc các quyđịnh pháp luật quốctế sẽcó thể tạođiều kiện cho việc áp dụng và thực thi các quyđịnh này của Việt Nam; (iii) Các quanđiểm, học thuyết củacác nhà khoa học trên thế giới vềvấn đề khai thác khoảng không vũ trụ.
Bên cạnh đó, nghiên cứu đề tài cũng góp phần khẳng định những căn cứ pháp lý của việc khai thác vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại.Từđó, luận án đƣa ra cơ sở lý luận cho việc xây dựng pháp luật về khai thác khoảng không vũ trụ của Việt Nam,đặc biệt là nhằm mục đích thƣơng mại. Nhƣ chúng ta đã biết tại Việt Nam chƣa ban hành đạo luật về khai thác khoảng không vũ trụ. Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu các quy định pháp luật quốc tế cóthểgiúp các nhà làm luật hoạch định chính sách trong lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại phù hợp, tƣơng thích với các điều ƣớc quốc tế. Đồng thời, chúng ta có thể áp dụng kinh nghiệm, kỹthuật lập pháp của Liên hợp quốc trong các điều ƣớc quốc tế và các quốc gia khác trong lĩnh vực này.
8
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quảcủa đềtài sẽ có thể đƣa ra những bài học pháp lý thực tiễn sâu sắc cho quá trình khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại của Việt Nam.Việt Nam hiện đã và đang tham gia vào lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ. Nghiên cứu kiến thức về quy định pháp luật quốc tế trong lĩnh vực này giúp chúng ta rút ra những quy tắc ứng xửtuân theo các điều ƣớc quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ. Thông qua việc nhìn lại những kinh nghiệm pháp lý của các quốc giađiển hình trên thế giới để ý thức, dựliệu chúng ta đang đối mặt với những vấnđề pháp lý gì trong quá trình khai thác vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại. Đồng thời, rút ra kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình Việt Nam tham gia khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại. Đối với hoàn cảnh nƣớc ta, khoa học nghiên cứu vũ trụ chƣa phát triển bằng một số nƣớc khác, tác giả mong muốn đóng góp dù là một phần nhỏ vào quá trình chuẩn bị hành trang pháp lý cho đất nƣớc để tham gia vào hoạt động khai thác khoảng không vũ trụđầy thửthách và bảo vệ, đề cao quyền khai thác khoảng không vũ trụcủaViệt Nam vì mục đích hoà bình đem lại lợi ích kinh tế cao nhất cho Việt Nam.
4. Bô cuc cua Luân an
Luận ánđƣợc cấu tạothành bởi phần mở đầu, nội dung luận án và kết luận. Phần nội dung luận án gồm bốn chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chƣơng 2: Một số vấn đề lý luận pháp lý quốc tế cơ bản về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại
Chƣơng 3: Thực trạng, hoàn thiện pháp luật quốc tế và kinh nghiệm của một số quốcgia điều chỉnh vấn đề khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại
Chƣơng 4: Thực trạng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu
1.1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trênthếgiới có liên quanđếnđề tài Luận án
1.1.1.1. Đánh giá chung các công trình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1.2. Nội dung các công trình nghiên cứu trên thế giới
1.1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu tại Việt Nam liên quan đến đềtài luận án
1.1.2.1. Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu tại Việt Nam
1.1.2.2. Nội dung các công trình nghiên cứu tại Việt Nam
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu
1.2.1. Các vấn đề đã đƣợc giải quyết
1.2.2. Các vấn đề còn tồn tại
1.3. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của Luận án
Luận án có mục tiêu đƣa ra các luận cứ khoa học góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Namvề khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại. Đồng thời, từkết quả nghiên cứu đánh giá, tác giả sẽ đƣa một số đề xuất góp phần hoàn thiện pháp luật quốctế vềkhai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích
thƣơng mại. Tuy nhiên, mục tiêu chính của luận án là nghiên cứu việc xây dựng vàhoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này.
Từ đó, Luận án tập trung nghiên cứu những nội dung sau:
Mộtlà, nghiên cứu chuyên sâu vềpháp luật quốc tế điều chỉnh lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thƣơng mại: các điều ƣớc quốc tế đa
phƣơng, song phƣơng về sửdụng khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại; pháp luật các quốc giađiển hìnhvề sửdụng khoảng không vũ trụnhằmmụcđích
thƣơng mại; các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thƣơng mạiTừđó, bình luận và nhận xét các quyđịnh pháp luật quốc tếđiềuchỉnh lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích
thƣơng mại; tìm ra những điểmtƣơng thích có thể áp dụng tại Việt Nam và nhữngđiểm chƣa phù hợp.
Hai là, đánh giávề quá trình thực thi các điều ƣớc quốc tế về lĩnh vực khai thác khoảng không vũtrụvì mục đích thƣơng mại của các quốc gia trên thế giới. Luận án đƣa ra nhận định chung vềhệ thống quy phạm pháp luật về sửdụng, khai thác khoảng không vũ trụ của một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam. Đồng thời, luận án nghiên cứu tình hình xây dựng pháp luật của Việt Nam vềsử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ.
Ba là, phân tích các thách thức pháp lý và rút ra các kinh nghiệm pháp lý từquá trình nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia điển hình về khai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thƣơng mại. Đồng thời bằng những lập luận,
29
phân tích khoa học, rút ra những bài học pháp lý của Việt Nam để tham gia một cách an toàn vào lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụnhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao và phù hợp với quy định pháp luật quốc tế.
Bốn là, là góp phần hoàn thiện, xây dựng luận cứ khoa học phƣơnghƣớng cụ thể về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thƣơng mại của Việt Nam trong tổng thểmôhình khung pháp luật về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình.
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 1.4.1. Phƣơng pháp luận
Đề tài luận ánsửdụng cơ sở phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nhà nƣớc và pháp luật.
Việc nghiên cứu đề tài luận án dựa trên cơ sở thực tiễn là sựphát triển của thành quả nghiên cứu vũ trụ, mối quan hệ giữa các quốc gia – chủ thể của luật quốctế trong vấnđề khai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thƣơng mại. Các quy phạm pháp luật quốc tế trong đó có các quy phạm điều chỉnh vấn đề khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại là yếu tố thuộc kiến trúc thƣợng tầng của xãhội, là sự phản ánh các quan hệ giữa các chủ thể nêu trên.
Việc nghiên cứu hệ thống quy phạm pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ trong luận án này đƣợc đặt trong trạng thái vận động, phát triểncủacác quy phạm pháp luật quốc tế, tính lịch sửcủa các quy phạm pháp luật quốc tế vềkhoảng không vũ trụ trên thế giới.
1.4.2. Phƣơng pháp cụ thể
Trên cơ sở phƣơng pháp luận, việc nghiên cứu đề tài luận án có sử dụng những
phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể.
Thứ nhất, phƣơng pháp tổng hợp từ những quy phạm pháp luậtquốc tế đƣợc ban hành trong những thời điểm khác nhau và bởi nhiều chủ thể khác nhau. Tác giảphải nghiên cứu, tổng hợp lại để rút ra những quy tắc chung nhất của luật quốc tế vềvấn đề khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại.
Thứ hai phƣơng pháp so sánh, đối chiếu. Tác giả đã tiến hành nghiên cứu, so sánh giữa các quy định pháp luật của một sốquốc gia có liên quanđến vấn đềkhai thác khoảng không vũtrụvà đối chiếu các quyđịnh pháp luật đó với các điều ƣớc quốc tế để rút ra thực trạng thực thi pháp luật quốc tế trong lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại trên thế giới. Đồng thời, tác giả cũng phải so sánh giữa các quan điểm, học thuyết củanhững nhà khoa học trên thế giới để
30
nghiên cứu, phát biểu quan điểmcủa bản thân. Ngoài ra, tác giả phải đối chiếu so sánh phƣơng án đề xuất của mình với các quyđịnh pháp luật hiện hành để tìm ra những điểm chƣa phù hợp, kịp thời điều chỉnh nhằm đƣa ra phƣơng án khả thi.
Thứ ba, phƣơng pháp phân tích các quy phạm pháp luật quốctếthực định. Tác giả đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy phạm pháp luật quốc tế có liên quan đến lĩnh vực khai thác khoảng không vũtrụnhằm hình thành nên cái nhìn tổng quan của hệ thống quy phạm pháp luật đó. Nhờ vậy, tác giả có thể vận dụng cơ sở lýluận và thực tiễn đã phân tích đƣợc vào điều kiện kinh tế, xã hội, khoa học của Việt Nam để đƣa ra những kiến nghị phù hợp.
1.5. Điểm mới của Luận án
So với các công trình khoa học đã công bố, Luận án tiến sĩ “Phápluật quốc tế và việc xây dựng pháp luật Việt Nam về khai thác khoảng không vũ trụnhằm mụcđích thương mại” có bađiểmmớinhƣ sau:
Một là, Luận án phân tích về những thách thức pháp lý trong quá trình thực thi các quy phạm pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích
thƣơng mại.
Hai là, Luận án kiến nghị giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thƣơng mại trong một số lĩnh vực cụthể, điển hình.
Ba là, Luận án góp phần đề xuất phƣơng hƣớng cụthểđể xây dựng mộtmôhình khung cho hệ thống quy phạm pháp luật về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại của Việt Nam.
31
Những nội dung trình bày và phân tích trong Chƣơng nàyvề tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài cho phép rút ra kết luận rằng:
Một là, vấn đề khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại đã,đang và sẽ là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học trên thế giới. Tại Việt Nam vấn đề này hiện đang đƣợc nghiên cứu trong tổng thể lĩnh vực sửdụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình. Tuy nhiên, Luận án tính đến nay là công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu chuyên sâu pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn đề khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại.
Hai là, Luận án sẽ gópphần đềxuất một mô hình khung pháp lý về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mạiphù hợp với Việt Nam và các văn bản pháp luật cần ban hành trong mô hình khungđó.
Ba là, Luận án có một số điểm mới: phân tích sâu về những thách thức pháp lýtrong quá trình thực thi các quy phạm pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũtrụnhằm mục đích thƣơng mại; kiến nghị giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại trong một số lĩnh vực cụ thể,điển hình; góp phần đề xuất phƣơng hƣớng cụthể để xây dựng một mô hình khung cho hệ thống quy phạm pháp luật về khai thác khoảng không vũtrụnhằm mục đích thƣơng mại của Việt Nam.
32
CHƢƠNG 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ KHAI THÁC KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ NHẰM MỤC ĐÍCH THƢƠNG MẠI
2.1. Đặc điểm điều chỉnh của pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1. Khái niệm khoảng không vũ trụ
Hiện nay khái niệm khoảng không vũ trụđƣợc hiểu theo nhiều giác độ khác nhau. Theo ý nghĩa khoa học, khoảng không vũ trụ là vùng tƣơng đối chân không của khoảng không vũ trụ tầng khí quyển của các thiên thể (hành tinh) [96, p.1]. Theotừđiển Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia: “Vũ trụ là toàn bộ hệ thống không-thời gian trong nó chúng ta đang sống, chứa toàn bộ năng lƣợng hay vật chất” [28, tr. 1]. Theo Từđiển Bách khoa toàn thƣ Việt Nam (bốn tập) đăng trên trang thông tin điện tử của Viện khoa học xã hội Việt Nam: “Vũ trụ là toàn bộ thế giới vật chất xung quanh ta, trong đó vật chất tồn tại và biến hoá dƣới mọi dạng khác nhau. Phần quan trọng nhất của vũ trụ tập trung ở các thiênthể”.Triết học duy vật biện chứng khẳng định vũ trụ tồn tại khách quan, không phải do một lực lƣợng siêu nhiên nào tạo ra, và điều này đã
đƣợc chứng minh bằng các sựkiện khoa học. Khi việc nghiên cứu vũ trụ càng phát triển, càng tìm ra nhiều phát minh mới lạ. Ví dụ: hiện tƣợng giãn nở vũ trụ dẫn đến giả thuyết về vụ nổ lớn tuy nhiên còn nhiều điều chƣa rõ. Bởi vậy việc thám hiểm vũ trụ bằng các trạm vũ trụ hoặc tàu vũ trụ là hƣớng nghiên cứu quan trọng của thời đại ngày nay [27, tr. 1]. Theo Giáo trình Luật quốc tế của Trƣờng đại học Luật Hà Nội:
“Khoảng không vũ trụlà khoảng không nằm ngoài khoảng không khí quyển (môi
trƣờng hoạt động của phƣơng tiện bay hàng không) và các hành tinh. Khoảng không vũ trụđƣợc xác định là phạm vi hoạt động đặc thù (độc đáo) của nhân loại mà tính chất hoạt động này rất đặc biệt”[26, tr. 226].
Giới hạn của khoảng không vũ trụ sẽ đƣợc xác định theo đƣờng biên giới trong và đƣờng biên giới ngoài. Trong đó, đƣờng biên giới ngoài của khoảng không vũ trụhoàn toàn đƣợc xác định theo khả năng khoa học – kỹ thuật của nhân loại và trình độkhoa học của loài ngƣời vƣơn xa đƣợc tới đâu trong việc khám phá và chinh phục vũtrụ vƣơn xa tới đâu trong việc khám phá và chinh phục vũ trụ thì biên giới phía ngoài của khoảng không vũ trụ sẽ vƣơn xa đến đó. Có nhiều quan điểm về đƣờng biên giới phía trong của vũ trụ. Có quan điểm cho rằng đƣờng biên giới phía trong của vũ trụ nằm ở độcao các điểm bay thấp nhấtcủa quỹ đạobay nhân tạo của trái đất. Độ cao này là 100 km + 10 km. Có quan điểmcho rằng đƣờngbiên giới trong củavũ trụ, theo “quy tắc cận điểm”, hoặc giới hạn tối đa của chủ quyền không gian, là tối thiểu
33
90 km trên mặt biển (gần bằng điểm thấp nhất của quỹ đạo của vệ tinh nhân tạo khi bay quanh trái đất vào năm 1957) [96, p. 15].
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về khoảng không vũ trụ, nhƣng theo quan điểm của tác giả, trong Luận án này, khoảng không vũ trụ nên đƣợc nghiên cứu
dƣới giác độ pháp lý và gắn với những thực thể tồn tại trong khoảng không vũ trụ. Đólà các “thiên thể” hay còn gọi là “hành tinh”. Thuật ngữ“thiên thể” (“astronomical object”) là các thực thể, các tập hợp hay những cấu trúc đáng kể trong vũ trụ mà sự
tồn tại của chúng đƣợc khoa học ngày nay chứng nhận. Thuật ngữ“vật thể vũ trụ” (celestial objects) hay khối thểvũ trụ (celestial bodies) chỉkhác với “thiênthể” làchúng không bao gồm Trái Đất. Thiên thể bao gồm thiên thể trong hệ mặt trời (mặt
trời và các hành tinh: Sao Thủy, Sao Kim, Sao Mộc…) và những vật thể ngoài hệ mặt trời (các vật thể riêng lẻ, các hệ và các cấu trúc). Thuậtngữ“khoảng khôngvũ trụ”
đƣợc đề cậpđến trong Luận án này cũng nhƣ trong các công trình nghiên cứu khoa học khác là khoảng không vũ trụ trong mối quan hệ với trái đất – thiên thể nơi chúng ta đang tồn tại. Vì vậy, khoảng không vũ trụ tách biệt hẳn với trái đất nhƣng lại có thểbao gồmrất nhiều vật thể hay khối thể vũ trụ. Từđó, tác giả đƣara khái niệm nhƣsau: Khoảng không vũtrụlà khoảng không nằm ngoài khí quyển, bao gồm cả các thiên thể (trừ trái đất) tồn tại trong khoảng không đó.
2.1.1.2. Khái niệm khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại
Từ“khai thác” (“exploitation”) trong cụm từ “khai thác tài nguyên thiên nhiên của Mặttrăng và các thiên thểkhác”(“exploitation of the natural resources of the Moon and other celestial bodies”) đƣợc ghi nhận chính thống trong Hiệp định điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên mặt trăng và các thiên thể khác (Liên hợp quốc mở để kýngày 18/12/1979) và nhiều điều ƣớc quốc tế có liên quan.
Để tìm hiểu khái niệm của “khai thác khoảng không vũ trụ” cầnđi từkhái niệm “khai thác”. Theo Từ điển Bách khoa toàn thƣ tiếng Việt đăng trên trang thông tin điệntửcủaViện khoa học xã hội thì “khai thác” là “hoạt động để thu lấy những sản vật có sẵn trong tự nhiên” [27, p. 1]. Theo từ điển tiếng Anh trực tuyến Oxford thì
từ“exploit” (khai thác) trong tiếng Anh đƣợc giải thích là “to utilize, esp. for profit; turn to practical account”. Khai tháclà sửdụng để hƣởng lợi ích; nhằm đạtđƣợc lợiích thực tế[59]. Theo từđiển Oxford thì “exploit” (khai thác) đƣợc giải thích là“make full use of and derive benefit from (a resource)” – toàn quyền sử dụng và nhận
đƣợc lợi ích từ(một nguồn tài nguyên). Theo Từđiển tiếng Anh của Webster thì“exploit” có nghĩa là “to utilize; to make available; to get the value or usefulness out
of…” – sửdụng, làm cho sẵn có để dùng; lấy giá trị hoặc công dụngtừ…”. TheoTừđiển bách khoa toàn thƣmở wikipedia thì “exploit” đƣợc giải thích là “the act of
34
using something for any purpose” – hành visửdụng thứgìđó cho bất kỳmục đích nào, đồng nghĩa với “sử dụng”[96, p. 1]. Theo từ điển tiếng Anh của Webster đƣợc đăng trên một số website thì từ“use” trong tiếng Anh đƣợc giải thích là “the act of employing anything, or of applying it to one’s service; the state of being so employed or applied; application; employment; conversion to some purpose (law) the exercise of the legal right to enjoy the benefits of owning property”. Hành vi sử dụng chính làcách ứng xử của con ngƣời đối với những phƣơng tiện, những công cụ, những cơ sở vật chất nhằm đạt đƣợc mục đích của chủ thể – con ngƣời. Cụm từ“sửdụng khoảng không vũ trụ” (“use of outer space”) cũng đã đƣợc ghi nhận một cách chính thống tại Hiệp ƣớc về các nguyên tắc hoạt động của các quốc gia trong nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm cả mặt trăng và các hành tinh khác do Liên hợp quốc mở để kýngày 27/01/1967 và nhiều điều ƣớc quốc tế có liên quan. Nhƣ vậy, khi nóiđến “khai thác khoảng không vũ trụ” là nhằm diễn đạt sựsửdụng nhƣng gắn với việc có đƣợc những lợi ích của khoảng không vũ trụ, cụ thể hơn là nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khoảng không vũ trụ, trên các hành tinh hay còn gọi là thiên thể trong khoảng không vũ trụ. Tài nguyên thiên nhiên trong khoảng không vũ trụcó thể kể
đến nhƣ: năng lƣợng mặt trời trực tiếp, gió, không khí… Tài nguyên trên các hành tinh trong vũ trụ là các tài nguyên gồm ba dạng chính: (i) Phục hồi: thủy triều, dòng chảy; (ii) Không phục hồi: nhiên liệu dƣới đất, khoáng sản kim loại, khoáng sản phi kim; và (iii) Có thể phục hồi: tài nguyên nƣớc, tài nguyên đất, tài nguyên sinh học.
Mặc dù trong các văn bản pháp luật quốctếkhông quyđịnh những hành vi
đƣợc coi là “khai thác khoảng không vũ trụ”hoặc “sửdụng khoảng không vũ trụ”
nhƣng về mặt pháp lý có thể hiểu khai thác khoảng không vũ trụ là việc một cá nhân hoặc tổ chức thực hiện các hành vi phù hợp với pháp luật nhằm một hoặc nhiều mục đích nhất định để hƣởng lợi ích và công dụng của khoảng không vũ trụ. Trong nhiều mục đích mà con ngƣời hƣớng đến trong quá trình sử dụng khoảng không vũ trụ thì có mục đích thƣơng mại, nhằm hƣởng những lợi ích vật chất mang giá trị kinh tế cho con ngƣời.
Trong số các công trình khoa học về đề tài liên quan đến luận án mà tác giả đãnghiên cứu thì tác giả đồng quan điểm với Giáo sƣ A.O.Popoola và Cử nhân Adeleke Fiyinfoluwa Fadesola đề cập ở cuốn “Tạo ra khung pháp lý cho việc khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại” (“Creating a legal framework for the commercial expoitation of the outer space”). Mục đích thƣơng mại là hƣớng đến việc phát triển thị trƣờng và sản xuất, phân phối sản phẩm, dịch vụ để có doanh thu. Hoạtđộng nhằm mục đích thƣơng mại có thể thực hiện bởi cả tổ chức nhà nƣớc và ngoài nhà nƣớc hoặc tƣ nhân [60, p. 127]. Khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích
thƣơng mại đƣợc hiểu là một chuỗi các hoạt động đƣợc thực hiện riêng hoặc liên kết
35
bởi chính phủ và tổ chức tƣ nhânđể sửdụng một cách thu lợi ích từ nguồn tài nguyên hoặc công nghệ của khoảng không vũ trụ ở hiện tại hoặc tƣơng lai. Đây là hoạt động thể hiện vai trò nỗ lực của chính phủ và tổ chức kinh tế trong việc sửdụng môi
trƣờng vũ trụ để (i) tạo ra những sản phẩmtốthơn, rẻ hơn cung cấp cho trái đất, cũng
nhƣsửdụng trong khoảng không vũ trụ; và (ii) thực hiện các dịch vụ có liên quan trong khoảng không vũ trụ, nhƣ chế tạo và phóng vệ tinh nhân tạo [60, p. 130]. Nhƣvậy, từ“thƣơng mại” đƣợc đề cập trong khuôn khổ luận án này cũng nhƣ trong đa sốcác công trình khoa học đã công bố là thƣơng mại hỗn hợp bao gồm cả thƣơng mại công và thƣơngmạitƣ. Trên cơ sở đó, tác giả đƣa ra khái niệm: Khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại là việc một tổ chức kinh tế hoặc quốc gia sử dụng các thiết bị đã được phóng vào hoặc xuyên qua khoảng không vũ trụđể cung cấp sảnphẩm hoặc dịch vụ có giá trị thương mại. Các lĩnh vực hoạt động khai thác, sửdụng khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơngmạicó thể kểđến nhƣ: vệ tinh viễn thông; dịch vụ thuê vệ tinh, thuê mua hệ thống phát sóng vô tuyến, sản xuất thiết bị mặt đất, sản xuất vệtinh, hình ảnh vệ tinh, vệ tinh hàng hải; vận tải trong khoảng không vũ trụ; du lịch trong khoảng không vũ trụ (không gian) và bảo hiểm hoạt động trong khoảng không vũ trụ.
2.1.1.3. Khái niệm pháp luật quốc tếvề khai thác khoảng không vũtrụnhằm mục đích thương mại
Để rút ra khái niệm pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũtrụnhằm mục đích thƣơng mại, trƣớc hết chúng ta nên đi từkhái niệm pháp luật quốc tế vềkhoảng không vũ trụ hay gọi một cách ngắn gọn là luật vũ trụ quốc tế. Pháp luật quốc tế về khoảng không vũ trụ là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm pháp lý quốc tếđƣợc cộng đồng quốc tếthừa nhậnnhằm điềuchỉnh các quan hệ phát sinh giữa cácchủthểluật quốc tế (quốc gia vàtổ chức quốc tếliên quốc gia) trong quá trình tiến hành các
hoạt động nghiên cứu,sửdụng, khai thác, và bảo vệ khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt trăng và các thiên thể khác [1, tr.458]. Trong các giáo trình Công pháp quốc tế[4, tr. 456-520] và giáo trình Luật quốc tế theo quan điểm luật quốc tế chỉ bao gồm công pháp quốc tếcủaViệt Nam [26, tr. 223-240] thì luật vũ trụ quốc tế đều nằm trong một chƣơng riêng. Cuốn sách nổi tiếng thế giới “Luật quốc tế” (“International law”)củatác giả Malcolm N. Shaw củaNhà xuất bản danh tiếng Cambridge nêu
quan điểm phạm vi Luật quốc tế theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm Công pháp quốc tế [61, pp. 43-49] và cũng có một phần riêng về Luật khoảng không vũ trụ(Law of outer space) nằm trong Chƣơng X – Lãnh thổ (Territory) của cuốn sách [61, pp. 541-552]. Tuy nhiên, nhƣ tác giả đã đề cập tại tiểu mục 2.1.1.2, quan hệ “thƣơng mại”đang
đƣợc nghiên cứu tạiluận án này là thƣơng mại hỗn hợp công-tƣ. Chủ thể tiến hành các hoạt động liên quan đến khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại không
36
chỉ bao gồm các quốc gia mà còn các tổ chức tƣ nhân. Do đó, pháp luật về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại tuy rằng phần lớn thuộc phạm vi
nhƣng không hoàn toàn nằm trong Công pháp quốc tế mà còn có một phần giao thoa với Tƣ pháp quốctế.Hay nói một cách khác, đó là lĩnh vực thuộc về pháp luật quốc tế phát triển theo xu thế hiện đại trên thế giới hiện nay.
Nhƣ vậy, pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốctế được cộng đồng quốc tế thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể luật quốc
tế (quốc gia vàtổ chứcquốc tế liên quốc gia) và các tổ chức tư nhân được quốc gia uỷ quyền trong quá trình tiến hành sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt trăng và các thiên thể khác nhằm cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ có giá trị thương mại.
Tuy nhiên, các văn bản pháp lý quốc tế không đề cập đến chủ thể sửdụng khoảng không vũ trụ và tiến hành hoạt động công nghệ vũ trụ là các tổ chức hoặc cá nhân mà chỉ đề cập đến các quốc gia và nguyên tắc áp dụng đối với các quốc gia. Các quốc gia chịu trách nhiệm pháp lý đốivới các hoạt động sửdụng khoảng không vũtrụ và hoạt động công nghệ vũ trụ của các cá nhân, tổ chức cƣ trú hoặc mang quốc
tịch của quốc gia đó[4, tr. 462]. Điều 4 Hiệp ƣớc vũ trụ 1967 quyđịnh: “Trách nhiệm của quốc gia bao trùm lên các hoạt động Nhà nƣớc bất kỳnào, không phụthuộc vào việc hoạt động này đƣợc cơ quan Nhà nƣớc hay pháp nhân phi chính phủthực hiện”. Quốc gia đăng ký và phóng phƣơng tiện bay vũ trụcó nghĩa vụ trách nhiệm pháp lý quốc tếđối với các hoạtđộng của mình trong khoảng không vũ trụ(bao gồmhoạt động của các cơ quan Nhà nƣớc và các pháp nhân phi chính phủ cóquốc tịch của quốc gia) và các thiệt hại có thể có do các hoạt động đó gây ra cho các
nƣớc khác. Bên cạnh đó, các tổ chức quốc tế liên quốc gia và các quốc gia thành viên khi có hoạt động trong khoảng không vũ trụ cũng phải gánh chịu trách nhiệm pháp lýquốc tế phát sinh theo quy định của luật quốc tế về khoảng không vũ trụ.
2.1.2. Vai tròcủapháp luật quốctế và các hình thức khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại
2.1.2.1. Vai trò của pháp luật quốc tếvềkhai thác khoảng không vũtrụnhằm mục đích thương mại
Nhờ có pháp luật quốc tế điều chỉnh vấn đềkhai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại mà các hoạtđộng vũ trụ củacác quốc gia và tổ chức tƣnhân đƣợc diễn ra một cách trật tự, ổn định giữ gìn an ninh quốc tế. Nếu thiếu vắng các quy định pháp luật về cơ chế vận hành các hoạt động công nghệ vũ trụ, sử dụng khoảng không vũ trụ thì một số nguy cơ có thể xảy đến: (i) Các hoạt động vũ trụ sẽ
37
diễn ra một cách tự do tuyệt đối và không loại trừ các mục đích phản hoà bình, trục lợi và đi ngƣợc lại mục tiêu vì nhân loại, vì lợi ích của quốc gia và quốc tế; (ii) Giá trị
thƣơng mại của khoảng không vũ trụ sẽ bị khai thác lãng phí, bị khai thác một cách thiếu khoa họcgây đếnhậu quả ô nhiễm môi trƣờng, các tổn thất về tài sản, suy giảm sức khoẻ… cho con ngƣời và ảnh hƣởng trực tiếp đến toàn thế giớichứkhông chỉ một quốc gia nhất định.
Trên cơ sở các nguyên tắc của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực này, quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về khai thác khoảng không vũtrụ nhằm mục đích thƣơng mại nằm trong tổng thể pháp luật vũ trụ quốc gia sẽ trởnên thuận lợi và hiệu quả hơn. Đối với các quốc gia đang phát triển, khoa học công nghệ vũ trụ chƣa hiện đại, các quy định pháp luật đó sẽ góp phần quan trọng để định
hƣớng cho hoạt động vũ trụ củacác cá nhân, tổ chức trong nƣớc và bảo vệ lợi ích quốc gia trong quá trình tham gia hoạtđộngvũ trụ quốc tế. Đối với các quốc gia phát triển, có nền khoa học công nghệ vũ trụ hiện đại, các quy định pháp luật đó sẽ ngày càng phải đƣợc hoàn thiện để đáp ứng việc điều chỉnh các hoạt động vũ trụ đƣợc công bằng, minh bạch giữa các tổ chức, cá nhân trong nội bộ quốc gia và thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.
Bởi pháp luật vũ trụ quốc tế có vai trò lớn nhất là bảo vệ quyền lợi của các quốc gia nên cho dù chủ thể tham gia hoạt động vũ trụ không chỉ bao gồm các quốc gia mà còn các tổ chức tƣ nhân, thậm chí cá nhân nhƣng quốc gia luôn là ngƣời chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế về hành vi của các cá nhân, pháp nhân thuộc quyền tài phán của mình. Do đó, từng quốc gia cũng có nhiệm vụ điều tiết các hoạt động vũ trụcủa các cá nhân, pháp nhân thông qua quy định pháp luật vũ trụ quốc gia và hệ thống cấp phép phù hợp với pháp luật quốc tế.
2.1.2.2. Các hình thức khai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thương mại hiện nay
Việc nghiên cứu về các hình thức khai thác khoảng không vũ trụnhằmmụcđích thƣơng mại hay còn gọi là thƣơng mại hóa khoảng không vũ trụ sẽ góp phần làm sáng tỏ các hoạt động thuộc đối tƣợng điều chỉnh của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực này. Nhƣ khái niệm đãđƣợc nêu tại tiểu mục2.1.1.2, khai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thƣơng mại hoặc thƣơng mại hóa khoảng không vũ trụ là việc một tổchức kinh tế hoặc quốc gia sử dụng các thiết bị đã đƣợc phóng vào hoặc xuyên qua khoảng không vũtrụđể cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ có giá trị thƣơng mại. Mặc dù trong pháp luật quốc tế cũng nhƣ quốc gia chƣa có quy định trực tiếp về từng hình thức khai thác khoảng không vũ trụ nhƣng chúng ta vẫn cóthểdựa trên quy định rải rác tại các điều ƣớc quốc tế kết hợp đối chiếu khái niệm với hoạt động thực tiễn hiện
38
nay để xác định các hình thức khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mạiđiểnhình. Các hình thức điển hình đó bao gồm: viễn thông gắn liền với sử dụng khoảng không vũ trụ; thƣơng mại điện tửgắnliền với sửdụng khoảng không vũ trụ; định vị nhờ vệtinh GPS; du lịch trong khoảng không vũtrụ(du lịch không gian); khai khoáng trong khoảng không vũ trụ; viễn thám(sửdụng vệ tinh viễn thám và nhằm mục đích thƣơng mại); bảo hiểm cho hoạt động vũ trụ.
Về du lịch trong khoảng không vũ trụ (du lịch không gian), cho đến năm 2003 thì các nhà du hành vũ trụ vẫnđƣợc huấn luyện và tài trợ phần lớn bởi chính phủ, quân đội hoặc cơ quan hàng không dân sự của các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, với chuyến bay vào quỹ đạo thấp của con tàu vũ trụ do nhà đầu tƣ tƣ nhân bỏ vốn vào năm 2004, một khái niệm mới về du hành gia ra đời: phi hành gia thƣơng mại (commercial astronaut). Với sựphát triển của du lịch vũ trụ, các quốc gia phát triển
đã đồng ý việc sửdụng danh từ“spaceflight participant” (ngƣời tham quan không gian) để phân biệt những ngƣời du hành vào không gian với những nhà du hành vũtrụ thực hiện các nhiệm vụ của hai cơ quan trên [29, p. 1-2]. Đó chính là tiền đề để rađời một ngành dịch vụ thƣơng mại mới trong khoảng không vũ trụ: du lịch vũ trụ. Hiện nay, ngành du lịch vũ trụ đang là một ngành nhiều tiềm năng và đem lại doanh thu lớn. Vì vậy, có thể coi du lịch vũ trụ là một trong những dạng thức hiện đại nhất của việc khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại trong thế kỷ 21
[99, pp. 962-963].
Về bảo hiểm chohoạt động sửdụng, khai thác khoảng không vũ trụ, Điều II – Công ƣớc về trách nhiệm quốctế đối vớinhững thiệt hại do các tàu vũ trụ gây ra do Liên hợp quốcmở để kýngày 29/03/1972 quy định: “Quốc gia phóng vật thể vũ trụ phải chịu toàn bộ trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại gây ra bởi vật thể vũ trụ trên bềmặt trái đất hoặc đối với tàu vũ trụ khi bay”. Nhƣ vậy, trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại gây ra do các hoạtđộng trong khoảng không vũ trụđã đƣợc ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế. Trách nhiệm đối với các thiệt hại, tổn thất gây ra không giới hạn trong khoảng không vũ trụ mà còn cả vùng trời – thuộc chủ quyền của quốc gia. Bất kỳthiệt hại cho bên thứba nào phát sinh trong quá trình hoạt động vũ trụ đều thuộc trách nhiệm của quốc gia phóng vật thể vũ trụ. Trên thực tế hầu hết các quốc gia phóng vật thể vũ trụ đều dần dần thông qua các tổ chức kinh tế, thƣơng mại để bảo hiểm
rủi ro trách nhiệm pháp lý cho bên thứ ba và cho các vật thể vũ trụ.
Theo Từ điển hàng không – vũ trụ thì có hai loại bảo hiểm có liên quan đến vũtrụ là:“Bảohiểm vệ tinh và phương tiện vũ trụ: Là bồi thường chogiá trị tổn thất đểphóng hoặc hoạt động một vệ tinh hoặc tàu vũ trụ đã bị hỏng. Có 4 loại bảo hiểm vệ tinh được chia nhỏ là: trước khi cháy, khi phóng lên, trong quỹ đạo và ởmặt đất”.
39
“Bảo hiểm tàu vũ trụ: Là bảo hiểm cho tên lửa và vệ tinh được thiết kế cho hành trình trong khoảng không vũtrụ” [33, p. 5]. Nói đếnbảohiểm trong họatđộngkhai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ là nói đến dịch vụ theo nghĩa rộng, không chỉ bao gồm bảohiểm cho các vật thể vũ trụ đƣợc phóng lên khoảng không vũ trụ (tàu vũ trụ,
vệ tinh…), bảo hiểm cho trách nhiệm dân sự của các hoạt động vũ trụ mà còn là bảo hiểm tính mạng, sức khỏe cho các phi hành gia khi xảy ra tai nạn trong quá trình thực hiện các chuyến bay vũ trụ.
Nếu phân chia theo thời gian thì bảo hiểm vũ trụ bao gồm các loại sau: (i) Bảo hiểm trƣớc khi phóng lên: là bồi thƣờng cho thiệt hại xảyra đối với vệ tinh hoặc
phƣơng tiện phóng trong suốt quá trình xây dựng, vận chuyển và chuyển đổi trƣớc
đƣợc phóng lên; Bảo hiểm trong quá trình phóng: là bồi thƣờng những tổn thất của vệtinh phát sinh trong quá trình phóng lên của dự án vũ trụ. Hình thức này bảo hiểm cho toàn bộ tổn thất trong quá trình phóng cũng nhƣ tổn thất của phƣơng tiện phóng để đặt vệ tinh vào quỹđạo thích hợp; (ii) Bảohiểm trong quỹđạo là bổi thƣờng cho những vấn đề kỹ thuật và những tổn thất khi vệ tinh đã đƣợc đặt vào bệ phóng trong quỹ đạo tƣơng ứng; (iii) Bảo hiểm trách nhiệm bên thứ ba và tài sản của nhànƣớc làbảo hiểm bảo vệ ngƣời cung cấp dịch vụ phóng và khách hàng của họ trong trƣờng hợp bị thƣơng hoặc tổn thất tài sản của nhà nƣớc, gây ra do phóng hoặc thực hiện nhiệm vụ thất bại; (iv) Bảo hiểm phóngtrở lạilà hình thức bảo hiểm phóng mà công ty phóng thực hiện vai trò củamộtnhà cung cấp dịch vụbảohiểm cho khách hàng [48, pp. 8-9]. Bảo hiểm vũ trụ đã xuất hiện và tồn tại đƣợc nhiều năm, đặc biệt là trong lĩnh vực phóng vệ tinh nhân tạo. Việc gia tăng các hoạt động vũ trụ đòi hỏi sựtham gia nhiều hơn từ các tổ chức kinh tế tƣ nhân. Tuy nhiên, hiện nay các quy định pháp lý vẫn đang hình thành để điềuchỉnh quá trình đầutƣ của tƣ nhân vào các
chƣơng trình vũ trụ. Các nhà đầu tƣ vũ trụ hiểu rõ rằng họ đang vận hành một công nghệ đầy thách thức mà có nhiều ẩn họa. Khi cân nhắc đến những rủi ro cao của hoạtđộng vũtrụ, thì khả năng phải bảo hiểm làyếu tố bắtbuộc đối với thành phần kinhtế
tƣ nhân. Vì vậy, bảo hiểm vũ trụ có thể làm giảm toàn bộ mức độ rủi ro trách nhiệm có khả năng phát sinh từ hoạt động vũ trụ [99, p. 969]. Nếu căn cứvào đối tƣợngbảo hiểm thì bảo hiểm vũ trụ đƣợc chia thành hai loại chính: (i) Bảo hiểm vật thể vũ trụ, bao gồm: bảo hiểm trƣớc khi phóng;bảohiểm phóng thất bại và hoạt động khởiđầu; bảo hiểm cho chính vệ tinh; và (ii) Bảo hiểm trách nhiệm, bao gồm: bảo hiểm trách nhiệm bên thứ ba; bảo hiểm trách nhiệm với tài sản
Với sựra đời và phát triển của du lịch vũ trụ thì ngành dịch vụ bảo hiểm vũ trụcũng có cơ hộilớn đểphát triển và cũng đem lại các thách thức. Các công ty bảo hiểm cung cấp dịch vụ bảo hiểm rủi ro cho các hành khách trên tàu vũ trụ, cũng
tƣơng tự nhƣ hành khách trên máy bay. Ngoài ra, thân tàu vũtrụ, bệphóng và các vệ
40
tinh cũng cần phải đƣợc mua bảohiểmđểđề phòng rủi ro. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay số tiền mua bảo hiểm cho tàu vũ trụ rất lớn. Vận chuyển trong không gian sẽcó thể đem lại nhiều rủi ro cho con ngƣời, cho dù họ là những phi hành gia hay những hành khách trả phí để đi du lịch. Sự phát triển của các phi thuyền thƣơng mại tạo ra nhiều cơ hội cho dịch vụ bảo hiểm phát triển nhƣ là cách thức và tiêu chuẩn, chính sách và thủ tục để giải quyết rủi ro và khắc phục chúng. Vì vậy việc tạo ra một chế độ pháp lý hợp lý cho bảo hiểm trong tƣơng lai là một bƣớc quan trọngđể pháttriển thị
trƣờng du lịch thực thụ và các dịch vụ khác trong khoảng không vũ trụ và quản lý tốt những rủi ro có thể phát sinh từ hoạt động vũ trụ.
Ngoài ra, còn một số lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích
thƣơng mại nhƣ: Hình ảnh vệ tinh; Vệ tinh hàng hải; Vận tải khoảng không vũ trụ; Du lịch trong khoảng không vũ trụ(không gian); Viễn thám trái đất (sửdụng hình ảnh viễn thám nhằm mục đích thƣơng mại) [96, p. 2].
2.1.3. Đối tƣợng, phạm vi điều chỉnh và nguyên tắc của pháp luật quốc tếvề khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại
2.1.3.1. Đối tượng điều chỉnh
Để xác định đối tƣợngđiều chỉnh củapháp luật quốctế vềkhai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thƣơng mại, chúng ta nên xuất phát từđối tƣợngđiều chỉnh của pháp luật vũ trụ quốc tế nói chung. Phạm vi điều chỉnh của pháp luật quốc tế không chỉ bao trùm lên các hoạt động của các quốc gia trong khoảng không vũ trụmà còn bao trùm lên các hoạtđộngliên quanđến vũ trụdiễn ra trên mặt đất và bầu trời – môi trƣờng hoạt động của các phƣơng tiện bay hàng không, có liên quan đến
hoạt động nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ của quốc gia. Nhóm các quốc gia hiện nay trực tiếp tham gia vào hoạt động nghiêncứu và sửdụng khoảng không vũ trụnhờ vào các phƣơng tiện baykỹthuật của mình ngày càng đƣợc mở rộng và tạo nên “câu lạc bộ vũ trụ”. Tuy nhiên, các quy phạm đƣợc công nhận chung của Luật Vũ trụ quốc tế có hiệu lực pháp lý quốc tế đối với tất cả các quốc gia và tạo ra các quyền và nghĩa vụ cụ thể, không phụ thuộc vào mức độ tham gia của các quốc gia trong lĩnh vực hoạt động vũ trụ [26, tr. 224].
Hoạt động của các quốc gia tham gia nghiên cứu, sửdụng khoảng không vũtrụnằm ngoài lãnh thổ của họ và phía trên lãnh thổ của các quốc gia khác, ngoài vùng trời quốc gia và vùng trời quốc tế, đòi hỏi phải có các nguyên tắc và quy phạm pháp luật chung đƣợc cộng đồng quốc tế thừa nhận để điều chỉnh. Các hoạt động này cũng liên quan đến mặt đất và vùng trời hoạt độngcủa các phƣơng tiện bay hàng không, liên quan đến các thiên thể trong vũ trụ. Vì vậy phạm vi điều chỉnh của Luật khoảng không vũ trụ là các hoạt động của các quốc gia và các tổ chức quốctếliên quốc gia
41
trong khoảng không vũ trụ, kể cả các thiên thể, các hoạt động trên mặt đất và khoảng không gian là môi trƣờng hoạt động của các phƣơng tiện bay hàng không có liên quan đến hoạt động nghiên cứu và sửdụng khoảng không vũ trụ.Đối tƣợng điều chỉnh của Luật quốc tếvề khoảng không vũ trụlà các quan hệ pháp lý phát sinh từhoạt động của các quốc gia, các tổ chức quốc tế liên quốc gia, các phƣơng tiện bay vũtrụ (bao gồm tên lửa đẩy và các dạng vệ tinh, trạm nghiên cứu), các phi hành đoàn vũtrụ trong nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ [1, tr. 459].
Tƣơng tựnhƣ vậy,đối tƣợng điềuchỉnh củapháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thƣơng mại cũng không chỉbao trùm lên các hoạt động thƣơng mại của các quốc gia trong khoảng không vũ trụ mà còn bao trùm lên các hoạtđộngliên quan đến vũtrụdiễn ra trên mặt đất vàbầutrời – môi trƣờng hoạt động của các phƣơng tiện bay hàng không, có liên quan đến hoạt động khai thác khoảng không vũtrụcủa quốc gia nhằm mục đích thƣơng mại. Tóm lại,đốitƣợngđiều chỉnh của pháp luật quốc tế vềkhai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích
thƣơng mại là các quan hệ pháp lý phát sinhtừhoạt động của các quốc gia, các tổchức quốc tế liên quốc gia, các phƣơng tiện bay vũ trụ (bao gồm tên lửa đẩy và các dạng vệ tinh, trạm nghiên cứu), các phi hành đoàn vũ trụ trong quá trình khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại.
2.1.3.2. Phạm vi điều chỉnh
Từviệc xác địnhđối tƣợng điều chỉnh nhƣở mục2.1.3.1 cho thấy phạm vi điều chỉnh của pháp luật quốc tế vềkhai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích
thƣơng mại là hẹp hơn so với pháp luật quốctế về khoảng không vũ trụnói chung. Theo tác giả, nếu xét về tiêu chí mục đích thì hoạt động sử dụng khoảng không vũ trụcó thể đƣợc phân chia thành ba loại: hoạt động sửdụng khoảng không vũ trụnhằm mục đích quân sự, hoạt động sửdụng khoảng không vũ trụnhằm mục đích nghiên cứu và hoạt động sửdụng khoảng không vũ trụnhằm mục đích thƣơng mại. Cũng
nhƣ ở trên đã phân tích, tác giả dùng từ “khai thác” thay cho từ“sửdụng” để nêu bật lên mục đích thu đƣợc giá trị vật chất từ khoảng không vũ trụ hay còn gọi là mục đích
thƣơng mại. Nhƣ vậy, pháp luật khai thác khoảng không vũ trụnhằmmụcđích
thƣơng mại chính là một trong ba mảng chủ yếu của sử dụng khoảng không vũ trụ vìmục đích hòa bình nói chung.
Pháp luật về khai thác khoảng không vũtrụnhằm mục đích thƣơng mại điều chỉnh các quan hệ pháp lý phát sinh từ hoạt động của các chủ thể luật quốc tế, phƣơng tiện bay vũ trụ, các phi hành đoàn vũ trụ trong quá trình khai thác khoảng không vũtrụchỉkhi các hoạt động này nhằm mụcđích thƣơng mại. Nghĩa là pháp luật trong lĩnh vực này không điều chỉnh các hoạt động trong khoảng không vũ trụ nhằmmục
42
đích quân sựhoặc nghiên cứuđơn thuần mà không hƣớng đến khai thác các giá trịkinh tế, thƣơng mại.
Nghiên cứu cácđiềuƣớc quốctếvề sửdụng khoảng không vũtrụtrong dịch vụ viễn thông, truyền hình, viễn thám cho thấy phạm vi điềuchỉnh của những văn bản pháp luật này không đi sâu vào từng hành vi cụ thể của các chủ thể thực hiện hoạt động thƣơng mại mà chỉ đặt ra những nguyên tắc phải tuân thủ khi tham gia họatđộng trong khoảng không vũ trụ. Một hành vi thƣơng mại có thể diễn ra ở nhiều giaiđoạn, nhiều địa điểm: trên mặt đất, trong vùng trời, vùng biển, trong khoảng không vũ trụ nhƣng các văn bản quy phạm pháp luật vũ trụ chỉ điều chỉnh những hoạt động có liên quan đến việc sử dụng khoảng không vũ trụ.
Một số lĩnh vực mà pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũtrụnhằm mục đích thƣơng mại điều chỉnh nhƣ: truyền thông, phát thanh truyền hình qua vệtinh, viễn thám mặt đất từ khoảng không vũ trụ, sử dụng năng lƣợng hạt nhân trong vũ trụ, khai khoáng trong khoảng không vũ trụ, du lịch vũ trụ.
2.1.3.3. Nguyên tắc của phápluật quốc tế vềkhai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thương mại
Phần mở đầu của Hiệpƣớc về các quy tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong việc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm mặt trăng và các thiên thể khác do Liên hợp quốcmở để kýngày 27/01/1967 quy định căn cứ của hoạtđộng khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ là những lợi ích có thể đƣợc bắt nguồn từviệc khai thác tài nguyên mặt trăng và các thiên thể khác. Điều đó cho thấy quyền khai thác khoảng không vũ trụ đã đƣợc ghi nhận trong văn bản pháp luật quốc tế của Liên hợp quốc với tƣ cách là một cơ sở nềntảng cho những hoạt động sửdụng vànghiên cứu cụ thể đƣợc tiến hành bởi các quốc gia trong khoảng không vũ trụ.
Quyền khai thác khoảng không vũ trụnhằm mục đích thƣơng mạitrƣớc tiên
đƣợc thể hiện thông qua nguyên tắc cơ bản nhất – nguyêntắctựdo sử dụng khoảng không vũ trụ tại điều 1 – Hiệp ƣớc về các quy tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong việc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm mặt trăng và các thiên thể khác do Liên hợp quốc mở để ký ngày 27/01/1967: “việc nghiên cứu và sửdụng khoảng không vũ trụ, bao gồmcả mặttrăng và các thiên thể khác, đƣợc tiến hành cho và vìlợiích của tất cả các quốc gia, không phân biệt trình độ về phát triển
kinh tế, khoa học…”
Nhƣ đã phân tích tại phần 2.1.1.2. khai thác chính là một hình thức biểu hiện của sựsửdụng vì mục đích hòa bình đối với khoảng không vũ trụ. Do vậy, những nguyên tắc cơ bản củasửdụng khoảng không vũ trụvì mục đích hòa bình đƣợc áp dụng đối với khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại, cụ thể là:
43
Nguyên tắc thứ nhất, việc nghiên cứu vàsửdụng khoảng không vũ trụ, bao gồm Mặt trăng và các thiên thể khác đƣợc tiến hành cho và vì lợi ích của tất cả các quốc gia, không phân biệt trình độ phát triển kinh tế hay khoa học, và là lãnh thổ của toàn nhân loại.
Nguyên tắc thứ hai, khoảng không vũ trụ, baogồmMặt trăng và các thiên thểkhác, đƣợc tất cả các quốc gia tự do nghiên cứu, sử dụng trên cơ sở bình đẳng.
Nguyên tắc thứba, các quốc gia không tuyên bố chủ quyền đốivới khoảng không Vũ trụ và các thiên thể bằng việc sử dụng hoặc chiếm hữu, hoặc bất kỳ phƣơng thức nào khác.
Nguyên tắc thứ tư, việc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũtrụphải tuân theo pháp luật quốc tế,bao gồmcả Hiến chƣơng của Liên Hợp Quốc, nhằm duy trì hòa bình và an ninh và phát triển hợp tác và hiểu biết lẫn nhau trên thế giới.
Nguyên tắcthứ năm, nhà nƣớc chịu trách nhiệm quốctếvề hoạt động vũtrụcủa mình cho dùđƣợctiến hành bởi tổ chức nhà nƣớc hay phi nhà nƣớc. Tổ chức phi nhà nƣớc chỉ đƣợc khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ trên cơ sở sự ủy quyền của quốc gia.
Nguyên tắc thứ sáu, việc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ phải đảm bảo sựhợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các quốc gia vì lợi ích và không ảnh hƣởngđến lợi ích của quốc gia khác.
Nguyên tắcthứ bảy, quốc gia đã đăng kýmột vật thể đƣợcphóng vào khoảng không vũ trụ sẽ có quyền tài phán và quyền điều khiển vật thể đó cùng các nhân sựtrên đó khi đang ở trong khoảng không vũ trụ.
Nguyên tắc thứ tám, mỗi quốc gia nơi phóng hoặc sở hữu vật thể đƣa vào khoảng không vũ trụ và quốc gia có lãnh thổ hoặc phƣơng tiện để phóng vật thể phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại cho quốc gia nƣớc ngoài hoặc thể nhân hoặc pháp nhâncủa nƣớcđó gây ra do vật thể hoặc các bộ phận của vật thể trên Trái đất, trong vùng trời hoặc khoảng không vũ trụ.
Nguyên tắc thứ chín, các quốc gia phải coi các nhà du hànhlà đại sứcủa nhân loại trong khoảng không vũ trụ và phải hỗ trợ hết trách nhiệm trong trƣờng hợp có tai nạn, bị thƣơng, hạ cánh khẩn cấp trên lãnh thổ nƣớc ngoài hoặc đại dƣơng.
Các nguyên tắc trên đây đƣợc ghi nhận trong Tuyên bố về các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các hoạt động của các quốc gia trong việc nghiên cứu và sửdụng khoảng không vũ trụ [4, tr. 459]. Xu hƣớng thƣơng mại hóa hoạt động khai thác, sửdụng khoảng không vũtrụcũng đã đƣợc tiên liệu trong Nguyên tắc chung điều chỉnh việc sửdụng vệ tinh nhân tạo của các quốc gia để truyền hình trực tiếp quốc tế đƣợc
44
Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua tại Nghị quyết số 37/92 ngày 10/12/1982:
“…một sốhệ thống vệ tinh truyền hình trực tiếp đã đƣợc thực hiện ở một số quốc gia
và có thể đƣợc thƣơng mại hóa trong tƣơng lai rất gần…”. Đồng thời, tại mục 5 – Phần C của Nguyên tắc ban hành kèm theo Nghị quyết nêu trên quy định: “Mỗi quốc gia có quyền bình đẳng trong hoạt động lĩnh vực truyền hình trực tiếp quốc tế và ủy quyền các hoạt động đó cho các cá nhân hoặc tổ chức theo đúng thẩm quyền. Tất cảcác quốc gia và dân tộc có quyền và đƣợc hƣởng lợi ích từcác hoạt động đó. Việc tiếp cận đến công nghệ trong lĩnh vực này đƣợc các quốc gia thực hiện mà không cósự phân biệt đối xử trên cơ sở thỏa thuận chung giữa tất cả các bên.”
Ngoài ra, các Hiệp định song phƣơng giữa các quốc gia cũng đƣa ra nhiều nguyên tắc bổ sung của hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại. Đáng chú ý nhất là Hiệp định giữa Hoa Kỳ và Nga về dịch vụ quốc
tế trong lĩnh vực phóng không gian nhằm mục đích thƣơng mại ngày 02/09/2003, theo đó trách nhiệm của các bên tham gia là:
Thứ nhất, các bên sẽ nỗ lực để đảm bảo việc áp dụng các nguyên tắc thị trƣờngđể cạnh tranh quốctế giữa các nhà cung cấpdịch vụ liên quan đếnkhai thác vàsửdụng khoảng không vũtrụnhằm nục đích thƣơng mại, bao gồm cả việc tránh hành vi phá giá và cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ hai, không bên nào đƣợc tham gia vào các hoạt động thƣơng mại mà làm ảnh hƣởng đến việc cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ phóng phƣơng tiện vũtrụ thƣơng mại, bao gồm nhƣng không giới hạn ở việc cung cấp các khoản tài trợ hay trợ cấpmà làm sai lệch hoạt động sản xuất, chi phí cho vật tƣ của các hệ thống khởiđộng phƣơng tiện vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại; đƣa ra các khoản hoa hồng cho khách hàng quốc tế hoặc các khách hàng quốc tế tiềm năng cho các dịch vụ phƣơng tiện vũ trụ vì mục đích hòa bình; cung cấp các dịch vụ bổ sung nhƣ bảo hiểm, ngoại trừmột số trƣờng hợpđặc biệt; cung cấp tài chínhhỗ trợ cho cơ quan quản lý việc phóng phƣơng tiện vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại.
Thứ ba, các bên, baogồmcả các đạidiện và các đơn vịcủa họ, không đƣợc tham gia vào các hoạt động kinh doanh không lành mạnhđểbảo đảm hợpđồng cung cấp dịch vụ phóng phƣơng tiện vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại.
Thứ tư,mỗi bên cũng sẽ nỗ lực để đảm bảorằng bất kỳ thực thể hoặc tổ chức, thuộc thẩm quyền của hay thuộc quyền sở hữu của mình hoặc đƣợc kiểm soát bởi bênđó, không đƣợc tham gia vào hoạt động gian lận trong kinh doanhđể bảo đảmhợpđồngcung cấp dịchvụ phóng phƣơng tiện vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mạihợp đồng cung cấp dịch vụ phóng phƣơng tiện vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại. [4, tr. 462 – 463].
45
Theo quan điểm của tác giả, trong số các nguyên tắc nêu trên thì có ba nguyên tắc đặc thùnhất của việc khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại là: (i) tiến hành vì lợi ích chung của các quốc gia; (ii) Liên hợp quốc là cơ quan quản lý và giám sát hoạt động vũ trụ; và (iii) trách nhiệm pháp lý của quốc gia.
2.1.4. Chế độ pháp lý cơ bản về khai thác khoảng không vũtrụnhằm mụcđích thƣơng mại
2.1.4.1. Chế độ pháp lý khoảng không vũ trụ và các thiên thể
Trƣớc hết là chế độ pháp lý chung của khoảng không vũ trụ baogồmMặt trăng và các thiên thể khác dựa trên nguyên tắc tự do nghiên cứu vàsửdụng khoảng không vũ trụ. Điều I – Hiệp ƣớc vũ trụ năm 1967 quy định: “Khoảng không vũ trụ, bao gồm cảMặtTrăng và các thiên thể khác,sẽ đƣợc tựdo thăm dò và sử dụngbởi
tất cả các quốc gia mà không có phân biệt đối xử, trên cơ sở của bình đẳng và phù hợp vớiluật pháp quốctế và tựdo tiếp cận đến tất cả các khu vực của các thiên thể.” Quy định này cho thấy quá trình tiếp cận, nghiên cứu, khai thác vàsửdụng khoảng không vũ trụ không phải xin phép các quốc gia nằm dƣới vùng khoảng không vũtrụ
tƣơng ứng. Tuy nhiên, việc “tự do” khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ của mỗi quốc gia vẫn cần nằm trong khuôn khổ pháp luật quốc tế [4, tr. 486].
Ngoài ra, Hiệp định về hoạt động của quốc gia trên các hành tinh năm 1979 đã có sựcụ thể hóa chế độpháp lý của vệ tinh tự nhiên của trái đất, các hành tinh khác thuộc hệ Mặt Trời và có chú ý đến tiến bộ đạt đƣợc trong nghiên cứu, sử dụng vũ trụ. Hiệp định quyđịnh rõ hơn về việc nghiêmcấmchiếmđoạt Mặt Trăng và các hành tinh khác, đƣợc mở rộng hiệu lực đối với bất kỳ khu vực nào trên bề mặt hoặc dƣới lòng đất của chúng ta và đối với bấtkỳtổchức quốc tếliên quốc gia hoặc tổ chức quốc gia nào hay thể nhân hoặc pháp nhân bất kỳ.Đồngthời cho phép thu thập vàchuyển về Trái Đất các mẫu khoáng chất và vật chất khác, cho phép sử dụng các mẫu vật thể nàyđể duy trì cuộc thám hiểm. Đặcbiệt, các hành tinh và các nguồn tài nguyên thiên nhiên của chúngđƣợc tuyên bốlà “disảnchungcủanhân loại”, không phải là tài sản của bất kỳ quốc gia, tổ chức quốc tế liên quốc gia hoặc phi chính phủhoặc các cá nhân nào. Các quốc gia thành viên phải có nghĩa vụxây dựng cơ chếpháp lý và các thủ tục thích hợp điều chỉnh việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên của Mặt trăng và các thiên thểkhác khi việc khai thácđó trở nên khả thi và tài nguyên đƣợc khai thác sẽ đƣợc chia sẻ công bằng giữa các quốc gia thành viên [77, pp. 18-19]. Mặc dù đã có một số lƣợng không ít văn bản pháp luật quyđịnh về chế độpháp lý cho khoảng không vũtrụcũng nhƣ hoạt động trong khoảng không vũtrụ
nhƣng cho đến nay, vấn đề đảmbảo an toàn và an ninh cho các quốc gia trong quátrình đƣa các vật thể từ trái đất lên khoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các thiên thể
46
khác vẫn đang đƣợc tiếp tục thảo luận và hoàn thiện [4, tr. 490].
2.1.4.2. Quy chế pháp lý phương tiện bay và phi hành đoàn
Thứnhất là về chế độpháp lý đối với phƣơng tiện bay vũ trụvớimục đích hoạt động thƣơng mại. Luật Vũ trụ quốc tế điều chỉnh các hoạt động có liên quan đến các phƣơng tiện bay vũ trụ từthời điểmphóng hoặc lắpđặt chúng trong khoảng không vũtrụ, kểcả trên các hành tinh. Quản lý các phƣơng tiện bay vũ trụ bao gồm các hoạt động đăng ký, phóng, duy trì và sử dụng các phƣơng tiện bay, bao gồm cảviệc tiêu huỷ khi hết hạn sử dụng. Mỗi phƣơng tiện bay vũ trụ đều phải đƣợc đăng ký tại quốc gia sở tại và tại Liên hợp quốc và làm phát sinh các hệ quả pháp lý. Quốc giađăng ký thực hiện quyền chủ quyền của mình đối với phƣơng tiện bay vũ trụđã đƣợc đăng ký baogồm cả quyền sởhữu đối với phƣơng tiện bay vũ trụ. Quốc gia đăng kýcũng thực hiện quyền chủ quyền đối với phi hành đoàn vũ trụ đi trên phƣơng tiện bay vũ trụ đã đƣợc đăng ký. Ngƣợc lại phƣơng tiện bay vũ trụ và phi hành đoàn (kể cả quốc tế trong khi đang ở trên vũ trụ phải chịu sự kiểm soát và tuân thủ quyền lực của quốc gia đăng ký phƣơng tiện bay vũ trụ. Khi phƣơng tiện bay vũ trụ đƣợc phóng lên, lắp đặt trong vũ trụ, việc quản lý các hoạt động của phƣơng tiện bayvũ trụ đƣợc tiến hành theo nguyên tắc: (i) các phƣơng tiện bay vũ trụ thuộc một quốc gia hay mộttổchức thì sẽ do quốc gia và tổ chức đó quản lý; (ii) việc sử dụng các phƣơng tiện bay phải hiệu quả, khai thác tối đa thời gian sống của vệ tinh và các trạm vũ trụ trên cơ sởhợp tác giữa các nƣớc và các tổ chức để đạt đƣợc các mục đích có ý nghĩa quan trọngđặt ra nhƣsửdụng trong việc định vị toàn cầu, trong thông tin liên lạc viễn thông, trong quan sát Trái đất và trong nghiên cứu khoa học; (iii) việc quản lý các phƣơng tiện bay vũ trụ vẫn phải duy trì ngay cả khi vòng đời hoạt động của phƣơng tiện đãhết[4, tr. 493-494].
Thứhai là về chế độ pháp lý đối với phi hành đoàn vũ trụvới mụctiêu hoạtđộng thƣơng mại. Phi hành gia có quyền đƣợc nhận sựtrợ giúp của các quốc gia thành viên của Hiệp ƣớc vũ trụ trong trƣờng hợp hỏng máy, gặp tai nạn kỹ thuật hoặc phải hạ cánh bắt buộc trên lãnh thổ của quốc gia khác hoặc trên biển quốc tế. Trong
trƣờng hợp hạcánhbắtbuộc, các phi hành gia vũ trụ phảiđƣợcđảm bảo anh ninh vàchuyển giao ngay cho quốc gia đăng tịch phƣơng tiện bay vũ trụ. Trong quá trình hoạt động các phi hành gia vũ trụ có quyền đi lại trên MặtTrăng và các hành tinh khác. Luật Vũ trụ quốc tế cũng đƣa ra các nghĩa vụ dành cho phi hành đoàn, nhƣnghĩa vụ không đƣợc thực hiện các hoạt động không phù hợp với quyền lợi của toàn thể nhân loại, nghĩa vụgiúp đỡlẫn nhau trong khi hoạt động tác nghiệp trong khoảng không vũ trụ và các hành tinh. Các điều ƣớc quốc tế về vũ trụ còn điều chỉnh rất cụ thể các vấn đề có liên quan đến việc bảo vệ cuộc sống và sức khỏe của phi hành gia vũ trụ.
47
Ngoài ra, các quyền và nghĩa vụ này đƣợc áp dụng mở rộng cho cả những ngƣời không phải là phi hành gia, tham gia chuyến bay với mục đích du lịch, cá nhân [26, tr. 230].
Thứba là về quyền và nghĩa vụ pháp lý của Quốc gia trong hoạtđộng khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại. Quốc gia có một số quyền đặc thù trong lĩnh vực này nhƣ tiến hành nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ vàcác hành tinh mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, dựa trên cơ sở bình đẳng trong việc tự do đi vào tất cả các khu vực của các hành tinh; duy trì thẩm quyền tài phán và kiểm soát đối với phƣơng tiện bay vũ trụ và phi hành đoàn vũ trụ đƣợc phóng lên, và cả quyền sở hữu đối với phƣơng tiện phƣơng tiện bay vũ trụ không phụ thuộc vào địađiểm nơi có phƣơng tiện bay vũ trụ;quyền đƣợcthu thập cácmẫukhoáng vật và các mẫu khác trên Mặt Trăng và các hành tinh đồng thời chuyển các mẫu này vềTrái Đất; có quyền yêu cầu đƣợc dành cho các khả năng để quan sát các chuyến bay của phƣơng tiện bay vũ trụ nƣớc mình; quyền thực hiện truyền hình trực tiếp với sựtrợ giúp của vệ tinh nhân tạo và chuẩn y quyền thực hiện này cho pháp nhân và tổ chức thực hiện, đây là các chủ thể thuộc thẩm quyền tài phán của quốc gia. Bên cạnh các quyền quan trọng nêu trên, các quốc gia phải có trách nhiệm tuân thủ một sốnghĩa vụ đặc thù trong quá trình khai thác khoảng không vũ trụ nhằmmụcđích
thƣơng mại nhƣ: thực hiện các hoạt động vũ trụ phù hợp với Luật quốc tế, kể cả Hiến chƣơng Liên hợp quốc, vì việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới;giúp đỡcác phi công vũ trụ của quốc gia khác trong trƣờng hợp hỏng máy, gặp sự cố và phải trao trảhọ ngay cho quốc gia phóng phƣơng tiện bay vũ trụ; gánh chịu trách nhiệm quốc tế đối với các hoạt động trong vũ trụ của cơ quan nhà nƣớc và pháp nhân phi chính phủcủa mình; gánh chịu trách nhiệm quốc tế đối với thiệt hại do phƣơng tiện bay vũ trụgây ra; thông qua các biện pháp phù hợp để tránh làm ô nhiễm môi trƣờng vũ trụ và thayđổibất lợi môi trƣờng Trái Đất; đăng ký các phƣơng tiện bay vũ trụcủa mình
đƣợc phóng lên vũ trụ và thông báo cho Tổng Thƣ ký Liên Hợp Quốc về từng
phƣơng tiện bay vũ trụ để đăng ký chúng vào danh mục quốc tế;đảmbảo các hoạtđộng truyền hình trực tiếp phùhợpvớihoạt động quốc tế nói chung và các điềuƣớc quốc tế hữu quan nói riêng [26, tr. 231-233].
2.1.4.3. Trách nhiệm pháp lý quốc tế trong việc khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KHAI THÁC KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ NHẰM MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI
Pháp luật quốc tế và việc xây dựng pháp luật Việt Nam về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại Pháp luật quốc tế và việc xây dựng pháp luật Việt Nam về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại Pháp luật quốc tế và việc xây dựng pháp luật Việt Nam về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại

