PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN TẠI BỆNH VIỆN 199 – BỘ CÔNG AN NĂM 2019
Nền Y học cổ truyền (YHCT) của Việt Nam có truyền thống lịch sử lâu đời. Nó được hình thành và phát triển từ y học dân gian thông qua thực tiễn của cuộc sống. Từ thời văn minh Văn Lang – Âu Lạc đã lưu lại truyền thuyết về sử dụng các cây cỏ mà cho đến nay vẫn được sử dụng rộng rãi trong nhân dân và trong các cơ sở khám, chữa bệnh như: Gừng, Riềng, Tỏi, Ý dĩ, Quả giun, Trầu không, Bồ kết…, vv. Đây là các vị thuốc để điều trị các bệnh sốt rét, giun sán, giải cảm và làm gia vị dùng trong sinh hoạt hằng ngày. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, YHCT đã đúc kết được các kinh nghiệm từ thực tiễn đến vận dụng trong mọi lĩnh vực từ chẩn trị, phòng bệnh đến bào chế thuốc, làm phong phú thêm cho nền y học Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay, nền y dược học cổ truyền (YDHCT) ở nước ta vẫn đang tiếp tục phát huy vai trò trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Hơn bao giờ hết, kết hợp YHCT và y học hiện đại (YHHĐ) đang là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển Y học Việt Nam trong những năm tới [42].
Tại Hà Nội, theo “Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc YHCT và tân dược tại Hà Nội”, phát triển khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng và lợi nhuận là phương pháp của nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Trong cộng đồng, tỷ lệ người dân tin tưởng vào tác dụng thuốc YHCT trong khám và điều trị là 65%, rất tin tưởng vào vai trò của thuốc YHCT là 28,3% và không có người nào không tin vào tác dụng của thuốc YHCT [5].
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nền YDHCT không ngừng được chú trọng và mở rộng, phát triển như mục tiêu tại Quyết định số 1893/QĐ-TTg ngày 25 tháng 12 năm 2019, Ban hành Chương trình phát triển y dược cổ truyền, kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại đến năm 2030 là: Phát triển toàn diện y dược cổ truyền, tăng cường kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại nhằm bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới [22].
Theo những số liệu thống kê gần đây, hằng năm cả nước sử dụng khoảng 59.000 tấn dược liệu, trong đó để sử dụng cho hệ thống khám chữa bệnh bằng YHCT khoảng 18.500 tấn. Trong khi tổng sản lượng dược liệu nuôi trồng trong nước hằng năm vào khoảng 3.000 – 5.000 tấn [9].
Để nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh bằng YHCT hơn nữa, ngoài vấn đề về chuyên môn, thì vấn đề cung ứng đủ thuốc có chất lượng tốt có vai trò rất quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, việc cung ứng thuốc đến người bệnh còn gặp nhiều bất cập. Việc quản lý nguồn gốc và đảm bảo chất lượng thuốc YHCT vẫn còn khó khăn. Thị trường thuốc cổ truyền trong nước khá phong phú nhưng chủ yếu là phụ thuộc vào nước ngoài theo con đường nhập khẩu. Vì vậy để có thể chủ động đảm bảo cung ứng thuốc đúng chủng loại, chất lượng tốt đang là một thách thức không nhỏ đối với các bệnh viện cũng như ngành Y tế nước ta.
Bệnh viện 199 là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Bộ Công an nằm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, với quy mô 400 giường bệnh điều trị nội ngoại trú, nhiệm vụ là chăm sóc sức khỏe cho các chiến sĩ công an đến cấp cứu, khám chữa bệnh ngoại trú, nội trú, tiếp nhận người bệnh trên địa bàn đến cấp cứu và tham gia khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT. Bệnh viện còn tổ chức bệnh viện dã chiến, các đội cấp cứu trang bị hiện đại phục vụ các sự kiện lớn, phòng chống dịch bệnh, cứu hộ – cứu nạn. Bệnh viện đã tích cực mở rộng xã hội hóa y tế và hoàn thành tự chủ tài chính một phần, từng bước tiến tới tự chủ tài chính hoàn toàn. YHCT là một trong những hoạt động chuyên môn của Bệnh viện.
Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu trách nhiệm cho toàn bộ cho các hoạt động về dược của Bệnh viện. Ngoài công tác thông tin, tư vấn thuốc thì việc đảm bảo cung ứng thuốc đầy đủ kịp thời cho công tác điều trị bệnh, là nhiệm vụ quan trọng của khoa Dược. Việc đáp ứng đủ thuốc, trong đó có thuốc cổ truyền cho nhu cầu điều trị đang ngày một cấp thiết. Xuất phát từ thực tế mong muốn nâng cao chất lượng cung ứng thuốc toàn diện tại Bệnh viện 199 – Bộ Công an, đề tài: “Đánh giá hoạt động cung ứng thuốc YHCT, tại Bệnh viện 199 – Bộ Công an năm 2019”.
Đề tài được tiến hành với 2 mục tiêu:
- Phân tích hoạt động lựa chọn và mua sắm thuốc YHCT tại Bệnh viện 199 – Bộ Công an năm 2019.
- Phân tích hoạt động tồn trữ, bào chế, cấp phát thuốc YHCT tại Bệnh viện 199 – Bộ Công an năm 2019.
Từ các kết quả nghiên cứu, đề tài sẽ đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của công tác cung ứng thuốc YHCT tại Bệnh viện 199 – Bộ Công an cho những năm tiếp theo.
– Thu thập các nguồn tài liệu có sẵn như các báo cáo bệnh tật tại phòng Kế hoạch tổng hợp và thống kê dược.
– Các báo cáo, tài liệu, biên bản họp liên quan đến hoạt động thực hiện quá trình xây dựng DMTBV, quyết định phê duyệt danh mục thuốc trúng thầu năm 2019 và các tài liệu liên quan đến nội dung của đề tài nghiên cứu.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động cung ứng thuốc YHCT tại Bệnh viện 199 – Bộ Công an năm 2019.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tất cả các hoạt động trong quá trình lựa chọn thuốc; mua sắm thuốc; tồn trữ và cấp phát thuốc YHCT của Bệnh viện 199 – Bộ Công an năm 2019.
Phương pháp phân tích so sánh, tính tỷ trọng. Sử dụng phần mềm Microsoft Excel và các hàm số có liên quan để lọc số liệu theo các chỉ tiêu nghiên cứu, tính số lượng, trị giá, tỷ lệ của biến số, so sánh.
6. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC TRONG BỆNH VIỆN
Cung ứng thuốc là quá trình đưa thuốc từ nơi sản xuất đến tận người sử dụng, trực tiếp giúp cho công tác chẩn đoán, điều trị đạt được kết quả như mong muốn.
Chính sách và hệ thống pháp luật
Dòng lưu chuyển các hoạt động cung ứng thuốc
Đường phối hợp
Hình 1.1. Chu trình cung ứng thuốc [6].
Cung ứng thuốc là chu trình khép kín, gồm 4 bước. Mỗi bước trong chu trình là kết quả hoạt động của bước phía trước đồng thời là tiền đề để tiến hành bước tiếp theo, mà cơ sở chung là hiệu quả sử dụng thuốc trên bệnh nhân [6]. Để chu trình hoạt động trơn tru và có hiệu quả cần có sự hoạt động tốt của từng bước và có sự điều phối, gắn kết chặt chẽ các bước trong chu trình thông qua các chính sách của tổ chức. Trong chu trình cung ứng thuốc bệnh viện, Hội đồng thuốc và Điều trị (HĐT&ĐT) tổ chức hướng dẫn, điều chỉnh nhằm đưa ra cách thức hoạt động hiệu quả nhất.
Về cơ bản, chu trình cung ứng thuốc YHCT vẫn tuân thủ theo chu trình cung ứng nói chung. Tuy nhiên, thuốc YHCT có đặc thù riêng so với thuốc hóa dược, sinh phẩm, vắc xin, vì trong danh mục thuốc bao gồm thành phẩm, vị thuốc. Ngoài thành phẩm thuốc cổ truyền được kê đơn sử dụng trực tiếp. Nên chu trình cung ứng thuốc YHCT gồm 5 hoạt động: lựa chọn thuốc, mua sắm thuốc, bào chế thuốc (sắc thuốc), cấp phát và sử dụng thuốc.
Lựa chọn thuốc là bước đầu tiên trong chu trình hoạt động cung ứng thuốc, cũng là bước quan trọng nhất để tạo tiền đề cho các bước sau hoạt động.
Lựa chọn thuốc là việc xác định cụ thể hoạt chất và số lượng để đưa vào danh mục thuốc. Đây là nhiệm vụ quan trọng trong chu trình cung ứng thuốc. DMTBV là danh mục thích hợp vào một thời điểm nhất định. 10 căn cứ chính cần xem xét để lựa chọn DMTBV:
- Mô hình bệnh tật của bệnh viện;
- Hướng dẫn điều trị/ phác đồ điều trị chuẩn đã được xây dựng;
- Danh mục thuốc thiết yếu (DMTTY);
- Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở y tế (CSYT);
- Báo cáo sử dụng thuốc của những năm trước đó;
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện;
- Kinh phí, khả năng chi trả của người bệnh;
- Chủ trương chính sách của nhà nước;
- Giá của sản phẩm cạnh tranh;
- Thông tin quảng cáo.
DMTBV là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động, có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả. Một DMTBV được xây dựng tốt sẽ mang lại những hiệu quả sau:
- Loại bỏ được các thuốc không an toàn và không hiệu quả do đó có thể giảm tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh;
- Giảm số lượng thuốc mua sắm dẫn đến giảm tổng số tiền chi tiêu cho thuốc, hoặc cùng số tiền ấy mà mua được những thuốc chất lượng, an toàn và hiệu quả hơn;
- Có thể giảm số ngày điều trị;
- Cung ứng thông tin thuốc tập trung và có trọng tâm, giúp cho chương trình tập huấn giáo dục được diễn ra thường xuyên và liên tục.
DMTBV phụ thuộc vào mô hình và tỷ lệ bệnh tật mỗi BV và tùy vào điều kiện điều trị thực tế mà có điều chỉnh sao cho phù hợp nhất với mỗi BV. Tất cả các khoa, phòng trong BV đều có thể tham gia, góp ý để xây dựng DMT. HĐT&ĐT tổng hợp, xem xét và cân nhắc các đề xuất, sau đó đi đến thống nhất lựa chọn, xây dựng và phổ biến danh mục thuốc (DMT) kèm theo giải thích lý do sự có mặt của từng thuốc đồng thời xây dựng chính sách và hướng dẫn thực hiện DMTBV. Việc đánh giá các yêu cầu bổ sung thuốc mới vào DMT cần phải dựa trên các tiêu chí cụ thể và bằng chứng rõ ràng: cân nhắc những phương án điều trị mới cho những bệnh lý mà các biện pháp điều trị hiện thời cho hiệu quả kém hoặc không còn đáp ứng. Trường hợp phác đồ mới cải thiện chất lượng điều trị tốt hơn cần căn cứ vào: hiệu lực, hiệu quả điều trị, và độ an toàn của thuốc theo các tài liệu đáng tin cậy. Chất lượng thuốc đảm bảo, năng lực điều trị của thầy thuốc, trang thiết bị liên quan, tình hình kinh phí của BV và khả năng chi trả của người bệnh. Khi có yêu cầu bổ sung thuốc mới, HĐT&ĐT cần thảo luận và biểu quyết lấy ý kiến thống nhất. Khoa dược lưu lại các văn bản đề xuất và ý kiến của HĐT&ĐT để theo dõi sự tuân thủ và đánh giá tính thích ứng của DMTBV với MHBT của bệnh viện.
Quá trình mua thuốc là một bước quan trọng có thể ảnh hưởng đến các bước khác trong chu trình hoặc ảnh hưởng đến hiệu quả của toàn bộ quá trình cung ứng thuốc. Xác định nhu cầu mua thuốc dựa vào thống kê số lượng thuốc mà bệnh viện đã sử dụng trong năm trước và số lượng mà các khoa phòng dự trù. Quản lý mua thuốc không tốt dẫn đến thiếu số lượng thuốc, sử dụng không hợp lý nguồn kinh phí dẫn đến lãng phí nguồn ngân quỹ. 5 chỉ số đánh giá hoạt động mua sắm thuốc bao gồm:
- Quản lý;
- Định lượng;
- Giá cả;
- Chính sách;
- Đảm bảo chất lượng [71].
Quá trình mua thuốc hiệu quả phải đảm bảo cung ứng đủ số lượng thuốc, đúng loại thuốc, chất lượng đã được thừa nhận với giá cả hợp lý.
Quy trình mua thuốc bao gồm 5 bước sau:
- Bước 1: Xác định nhu cầu về số lượng, chủng loại;
- Bước 2: Lựa chọn các hình thức cung ứng, mua bán, đấu thầu;
- Bước 3: Lựa chọn nhà cung ứng;
- Bước 4: Ký kết hợp đồng kinh tế mua bán;
- Bước 5: Thanh toán tiền và kiểm nhập thuốc [6].
Trong hệ thống bệnh viện công lập, hoạt động cung ứng thuốc được thực hiện thông qua đấu thầu.
Căn cứ vào luật số 43/2013/QH13 về Luật đấu thầu, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 11/2016/TT-BYT, các đơn vị y tế công lập lựa chọn nhà thầu theo các hình thức cụ thể [34]:
| Hình thức đấu thầu | Phạm vi áp dụng trong đấu thầu mua thuốc |
|---|---|
| Đấu thầu rộng rãi | Được áp dụng tại tất cả các Sở Y tế, bệnh viện trong đấu thầu mua sắm thuốc thuộc DMTTY |
| Đấu thầu hạn chế | Gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù |
| Chỉ định thầu | Với những trường hợp đặc biệt như thuốc cần phòng chống dịch bệnh cấp bách, thuốc hiếm, thuốc đặc trị, thiên tai… |
| Mua sắm trực tiếp | Gói thầu mua sắm hàng hóa tương tự thuộc cùng một dự án hoặc thuộc dự án mua sắm khác thời hạn không quá 12 tháng. Gói thầu có nội dung và tính chất tương tự quy mô nhỏ hơn 130% gói thầu trước đó |
| Chào hàng cạnh tranh | Gói thầu có giá trị dưới 2 tỉ đồng Nội dung mua sắm nhưng hàng hóa thông dụng sẵn có trên thị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa và tương đương nhau về kỹ thuật. |
| Đàm phán giá | Gói thầu mua thuốc chỉ từ một đến hai nhà sản xuất, thuốc biệt dược gốc, thuốc hiếm, thuốc trong thời gian còn bản quyền và các trường hợp đặc thù. |
Căn cứ vào quy mô, tính chất, tính đặc thù của mỗi gói thầu mua thuốc mà bên mời thầu có thể áp dụng một trong các hình thức lựa chọn nhà thầu trên để đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng và minh bạch. Hình thức được các CSYT áp dụng nhiều nhất là đấu thầu rộng rãi.
Sau gần 20 năm đổi mới, Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường, các hoạt động mua sắm cơ sở vật chất phải theo của thông lệ quốc tế và tính cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, để đảm bảo sự công bằng, tiết kiệm chi phí trong mua sắm và phải được luật hóa. Xuất phát từ yêu cầu này, ngày 29/11/2005, Quốc hội 11 đã ban hành Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11. Sau đó, các quy định quy phạm pháp luật về đấu thầu cung ứng thuốc, khâu bản lề trong toàn bộ chu trình cung ứng thuốc phục vụ điều trị đã thường xuyên được cập nhật điều chỉnh trong suốt hơn 15 năm qua. Điều này khẳng định vai trò định hướng của quản lý nhà nước trong việc vận hành xã hội, ở đây cụ thể là lĩnh vực an sinh xã hội chăm sóc y tế. Cho đến hiện tại, các quy định về đấu thầu thuốc chưa hẳn đã giải quyết được toàn bộ các đòi hỏi phát sinh từ thực tế xã hội, tuy nhiên về cơ bản đã đảm bảo kiểm soát chặt chẽ chất lượng thuốc cung ứng tới cơ sở khám chữa bệnh, giải quyết về cơ bản chênh lệch giá thuốc bất hợp lý giữa các thuốc có cùng mức chất lượng; các quyết định mua sắm tại các cơ sở điều trị công khai minh bạch hơn. Giá cả cũng được quản lý tốt hơn và chi phí thuốc đã cho thấy bắt đầu được kiểm soát. [35], [21].
BYT là cơ quan chủ quản trong chỉ đạo cung ứng thuốc cho các BV. Để có căn cứ cho việc xây dựng DMT. Chỉ tính từ năm 2005 đến năm 2020, BYT đã 3 lần ban hành DMTTY, trong đó lần ban hành gần đây nhất là năm 2019 [15].
Hiện nay, DMTTY trong TT 19/2018 là cơ sở để BYT Ban hành danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT trong TT số 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 với DMT hóa dược và sinh phẩm có 27 nhóm phân loại theo tác dụng điều trị và 1030 thuốc. DMT phóng xạ và chất đánh dấu có 59 thuốc để các CSYT có giường bệnh thực hiện đấu thầu mua thuốc theo quy định của Luật Đấu thầu và Nghị định 63/2014 của Thủ tướng Chính phủ về Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn hiện hành [3], [7], [15], [20].
Ký kết các hợp đồng kinh tế mua bán: sau khi thực hiện công tác đấu thầu đã lựa chọn được các nhà thầu. Bệnh viện tiến hành ký kết các hợp đồng kinh tế và thực hiện mua thuốc theo hợp đồng đã ký với các công ty.
Khoa Dược làm dự trù hàng tháng theo nhu cầu thực tế điều trị, các công ty cung ứng thuốc theo dự trù và vận chuyển thuốc đến tận kho thuốc của khoa.
Kiểm nhập thuốc: các thuốc khi nhập vào kho phải được kiểm nhập đúng quy định. Hội đồng kiểm nhập thuốc gồm: Giám đốc bệnh viện (GĐBV), trưởng khoa dược, trưởng phòng Tài chính kế toán, cung ứng, kế toán dược, thống kê dược, thủ kho dược. Hội đồng kiểm nhập thuốc tiến hành kiểm tra, đối chiếu tên thuốc, số lượng, nồng độ, số đăng ký số, kiểm soát, số lô, hạn sử dụng của thuốc thực với hóa đơn nhập. Sau khi thống nhất, kế toán dược làm biên bản kiểm nhập, phiếu nhập kho và làm thủ tục thanh toán.
Thanh toán: Phương thức thanh toán hiện nay ít sử dụng bằng tiền mặt, chủ yếu là chuyển khoản qua kho bạc nhà nước căn cứ vào hóa đơn nhập hàng, hợp đồng mua bán và kết quả đấu thầu thuốc để giám sát và chuyển tiền thuốc.
1.1.3. Tồn trữ và cấp phát thuốc
Quá trình tồn trữ thuốc cũng có thể ảnh hưởng tới chất lượng nếu không được bảo quản theo đúng yêu cầu bảo quản của từng loại thuốc. Theo WHO, công tác tồn trữ từ bao bì, nguyên vật liệu dùng trong sản xuất đến bán thành phẩm và các thành phẩm. Tồn trữ không chỉ là việc cất giữ thuốc trong kho mà còn là cả một quá trình xuất, nhập hàng hóa kho hợp lý theo nguyên tắc FIFO/FEFO, kiểm kê, kiểm tra tồn kho và các biện pháp kỹ thuật bảo quản thuốc. Tồn trữ là một trong những mắt xích quan trọng trong việc đảm bảo cung ứng thuốc cho người bệnh với chất lượng tốt, số lượng đủ, giảm tỷ lệ hư hao tới mức tối đa trong quá trình sản xuất và phân phối thuốc.
Theo quy định của BYT, yêu cầu kho thuốc cần đảm bảo nguyên tắc thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP).
Yêu cầu về vị trí, thiết kế kho dược:
- Kho thuốc được bố trí nơi cao ráo, an toàn và thuận tiện cho việc xuất nhập, vận chuyển và bảo vệ;
- Đảm bảo vệ sinh chống nhiễm khuẩn;
- Diện tích kho cần đủ rộng để đảm bảo việc bảo quản thuốc đáp ứng với yêu cầu của từng mặt hàng thuốc;
- Kho hóa chất (pha chế, sát khuẩn) bố trí ở nơi riêng biệt.
Có nhiều cách bố trí các phòng ban, các bộ phận trong khu vực kho dược, tùy thuộc vào địa điểm và khả năng hoạt động của từng kho. Theo hướng dẫn của WHO, một vài kiểu bố trí tương đối thuận tiện cho công tác quản lý và xuất nhập hàng như sau:
- Kho có dạng chữ T;
- Kho theo chiều dọc;
- Kho theo kiểu đường vòng.
Yêu cầu về trang thiết bị:
- Trang thiết bị văn phòng (Máy tính; Máy in; Điện thoại; Hệ thống giấy tờ, sổ sách; Tủ lưu trữ công văn, giấy tờ; Bàn làm việc…);
- Trang thiết bị dùng để vận chuyển và chất xếp hàng hóa:
– Trang thiết bị vận chuyển: thiết bị vận chuyển đơn giản (xe đẩy hàng, cầu trượt…); Thiết bị vận chuyển, nâng đỡ hàng hiện đại (xe tải, xe nâng…);
– Các trang thiết bị dùng để chất xếp hàng hóa: Tủ, giá, kệ, bục.
- Trang thiết bị phục vụ cho công tác bảo quản hàng hóa:
- Các phương tiện, máy móc chống ẩm: ẩm kế, các loại bình hút ẩm, máy hút ẩm;
- Máy móc điều hòa nhiệt độ không khí;
- Trang thiết bị chống nấm mốc, côn trùng (Các loại hóa chất; các loại máy xay, xát, rây để loại bỏ nấm mốc, côn trùng; Hệ thống tủ sấy);
- Các trang thiết bị phục vụ cho công tác kiểm tra, kiểm soát, kiểm nghiệm hàng hóa trong quy trình bảo quản.
- Các phương tiện phòng chống cháy;
- Các phương tiện để làm vệ sinh kho tàng và bảo hộ lao động;
- Công tác quản lý trong kho dược;
- Nghiệp vụ, sắp xếp và bảo quản hàng hóa trong kho dược:
- Theo dõi hạn dùng thuốc;
- Nghiệp vụ sắp xếp hàng hóa trong kho;
- Tổ chức nghiệp vụ bảo quản hàng hóa trong kho dược.
- Tổ chức và an toàn lao động ở kho hàng hóa;
- Công tác quản lý nghiệp vụ trong kho dược bao gồm nhiều nghiệp vụ, trong đó có nghiệp vụ quản lý việc xuất – nhập hàng hóa trong kho dược:
- Công tác nhập hàng: Đảm bảo đúng số lượng và chất lượng hàng hóa theo hợp đồng mua bán, phiếu giao hàng, hóa đơn; đưa nhanh hàng hóa từ nơi tiếp nhận về nơi bảo quản hoặc chế biến.
- Công tác xuất hàng: Xuất hàng là nhiệm vụ quan trọng – là khâu kết thúc quá trình nghiệp vụ kho, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bán hàng hoặc điều động hàng hóa qua kho; Xuất hàng đúng số lượng và chất lượng cho khách hàng theo các chứng từ giao hàng; Giao hàng nhanh gọn, an toàn, thuận tiện cho người nhận.
- Sổ sách của kho hàng hóa: giúp thủ kho nắm được đầy đủ, chính xác tình hình lưu chuyển hàng hóa qua kho về số lượng, chất lượng, nguồn nhập, thời gian nhập…; Ngăn ngừa hiện tượng nhầm lẫn, mất máy, tham ô; dựa trên số liệu luân chuyển hàng hóa, các nhà quản lý có kế hoạch dự trù chính xác cho các đợt đặt hàng tiếp theo, tránh ứ đọng hàng hoặc thiếu hụt hàng hóa – giảm chi phí kho một cách thấp nhất.
Quy trình cấp phát thuốc từ khoa Dược đến khoa Lâm sàng và từ khoa Lâm sàng đến người bệnh ngoại trú được xây dựng dựa trên tình hình nhân lực khoa Dược, nhân lực khoa lâm sàng và yêu cầu điều trị của mỗi bệnh viện. Cấp phát thuốc phải đảm bảo nguyên tắc: cung ứng thuốc đầy đủ, chính xác, kịp thời và thuận tiện cho điều trị. Khoa Dược cấp phát thuốc, hóa chất cho khoa lâm sàng và cận lâm sàng để phục vụ cho bệnh nhân nội trú từ 1-2 lần/ngày theo phiếu lĩnh thuốc, hóa chất của các khoa phòng. Khoa Dược tổ chức cấp phát thuốc trực tiếp cho bệnh nhân ngoại trú theo đơn của bác sĩ. Chế độ kê đơn và cấp phát thuốc theo đơn. Sau khi cấp phát thủ kho phải ghi vào sổ theo dõi từng ngày theo từng loại thuốc. Kho cấp phát ngoại trú phải tiến hành kiểm kê mỗi cuối ngày.
Nhiệm vụ của khoa Dược khi cấp phát thuốc:
- Khoa Dược tổ chức cấp phát thuốc bảo đảm chất lượng và hướng dẫn sử dụng thuốc;
- Kiểm duyệt đơn thuốc, phiếu lĩnh thuốc hàng ngày trước khi cấp phát;
- Tổ chức cấp phát thuốc hàng ngày và thuốc bổ sung theo y lệnh. Phát thuốc kịp thời để đảm bảo người bệnh được dùng thuốc đúng thời gian;
- Thuốc cấp phát lẻ không còn nguyên bao gói phải được đóng gói lại trong bao bì kín khí và có nhãn ghi tên thuốc, nồng độ (hàm lượng), hạn dùng;
- Việc ra lẻ thuốc phải đảm bảo thực hiện trong môi trường vệ sinh sạch sẽ và thao tác hợp vệ sinh;
- Tùy theo điều kiện, tính chuyên khoa của bệnh viện, khoa Dược thực hiện pha chế thuốc theo y lệnh và cấp phát dưới dạng đã pha sẵn để sử dụng;
- Khoa Dược từ chối cấp phát thuốc trong các trường hợp phiếu lĩnh, đơn thuốc có sai sót. Phiếu lĩnh hoặc đơn thuốc thay thế thuốc sau khi có ý kiến của dược sĩ khoa Dược phải được người ký phiếu lĩnh (hoặc kê đơn thuốc) ký xác nhận bên cạnh;
- Thông báo những thông tin về thuốc: tên thuốc, thành phần, tác dụng dược lý, tác dụng không mong muốn, liều dùng, áp dụng điều trị, giá tiền, lượng tồn trữ;
- Khoa Dược làm đầu mối trình Lãnh đạo bệnh viện báo cáo phản ứng có hại của thuốc và gửi về Trung tâm Quốc gia về thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc ngay sau khi xử lý;
- Các thuốc pha chế theo đơn trong bệnh viện giao cho khoa cấp phát lẻ. Trước khi cấp phát, thủ kho phải thực hiện “3 kiểm tra, 3 đối chiếu” theo quy chế cấp phát và sử dụng thuốc;
- 3 kiểm tra: Một là thể thức phiếu xuất kho, liều dùng, cách dùng; Hai là bao bì, nhãn thuốc; Ba là chất lượng thuốc;
- 3 đối chiếu: Một là tên thuốc (trong phiếu xuất kho); Hai là nồng độ, hàm lượng, số lượng thuốc; Ba là số khoản thuốc.
Mục tiêu của hệ thống cung ứng thuốc là đưa được đúng thuốc đến tận người sử dụng. Các bước lựa chọn, mua sắm, phân phối thuốc trong chu trình đều cần thiết để phục vụ cho bước cuối cùng là sử dụng thuốc an toàn và hợp lý.
Chẩn đoán đúng, kê đơn, chỉ định đúng thuốc trong danh mục thuốc, các quy định của nhà nước, bệnh viện sẽ đem lại sự an toàn, hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm trong điều trị. WHO đã đưa ra khái niệm “Yêu cầu về sử dụng thuốc hợp lý là bệnh nhân được điều trị bằng thuốc thích hợp với bệnh cảnh, với liều dùng thích hợp và giá cả thấp nhất với người đó và cộng đồng”, tức là đúng thuốc, đúng liều, đúng lúc, đúng cách, đúng dạng.
VÀI NÉT VỀ THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN
1.2.1. Một số khái niệm liên quan
– Y học cổ truyền (YHCT) là toàn bộ kiến thức, kỹ năng và thực hành dựa trên lý luận và lòng tin, kinh nghiệm vốn có của những nền văn hóa khác nhau, dù đã được kiểm chứng khoa học hay chưa, vẫn được áp dụng để phòng bệnh, chẩn đoán cải thiện hoặc điều trị tình trạng ốm đau về thể xác hoặc tinh thần [36].
– Vị thuốc cổ truyền là dược liệu được chế biến theo lý luận và phương pháp của YHCT dùng để sản xuất thuốc cổ truyền hoặc dùng để phòng bệnh, chữa bệnh [36].
– Thuốc thành phẩm Y học cổ truyền: là dạng thuốc YHCT đã qua tất cả các giai đoạn sản xuất, kể cả đóng gói và dán nhãn, gồm: thuốc dạng viên, thuốc dạng nước, thuốc dạng chè, thuốc dạng bột, thuốc dạng cao và các dạng thuốc khác [36].
– Bào chế thuốc Y học cổ truyền: là công việc biến đổi tính thiên nhiên của dược liệu thành những vị thuốc để phòng và điều trị bệnh [36].
1.2.2. Vai trò của thuốc Y học cổ truyền, và một số quy định có liên quan đến hoạt động cung ứng thuốc Y học cổ truyền
WHO đã khẳng định: “Thuốc YHCT với chất lượng, sự an toàn, hiệu quả đã được chứng minh, góp phần đạt được mục tiêu đảm bảo tiếp cận chăm sóc sức khỏe cho mọi người. Đối với nhiều triệu người thì thuốc thảo dược, các phương pháp chữa trị cổ truyền và thầy lang là nguồn cung ứng chăm sóc sức khỏe chủ yếu và đôi khi là duy nhất. Loại hình chăm sóc sức khỏe đó có ngay gần nhà, dễ tiếp cận và chi phí hợp lý. Đây là loại hình chăm sóc sức khỏe phù hợp về văn hóa và có nhiều người dùng”.
Ở nước ta các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh với thuốc YHCT chưa nhiều. Từ năm 2008, BYT quyết định thành lập Vụ Y dược cổ truyền (nay là Cục quản lý Y dược cổ truyền), đây là cơ quan chuyên ngành giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác kế thừa, bảo tồn và phát triển YHCT, kết hợp YHCT và YHHĐ trong phạm vi cả nước [8].
- Tiêu chí lựa chọn thuốc đưa vào danh mục thuốc Y học cổ truyền
Tiêu chí lựa chọn thuốc đưa vào DMTTY thuốc YHCT được quy định theo thông tư 19/2018/TT- BYT ngày 30 tháng 8 năm 2018:
– Bảo đảm hiệu quả, an toàn cho người sử dụng;
– Sẵn có với số lượng đầy đủ, có dạng bào chế phù hợp với điều kiện bảo quản, cung ứng và sử dụng;
– Phù hợp với MHBT, phương tiện kỹ thuật, trình độ chuyên môn của Thầy thuốc và nhân viên y tế trong cơ sở khám, chữa bệnh;
– Giá cả hợp lý;
– Khuyến khích ưu tiên vị thuốc và chế phẩm theo quy định [15].
- Quy định sử dụng thuốc Y học cổ truyền trong các cơ sở khám chữa bệnh
– Năm 2015, BYT ban hành thông tư số 05/2015/TT-BYT về Danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc YHCT thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT và là thông tư hiện nay đang được sử dụng, cũng là cơ sở để BHYT thanh toán chi phí sử dụng thuốc YHCT, bao gồm 2 danh mục: Danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và Danh mục vị thuốc YHCT. Danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu gồm 229 thuốc chia làm 11 nhóm y lý YHCT. Danh mục vị thuốc YHCT có 349 vị thuốc chia thành 30 nhóm y lý YHCT [12].
– Thông tư số 44/2018/TT-BYT ngày 28/12/2018 quy định về kê đơn thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và kết hợp thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu, với thuốc hóa dược. Sau khi chẩn đoán, người thầy thuốc sẽ căn cứ vào tình trạng bệnh cụ thể mà thiết lập một đơn thuốc điều trị. Có nhiều phương pháp kê đơn, trong đó có sử dụng thêm cơ sở dược lý hiện đại [19].
- Chất lượng dược liệu, vị thuốc:
- Phải đạt các tiêu chuẩn chất lượng theo quy định;
- Trên bao bì, nhãn đóng gói phải tuân thủ quy định hướng dẫn ghi nhãn thuốc của BYT [16].
- Kiểm tra chất lượng dược liệu, vị thuốc
- Thuốc được cung ứng vào cơ sở khám chữa bệnh phải có phiếu kiểm nghiệm. Thuốc được kiểm tra, kiểm nhập thông qua Hội đồng kiểm nhập của bệnh viện và phải đạt tiêu chuẩn chất lượng mới nhập kho.
- Kết quả kiểm tra được ghi chép theo từng lô vào số kiểm nhập.
- Tổ chức kiểm tra định kỳ ít nhất 03 tháng một lần và kiểm tra đột xuất khi cần thiết về chất lượng dược liệu, vị thuốc.
Nếu có nghi ngờ về chất lượng dược liệu, vị thuốc, được gửi mẫu tới các cơ quan chức năng để kiểm nghiệm và được sử dụng khi có kết quả kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn chất lượng [18].
- Bảo quản dược liệu, vị thuốc
Kho bảo quản vị thuốc có những điều kiện tương tự như kho bảo quản thuốc nhưng quy định thêm một số điểm đặc biệt: Các dược liệu, vị thuốc có tinh dầu phải được bảo quản trong tủ kín để tránh hấp phụ vào các mặt hàng khác.
Trang thiết bị được quy định tương tự như kho bảo quản thuốc thông thường. Hoạt động bảo quản: Bao, thùng hàng phải có nhãn mác và để đúng chủng loại, phải được sắp xếp hợp lý bảo đảm thông thoáng; Bảo đảm công tác vệ sinh kho; Có hệ thống sổ sách đầy đủ cho việc ghi chép theo dõi việc xuất, nhập, công tác chế biến, TCCS của dược liệu, vị thuốc theo quy định. Theo dõi chất lượng, hạn dùng, dược liệu và vị thuốc thường xuyên, khi phát hiện có dấu hiệu không đảm bảo chất lượng, phải để ở khu vực biệt trữ…vv [17].
- Hướng dẫn sử dụng
Thuốc được sử dụng cho người bệnh cần bảo đảm các yêu cầu: Cách ghi chỉ định thuốc thực hiện theo quy định kê đơn thuốc YHCT; Lựa chọn đường dùng căn cứ vào tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lý, đặc điểm và tính chất của thuốc để ra y lệnh đường dùng thích hợp; Tác dụng không mong muốn của thuốc được khuyến cáo cho Điều dưỡng chăm sóc theo dõi và người bệnh; Đối với dược liệu có độc tính dùng làm thuốc: Phải kiểm soát chặt chẽ về liều dùng, đối tượng dùng, đường dùng và được chế biến theo đúng các quy định của BYT; Được chỉ định trong điều trị nhất thiết phải có sự thăm khám, tư vấn và theo dõi của thầy thuốc [19].
- Tổ chức sắc thuốc và cấp phát
- Tùy theo điều kiện của từng cơ sở khám, chữa bệnh, Khoa Dược hoặc khoa YHCT hoặc bộ phận chuyên trách chịu trách nhiệm sắc thuốc, cấp phát thuốc để sử dụng cho người bệnh.
- Chống nhầm lẫn khi tiến hành sắc thuốc;
- Tổ chức phát thuốc hàng ngày và thuốc bổ sung theo y lệnh. Phát thuốc kịp thời để bảo đảm người bệnh được dùng thuốc;
- Người chịu trách nhiệm về thuốc sắc phải có trình độ chuyên môn về y dược cổ truyền từ trung cấp trở lên, được cập nhật liên tục kiến thức về dược liệu, vị thuốc YHCT;
- Có sổ xuất nhập hàng ngày để ghi chép số thang thuốc đã nhận, đã giao và số còn lại trong ngày;
- Nơi sắc thuốc phải bảo đảm sạch sẽ, ngăn nắp;
- Cách sắc thuốc thực hiện theo quy định;
- Thuốc sắc xong phải lọc để bỏ bã và cặn thô;
- Đối với những bài thuốc có chứa dược liệu, vị thuốc có độc tính: sau khi đã sắc xong, bã thuốc phải lưu riêng từng người bệnh ít nhất 24h kể từ khi cấp phát thuốc để hồi cứu khi cần thiết [10].
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\BUI THI NGOC ANH


