Nghiên cứu sự hài lòng của người khai hải quan về dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà

Nghiên cứu sự hài lòng của người khai hải quan về dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Sau 10 năm triển khai Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 theo Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 25/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ, Hải quan Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu và kết quả to lớn trong công cuộc phát triển và hiện đại hóa của mình. Những kết quả, thành tựu đạt được đã và đang giúp cho ngành Hải quan ngày càng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan, được Chính phủ và xã hội đánh giá là một trong những cơ quan hành chính nhà nước đi đầu trong công tác cải cách và phát triển.

Mặc dù vậy, những thành tựu, kết quả đạt được trong thực hiện Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 đang tiếp tục và cần có thêm thời gian và nguồn lực để thực hiện mới đảm bảo tính bền vững và sự lan tỏa của các thành quả này, đặc biệt trong giai đoạn xây dựng và thực hiện Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2030. Cũng trong giai đoạn này Việt Nam sẽ ngày càng hội nhập sâu rộng hơn với thế giới, nền kinh tế ngày càng hướng đến xuất khẩu và độ mở của nền kinh tế ngày càng cao trong đó điển hình là hầu hết các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam với các nền kinh tế, quốc gia, vũng lãnh thổ, đặc biệt là các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTTP, EVFTA, RCEP…) về cơ bản sẽ có hiệu lực và thực thi hoàn toàn các cam kết về cắt giảm thuế quan, cải cách thể chế, sở hữu trí tuệ,… đặt ra yêu cầu cơ quan Hải quan phải không ngừng cải cách, áp dụng các hình thức quản lý mới tiên tiến với mục tiêu tạo thuận lợi thương mại tối đa cho doanh nghiệp và người dân tham gia hoạt động XNK, xuất nhập cảnh.

Bên cạnh đó, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng 4.0) sẽ tác động đến kinh tế – xã hội của Việt Nam nói chung và tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước về hải quan của cơ quan Hải quan nói riêng. Theo đó, Cách mạng 4.0 mang đến cơ hội to lớn trong việc cải cách, hiện đại hóa hoạt động quản lý của cơ quan Hải quan qua đó góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế phát triển. Cùng với đó là xu hướng số hóa và dịch chuyển chuỗi cung ứng đòi hỏi các thao tác xử lý cần được kết hợp hài hòa giữa trí tuệ con người và trí tuệ nhân tạo, đảm bảo các quy trình nghiệp vụ hải quan cần được tự động ở mức độ cao, cho phép các bên tham gia có thể được trao đổi, chia sẻ thông tin với tốc độ nhanh.

Tất cả những tác động từ bối cảnh đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan Hải quan trong hoạt động kiểm soát hàng hóa ra vào biên giới lãnh thổ Việt Nam. Theo đó vừa đảm bảo cho hoạt động sản xuất trong nước phát triển, bảo vệ an ninh, an toàn hàng hóa ra vào Việt Nam, vừa đảm bảo cho chuỗi cung ứng toàn cầu, dòng chảy thương mại quốc tế không bị gián đoạn góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho sản xuất trong nước, không cản trở hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, … Để giải quyết toàn diện, đồng bộ và hài hòa các yêu cầu trên đây thì việc cải cách, hiện đại hóa hải quan không chỉ là một đòi hỏi tất yếu từ thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập của đất nước, mà còn xuất phát chính từ yêu cầu phát triển hiện đại hóa của ngành Hải quan, với trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính hải quan dựa trên phương pháp quản lý hiện đại theo hướng minh bạch, đơn giản, thống nhất, phù hợp với các chuẩn mực, thông lệ, cam kết quốc tế và khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) nhằm giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục thông quan, giải phóng hàng giúp tăng hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan. Quyết tâm đó được cụ thể bằng các văn bản chỉ đạo của Chính phủ trong thời gian đã qua như: Nghị quyết số 99/NQ-CP ngày 13/11/2019 của Chính phủ giao Bộ Tài chính cải cách mạnh mẽ thủ tục hải quan theo hướng điện tử hóa, hướng tới hải quan điện tử, phù hợp chuẩn mực quốc tế; Quyết định số 628/QĐ-TTg ngày 20/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược phát triển hải quan đến năm 2030.

Với tính cấp thiết trên, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan và Hải quan các tỉnh, Thành phố đã chủ động, tích cực triển khai quyết liệt với nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó phải kể đến việc Tổng cục Hải quan đã phối hợp với Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) để xây dựng Kế hoạch nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng trong lĩnh vực hải quan nhằm tăng cường quan hệ đối tác Hải quan – Doanh nghiệp, triển khai tuyên ngôn phục vụ khách hàng với phương châm “Chuyên nghiệp – Minh bạch – Hiệu quả”.

Là một đơn vị trong ngành Hải quan, sau hơn 08 năm triển khai và áp dụng hải quan điện tử tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam nói chung và tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà nói riêng đã góp phần giảm thời gian thông quan và chi phí cho doanh nghiệp, được cộng đồng doanh nghiệp và người khai hải quan đồng tình ủng hộ. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích mang lại, thì HQĐT vẫn còn những hạn chế cần phải khắc phục. Tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà doanh nghiệp còn phản hồi về việc gặp một số khó khăn như: phần mềm khai báo còn nhiều lỗi, đường truyền thường bị gián đoạn, tinh thần thái độ phục vụ của công chức thừa hành chưa cao,thực hiện cam kết trong tuyên ngôn phục vụ khách hàng chưa nghiêm túc, chưa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện hải quan điện tử; vẫn còn một số ít hiện tượng một số CBCC gây phiền hà khi giải quyết thủ tục HQĐT nhằm mục đích vụ lợi; gây nên nhiều khó khăn cho doanh nghiệp, tạo nên luồng tư tưởng không tốt làm ảnh hưởng đến hình ảnh của ngành và công cuộc cải cách hiện đại hóa của ngành Hải quan trong mắt người dân và doanh nghiệp.

Xuất phát từ yêu cầu thực tế, tác giả chọn đề tài nhằm xác định, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người khai hải quan về dịch vụ HQĐT tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà, từ đó đề xuất một số kiến nghị với Lãnh đạo Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà và Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ HQĐT, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan, đồng thời giúp cho ngành Hải quan theo kịp sự phát triển của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước. Với lý do đó, tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu sự hài lòng của người khai hải quan về dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà” để thực hiện nghiên cứu luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh.

2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát: Phân tích sự hài lòng, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người khai hải quan về dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục HQCK cảng Kỳ Hà, trên cơ sở đó đề xuất kiến nghị hoàn thiện sự hài lòng của người khai hải quan về dịch vụ thủ tục hải quan điện tử.

2.2. Mục tiêu cụ thể:

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu tổng quát, luận văn cần đạt được 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

– Hệ thống cơ sở lý thuyết về sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ nói chung và dịch vụ hải quan điện tử nói riêng;

– Phân tích sự hài lòng và các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người khai hải quan đối với dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục HQCK cảng Kỳ Hà;

– Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao mức độ hài lòng của người khai hải quan đối với dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục HQCK cảng Kỳ Hà.

2.3. Câu hỏi nghiên cứu:

Để đáp ứng được ba mục tiêu nghiên cứu, đề tài cần trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng:

1. Cơ sở lý thuyết nào nghiên cứu về sự hài lòng của người khai hải quan đối với dịch vụ hải quan điện tử?

2. Thực trạng sự hài lòng và các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của của người khai hải quan đối với dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục HQCK cảng Kỳ Hà là như thế nào?

3. Cần phải làm gì nhằm nâng cao mức độ hài lòng của người khai hải quan đối với dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục HQCK cảng Kỳ Hà trong thời gian đến?

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu: Sự hài lòng và các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người khai hải quan đối với dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà.

3.2. Phạm vi nghiên cứu:

– Nội dung nghiên cứu: Trong phạm vi đề tài này giới hạn nghiên cứu 07 nhân tố tác động đến sự hài lòng của người khai hải quan về dịch vụ HQĐT tại Chi cục HQCK cảng Kỳ Hà gồm: Thiết kế Web, Tính bảo mật, Tính ổn định, Khả năng đáp ứng, Niềm tin, Lợi ích và Chuẩn xã hội.

– Thời gian thu thập dữ liệu: nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2021. Dữ liệu sơ cấp điều tra trong 2 tháng (7-8/2022).

– Đối tượng khảo sát: là các người khai hải quan (chuyên viên XNK) của các doanh nghiệp thực hiện thủ tục HQĐT tại Chi cục HQCK cảng Kỳ Hà.

4. Đóng góp của đề tài

4.1. Ý nghĩa khoa học thực tiễn

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm cung cấp thêm thông tin giúp Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà nói riêng và Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam nói chung xác định được những nhân tố nào ảnh hưởng đến dịch vụ hải quan điện tử từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường sự hài lòng của các doanh nghiệp, người khai hải quan về dịch vụ hải quan điện tử .

Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho học viên, sinh viên,… khi nghiên cứu về dịch vụ HQĐT. Thông qua đề tài này, người đọc sẽ tìm thấy những thông tin cần thiết về những kiến thức cập nhật mới nhất về hải quan điện tử. Đồng thời đề tài cũng giúp các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực dịch vụ công có được hệ thống thang đo lường để tham khảo trong các nghiên cứu của mình tại Việt Nam.

Nghiên cứu sự hài lòng của người khai hải quan về dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà
Nghiên cứu sự hài lòng của người khai hải quan về dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà

4.2. Tính mới của đề tài

Các nghiên cứu trước đây về hải quan điện tử các tác giả chủ yếu thực hiện nghiên cứu về mặt kỹ thuật, chương trình phần mềm thông quan điện tử, thủ tục hải quan điện tử, dịch vụ công trực tuyến,… Một số đề tài nghiên cứu và đánh giá sự hài lòng, sự thỏa mãn của người sử dụng chương trình thông quan điện tử, thủ tục hải quan điện tử ở góc độ là người sử dụng dịch vụ công. Đề tài “Nghiên cứu sự hài lòng của người khai hải quan về dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà” của tác giả sẽ nghiên cứu sâu về các nhân tố bên trong của dịch vụ hải quan điện tử để từ đó đưa ra các đề xuất hàm ý quản trị nhằm góp phần cải thiện, nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ hải quan điện tử và sự hài lòng của người khai hải quan, doanh nghiệp về dịch vụ HQĐT tại Chi cục HQCK cảng Kỳ Hà.

5. Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần tài liệu tham khảo và các phụ lục, mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm những nội dung chính sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về sự hài lòng đối với dịch vụ hải quan điện tử của người khai hải quan

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu sự hài lòng người khai hải quan về dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà

Chương 4: Hàm ý quản trị.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÀI LÒNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ

HẢI QUAN ĐIỆN TỬ CỦA NGƯỜI KHAI HẢI QUAN

Để hiểu rõ hơn về một số khái niệm cơ bản về dịch vụ, dịch vụ công, hải quan điện tử, dịch vụ hải quan điện tử và cơ sở lý thuyết về sự hài lòng đối với dịch vụ hải quan điện tử của người khai hải quan. Qua đó làm cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu, quy trình nghiên cứu và thực hiện nghiên cứu sâu các nhân tố tác động đến sự hài lòng của người khai hải quan về dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục HQCK cảng Kỳ Hà tại các chương tiếp theo.

1.1. DỊCH VỤ CÔNG VÀ DỊCH VỤ HẢI QUAN ĐIỆN TỬ

1.1.1. Khái niệm dịch vụ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa dịch vụ như sau: “Dịch vụ trong kinh tế học, được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa – dịch vụ.”

Theo (Keller & Kotler, 2006): “ Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”.

Karl Marx cho rằng: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển”

Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung thì: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội.

1.1.2. Khái niệm dịch vụ công

Khái niệm “Dịch vụ công” được sử dụng phổ biến rộng rãi ở châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Theo quan niệm của nhiều nước, dịch vụ công luôn gắn với vai trò của Nhà nước trong cung ứng các dịch vụ này. Theo (Vũ Trí Dũng, 2014), mặc dù còn nhiều điểm chưa đồng nhất, nhưng về cơ bản, các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, dịch vụ công là những hoạt động của các tổ chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được nhà nước ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp nhu cầu thiết yếu chung của cộng đồng, công dân, theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sự công bằng xã hội.

Theo (Lê Chi Mai, 2003) “Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy nhiệm cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm đảm bảo trật tự và công bằng xã hội”.

Theo (Jean-Philippe Brouant và Jacque Ziller , 1993) một dịch vụ công thường được định nghĩa như một hoạt động do ngành tài chính đảm nhiệm để thỏa mãn một nhu cầu về lợi ích chung. Các tác giả này phân tích rằng, ban đầu chỉ có ngành hành chính đảm trách các dịch vụ công. Nhưng các nhiệm vụ về lợi ích chung ngày càng nhiều đã dẫn tới việc một số tư nhân cũng tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ này. Yếu tố về tổ chức không còn là yếu tố quyết định để biết xem một dịch vụ có phải là dịch vụ công hay không. Từ thực tế đó, vấn đề đặt ra không phải ai là người trực tiếp cung ứng một dịch vụ phục vụ lợi ích chung, mà là ở chỗ ai chịu trách nhiệm cuối cùng về việc cung ứng dịch vụ này cho xã hội.

Vậy có thể hiểu một cách khái quát “dịch vụ công là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội, (không nhằm mục đích lợi nhuận) do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện”.

1.1.3. Khái niệm hải quan điện tử

Với mục tiêu đơn giản các thủ tục hành chính trong mọi lĩnh vực, hải quan điện tử đang là một trong những hoạt động tích cực và tiêu biểu nhất để đạt được mục tiêu đó. Hải quan điện tử giúp cho mọi hoạt động khai hải quan được diễn ra nhanh chóng, tiện lợi, thuận tiện cho các tổ chức cá nhân.

Hải quan điện tử được xem như là một hình thức khai hải quan được quản lý bằng phần mềm cài đặt sẵn trên máy tính, sau đó truyền dữ liệu tờ khai hải quan qua mạng Internet tới cơ quan hải quan để tiến hành việc thông quan hàng hóa cho các Doanh nghiệp, chủ hàng.

Khái niệm về hải quan điện tử có thể được hiểu theo cách giải thích về thủ tục hải quan điện tử tại Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, theo đó: “Thủ tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan trong đó việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.” Người ta thường nhắc đến khai hải quan điện tử nhưng một loại hình phổ biến và là thủ tục đặc trưng nhất khi nói đến hải quan điện tử. Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP thì hệ thống khai hải quan điện tử là hệ thống cho phép người khai hải quan thực hiện việc khai hải quan điện tử, tiếp nhận thông tin, kết quả phản hồi của cơ quan hải quan trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử. Nói một cách cụ thể hơn, thủ tục HQĐT là các công việc mà người khai hải quan và công chức Hải quan phải thực hiện đối với hàng hóa XNK và phương tiện vận tải xuất nhập cảnh được thực hiện thông qua mạng internet.

Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan là hệ thống do Tổng cục Hải quan quản lý cho phép cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan điện tử, kết nối, trao đổi thông tin về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu với các Bộ, ngành có liên quan.

1.1.4. Khái niệm dịch vụ hải quan điện tử

Theo định nghĩa của Chính phủ tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước thì:

“Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý”.

“Mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một thủ tục hành chính để giải quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân”.

“Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng”.

“Dịch vụ hải quan điện tử” là dịch vụ công trực tuyến bao gồm dịch vụ hành chính công và dịch vụ khác, do cơ quan Hải quan cung cấp trên môi trường mạng. Nói cách khác, dịch vụ HQĐT cho phép người dân và DN sử dụng dịch vụ hải quan thông qua việc nối mạng máy tính của mình với cơ quan hải quan.

Dịch vụ HQĐT được chia thành 04 mức độ tuỳ theo mức độ cung cấp các thông tin cũng như các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng.

Dịch vụ HQĐT có những đặc điểm riêng biệt sau đây:

– Là một loại dịch vụ do cơ quan hải quan (cơ quan Nhà nước) trực tiếp thực hiện với mục tiêu chính là phục vụ lợi ích cộng đồng DN và nhu cầu của tất cả công dân. Lợi nhuận không phải là điều kiện tiên quyết trong hoạt động của dịch vụ HQĐT;

– Việc trao đổi dịch vụ HQĐT không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ.

* Sự khác biệt giữa dịch vụ HQĐT và dịch vụ hải quan truyền thống: Dịch vụ hải quan điện tử và dịch vụ hải quan truyền thống chủ yếu có sự khác biệt về các tiêu chí như: Thông tin khai báo; Hồ sơ hải quan; phương thức tiếp nhận khai báo và cách thức xử lý thông tin .

1.2. SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI KHAI HẢI QUAN ĐỐI VỚI DỊCH VỤ HQĐT

1.2.1. Chất lượng dịch vụ

Chất lượng dịch vụ có nhiều cách định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu và việc tìm hiểu chất lượng dịch vụ là cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp cải thiện chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp. Vì vậy, việc định nghĩa chất lượng dịch vụ không chỉ quan trọng trong việc xây dựng mục tiêu phát triển mà còn định hướng cho doanh nghiệp phát huy được thế mạnh của mình một cách tốt nhất. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ. (Philip Grosby, 1979) định nghĩa rằng: chất lượng là sự phục tùng theo các tiêu chuẩn kỹ thuật. (Lehtinen, U. and Lehtinen, J.R, 1982 ) cho là chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh, (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ. Theo (Christian Grönroos, 1983) phân biệt giữa hai loại chất lượng là: (1) Chất lượng kỹ thuật (technical quality) là kết quả cuối cùng đạt được và (2) Chất lượng chức năng (functional quality) là kết quả được thực hiện như thế nào. Như vậy, có thể thấy các nghiên cứu đầu tiên nói nhiều đến chất lượng dịch vụ dưới cách nhìn của nhà cung cấp dịch vụ. Họ đưa ra các tiêu chuẩn và dựa vào đó để xác định chất lượng dịch vụ là đạt hay chưa đạt.

(Parasuraman và cộng sự, 1985) bằng nghiên cứu định tính chỉ ra rằng: Sự cảm nhận của người tiêu dùng về chất lượng dịch vụ là kết quả của sự so sánh giữa kỳ vọng về dịch vụ nhận được trước đó và sự trải nghiệm thực sự về dịch vụ. Nếu kỳ vọng đó đạt được, chất lượng dịch vụ sẽ được cảm nhận là thỏa mãn; nếu không đạt được sẽ là không thỏa mãn; nếu vượt quá sẽ là rất thỏa mãn. Nghiên cứu của (Parasuraman và cộng sự, 1985) cũng chỉ ra chất lượng được đánh giá dựa vào cả quy trình dịch vụ cũng như kết quả dịch vụ. Sự kỳ vọng và sự trải nghiệm có liên kết chặt chẽ với kết quả nghiên cứu của (Christian Grönroos, 1983), chương 14. Như vậy, nghiên cứu của (Parasuraman và cộng sự, 1985) đã có sự phát triển cao hơn các nghiên cứu trước đó về chất lượng dịch vụ. Ông đã đưa ra khái niệm chất lượng dịch vụ dưới đánh giá của người sử dụng dịch vụ chứ không phải là người cung cấp dịch vụ. Có thể người cung cấp dịch vụ cho rằng chất lượng dịch vụ của mình là cao, nhưng chưa chắc người sử dụng dịch vụ đã cho rằng như vậy. Họ có đánh giá theo quan điểm và tiêu chuẩn riêng của họ.

Theo (Zeithaml, V, 1987) giải thích: Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể. Đó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được.

Theo (Parasuraman và cộng sự, 1985), định nghĩa chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ.

Nhận định này chứng tỏ rõ rằng chất lượng dịch vụ liên quan đến những mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ về dịch vụ. (Parasuraman và cộng sự, 1991) giải thích rằng để biết được sự dự đoán của khách hàng thì tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu những mong đợi của họ. Việc phát triển một hệ thống xác định được những mong đợi của khách hàng là cần thiết. Và ngay sau đó ta mới có một chiến lược chất lượng cho dịch vụ có hiệu quả.

Chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động nhiều nhất đến sự hài lòng của khách hàng (Cronin, J.J., Taylor, S.A. , 1992); (Yavas và cộng sự, 1997); (Ahmad Jamal, Kamal Naser, 2002). Nếu nhà cung cấp dịch vụ đem đến cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì doanh nghiệp đó đã bước đầu làm cho khách hàng hài lòng.

Theo (Cronin, J.J., Taylor, S.A. , 1992) cho rằng sự hài lòng của khách hàng nên đánh giá trong thời gian ngắn, còn chất lượng dịch vụ nên đánh giá theo thái độ của khách hàng về dịch vụ đó trong khoảng thời gian dài. Theo (Hurbert, 1995) thì trước khi sử dụng dịch vụ, khách hàng đã hình thành một “kịch bản” về dịch vụ đó. Khi kịch bản của khách hàng và nhà cung cấp không giống nhau, khách hàng sẽ cảm thấy không hài lòng. Một quan điểm được nhiều học giả đồng ý là: Chất lượng dịch vụ là những gì khách hàng cảm nhận được. Chất lượng dịch vụ được xác định dựa vào nhận thức hay cảm nhận của khách hàng liên quan đến nhu cầu của họ. Như vậy, có thể thấy Herbert đã liên kết cả nhà cung cấp dịch vụ và sử dụng dịch vụ trong việc đưa ra khái niệm chất lượng dịch vụ và đo lường chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, tác giả cũng chưa chỉ rõ được “kịch bản” cụ thể trong tường trường hợp khi nào thì khách hàng hài lòng, khi nào thì không hài lòng và khi nào thì rất hài lòng.

1.2.2. Sự hài lòng của khách hàng

Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng đối với dịch vụ. Theo (Hansemark, O. C., & Albinsson, M, 2004), “Sự hài lòng của khách hàng là một thái độ tổng thể của khách hàng đối với một nhà cung cấp dịch vụ hoặc một cảm xúc phản ứng với sự khác biệt giữa những gì khách hàng dự đoán trước và những gì họ tiếp nhận, đối với sự đáp ứng một số nhu cầu, mục tiêu hay mong muốn”; Theo (Zeithaml V.A. & Bitner M.J, 2000), “sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng về một sản phẩm hay một dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của họ”; Theo (Kotler, 2003) “sự hài lòng là cảm giác vui thích hoặc thất vọng của một người bắt nguồn từ sự so sánh cảm nhận với mong đợi về chất lượng một sản phẩm hoặc một dịch vụ nào đó”, còn theo (Keller & Kotler, 2006) cho rằng sự thỏa mãn là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh nhận thức về một sản phẩm so với mong đợi của người đó, cụ thể sự thỏa mãn có ba cấp độ sau: (i) nếu nhận thức của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận không thỏa mãn; (ii) nếu nhận thức bằng kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận thỏa mãn; (iii) nếu nhận thức lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận là thỏa mãn hoặc thích thú. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng đối với dịch vụ nhưng có thể nhận định sự hài lòng là phản ứng tích cực đối với dịch vụ và sự hài lòng là khoảng cách giữa sự cảm nhận và kỳ vọng của khách hàng.

Áp dụng trong lĩnh vực dịch vụ hải quan điện tử thì sự hài lòng của nguời khai hải quan đối với dịch vụ này chính là sự hài lòng về những gì mà dịch vụ này cung cấp có thể đáp ứng trên hoặc dưới mức mong muốn của họ. Khi đề cập đến khía cạnh chất lượng dịch vụ hay mức độ hài lòng của khách hàng thì yêu cầu đặt ra đối với cơ quan hành chính là làm sao rút ngắn khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng và khả năng đáp ứng thực tế của cơ quan hành chính. Mặt khác, sự hài lòng của khách hàng là một trạng thái chủ quan, không định lượng được nên việc đo lường sẽ là không chính xác, đòi hỏi phải lấy mẫu và phân tích thống kê.

1.2.3. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng

Sự hài lòng của khách hàng là một khái niệm tổng quát nói lên cảm xúc của họ khi tiêu dùng một dịch vụ. Trong khi đó, CLDV chỉ tập trung vào những thành phần cụ thể của dịch vụ, CLDV và sự hài lòng của khách hàng là hai khái niệm riêng biệt (Zeithaml V.A. & Bitner M.J, 2000). Nhiều người cho rằng CLDV chính là mức độ thõa mãn của khách hàng. Tuy nhiên, giữa chúng có một mối liên hệ chặt chẽ với nhau.

Hiện nay vẫn chưa có được sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về các khái niệm, nhưng đa số các nhà nghiên cứu cho rằng giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có mối liên hệ với nhau (Cronin, J.J., Taylor, S.A. , 1992). Lý do là chất lượng liên quan đến việc cung cấp dịch vụ, còn sự thõa mãn chỉ đánh giá được sau khi đã sử dụng dịch vụ đó.

Tóm lại, chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động nhiều đến sự hài lòng của khách hàng. Nếu nhà cung cấp dịch vụ đem đến cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì nhà cung cấp đó đã bước đầu làm cho khách hàng hài lòng. Do đó, muốn nâng cao sự hài lòng khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ phải nâng cao chất lượng dịch vụ. Nói cách khác, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó chất lượng dịch vụ là cái tạo ra trước, quyết định đến sự hài lòng của khách hàng. Mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này là vấn đề then chốt trong hầu hết các nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng. Nếu chất lượng được cải thiện nhưng không dựa trên nhu cầu của khách hàng thì sẽ không bao giờ khách hàng thoả mãn với dịch vụ đó. Do đó, khi sử dụng dịch vụ, nếu khách hàng cảm nhận được dịch vụ có chất lượng cao thì họ sẽ thoả mãn với dịch vụ đó. Ngược lại nếu khách hàng cảm nhận dịch vụ có chất lượng thấp thì việc không hài lòng sẽ xuất hiện.

1.3. CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI KHAI HẢI QUAN ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CÔNG VÀ DỊCH VỤ HẢI QUAN ĐIỆN TỬ

1.3.1. Mô hình nghiên cứu trên thế giới

Cho đến nay trên thế giới có rất nhiều mô hình nghiên cứu. Tiêu biểu như các mô hình sau:

– Kết quả nghiên cứu của (Abhichandani & Horan, 2006), “Evaluating user satisfaction in an e-government initiative: results of structural equation modeling and focus group discussions” (Tạm dịch – Đánh giá sự hài lòng của người sử dụng ​​chính phủ điện tử: kết quả của mô hình phương trình cấu trúc và thảo luận nhóm tập trung). (Abhichandani & Horan, 2006) xây dựng mô hình EGOVSAT với mục tiêu cung cấp thang đo để đo lường sự hài lòng của người dân trong sử dụng dịch vụ Chính phủ điện tử dựa trên nền tảng Web. Kết quả kiểm định mô hình cho thấy có 5 nhân tố tác động đến sự hài lòng của người dân gồm: tính hữu dụng (Utility), độ tin cậy (Reliability), hiệu quả (efficiency), tuỳ chọn (Customization) và tính linh động (Flexibility) ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân thông qua giao dịch điện tử với Chính phủ. Mô hình EGOVSAT được áp dụng để nâng cao chất lượng hệ thống thông tin giao thông (Advanced Transportation Informaition Systems, viết tắt là ATIS), một hình thức cung cấp dịch vụ trực tuyến của Chính phủ cho công dân được áp dụng tại một số thành phố của Mỹ. Mô hình này chưa phù hợp với đề tài nghiên cứu của tác giả do nghiên cứu chỉ tập trung đến dịch vụ chính phủ điện tử trên nền tảng Web.

– Kết quả nghiên cứu (Mohammed Ateeq Alanezi và cộng sự, 2010) “A proposed instrument dimensions for measuring e-government service quality” (Tạm dịch – Công cụ đo lường CLDV của chính phủ điện tử). Nghiên cứu này đã dựa trên mô hình lý thuyết năm thành phần CLDV và thang đo SERVQUAL kết hợp với mô hình TAM (Technology Accepted Model – Mô hình chấp nhận công nghệ) để xây dựng mô hình đo lường CLDV của chính phủ điện tử, kết quả nghiên cứu xác nhận có 7 yếu tố với 26 biến quan sát có tác động đến sự hài lòng của người dân là: (1) Thiết kế Website, (2) Mức độ tin cậy, (3) Khả năng đáp ứng, (4) Mức độ an toàn, (5) Hiểu nhu cầu của dân, (6) Thông tin, (7) Mức độ dễ sử dụng; biến phụ thuộc là sự hài lòng của người dân. Kết quả nghiên cứu cho thấy, CLDV của chính phủ điện tử chịu tác động bởi 7 yếu tố thành phần trên. Mô hình này tương đối phù hợp cho nghiên cứu mức độ hài lòng đối với loại hình dịch vụ điện tử công nên có thể lựa chọn sử dụng đưa vào.

– Kết quả nghiên cứu của (Mariam Rehman và cộng sự, 2012) “Factors influencing e-government adoption in Pakistan” (Tạm dịch – Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng các dịch vụ chính phủ điện tử tại Pakistan). Tác giả cũng dựa trên mô hình lý thuyết năm thành phần CLDV và thang đo SERVQUAL để xây dựng mô hình đo lường chất lượng chính phủ điện tử kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng có 5 nhân tố với 32 biến quan sát tác động đến sự hài lòng của khách hàng gồm: (1) Thiết kế Website, (2 ) Khả năng đáp ứng, (3) Độ tin cậy, (4) Mức độ an toàn, (5) Chất lượng dịch vụ cung cấp. Mô hình này sử dụng thang đo SERVQUAL nên khá phù hợp với các loại hình dịch vụ.

1.3.2. Mô hình nghiên cứu trong nước

Trong nước cũng có nhiều mô hình nghiên cứu, tiêu biểu các các tác giả sau:

– Nghiên cứu của (Nguyễn Thị Hồng Lam, 2011) về “Đánh giá sự hài lòng của doanh nghiệp đối với thủ tục HQĐT: nghiên cứu trường hợp Cục Hải quan Bình Dương”. Tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 6 yếu tố: (1) Hệ thống khai báo HQĐT, (2) Mức độ tin cậy, (3) Khả năng đáp ứng, (4) Mức độ an toàn, (5) Hiểu nhu cầu doanh nghiệp, (6) Cải tiến phương thức quản lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 yếu tố tác động ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp gồm: (1) Hệ thống khai báo HQĐT, (2) Năng lực phục vụ của công chức Hải quan, (3) Mức độ an toàn, (4) Hiểu nhu cầu doanh nghiệp, (5) Cải tiến phương thức quản lý. Trong đó, yếu tố “Năng lực phục vụ của công chức hải quan” được gom nhập lại từ 2 yếu tố của mô hình ban đầu (Mức độ tin cậy, Khả năng đáp ứng).

– Nghiên cứu của (Dương Văn Định, 2013) với đề tài “Đánh giá sự hài lòng của doanh nghiệp đối với sử dụng dịch vụ hải quan điện tử tại Cục Hải quan Thành Phố Hồ Chí Minh”. Qua phân tích về ưu và nhược điểm của việc thực hiện thủ tục HQĐT tại Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh, qua kết quả nghiên cứu và các giải pháp đề xuất sẽ giúp ích cho cả doanh nghiệp và Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh nói riêng ngành Hải quan nói chung trong việc nỗ lực hơn nữa việc làm hài lòng DN kinh doanh XNK, từ đó giúp DN giảm được thời gian, chi phí và tăng tính cạnh tranh của DN Việt Nam trên thị trường quốc tế. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 5 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp đối với sử dụng dịch vụ hải quan điện tử tại Cục Hải quan thành Phố Hồ Chí Minh bao gồm: (1) Năng lực phục vụ của công chức hải quan, (2) Mức độ an toàn; (3) Thành phần cảm thông; (4) Hệ thống khai báo; (5) Cải tiến phương thức quản lý. Mô hình này khá phù hợp khi áp dụng đối với dịch vụ HQĐT nên có thể lựa chọn sử dụng đưa vào.

– Nghiên cứu của (Nguyễn Bích Lê, 2015) với đề tài “Đánh giá sự thỏa mãn của doanh nghiệp đối với dịch vụ công tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam“. Luận văn đã dựa trên cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ, mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ, thang đo SERVQUAL, nghiên cứu của tác giả, kết hợp với những đặc thù riêng của loại hình dịch vụ công ngành Hải quan để xây dựng mô hình lý thuyết thang đo sự hài lòng của DN đối chất lượng dịch vụ công thông qua phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Để nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ công đòi hỏi phải có sự đầu tư, sự phối hợp của nhà nước, của các bộ ngành, sự tham gia của khách hàng, sự ủng hộ của xã hội và đặc biệt là sự tích cực, chủ động của ngành hải quan. Đẩy mạnh dịch vụ công là một trong những nhiệm vụ cấp bách của ngành Hải quan để theo kịp trình độ phát triển của các nước trong khu vực, tăng cường cạnh tranh thương mại, dịch vụ công ngành Hải quan không thể phát triển nếu không có sự tập trung nguồn lực tài chính, con người và hạ tầng CNTT, hệ thống mạng truyền thông được đảm bảo. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 5 yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của doanh nghiệp đối với dịch vụ công tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam bao gồm (1) Điều kiện vật chất, (2) Mức độ tin cậy, (3) Năng lực phục vụ, (4) Mức độ đáp ứng, (5) Sự đồng cảm. Nghiên cứu của mô hình này khá phù hợp khi áp dụng đối với dịch vụ HQĐT.

1.3.3. Đánh giá tổng quan các mô hình nghiên cứu:

Từ những nghiên cứu ở trên chúng ta thấy rằng các nghiên cứu gồm 2 giai đoạn chính: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu sơ bộ (hay nghiên cứu định tính) được thực hiện bằng cách phỏng vấn thử một số mẫu thuộc đối tượng nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu sẽ được dùng để hoàn chỉnh mô hình nghiên cứu và bảng hỏi nghiên cứu. Nghiên cứu chính thức (nghiên cứu định lượng) được thực hiện bằng cách phỏng vấn trực tiếp hoặc khảo sát khách hàng thông qua bảng câu hỏi. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở đề ra giải pháp. Bên cạnh đó, ở các đề tài nghiên cứu trên thường có sự kết hợp giữa thang đo định tính và định lượng; mô hình SERVQUAL để đánh giá chất lượng dịch vụ, trong thực tế mô hình này tốn nhiều thời gian, việc đo lường giá trị kỳ vọng và giá trị cảm nhận cũng mang tính cá nhân không có phương pháp cụ thể. Vì vậy việc áp dụng mô hình SERVPERF thay cho mô hình SERVQUAL nhằm tiết kiệm thời gian và tránh sai số là hoàn toàn hợp lý trong nghiên cứu này. Phương pháp phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồ quy trong bài nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuy các nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau, nhưng có một số nhân tố chung ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với tổ chức như: Thiết kế Website, sự đảm bảo, sự đáp ứng, sự tin cậy,… do đó các nhân tố này là tin cậy để đưa vào mô hình nghiên cứu tiếp theo để thực hiện nghiên cứu. Về mặt hạn chế chung của đề tài là quy mô nghiên cứu còn nhỏ nên tính suy rộng ra toàn thể còn hạn chế. Do đó, trong đề tài “Nghiên cứu sự hài lòng của người khai hải quan về dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà” sẽ được áp dụng các phương pháp nghiên cứu trên để nghiên cứu, xem xét ảnh hưởng của các biến định đính tác động đến sự hài lòng của người khai hải quan. Đề tài sẽ thừa kế kết quả và phát triển mô hình nghiên cứu từ các mô hình nghiên cứu trước, được điều chỉnh cho phù hợp với địa bàn và lĩnh vực nghiên cứu chính khi người khai hải quan sử dụng dịch vụ hải quan điện tử. 

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương 1 trình bày một số cơ sở lý thuyết về dịch vụ công, hải quan điện tử và dịch vụ hải quan điện tử. Bên cạnh đó, tác giả tóm tắt một số mô hình nghiên cứu về sự hài lòng của người khai hải quan, doanh nghiệp đối với dịch vụ công và dịch vụ hải quan điện tử của một số tác giả trong nước và nước ngoài như các nghiên cứu của: (Abhichandani & Horan, 2006); (Mohammed Ateeq Alanezi và cộng sự, 2010); (Mariam Rehman và cộng sự, 2012); (Nguyễn Thị Hồng Lam, 2011); (Dương Văn Định, 2013) và (Nguyễn Bích Lê, 2015) để từ đó tạo tiền đề cho việc nghiên cứu và phân tích ở các chương tiếp theo.

CHƯƠNG 2

THIẾT KẾT NGHIÊN CỨU

2.1. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ TẠI CHI CỤC HQCK CẢNG KỲ HÀ

2.1.1. Giới thiệu tổng quan về Chi cục HQCK cảng Kỳ Hà

2.1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà, trực thuộc Cục Hải quan thành phố Đà Nẵng được thành lập theo Quyết định số 1361/QĐ-TCCB ngày 16/12/2001 của Tổng cục Hải quan.

Ngày 04/7/2002, Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam được thành lập theo Quyết định số 87/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Từ đó đến nay, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà trực thuộc Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.

Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà là đơn vị hành chính trực thuộc Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam, có chức năng trực tiếp thực hiện các quy định quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, chuyển khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế và thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, theo quy định của pháp luật trên địa bàn cảng Kỳ Hà, cảng Trường Thành, cảng Tam Hiệp, Kho ngoại quan Trường Hải, các KCN thuộc Khu kinh tế mở Chu Lai, các Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp từ huyện Phú Ninh vào đến huyện Núi Thành và một số doanh nghiệp đóng trên các huyện, thành phố phía Nam của tỉnh Quảng Nam; Chi cục HQCK cảng Kỳ Hà có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam, sự phối hợp của các ngành, các cấp tại địa phương cùng sự nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục của cán bộ công chức trong đơn vị, Chi cục HQCK cảng Kỳ Hà đã không ngừng phát triển về mọi mặt; đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu cấp trên giao; góp phần vào công cuộc xây dựng, thúc đẩy các hoạt động đầu tư, XNK tại địa bàn các Khu công nghiệp, Khu kinh tế và các cụm công nghiệp phía Nam tỉnh Quảng Nam.

Trong hơn 20 năm hoạt động và phát triển, nhiều năm liền tập thể và các cá nhân của đơn vị được Chính phủ, Bộ Tài chính tặng các Bằng khen, Danh hiệu Chiến sĩ thi đua Ngành Tài chính, Bằng khen của UBND tỉnh Quảng Nam, Giấy khen của Tổng cục Hải quan và Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam,… Đặc biệt năm 2010, Chi cục HQCK cảng Kỳ Hà vinh dự được nhận Bằng khen của Thủ tướng theo Quyết định số 1648/QĐ-TTg ngày 01/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định sự trưởng thành và lớn mạnh của đơn vị.

2.1.1.2. Cơ cấu tổ chức

Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà là đơn vị trực thuộc Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam. Cơ cấu tổ chức của đơn vị gồm: Chi cục trưởng; 02 Phó Chi cục trưởng; 02 Đội Nghiệp vụ Hải quan (Đội Nghiệp vụ Hải quan cảng Chu Lai gồm: 01 Đội trưởng và 02 Phó Đội trưởng; Đội Nghiệp vụ Hải quan cảng Kỳ Hà gồm: 01 Đội trưởng và 02 Phó Đội trưởng). Biên chế đơn vị: 30 cán bộ công chức và người lao động. Trong đó: 24 cán bộ công chức và 06 nhân viên Hợp đồng lao động theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\KHOA 1\Nghiên cứu sự hài lòng của người khai hải quan về dịch vụ hải quan điện tử tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Kỳ Hà

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *