Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự phân bố hệ thực vật bậc cao và thực trạng sạt lở bờ sông ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An

Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự phân bố hệ thực vật bậc cao và thực trạng sạt lở bờ sông ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn - Hội An

Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự phân bố hệ thực vật bậc cao và thực trạng sạt lở bờ sông ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An

Lý do chọn đề tài

Sạt lở bờ sông là hiện tượng tự nhiên hết sức phức tạp, nó phụ thuộc và chịu sự tác động của nhiều yếu tố nội sinh, ngoại sinh hay các nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, đó là: những đặc điểm về điều kiện địa hình, địa chất, hình thái sông trong khu vực, sự tác động của các yếu tố thủy lực dòng chảy (vận tốc dòng nước, hướng chảy, chế độ mực nước, thủy triều, mất thảm thực vật ven bờ…). Và những tác động khách quan khác từ các hoạt động của con người (ảnh hưởng của việc xây dựng các công trình trên sông, ven sông, giao thông thủy, khai thác cát, khai thác đất bãi,…)[23].

Sông Thu Bồn là sông lớn của khu vực Trung và Nam trung bộ, với hệ thống các nhánh sông chằng chịt ở hạ lưu và chảy ra biển ở Cửa Đại – Hội An. Sông có độ dốc lớn, hàng năm thường xuyên có lũ xuất hiện, gây ngập lụt và sạt lỡ ở nhiều nơi [18]. Hiện tượng sạt lở bờ sông đã xảy ra nhiều năm và thường xuyên, tình hình sạt lở có diễn biến ngày càng xấu, gây ra nhiều thiệt hại về tài sản của nhà nước và nhân dân. Đặc biệt, khu vực hạ lưu sông Thu Bồn đi qua thành phố Hội An, hiện tượng sạt lở bờ sông đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế, di sản văn hóa Đô thị cổ Hội An và các hoạt động du lịch trên dòng Thu Bồn[7].

Ở Việt Nam nói chung và Hội An nói riêng, để đối phó với hiện tượng sạt lở bờ sông, hàng năm đã phải đầu tư hàng tỷ đồng để xây dựng, tu bổ các công trình bảo vệ bờ sông. Về công nghệ sử dụng để xây dựng các công trình này vẫn chủ yếu dựa vào giải pháp truyền thống, thiên về các loại hình kết cấu vật liệu cổ điển như kè lát mái, kè mỏ hàn bằng đá hộc, đá xây, tấm bêtông đơn giản[24]. Tuy nhiên gần đây nhiều nước trên Thế giới đã nhận thức được yêu cầu bảo vệ bờ sông phải hài hoà với môi trường tự nhiên nên phần nào hạn chế công nghệ “cứng” và có xu hướng quay trở lại với công nghệ “mềm”, hoặc công nghệ sinh học là sử dụng thực vật thích hợp để giữ lại bờ sông, nó ít tốn kém và cung cấp nhiều lợi ích. Một trong những giải pháp của công nghệ mềm là nghiên cứu lựa chọn những loại thực vật có khả năng sống tốt, sống khoẻ trong điều kiện ngập nước thường xuyên hoặc ở khu vực mái bờ chịu sự dao động của nước để trồng ở bờ sông nhằm phòng chống sạt lở bờ.

Khu vực hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An, các nghiên cứu về hệ thực vật chỉ mới tập trung vào rừng Dừa nước Bảy Mẫu (Nguyễn Hữu Đại, 2007)[7], về quần xã cỏ biển (Cao Văn Lương, 2007)[14]; và nghiên cứu về các kiểu sạt lở bờ sông Thu Bồn (Đỗ Quang Thiên, Trân Hữu Tuyên, 2006)[23] đã đưa ra các kiểu sạt lở, điểm sạt lở nhưng không đưa ra được các giải pháp cần thiết để kiểm soát và phòng chống sạt lở bờ sông. Việc nghiên cứu hệ thực vật ven bờ và thực trạng sạt lở bờ sông nhằm bổ sung dữ liệu khoa học cho hệ thực vật hạ lưu sông Thu Bồn là cơ sở để đưa ra các giải pháp tối ưu nhằm phòng chống và kiểm soát hiện tượng sạt lỡ ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An.

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự phân bố hệ thực vật bậc cao và thực trạng sạt lở bờ sông ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An”.

Mục tiêu nghiên cứu

    • Mục tiêu

Xác định được vai trò của các loài hoặc nhóm loài thực vật bậc cao trong việc kiểm soát sạt lở tại khu vực hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An.

    • Nội dung nghiên cứu
  • Đánh giá được tình hình sạt lở tại khu vực hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An.
  • Điều tra được thành phần loài, đặc điểm phân bố các loài thực vật bậc cao tại khu vực nghiên cứu.
  • Đánh giá được mối quan hệ giữa sự phân bố các loài thực vật với phạm vi và mức độ sạt lở bờ sông tại khu vực nghiên cứu. Trên cơ sở kết quả thu được xác định vai trò của hệ thực vật và đề xuất các giải pháp phòng chống và kiểm soát xói lở bờ sông.

Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Xây dựng được cơ sở dữ liệu khoa học đáng tin cậy về hiện trạng đa dạng thành phần loài thực vật bậc cao ven bờ và sự phân bố của chúng tại hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An.

Ý nghĩa thực tiễn

– Kết quả nghiên cứu của đề tài tạo cơ sở khoa học để Thành phố Hội An đưa ra các giải pháp tối ưu cho việc kiểm soát và phòng chống sói lở.

Bố cục đề tài

Luận văn ngoài các phần mở đầu, phụ lục và tài liệu tham khảo thì gồm 4 phần chính sau:

– Chương 1: Tổng quan tài liệu

– Chương 2: Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

– Chương 3: Kết quả và thảo luận

– Kết luận và đề nghị

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

    1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU HỆ THỰC VẬT VEN BỜ SÔNG
      1. Hoạt động nghiên cứu hệ thực vật ven bờ sông trên thế giới
      2. Hoạt động nghiên cứu hệ thực vật ven bờ sông tại Việt Nam
    2. VAI TRÒ CỦA THỰC VẬT BẬC CAO VEN BỜ
    3. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TẠI KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG THU BỒN – HỘI AN
      1. Nghiên cứu tình hình sạt lở bờ sông tại khu vực
      2. Nghiên cứu hệ thực vật ven bờ tại khu vực
    4. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 2

THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

Hệ thực vật ven bờ hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An, Quảng Nam.

2.1.2. Địa điểm nghiên cứu

Khu vực hạ lưu sông Thu Bồn đi qua Thành phố Hội An.

2.1.3. Thời gian nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát, thu thập và phân tích mẫu trong vòng 6 tháng, từ tháng 5/2015 đến cuối tháng 10/2015. Trong thời gian đó chúng tôi đã tiến hành 2 đợt thu mẫu các tuyến ven bờ vùng hạ lưu sông Thu Bồn – Thành phố Hội An.

– Đợt 1: 15-17 tháng 6/2015

– Đợt 2: 07-10 tháng 10/2015.

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1.Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Tổng quan tài liệu: Thu thập tài liệu liên quan đến Thực vật bậc cao ven bờ

– Nghiên cứu và xử lý các tài liệu liên quan đến nội dung đềtài.

– Tham khảo các loại sách báo, internet, tạp chí trong và ngoài nước cũng như các báo cáo, tài liệu khoa học liên quan đến nội dung đề tài.

– Kế thừa các công trình nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nướccủa luận văn.

Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự phân bố hệ thực vật bậc cao và thực trạng sạt lở bờ sông ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn - Hội An
Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự phân bố hệ thực vật bậc cao và thực trạng sạt lở bờ sông ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An

2.2.2. Phương pháp lập tuyến điều tra thực vật.

Để tiến hành thu thập các số liệu về thành phần loài của hệ thực vật ven bờ chúng tôi sử dụng phương pháp lập tuyến điều tra 2 bên bờ sông. Lập 4 tuyến, mỗi tuyến dài 1km thuộc 4 địa điểm: Cẩm Kim, Thanh Hà, Cẩm Nam, Cẩm Thanh, được đánh dấu tọa độ bằng máy GPS. Các loài thực vật trong tuyến sẽ được đánh dấu tọa độ bằng máy GPS.

Bảng 2.1. Tọa độ các tuyến điều tra

TuyếnTọa độ
X1Y1X2Y2
Cẩm Kim15,87518108,3073915,86983108,322
Thanh Hà15,87905108,3060215,87592108,3175
Cẩm Nam15,87307108,3412215,8715410835050
Cẩm Thanh15,87255108,3542515,86914108,36125

2.2.4. Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu ngoài thực địa

Sử dụng phương pháp thu mẫu thực địa theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 2007)[6]:

Phương pháp thu mẫu: Các mẫu thu được có bộ phận dinh dưỡng và bộ phận sinh sản. Trường hợp mẫu thu được không đủ đặc điểm phân loại (do không vào mùa hoa, quả) thì tiến hành thu và thay thế mẫu trong các đợt thu mẫu tiếp theo.

Cách xử lý mẫu: Mẫu vật được xử lý ngay sau mỗi đợt thu mẫu, ép tạm thời bằng giấy báo, buộc chặt, cho vào túi nilon và tẩm cồn 70%.

Chụp ảnh: sử dụng máy ảnh để ghi lại hình ảnh của các loài cây, đặc điểm phân bố và những hoạt động của tập thể trong quá trình nghiên cứu.

2.2.5. Phương pháp xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm

Sử dụng phương pháp xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)[6]:

Ép mẫu: Mẫu được ép phẳng trên một tờ báo gập làm bốn, đảm bảo phiến lá được duỗi, không bị quăn. Trên mẫu có lá sấp, lá ngửa để có thể quan sát dễ dàng cả hai mặt lá mà không phải lật mẫu. Đối với hoa thì dùng các mảnh báo nhỏ gói riêng. Quả được cắt thành lát ngang và lắt dọc để tiện cho việc phân tích, ép và sấy mẫu. Sau đó xếp mẫu thành chồng và dùng bản ép gỗ ép chặt mẫu và bó lại.

Sấy mẫu: Sau khi ép mẫu thì tiến hành sấy ngay, mẫu được sấy trong tủ sấy ở điều kiện nhiệt độ 60 – 800C, trong khoảng thời gian từ 3 – 5 ngày tùy thuộc vào lượng mẫu.

2.2.6. Phương pháp xác định danh tính khoa học

Xác định tên khoa học của các loài thực vật sử dụng phương pháp so sánh hình thái truyền thống:

Phân tích mẫu với các chỉtiêu:

Đối với lá: phân tích dạng lá, gân lá.

Đối với thân: phân tích dạng sống của thân.

Đối với hoa: phân tích cách phát hoa và các thành phần của hoa.

Đối với quả: phân tích hình dạng quả, loại quả.

Kết hợp với kinh nghiệm của các chuyên gia và một số tài liệu chuyên ngành

Kiểm tra tên khoa học: Sau khi định tên khoa học, kiểm tra lại các đặc điểm đã được mô tả theo các tài liệu: Cây cỏ Việt Nam quyển I,II,III của Phạm Hoàng Hộ (1999-2000), Cây cỏ có ích Việt Nam của Võ Văn Chi (2001), Phân loại học thực vật của Hoàng Thị San, Danh lục các loài thực vật Việt Nam.

Danh mục thực vật được xếp vào từng chi, họ theo cách sắp xếp của Brummitt, 1992.

2.2.7. Phương pháp thống kê sinh học

Các số liệu thu được từ quá trình nghiên cứu thực địa được mang về nhập vào chương trình Microsoft Excel để xử lý thống kê sinh học.

2.2.8. Phương pháp lập bản đồ và chồng ghép bản đồ

Căn cứ vào số liệu về phân bố thực vật và các điểm sạt lở trong quá trình điều tra thực địa (bằng GPS), đánh dấu trên bản đồ, sử dụng phần mềm Mapinfo, xây dựng bản đồ phân bố thực vật và bản đồ sạt lở.

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ THỰC VẬT BẬC CAO VEN BỜ KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG THU BỒN – THÀNH PHỐ HỘI AN.

3.1.1. Thành phần loài thực vật bậc cao ven bờ tại khu vực hạ lưu sông Thu Bồn đi qua Thành phố Hội An

Thành phần loài sinh vật trong hệ sinh thái là chỉ số đánh giá sự đa dạng cũng như khả năng bền vững của một hệ sinh thái. Kết quả điều tra về thành phần loài thực vật bậc cao ven bờ tại khu vực nghiên cứu được trình bày ở bảng 3.1.

Bảng 3.1. Danh mục thành phần loài TVBC ven bờ hạ lưu

sông Thu Bồn

SttHọLoàiDs
Tên Khoa họcTên VN
I. NGÀNH DƯƠNG XỈ

POLYPODIOPHYTA

1Họ Ráng

Pteridaceae

Acrostichum aureum Linn.Ráng đạiC
II. NGÀNH NGỌC LAN

MAGNOLIOPHYTA

2Họ Rau dền

Amaranthaceae

Amaranthus spinosus L.Dền gaiC
3Họ Hoa tán

Apiaceae

Centella asiatica L.Rau máC
41Họ Ráy

Araceae

Alocasia macrorrhizos (L.) G.DonRáyC
5Họ Cau dừa

Arecaceae

Nypa fruticans Wurmb.Dừa nướcB
6Họ Cúc

Asteraceae

Ageratum conyzoides L.Cứt lợnC
7Bidens pilosa L.Xuyến chiC
8Eupatorium odoratum L.Cỏ làoB
9Wedelia chinensis (Osbeck) Merr.Sài đấtC
10Họ Gạo

Bombacaceae

Ceiba pentandra (L.) Gaertn.Bông gònG
11Họ Vòi voi

Boraginaceae

Heliotropium indicum L.Vòi voiC
12Họ Màn màn

Capparaceae

Gynandropsis gynandra (L.) Merr.Màn mànC
13Họ Phi lao

Casuarinaceae

Casuarina equisetifolia L.Phi laoG
14Họ Bàng

Combretaceae

Terminalia catappa L.BàngG
15Họ Trúc đào

Apocynaceae

Plumeria rubra L.Hoa sứ, hoa ĐạiG
16Họ Cói

Cyperaceae

Cyperus malaccensis Lam.Cỏ lácC
17Cyperus sp.Cỏ năngC
18Họ Thầu dầu

Euphorbiaceae

Acalypha indica L.Tai tượng ấnC
19Euphobia hirta L.Cỏ sữa lá lớnC
20Ricinus communis L.Thầu dầuB
21Sauropus androgynus L.Rau ngótB
22Họ Đậu

Fabaceae

Crotalari mucronataLục lạc ba láB
23Mimosa pudica L.Trinh nữC
24Mimosa pigra L.Mai dươngB
25Họ Hoa môi

Laminaceae

Clerodendrum paniculatum L.Xích đồng namB
26Họ Bông

Malvaceae

Sida rhombifolia L.Ké hoa vàngC
27Urena lobata L.Ké hoa đàoB
28Họ Xoan

Meliaceae

Melia azedarach L.XoanG
29Họ Chuối

Musaceae

Musa paradisiaca L.Chuối nhàC
30Họ Dâu tằm

Moraceae

Artocarpus heterophyllus Lam.MítG
31Họ Hương đào

 Myrtaceae

Psidium guajavaỔi taG
32Họ Hòa thảo

Poaceae

Cynodon dactylon (L.) Pers.Cỏ gàC
33Panicum repens L.Cỏ ốngC
34Phragmites communis (L.) Trin.SậyC
35Spinifex littoreus (Burm.f.) Merr.Cỏ chôngC
36Saccharum arundinaceum Retz.LauC
37Bambusa aff. funghomii  McClureTreG
38Họ Đước

Rhizophoraceae

Rhizophora apiculata Bl.Đước đôiG
39Họ Cà phê

Rubiaceae

Morinda citrifolia L.NhàuG
40Hoa mõm sói

Scrophulariaceae

Scoparia dulcis L.Cam thảo đấtC
41Họ Bồ hòn

Sapindaceae

Cardiospermum halicacabum L.Tam phỏng, lồng đènDL
42Họ Đào kim nương

Myrataceae

Eucalyptus camaldulensisBạch đànG
44Họ Cà

Solanaceae

Datura metel L.Cà độc dượcB
45Solanum torvum Sw.Cà dại hoa trắngB
46Họ Cỏ roi ngựa

Verbenaceae

Lantana camara L.Ngũ sắc, trâm ổiB

Chú thích: DS: dạng sống; G: thân gỗ B: thân bụi; DL: dây leo hoặc thân bò; C: cây thân thảo.

Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy trên 4 tuyến nghiên cứu trên khu vực hạ lưu sông Thu Bồn đi qua thành phố Hội An xác định được có 46 loài thực vật bậc cao thuộc 43 chi 29 họ thực vật thuộc 2 ngành thực vật bậc cao có mạch, đó là: ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), ngành Mộc lan (Magnoliophyta).

Ở cấp độ họ, họ có nhiều loài nhất là họ Cỏ (Poaceae) gồm 6 loài (chiếm 13,95% tổng số loài đã thống kê được ở khu vực). Có 2 họ mỗi họ có 4 loài (chiếm 8,89%), đó là: họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cúc (Asteraceae). Có 1 họ có 3 loài (chiếm 6,67%), đó là: Họ Đậu (Fabaceae). Có 3 họ có 2 loài (chiếm 4,44%), đó là: Họ Cà (Solanaceae), họ Bông (Malvaceae), họ Cói (Cyperaceae) Còn lại có 22 họ có 1 loài.

Ở cấp độ chi, có các họ có nhiều chi như: Họ Cỏ (Poaceae) có 6 chi (chiếm 13,95% tổng số chi trong Khu vực nghiên cứu); họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cúc (Asteraceae) mỗi họ có 4 chi (chiếm 9,3%). Có 3 họ có 2 chi (chiếm 4,65% ) là họ Đậu (Fabaceae), họ Cà (Solanaceae), họ Bông (Malvaceae). Còn lại23 họ có 1 chi.

3.1.2. Sự đa dạng về dạng sống của cá loài thực vật bậc cao ven bờ vùng hạ lưu sông Thu Bồn

Thực vật trong vùng nghiên cứu có 4 dạng sống chính (chi tiết cho từng loài đã được trình bày trong bảng 3.1): Dạng thân gỗ, dang thân bụi, dạng thân thảo, dạng thân leo.

Đối với các loài thân thảo(C) với 23 loài (chiếm 50%), chiếm số lượng lớn nhất và hầu như xuất hiện tại các địa điểm nghiên cứu. nhóm này gồm các cây sống ven bãi bồi, ven bờ sông đất thấp ẩm, hay các vùng đất ngập nước, tập trung chủ yếu vào các họ như họ Hòa thảo (Poaceae), họ Cói (Cyperaceae), họ Cúc (Asteraceae),… Tiếp đến là thân gỗ (G)với 11 loài (chiếm 23,9%), nhóm này là các cây sống ven bờ sông như họ Phi lao (Casuarinaceae), họ Bàng (Combretaceae), họ Xoan (Meliaceae)… Nhóm cây bụi (B) có 11 loài (chiếm 23,9%), nhóm này gặp nhiều ở ven bờ đất khô hay ẩm tập trung chủ yếu vào các họ như họ Đậu (Fabaceae), họ Cà (Solanaceae), họ Cau dừa (Arecaceae),… và cuối cùng là thân leo với 1 loài (chiếm 2,2%) là loài Lồng đèn (Cardiospermum halicacabum L.).

3.1.3. Đặc điểm phân bố thành phần loài thực vật bậc cao ven bờ theo không gian tại khu vực nghiên cứu

Kết quả điều tra khảo sát hệ thực vật ven bờ ở các địa điểm: Đ1. Cẩm Kim; Đ2. Thanh Hà; Đ3. Cẩm Nam; Đ4. Cẩm Thanh được thể hiện qua bảng 3.4 và bảng 3.5.

Qua bảng 3.5 cho thấy, hệ thực vật bậc cao ven bờ tại các điểm có sự phân bố tương đối đồng đều tại các điểm trên toàn khu vực. Có 9 loài ưu thế có số cá thể xuất hiện nhiều nhất trong khu vực nghiên cứu là: Dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) (Chiếm 3,67% tổng số cá thể trên các điểm nghiên cứu), Cứt lợn (Ageratum conyzoides) (chiếm 10,81%), Xuyến chi (Bidens pilosa) (chiếm 4,75%), Sài đất (Wedelia chinensis) (chiếm 16,35%), Cỏ lác (Cyperus malaccensis) (chiếm 16,98%), Cỏ năng (Cyperus sp.) (chiếm 2,6%), Mai dương (Mimosa pigra) (chiếm 2,58%), Cỏ gà (Cynodon dactylon) (mọc thành thảm tại các khu trống), Cỏ ống (Panicum repens) (chiếm 3,42%), Lau (Saccharum arundinaceum) (chiếm 10,71%), Sậy(Phragmites communis) (chiếm 5,84%).

Theo bảng 3.4 và bảng 3.5 cho thấy hệ thực vật tại Cẩm Kim tuy chỉ có 20 loài, 18 chi, 11 họ, thấp nhất trong 4 điểm nghiên cứu, tuy nhiên tại đây có hầu hết các loài ưu thế trong khu vực nghiên cứu 7với 8 loài trừ Dừa nước (Nypa fruticans Wurmb). Trong đó 3 loài Cứt lợn (Ageratum conyzoides), Cỏ lác (Cyperus malaccensis), Lau (Saccharum arundinaceum) chiếm ưu thế với tần xuất bắt gặp tại mọi vị trí.

Tại Cẩm Thanh, có tới 9 loài chỉ xuất hiện tại đây mà chưa tìm thấy sự xuất hiện của chúng tại các điểm nghiên cứu còn lại như: Cà độc dược (Datura metel), Đước đôi (Rhizophora apiculata), Xích đồng nam (Clerodendrum paniculatum), Thầu dầu (Gynandropsis gynandra)… Tại đây, loài Dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) chiếm ưu thế với các dãy dừa nước mọc ven bờ thành các đê tự nhiên bảo vệ bờ sông.

Trong khu vực nghiên cứu có 4 loài 4 họ xuất hiện cả 4 điểm nghiên cứu là: Rau má (Centella asiatica), Cỏ lác (Cyperus malaccensis.), Mai dương (Mimosa pigra.), Sậy (Phragmites communis.). Với 3 loài chiếm ưu thế tại toàn khu vực hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An là: Cỏ lác (Cyperus malaccensis), Sậy (Phragmites communis), Mai dương (Mimosa pigra).

3.1.4. Các kiểu thảm thực vật trong vùng nghiên cứu

Qua kết quả điều tra nghiên cứu chúng tôi đã xác định được có 4 kiểu thảm thực vật chính tại khu vực: (i) Quần hợp Cứt lợn (Ageratum conyzoides) – Xuyến chi (Bidens pilosa), (ii) Quần hợp Sài đất (Wedelia chinensis), (iii) Quần hợp Cỏ lác (Cyperus malaccensis)- Lau (Saccharum arundinaceum) – Sậy (Phragmites communis), (iv) Quần hợp Dừa nước (Nypa fruticans Wurmb).

3.2. HIỆN TRẠNG SẠT LỞ Ở HẠ LƯU SÔNG THU BỒN ĐI QUA THÀNH PHỐ HỘI AN

3.2.1. Khái quát hiện trạng sạt lở hạ lưu sông Thu Bồn

Theo kết quả hình 3.1 ta thấy hạ lưu sông Thu Bồn dòng sông bị xói bồi xen kẽ và thường xuyên xảy ra hiện tượng uốn khúc và cắt dòng để đoạn sông trở lên thẳng hơn. Điều này kéo theo sự thay đổi của hiện tượng sạt lở bờ sông.

Theo số liệu hồi cứu được, khu vực hạ lưu sông Thu Bồn hiện vẫn đang bị sạt lở với tốc độ trung bình 2÷3m/năm. Từ năm 1973 đến năm 2013, dòng chủ lưu dịch chuyển về phía Đông Nam 140m và hiện đang có xu

3.2.2. Hiện trạng sạt lở đoạn hạ lưu sông Thu Bồn đi qua thành phố Hội An

Dựa trên việc hồi cứu các tài liệu và kết quả khảo sát thực địa đã xác định được các khu vực sạt lở trên dòng chính khu vực nghiên cứu. Các vị trí này hoặc chưa có công trình bảo vệ, hoặc đã xây dựng, nhưng đã bị phá hỏng.

Theo kêt quả điều tra tại bảng 3.7 tại khu vực nghiên cứu các vị trí sạt lở ở khu vực có chiều dài nhỏ hơm 500m, quá trình sạt lở diễn ra với tốc độ cũng rất khác nhau. Ở những đoạn bờ xã Cẩm Thanh với tốc độ sạt lở bờ từ 2-10m/năm và chiều dài sạt lở của các đoạn trong khoảng 200 – 500m. Riêng đoạn thuộc phường Thanh Hà đoạn sạt lở lên đến 700m, trải dài dọc tuyến đường Hùng Vương, Nguyễn Du.

3.2.3. Các kiểu sạt lở tại khu vực nghiên cứu

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát các vị trí sạt lở trên các tuyến nghiên cứu và cho ra kết quả theo bảng 3.8.

Qua bảng 3.8 cho thấy tại khu vực Hội An, kiểu sạt lở do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc diển ra ở các phường Thanh Hà, Cẩm Kim, và càng dịch xa ra phía cửa biển là kiểu sạt lở vùng cửa sông ở Cẩm Nam, Cẩm Thanh. Ngoài ra do cấu tạo bờ lõm tại Thanh Hà, nên tại đây còn diễn ra kiểu sạt lở bờ lõm. Dẫn đến vùng bờ khu vực này bị ảnh hưởng mạnh, tốc độ sạt lở lớn và chiều dài sạt lở cũng là lớn nhất so với các tuyến nghiên cứu còn lại.

3.2.4. Nguyên nhân gây sạt lở bờ sông

Trên cơ sở kết quả điều tra khảo sát, phỏng vấn người dân và cán bộ thôn, xã đã thống kê được các nguyên nhân gây sạt lở trên lưu vực sông Thu Bồn – Hội An theo bảng 3.9:

Kết quả điều tra tại bảng 3.9 cho thấy cả 4 điểm đều chịu ảnh hưởng của các dòng chảy lũ qua các năm gây ra. Cùng với đó Thành phố Hội An có mật độ dân cư tương đối lớn, các hoạt động kinh tế xã hội, quy hoạch trong bố trí dân cư, đất sản xuất chưa được hợp lý hai bên bờ làm mất cân bằng hệ sinh thái ven bờ, làm mất đi thảm thực vật bảo vệ ven bờ đã phần nào làm tăng nguy cơ sạt lở.

3.3. MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ PHÂN BỐ HỆ THỰC VẬT VỚI PHẠM VI VÀ MỨC ĐỘ SẠT LỞ TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.3.1. Mối quan hệ giữa hệ thực vật bậc cao đến sạt lở bờ sông

Hệ thực vật ven bờ giúp cố định bờ đất và giảm tác động của dòng chảy vào bờ sông. Dựa trên kết quả bảng 3.4 và bảng 3.7 ta có mối tương quan thể hiện:

Biểu đồ 3.4 cho thấy tại 2 khu vực Cẩm Kim và Thanh Hà có hệ thực vật ven bờ cùng số loài tuy nhiên Thanh Hà bị sạt lở nhiều hơn, mức độ nghiêm trọng hơn. Một là do cấu tạo bờ lõm tại khu vực Thanh Hà làm bờ sông tại khu vực này bị tác động mạnh của dòng chảy, tại Thanh Hà cũng chịu tác động của các dòng chảy lũ qua các năm. Theo biểu đồ 3.5 tại Thanh Hà, hệ thực vật ít đa dạng, hầu như không có các loài có khả năng kiểm soát sạt lở như Lau, Sậy, Cỏ Lác. Loài ưu thế ở đây là Sài đất (Wedelia chinensis) mọc tràn trên bờ sông. Khu vực này có hai tuyến đường Hùng Vương và Nguyễn Du chạy dọc theo bờ sông, các hoạt động kinh tế xã hội diễn ra mạnh, nên hệ thực vật ở đây bị chia cắt bởi các công trình công cộng, nhà ở và các điểm canh tác ven sông, số cá thể của từng loài ít không tạo được các thảm thực vật bảo vệ bờ sông và làm tăng khả năng sạt lở tại khu vực.

Khu vực Cẩm Kim có 20 loài thuộc 11 họ, theo biểu đồ 3.5, tại đây tập trung cao các loài ưu thế như Cỏ lác (Cyperus malaccensis) – Lau (Saccharum arundinaceum) – Sậy (Phragmites communis) với số lượng cá thể nhiều, mọc thành từng khóm trải dài dọc bờ sông tạo thành một thảm thực vật tại mép bờ ( hình 3. ). Điều này làm giảm các tác động của dòng chảy lên bờ sông, giúp giữu đất và tăng kết cấu vùng bờ. Hơn nữa, trên bờ sông thảm thực vật Cứt lợn – Xuyến chi cũng góp phần tăng kết cấu đất vùng bờ.

Tại khu vực Cẩm Nam, theo biểu đồ 3.5 có tất cả bốn loài có khả năng kiểm soát sạt lở với số lượng nhiều nhưng mức độ cũng như tốc độ sạt lở tại đây vẫn nằm mức cao tại khu vực. Tại Cẩm Nam, hầu hết các đoạn bờ sông được bảo vệ bởi các công trình chỉnh trị, tuy nhiên các công trình này không thống nhất. Nhiều vị trí là các công trình thô sơ do người dân tự làm để bảo vệ nhà ở sân vườn. Do đó, chia cắt hệ thực vật ven bờ thành các trảng nhỏ, các cá thể trong loài tập trung số lượng ít nằm rải rác khắp tuyến. Cho nên dù là khu vực có độ đa dạng cao nhất với 27 loài thược 25 chi 20 họ, hầu như xuất hiên hầu hết các loài trong khu vực nghiên cứu nhưng vẫn là khu vực bị sạt lở cao.

Tại Cẩm Thanh, bờ sông được bảo vệ bằng thảm Dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) và Phi lao (Casuarina equisetifolia), thường tạo thành các thàm thực vật dài và xanh ven bờ. Tuy nhiên, khu vực Cẩm Thanh lại chịu tác động kép của dòng chảy lũ mạnh và ảnh hưởng mạnh của triều cường nên mức độ sạt lở tại đây vẫn nằm trong mức cao.

Qua hình 3. 11 thấy thảm thực vật ven bờ cũng là một tác nhân giúp kiểm soát sạt lở tại khu vực. Tai các khu vực có sự xuất hiện nhiều Cỏ lác (Cyperus malaccensis.), Lau (Saccharum arundinaceum), Sậy (Phragmites communis), Dừa nước (Nypa fruticansWurmb.) thì tốc đọ cũng như mức độ sạt lở nhỏ. Các khu vực có thảm thực vật dày và đồng đều thì nguy cơ bị sạt lở được hạn chế.

3.3.2. Các loài thực vật có vai trò trong kiểm soát sạt lở

Theo kết quả nghiên cứu trên, thảm thực vật ven bờ cũng là tác nhân giúp kiểm soát và hạn chế sạt lở tại trong khu vực. Với vai trò là kiểm soát sạt lở và bảo vệ bờ sông trên khu vực, các loài thực vật phải đảm bảo các nhóm tiêu chí sau (bảng 3.10).

Bảng 3.10. Tiêu chí lựa chọn loài thực vật có vai trò trong kiểm soát sạt lở

SttTiêu chuẩnChú thích
1Khả năng thích nghi với điều kiện lập địa– Thích nghi với vùng ven bờ
2Đặc tính sinh trưởng– Loài cây ổn định sinh trưởng nhanh,
3Kết cấu của hệ rễ– Hệ rễ mạnh, có nhiều rễ ngang, rộng, khe; có khả năng thấm nước và bảo vệ đất
4Khả năng gây trồng– Loài cây có sẵn nguồn giống, phương thức trồng đơn giản
5Khả năng tái sinh– Loài cây có khả năng tái sinh chồi và hạt tốt
6Giá trị– Loài cây làm đẹp cảnh quan, ít ảnh hưởng xấu đến môi trường, sinh vật xung quanh

– Khả năng cung cấp các sản phẩm phụ ngoài gỗ.

Dựa trên các tiêu chí trên chúng tôi đã xác định trong khu vực nghiên cứu có 4 loài có vai trò trong kiểm soát sạt lở và bảo vệ bờ sông là: Cỏ lác (Cyperus malaccensis.), Lau (Saccharum arundinaceum), Sậy (Phragmites communis), Dừa nước (Nypa fruticansWurmb.).

Cỏ lác – Cyperus malaccensis

Tên đồng nghĩa:Cyperus malaccensis Lam.

Tên địa phương: cỏ lác,

Họ Cói – Cyperaceae

Đặc điểm hình thái: Bảng 3.11

Sinh thái và phân bố: Mọc tại các mép nước ven bờ sông. Phân bố trên toàn khu vực hạ lưu sông Thu Bồn-Hội An. Gặp nhiều tại Cẩm Kim, Cẩm Thanh.

Giá trị: Cỏ lác (Cyperus malaccensis) không chỉ có vai trò trong việc chống sạt lở mà còn còn có giá trị làm thuốc, làm chiếu và cac đồ thủ công, đây là loài cây có giá trị cao tại khu vực. Các bãi cỏ lác còn là nơi sinh sống và đẻ trứng của các loài động vật thủy sinh, cá.

Lau – Saccharum arundinaceum

Tên đồng nghĩa:Saccharum arundinaceum Retz.

Tên địa phương: Lau

Họ Hòa thảo – Poaceae

Đặc điểm hình thái: Bảng 3.12

Sinh thái và phân bố: Mọc tại các mép nước ven bờ sông. Phân bố trên toàn khu vực hạ lưu sông Thu Bồn-Hội An. Gặp nhiều tại Cẩm Kim. Cẩm Nam.

Giá trị: Cây lau không chỉ không chỉ tác dụng giữ đất, bồi đắp phù xa mà còn có giá trị về làm thuốc, giá trị về cảnh quan.

Sậy – Phragmites communis

Tên đồng nghĩa:Phragmites communis (L.) Trin.

Tên địa phương: Sậy

Họ Hòa thảo – Poaceae

Đặc điểm hình thái: Bảng 3.13

Sinh thái và phân bố: Mọc tại các mép nước ven bờ sông. Phân bố trên toàn khu vực hạ lưu sông Thu Bồn-Hội An. Gặp nhiều tại Cẩm Nam.

Giá trị: Cây Sậy(Phragmites communis) không chỉ có vai trò trong việc chống sạt lở mà còn còn có giá trị trong việc xử lý môi trường nước, làm thuốc, làm thức ăn cho vật nuôi. Các bãi sậy còn là nơi sinh sống của các loài động vật thủy sinh, cá.

Dừa nước (Nypa fruticans Wurmb.)

Tên đồng nghĩa: Nypa fruticans var. neameana F.M.Bailey

Tên địa phương: Dừa nước, dừa lá.

Họ Cau dừa – Arecaceae

Đặc điểm hình thái: Bảng 3.14

Sinh thái và phân bố: Mọc ven sông vùng nước lợ. Phân bố tại Cẩm Nam, Cẩm Thanh. Trong đó Cẩm Thanh gặp nhiều nhất.

Giá trị: Dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) là một trong số rất ít các loài cây thuộc họ cau dừa – Arecaceae sinh sống trong vùng đất ngập nước ven biển và quần tụ thành rừng. Đây là một loài cây đa tác dụng trong đó tác dụng phòng hộ là nổi bật nhất. Ngoài tác dụng phòng hộ như chắn song, chắn gió, bảo vệ bờ đất, cố định khí phát thải, rừng dừa nước còn là nơi cư trú, sinh sống của các loài sinh vật thủy sinh, các loài chim nước và nhiều loài động vật có giá trị khác. Dừa nước còn có nhiều tác dụng khác như thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu sản xuất thủ công mỹ nghệ có giá trị kinh tế và thân thiện với môi trường, làm thức ăn gia súc, nguồn mật nuôi ong, đồng thời mang lại nguồn lợi thủy sản lớn và tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động vùng ven bờ do thiếu đất canh tác.

3.3.3. Đề xuất một số giải pháp kiểm soát sạt lở bờ sông

Tùy từng vị trí, kiểu sạt lở mà có các giải pháp phòng chống và kiểm soát sạc lở khác nhau. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đề xuất các giải pháp thân thiện với môi trường đó là sử dụng cây cỏ thích hợp để giữ lại bờ sông

Trường hợp nơi bờ sông chịu tác động thường xuyên và mạnh của tải trọng sóng hoặc dòng chảy mà cỏ không thể phát triển hoặc sống, loại thảm cỏ nhân tạo hay kè cục bê tông có lỗ ở giữa để trồng cỏ được đặt ở đoạn tiếp giáp giữa kè lát mái và trồng cỏ. Ở những đoạn sông rộng có bãi bên, bãi giữa hoặc đảo thường ngập nước, sự tồn tại của cỏ cây không ảnh hưởng đến khả năng thoát lũ của sông mà còn mang lại sự cần thiết về cung cấp nguồn ôxy từ lá cây ngập trong nước, thức ăn cho cá và sinh vật khác. Chính vì vậy, cần xem xét bố trí cây trồng hợp lý theo hình thành từng dải; nơi không bị ngập nước thường xuyên (hình 3.15); nơi có đê hoặc công trình khác cần có trồng cây (hình 3.16).

Dựa trên kết quả điều tra khảo sát về hiện trạng sạt lở cũng như phân bố thực vật bậc cao ven bờ hạ lưu sông Thu Bồn đi qua thành phố Hội An, chúng tôi đã chia khu vực nghiên cứu thành 2 khu vực: (i) Khu vực có đê và các công trình và (ii) khu vực chưa có các công trình bảo vệ, để đề xuất các giải pháp kiểm soát sạt lở như sau.

a. Khu vực có đê và các công trình cần có trồng cây

Đây là các khu vực đã xây dựng các công trình bảo vệ như: (i) công trình bảo vệ bờ thường gặp là tường chắn bằng rọ đá, đá hộc xây hay cọc bản bê tông cốt thép lọai nhỏ, (ii) công trình sử dụng các loại phên liếp (tre, cọc gỗ, …) kết hợp với cọc tre, cừ gỗ để bảo vệ bờ ; (iii) sử dụng các bao tải cát, xà bần (gạch vụn), đá hộc đổ kết hợp với cọc tre bảo vệ bờ.

Chúng tôi chia các khu vực cần trồng cây làm 3 phần: bảo vệ chân kè, mái taluy và phần đỉnh kè. Địa điểm cần áp dụng là Cẩm Nam và Thanh Hà. Tại Cẩm Nam đa số là các công trình bán kiên cố nên để chống xói chân kè gây sạt lở cần trồng thảm thực vật tại mép nước ven bờ như các loài: Cỏ lác (Cyperus malaccensis.), Lau (Saccharum arundinaceum), Sậy (Phragmites communis). Phần mái taluy có thể trồng các thảm Cỏ gà giúp cố định đất và tăng sức bền của các công trình.

b. Khu vực chưa có các công trình bảo vệ

* Giải pháp mô hình thảm cát bảo vệ bờ sông

Mô hình được thiết kế là sự phối hợp các giải pháp mền bao gồm (i) bảo vệ phần bờ sông bằng thảm cát; (ii) phục hồi và bảo vệ phần mái kênh đồng thời là thân đê bằng các bao cát sinh thái.

Thoạt tiên lợi dụng mùa nước cạn,  dùng bao cát chồng lên nhau, tạo thành một ta-luy cát, đóng cọc tre bảo vệ để ngăn lở, đổ thêm đất bên trong và trồng các loại cỏ có bộ rễ sâu để giữ đất. Nơi nào đất ổn định thì trồng tre. Từ bờ dựng bao cát, những đoạn tre ngắn là là trên mặt nước được kết nối với một hàng rào tre phía mặt nước chừng 2m giúp phá những đợt sóng ập vào, ngăn chặn xói lở và tạo điệu kiện để cát bồi thêm. Chỗ nào cát bồi vào, có thể trồng loại cỏ vetiver để giữ đất. Mỗi bụi cỏ trồng cách nhau 30cm. Đây là loại cỏ chống xói lở rất hiệu quả đã được sử dụng chống lở. Phía dưới bờ sông, những loại cây có rễ chùm bám sâu lại có thể cản sức phá hoại của lũ như cây sậy, cây lác được trồng tạo ra một bức tường tự nhiên vô cùng vững chắc.

Đây là mô hình được kiến trúc sư – viện sĩ Bùi Kiến Quốc thử nghiệm và tiến hành thành công, kiểm soát sạt lở ven bờ sông Thu Bồn tại thôn Tiêm Tây, xã Điện Phương, Điện Bàn.

* Mô hình trồng lũy tre chống sạt lở

Trông dải Tre dọc theo bờ sông là phương pháp được người dân áp dụng từ trước đến nay tại hạ lưu sông Thu Bồn. Trồng tre ven sông nên có sự kết hợp của chính quyền cũng như người dân. Trên các tuyến dọc bờ sông, nhà nước hỗ trợ kinh phí để mua cây giống, với mật độ là 1km bờ sông thì trồng khoảng 300-500 gốc tre. Các gốc tre này sẽ chia thành các nhóm do chi bộ thôn chăm sóc bảo quản và sẽ tiếp tục trồng giặm vào các gốc tre bị chết. Thực tế trồng tre không chỉ chắn gió, mà nó còn là cây tạo nguồn thu nhập cho người dân. Cứ 3 năm trồng tre, chặt đốn một lần. Mỗi bụi cũng cho thu nhập từ 1 triệu – 1,5 triệu đồng.

* Mô hình trồng dừa nước

Mô hình này đang được áp dụng tại Cẩm Thanh, Cẩm Nam. Hiện nay đã và đang phục hồi được nhiều dải rừng Dừa nước ven bờ sông. Việc gây lại rừng dừa nước vừa giúp bảo vệ bờ sông. Ngoài tác dụng phòng hộ như chắn song, chắn gió, bảo vệ bờ đất, Dừa nước còn có nhiều tác dụng khác như thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu sản xuất thủ công mỹ nghệ có giá trị kinh tế và thân thiện với môi trường, làm thức ăn gia súc, nguồn mật nuôi ong, đồng thời mang lại nguồn lợi thủy sản lớn và tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động vùng ven bờ do thiếu đất canh tác. Vì vậy việc phục hồi rừng dừa nước vừa có tác dụng kiểm soát sạt lở mà còn giúp phát triển nền kinh tế của địa phương. Hiện nay tại Hội An, có rất nhiều dự án, quỹ đầu tư cho việc khôi phục lại rừng dừa nước ven bờ tại đây. Việc cần thiết là chính quyền thành phố cần có phương pháp quy hoạch và phương án để mọi người dân tham gia trồng và bảo vệ rừng dừa nước.

Ngoài ra, còn có thể mở các tour du lịch trải nghiệm trồng dừa nước cho du khách. Làm cho du khách tự trải nghiệm trồng phục hồi Dừa nước tại các điểm chỉ định. Mô hình này sẽ thu hút sự quan tâm hưởng ứng của nhiều du khách và người dân bản địa, đây là mô hình mang đến kết quả cuối cùng là bảo tồn vững chắc rừng dừa, tạo thu nhập và sinh kế cho người dân. Đặc biệt, dự án sẽ giúp nâng cao ý thức cộng đồng, thu hút sự tham gia tích cực của du khách vào công việc trồng rừng, hướng đến không chỉ phát triển du lịch sinh thái mà còn bảo tồn rừng dừa nước cũng như mở rộng quy mô rừng dừa ngày càng rộng lớn

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

KẾT LUẬN

Đã xác định được khu vực nghiên cứu có được có 46 loài thực vật bậc cao thuộc 43 chi 29 họ thực vật thuộc 2 ngành thực vật bậc cao có mạch, đó là: ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), ngành Mộc lan (Magnoliophyta). Loài nhóm cây thân thảo chiếm tỷ trọng cao nhất (50% tổng số loài khu vực nghiên cứu); tiếp theo là thân gỗ và thân bụi với 11 loài (chiếm 23,9%); 1 loài thân leo chiếm 2,2%.

Có 4 kiểu thảm thực vật chính tại khu vực: (i) Quần hợp Cứt lợn (Ageratum conyzoides) – Xuyến chi (Bidens pilosa), (ii) Quần hợp Sài đất (Wedelia chinensis), (iii) Quần hợp Cỏ lác (Cyperus malaccensis)- Lau (Saccharum arundinaceum) – Sậy (Phragmites communis), (iv) Quần hợp Dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) (Q4)

Khu vực hạ lưu sông Thu Bồn đi qua thành phố Hội An hiện vẫn đang bị sạt lở với tốc độ trung bình 2÷10m/năm, chiều dài các đoạn sạt lở từ 170m – 700m. Tại khu vực nghiên cứu thì kiểu sạt lở vùng cửa sông là đặc trưng.

Các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến quá trình sạt lở hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An gồm: (i) Dòng chảy lũ có lưu tốc khá lớn gây nên tốc độ dòng chảy lớn dọc sông (ii) Ảnh hưởng của con người thông qua các hoạt động kinh tế xã hội.

Xác định trong khu vực nghiên cứu có 4 loài có vai trò trong kiểm soát sạt lở và bảo vệ bờ sông là: Cỏ lác (Cyperus malaccensis.), Lau (Saccharum arundinaceum), Sậy (Phragmites communis), Dừa nước (Nypa fruticansWurmb.).

KIẾN NGHỊ

Theo dõi các loài thực vật ven bờ cũng như hiện tượng sạt lở bờ sông tại khu vực nhằm đánh giá đầy đủ hơn vai trò của hệ thực vật đối với việc kiểm soát sạt lở bờ sông. Qua đó các cơ quan chức năng có thể tìm ra các giải pháp thích hợp cho từng đoạn sông để có thể kiểm soát và giảm nguy cơ sạt lở bờ sông. Hay nói cách khác là đảm bảo an toàn về tính mạng cũng như tài sản cho người dân ven sông.

Tìm kiếm giải pháp bảo toàn và phục hồi thảm thực vật hai bên bờ. Hạn chế tối đa việc lấn chiếm bờ sông, xây dựng các công trình gần bờ, và các hoạt động kinh tế xã hội khác gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thực vật ven bờ hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KY THUAT\SINH THAI HOC\TRIEU TRAN HUAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *