Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm

1. Lý do chọn đề tài:

Bào ngư thuộc động vật nhuyễn thể một mảnh vỏ, di chuyển bằng chân bụng. Trên thế giới có khoảng 100 loài bào ngư, trong đó có 10 loài có giá trị kinh tế [46].

Ở Việt Nam có 4 loài bào ngư: bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor Reeve, 1864), bào ngư bầu dục (Haliotis ovina Gmelin, 1791), bào ngư vành tai (Haliotis asinina Linne, 1758) và bào ngư dài (Haliotis varia Linne, 1758) [6].

Trong 4 loài loài bào ngư phân bố ở nước ta, ở vùng biển Quảng Nam xuất hiện 3 loài: bào ngư bầu dục (Haliotis ovina Gmelin, 1791), bào ngư vành tai (Haliotis asinina Linne, 1758) và bào ngư dài (Haliotis varia Linne, 1758) [3], [6].

Thịt bào ngư mềm, mùi vị thơm ngon, có hàm lượng Protein cao (23 – 24%) và là đối tượng xuất khẩu mang lại lợi nhuận cao [30]. Vỏ bào ngư dùng để chữa trị bệnh mắt mờ và gan trong y học cổ truyền Trung Quốc [40]. Ngoài ra, do cấu tạo có tầng xà cừ óng ánh với nhiều màu sắc, vỏ còn được sử dụng làm đồ trang sức, khảm xà cừ trong kỹ nghệ tranh sơn mài.

Theo ông Dương Mạnh Tấn – một ngư dân có tuổi nghề khai thác bào ngư cao nhất tại địa phương cho biết, trước đây ở Cù Lao Chàm (CLC) chỉ có 4 – 5 người làm nghề khai thác bào ngư, chủ yếu là để dùng trong gia đình, một ít là biếu hay bán cho cư dân địa phương. Kể từ khi du lịch phát triển, đặc biệt là khi CLC và vùng hạ lưu sông Thu Bồn – Hội An được UNESCO công nhận là “Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới” vào năm 2009, cùng với sự gia tăng lượng du khách đến đảo thì số người làm nghề khai thác bào ngư cũng tăng lên nhanh chóng. Hiện nay, có khoảng 30 người dân địa phương làm nghề khai thác bào ngư, trong đó nghề khai thác bào ngư hiện là sinh kế chính của nhiều hộ dân tại CLC [27]. Theo số liệu tổng hợp của Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao thì có 70.000 khách năm 2011, tăng lên 106.000 khách (2012), năm 2013 đã đạt hơn 190.000 lượt khách [24 ]. Đến tháng 9 năm 2014, lượng du khách đến tham quan CLC đã đạt 220.364 lượt [16]. Kết quả điều ra từ các nhà hàng tại CLC cho thấy, hầu hết du khách đến CLC đều có nhu cầu sử dụng các loại thủy hải sản nơi đây, đặc biệt có nhu cầu cao đối với bào ngư tươi sống. Như vậy sự gia tăng lượng khách cùng với nhu cầu sử dụng thực phẩm đã gây áp lực đối với tài nguyên nói chung và bào ngư nói riêng tại nơi đây. Kết quả khảo sát cho thấy, có nhiều ngư dân vùng khác như: Núi Thành, Đà Nẵng… cũng đến CLC khai thác bào ngư và nhiều lần đã xảy ra xung đột với ngư dân địa phương.

Với kinh nghiệm khai thác bào ngư của người dân trên đảo, họ có hiểu biết sâu sắc về chúng như: bào ngư thường phân bố nhiều ở các vùng nước sạch, thông thoáng, nơi có nhiều rạn đá núi… nhưng những kiến thức ấy chưa được hệ thống, tài liệu hóa để trở thành nguồn dữ liệu khoa học phục vụ cho việc khai thác và quản lí đối tượng này trong khu bảo tồn. Trước thực trạng khai thác bào ngư tại CLC như hiện nay, cần xây dựng các giải pháp về bảo vệ cũng như khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại CLC, góp phần vào sự phát triển bền vững trong Khu Bảo tồn biển CLC.

Xuất phát từ thực tiễn của vấn đề, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm, Quảng Nam”.

2. Mục đích của đề tài:

– Hình thành dẫn liệu khoa học về các loài bào ngư có mặt ở Cù Lao Chàm như: tên khoa học các loài bào ngư, bản đồ phân bố sinh thái của bào ngư.

– Đề xuất các nhóm giải pháp về khai thác và sử dụng hợp lý bào ngư tại Cù Lao Chàm.

3. Nội dung nghiên cứu:

– Định danh khoa học các loài bào ngư có mặt ở CLC.

– Xác định vùng phân bố sinh thái của bào ngư.

– Đánh giá hiện trạng khai thác bào ngư.

– Đề xuất các nhóm giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư.

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

4.1. Ý nghĩa khoa học:

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo nhằm hướng đến việc bảo tồn và phát huy được hiệu quả tất cả các giá trị tài nguyên của Khu bảo tồn biển.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

Đề tài này sẽ góp phần đáng kể trong việc miêu tả toàn cảnh bức tranh diễn biến nguồn lợi bào ngư và là cơ sở khoa học để các nhà quản lí xây dựng các giải pháp bảo vệ tốt nguồn lợi này tại Cù Lao Chàm. Mặt khác, kết quả của đề tài là cơ sở thuyết minh về bào ngư cho du khách đến tham quan CLC hoặc tạo các poster, tài liệu truyền thông về bào ngư trong Khu BTB.

5. Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm các phần sau:

– Mở đầu

– Chương 1: Tổng quan tài liệu

– Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

– Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

– Kết luận và kiến nghị

– Tài liệu tham khảo

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. SƠ LƯỢC VỀ PHƯƠNG THỨC SỐNG CỦA BÀO NGƯ

Phương thức sống của bào ngư thay đổi theo giai đoạn phát triển cá thể [7], [8]. Ở giai đoạn ấu trùng chúng bơi lội, giai đoạn trưởng thành sống bán cố định. Phương thức sống của bào ngư có liên quan đến cấu tạo chân. Bào ngư dùng chân để bò từ nơi này đến nơi khác giống như những loài ốc khác. Nhưng chân của bào ngư không thích hợp để bò hoặc bám trên cát. Trên mặt cát chúng dễ bị lật ngửa và dễ bị địch hại tấn công. Vì vậy, chỉ thấy bào ngư phân bố ở vùng đáy đá.

Khi gặp kẻ thù, bào ngư dùng chân bám chặt trên đá và hạ thấp vỏ xuống để che đậy phần cơ thể và chân. Chân của bào ngư có thể bám chắc trên đá, khi chúng nhận thấy bị đe dọa thì chúng bám rất chắc và khó có thể tách chúng ra khỏi mặt đá. Bào ngư là loài sợ ánh sáng do đó ban ngày sống ẩn nấp, ban đêm mới đi kiếm mồi.

1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BÀO NGƯ

1.2.1. Tình hình nghiên cứu bào ngư trên thế giới

Trên thế giới đã phát hiện được hơn 100 loài bào ngư [46]. Bào ngư phân bố hầu như tại khắp nơi trên thế giới, dọc ven biển ngoại trừ các vùng duyên hải Đại tây dương thuộc Nam Mỹ và vùng Caribbean. Vùng biển phía Đông Hoa Kỳ chỉ có một loài duy nhất được xem là rất hiếm (bào ngư trắng Haliotis sorenseni) [32].

Trên thế giới, bào ngư đang trong tình trạng báo động về sự suy giảm nguồn lợi [36], [41]. Ở Mexico, bào ngư (Haliotis) đã được đánh bắt trong hơn một thế kỷ, và trong năm 1950 sản lượng khai thác lên đến 6000 tấn. Tuy nhiên ngành thủy sản ở đây phải đóng cửa vào những năm 1970 vì khai thác quá mức [35]. Năm 2000, nghiên cứu về tình trạng loài bào ngư trắng (Haliotis sorenseni) ở Califonia và Mexico của Hobday và Tegner cho biết, loài này có thể bị tuyệt chủng trong 10 năm đến [37]. Ở phía nam San Francisco, việc khai thác bào ngư đã bị cấm vào năm 1997 do sự giảm sút quá mức về số lượng [38]. Đã có nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản, kỹ thuật sản xuất nhân tạo và nuôi thương phẩm bào ngư như kích thích sinh sản của bào ngư việc kết hợp giữa chiếu tia cực tím với kích nhiệt khô và kích nhiệt nước và hai phương pháp nuôi bào ngư thương phẩm phổ biến trên thế giới là nuôi bào ngư trong các đìa xi măng trên đất ven biển và nuôi trong lồng treo bè ngoài biển [31], [39].

Như vậy, trên thế giới bào ngư được quan tâm nghiên cứu nhiều không phải chỉ vì đó là nguồn thực phẩm quí mà hiện nay nó đang trong tình trạng báo động về sự suy giảm.

1.2.2. Tình hình nghiên cứu bào ngư tại Việt Nam

Ở Việt Nam Bào Ngư được bắt đầu nghiên cứu sản xuất giống từ năm 1994, kết quả nghiên cứu của Hà Đức Thắng đã mô tả một vài đặc tính sinh vật học của bào ngư (Haliotis diversicolor) như: con trưởng thành có kích thước 7-8 cm; phân bố ở những vùng biển có độ trong cao ít chịu ảnh hưởng của nước ngọt; màu sắc vỏ phụ thuộc vào thức ăn; tốc độ sinh trưởng chậm, sau 3-4 năm mới đạt kích thước 6.5-7.0 cm và lần đầu thực hiện thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo đã thu được 50.000 bào ngư giống cỡ 10-12mm. Từ những kết quả đạt được, một dự thảo quy trình kỹ thuật sản xuất giống bào ngư đã được đề xuất [20]. Tiếp theo, tiến sĩ Hà Đức Thắng cũng nghiên cứu hoàn thiện kĩ thuật sản xuất giống và nuôi Bào Ngư, do Viện nghiên cứu thủy sản III chủ trì. Hai hình thức nuôi bào ngư thương phẩm được áp dụng là nuôi bào ngư theo hình thức quảng canh và nuôi treo [20], [21]. Năm 2000, kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh sản của bào ngư ở Nha Trang – Khánh Hòa do Lê Đức Minh thực hiện đã góp phần hoàn thiện những kiến thức về sinh học, sinh sản nhân tạo của loài thân mềm, đặc biệt là bào ngư bầu dục, bào ngư vành tai tạo cơ sở khoa học cho việc quản lí, bảo vệ và phát triển nguồn lợi ở vùng biển Nha Trang và các nơi khác [14].

Nghiên cứu nuôi bào ngư ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu trong những năm gần đây, việc nghiên cứu bước đầu còn khá chậm. Năm 2007, mô hình nuôi bào ngư mẫu được tiến hành ở Vũng Ngán-Nha Trang và triển khai mô hình dân nuôi tại 2 hộ gia đình ở Hòn Một và Bích Đầm, tỉ lệ sống đạt 82.07% đối với mô hình mẫu và với mô hình dân nuôi đạt tỉ lệ sống cao hơn (Hòn Một: 88.62%, Bích Đầm: 95.54%) [11]. Ngày 27/6/2012, dự án hoàn thiện quy trình công nghệ và xây dựng mô hình trình diễn, sản xuất cung cấp giống bào ngư tại Đảo Thanh niên Bạch Long Vĩ, thành phố Hải Phòng được phê duyệt tại quyết định số 236/QĐ-TCTS-NTTS và được tiến hành trong 3 năm. Đến đầu năm 2015, những con bào ngư giống tại trại giống Bạch Long Vỹ sẽ có mặt trên thị trường [12]. Như vậy, kỹ thuật nuôi bào ngư vẫn chưa được phổ biến rộng rãi và chưa được áp dụng phổ biến trong thực tế. Nguyên liệu chính vẫn là đánh bắt tự nhiên.

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm
Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm

1.2.3. Tình hình nghiên cứu tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm

Cù Lao Chàm là khu bảo tồn biển thứ 2 được thiết lập sau Hòn Mun – Nha Trang với sự hỗ trợ của chính phủ Đan Mạch.

Để thực hiện được nhiệm vụ bảo tồn một cách toàn diện trên nhiều phương diện, Ban quản lý Khu bảo tồn biển CLC đã phối hợp với nhiều cơ quan chuyên môn, các Viện, các Trường, các tổ chức quốc tế tiến hành nghiên cứu đánh giá tổng quát về hiện trạng đa dạng sinh học vào các năm 2004, 2008; nghiên cứu các sinh cảnh biển và nguồn tài nguyên tại CLC [13] [45]. Ngoài ra, cũng có một số nghiên cứu nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức, vai trò và phát huy tri thức địa phương trong công tác bảo tồn, bảo vệ môi trường, bảo vệ các giá trị đa dạng sinh học để đáp ứng chiến lược phát triển bền vững của Cù Lao Chàm như tạo các ngành nghề sinh kế thay thế, bổ sung nhằm tăng thu nhập cho cộng đồng [25].

Tuy nhiên, các nghiên cứu ở đây chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát và đánh giá nhanh, chưa nghiên cứu chuyên sâu cho các đối tượng như nghiên cứu phân bố và hiện trạng khai thác tôm hùm, ốc vú nàng tại CLC [19].

Các đối tượng mục tiêu cần được bảo vệ trong Kế hoạch quản lý tổng hợp Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm giai đoạn 2009-2013 bao gồm: san hô, thảm cỏ biển, bãi biển, tôm hùm, cua đá, ốc vú nàng. Đối với loài bào ngư, cơ sở dữ liệu ở đây hầu như chưa có, mức độ cập nhật thông tin rất hạn chế nên việc quản lý nguồn lợi này gặp rất nhiều khó khăn (vì chưa có các qui định cụ thể) trong khi nguy cơ suy giảm nguồn lợi do tác động của yếu tố môi trường và phát triển du lịch là rất rõ ràng.

1.3. HIỆN TRẠNG KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI Ở VIỆT NAM

Ở Việt Nam, nguồn lợi động vật đáy đang trong tình trạng suy giảm nghiêm trọng [28].

Nguồn lợi bào ngư hiện nay cũng đang trong tình trạng suy giảm nghiêm trọng tại nhiều khu vực trong cả nước. Tại Hòn Mê-Thanh Hóa, bào ngư bầu dục (Haliotis ovina Gmelin 1791) đang ở mức sắp nguy cấp [1]. Tại Bạch Long Vỹ-Hải Phòng, bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor Reeve 1846) đang ở mức rất nguy cấp theo sách đỏ Việt Nam [17].

Năm 2005, UBND thành phố Hải Phòng phê duyệt đề án “Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản vùng 6m nước ven biển đảo Bạch Long Vĩ”, giao UBND huyện Bạch Long Vĩ triển khai thực hiện. Hoạt động của dự án nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác hải sản trái phép, chấm dứt việc ngư dân sử dụng các chất, phương tiện cấm trong khai thác hải sản, tuyên truyền cho ngư dân nhận thức rõ tác hại của việc tàn phá môi trường [2].

Ở Nha Trang, hoạt động phục hồi nguồn lợi bào ngư đang được chú trọng. Ban Quản lý Khu Bảo tồn biển vịnh Nha Trang đã nuôi thử nghiệm và nhiều lần thả bào ngư xuống vùng lõi khu bảo tồn biển Hòn Mun, vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà nhằm tái tạo nguồn lợi thủy sản đang có nguy cơ cạn kiệt. Việc làm này góp phần phục hồi, tái tạo nguồn lợi, ngoài ra còn nâng cao ý thức của người dân về tầm quan trọng và giá trị của nguồn lợi thủy sản trong tự nhiên [22].

Đối với CLC, cũng có nhiều nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp về phát triển bền vững. Mô hình đồng quản lý tài nguyên tại Khu bảo tồn biển CLC đã được nghiên cứu xây dựng và đã đạt được nhiều kết quả mong muốn như: bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái; tạo các ngành nghề sinh kế thay thế, bổ sung nhằm tăng thu nhập cho cộng đồng. Mô hình hoạt động theo nguyên tắc Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng hưởng lợi. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã chứng minh được ĐQL không phải là vấn đề chia sẽ quyền lực trực tiếp giữa Nhà nước và nhân dân mà là Nhà nước đồng thuận chia sẽ trách nhiệm và lợi ích cho người dân cùng đồng lòng tham gia ĐQL khai thác bền vững nguồn lợi tài nguyên, môi trường tại địa phương [25].

Một số đối tượng nguồn lợi đã được nghiên cứu và đã ban hành các văn bản qui định về mùa vụ cũng như kích thước khai thác như tôm hùm, cua đá [4], [10], [26], [33].

Đối với bào ngư, hiện vẫn chưa có những qui định về mùa vụ và kích thước khai thác trong khi bào ngư vành tai và bào ngư bầu dục ở CLC được xếp vào các loài có nguy cơ tuyệt chủng lớn (VU) [3].

CHƯƠNG 2.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

– Các loài bào ngư có mặt tại Cù Lao Chàm và các sinh cảnh của chúng.

– Ngư dân khai thác bào ngư, đại lý thu mua, chủ nhà hàng, du khách và người dân trên đảo.

2.1.2. Phạm vi nghiên cứu

Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam.

2.1.3. Thời gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2014.

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Cách tiếp cận

Đề tài đã chọn 3 cách tiếp cận cơ bản để giải quyết vấn đề:

2.2.1.1. Tiếp cận tài liệu

2.2.1.2. Tiếp cận cộng đồng

2.2.1.3. Tiếp cận thực địa

2.2.2. Các phương pháp nghiên cứu

2.2.2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

– Thông tin thứ cấp:

Nguồn thông tin thứ cấp được thu thập qua các tài liệu, các báo cáo khoa học, các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến bào ngư và quá trình khai thác, sử dụng cũng như những tác động đến tài nguyên này tại Cù Lao Chàm.

– Thông tin sơ cấp:

Đề tài đã chọn các phương pháp thu thập khác nhau để thu thập nguồn tri thức địa phương:

* Điều tra bằng bảng hỏi:

Bảng hỏi được sử dụng để thu thập thông tin, tri thức địa phương. Quy mô mẫu khảo sát trong điều tra được áp dụng theo công thức sau:

N

n= (2.1)

1 + N e2

(Nguồn: Nancy J. Helen F. Clair E, 2004, trích bởi Chu Mạnh Trinh, 2012)

– Phiếu điều tra số 1: Tham vấn các đối tượng khai thác trực tiếp số lượng phiếu điều tra được tính toán:

n1 = 30/(1+30*(0.1)2) = 23.07 (2.2)

– Phiếu điều tra số 2: Thu thập tri thức địa phương về khai thác, sử dụng và quản lý nguồn lợi bào ngư tại CLC. Số lượng phiếu điều tra được tính toán:

n2 = 45/(1+45*(0.1)2) = 31.03 (2.3)

* Phỏng vấn sâu:

Đề tài chọn các ngư dân có nhiều kinh nghiệm, thâm niên nghề nghiệp và có hiểu biết sâu về các đối tượng nghiên cứu và lãnh đạo các tổ chức có liên quan để phỏng vấn sâu, thảo luận các vấn đề có liên quan.

2.2.2.2. Phương pháp khảo sát và nghiên cứu thực địa

Đề tài sử dụng phương pháp lặn có khí tài (Scuba diving) để thực hiện các nội dung: thu thập mẫu vật, quan sát và miêu tả sinh cảnh (habitat) của bào ngư tại vùng biển Cù Lao Chàm và sử dụng máy GPS để xác định tọa độ vị trí lấy mẫu.

* Phương pháp mặt cắt [43]:

Chúng tôi khảo sát khu vực thu mẫu và quyết định đặt mặt cắt và các trạm thu mẫu ở các khu vực khác nhau. Các khu vực được chọn để tiến hành khảo sát thực địa dựa trên thông tin thu thập từ cộng đồng gồm 3 khu vực được ghi nhận hiện nay có nhiều bào ngư (Hục Nhàn, Sụp Lá, Đá Trắng), 2 khu vực được cho là có sự suy giảm mạnh nguồn lợi bào ngư (Hòn Dài, Hòn Mồ) và 2 khu vực chọn ngẫu nhiên (Bãi Nần, Đá Đen).

DSC02498

Hình 2.1. Thu mẫu bào ngư theo khung tiêu chuẩn (1mx1m)

Trên mỗi mặt cắt đặt 3 khung định lượng 1m2, khung thứ nhất ở độ sâu 2m, khung thứ 2 ở độ sâu 4m và khung thứ 3 ở độ sâu 8m.

bản đồ KNT CLC

6

7

5

4

1

2

3

Hình 2.2. Sơ đồ vị trí thu mẫu bào ngư trong Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm.

* Phương pháp thu thập, cố định mẫu vật:

Mẫu được thu bằng cách cậy hoặc nạo, thu thập hết tất cả các mẫu có trong khung tiêu chuẩn.

Ngoài ra, mẫu vật còn được thu thập qua ngư dân địa phương khai thác để bổ sung tư liệu nghiên cứu.

Mẫu vật sau khi thu thập được rửa sạch bằng cồn 70%, sau đó lưu giữ trong lọ nhựa, xử lý bằng cồn 75% và trên mỗi mẫu đều dán nhãn Etiket.

* Phương pháp đo đạc kích thước và sản lượng mẫu:

Ngoài việc đo đạc kích thước mẫu thu thập được qua các đợt khảo sát, chúng tôi còn thường xuyên đo đạc kích thước và sản lượng bào ngư tại nhà các chủ phương tiện khai thác hoặc hướng dẫn người dân trực tiếp đo đạc để lấy số liệu.

Kích thước và sản lượng bào ngư được đo đạc theo cách phân loại của người dân.

* Phương pháp đo các yếu tố môi trường:

Đề tài sử dụng một số thiết bị đo nhanh để đo một số thông số môi trường tại vị trí thu mẫu như:

– Đo nhiệt độ nước, Oxy hòa tan (DO) bằng máy HI 8424

– Đo độ pH bằng máy HI 9146

– Đo độ mặn bằng máy Hach Sension 5

2.2.2.3. Phương pháp phân loại mẫu vật

* Đề tài sử dụng các tài liệu định loại sau để tiến hành định danh khoa học bào ngư:

– R.Tucker Abbott & S.Peter Dance, 1986 [29].

– J.E. Poutiers, 1998 [42].

* Kiểm định mẫu: tại Viện sinh học nhiệt đới thành phố Hồ Chí Minh.

2.2.2.4. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu

Nhóm họp để xử lý thông tin phỏng vấn được.

Sử dụng phần mềm Microsoft Excell để xử lý số liệu, vẽ đồ thị và thực hiện các phân tích thống kê cần thiết.

2.2.2.5. Phương pháp xây dựng bản đồ

Xác định tọa độ phân bố của các loài bào ngư tại các khu vực thu mẫu, phối hợp với thông tin từ phiếu điều tra ngư dân và sử dụng ArcGIS/MapInfo để xây dựng nên bản đồ phân bố bào ngư tại Cù Lao Chàm.

Để xác định tần suất xuất hiện của các loài, thang phân bố được chia thành 5 bậc:

– Từ 0 – 20% ghi nhận: Hiếm gặp,

– Từ 21 – 40% ghi nhận: Ít gặp,

– Từ 41 – 60% ghi nhận: Trung bình,

– Từ 61 – 80% ghi nhận: Nhiều,

– Từ 81 – 100% ghi nhận: Rất nhiều.

2.2.2.6. Phương pháp chuyên gia

Trao đổi thông tin với các chuyên gia để kiểm chứng và hiệu chỉnh thông tin.

2.2.2.7. Các công cụ hỗ trợ cần thiết khác

Máy chụp hình trên cạn, chụp hình dưới nước, máy tính để phục vụ cho công tác nghiên cứu, phân tích và xử lý số liệu, hình ảnh…vv.

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm
Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm

CHƯƠNG 3.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. THÀNH PHẦN LOÀI

3.1.1. Các loài bào ngư có mặt tại Cù Lao Chàm

Qua 03 đợt khảo sát thu thập mẫu ở KBTB Cù Lao Chàm (tháng 5, 6, và 7/2014) đã ghi nhận được 2 loài bào ngư, bao gồm: bào ngư bầu dục (Haliotis ovina Gmelin, 1791) và bào ngư dài (Haliotis varia Linne, 1758).

3.1.2. Đặc điểm nhận dạng cơ bản

3.1.2.1. Loài Haliotis ovina (Gmelin, 1791)

• Tên tiếng Việt: Bào ngư bầu dục

• Tên địa phương: Bào ngư xanh

• Tên tiếng Anh: Oval abalone

• Đặc điểm hình thái:

bn1 sửa bn2 sửa

Hình 3.1. Bào ngư bầu dục Haliotis ovina (Gmelin, 1791)

3.1.2.2. Loài Haliotis varia (Linne, 1758)

• Tên tiếng Việt: Bào ngư dài

• Tên địa phương: Bào ngư vôi

• Tên tiếng Anh: Variable abalone

• Đặc điểm hình thái:

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm
Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm

bn5 sửa

Hình 3.2. Bào ngư dài Haliotis varia (Linne, 1758)

3.1.3. Khóa định loại các loài bào ngư

Phylum Mollusca (Ngành thân mềm)

Class Gastropoda (Lớp chân bụng)

Archaeogastropoda (Bộ chân bụng nguyên thủy)

Family Haliotidae (Họ bào ngư)

Genus Haliotis (Giống bào ngư)

Khóa định loại các loài bao ngư được phát hiện ở Cu Lao Chàm như sau:

1. Vỏ dạng hình bầu dục, có 4 – 6 ụ nhô cuối cùng trên gờ xoắn ốc gần mép vỏ biến thành dạng lỗ, kích thước cơ thể lớn………………… Haliotis ovina

2. Vỏ hình bầu dục dài, có 4 – 5 ụ nhô cuối cùng của gờ xoắn ốc gần mép vỏ biến thành dạng lỗ, kích thước cơ thể nhỏ………………………… Haliotis varia

3.2. PHÂN BỐ CỦA BÀO NGƯ

3.2.1. Một số thông số môi trường tại các khu vực thu mẫu

3.2.1.1. Độ mặn

Qua các đợt đo đạc tại các khu vực thu mẫu cho thấy, độ mặn giữa các khu vực ổn định trong giới hạn từ 30 – 31‰. Đây được xem là phần chuyển tiếp – phần tận cùng chuyển từ chế độ cửa sông sang vùng biển ven bờ thuộc vùng cửa sông [18]. Vì vậy hoạt động sống của các sinh vật vùng này chịu ảnh hưởng rất lớn từ dòng nước ngọt đổ ra từ Cửa Đại cũng như các trầm tích mang ra từ lục địa.

Độ mặn trung bình tại các khu vực khảo sát khoảng 30,2‰, đây là ngưỡng giá trị phù hợp cho sự sinh trưởng của bào ngư [34].

3.2.1.2. Nồng độ oxy hòa tan

Ôxy là một sản phẩm của quang hợp, đồng thời lại là nguyên liệu của quá trình hô hấp của sinh vật nên nồng độ Ôxy hoà tan trong nước biển và những biến động của nó có liên quan trực tiếp đến sự sống trong biển [5].

Kết quả nghiên cứu cho thấy, nồng độ oxy hòa tan tại các khu vực thu mẫu có sự dao động không lớn và nồng độ ôxy hòa tan trung bình tại các khu vực thu mẫu ở mức cao (4.92ppm) so với kết quả nghiên cứu của Lê Đức Minh tại vùng biển Nha Trang-Khánh Hòa là 4.6ppm [14]. Điều này rất thuận lợi cho hoạt động sinh trưởng phát triển của các loài bào ngư [14].

3.2.1.3. Nhiệt độ nước

Kết quả nghiên cứu về bào ngư Nhật Bản cho thấy nhiệt độ nước biển ảnh hưởng đến lượng thức ăn bào ngư ăn. Ở nhiệt độ nước biển 80C, bào ngư ít ăn. Khi nhiệt độ nước biển tăng lên 120C, bào ngư ăn lượng thức ăn bằng 6% trọng lượng cơ thể và khi nhiệt độ 200C ăn bằng 15% trọng lượng cơ thể [44].

Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiệt độ nước đo được ở các khu vực qua các lần thu mẫu, nhìn chung ít biến động, dao động trong khoảng 25,50C – 280C, nhiệt độ cao nhất (280C) đo được vào tháng 6. Theo kết quả nghiên cứu của Hà Đức Thắng [21], nhiệt độ đo được tại các khu vực thu mẫu là ngưỡng nhiệt độ phù hợp cho hoạt động sống của bào ngư.

3.2.1.4. Độ pH

Độ pH có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của thuỷ sinh vật, trong đó có nhiều loài rất nhạy cảm với sự biến đổi pH nước biển [5]. Kết quả cho thấy, độ pH tại các khu vực thu mẫu có trị số dao động từ 8,25 đến 8,45. Ở trị số này sẽ thuận lợi cho sự hòa tan của oxy không khí vào nước biển, ổn định sự sinh trưởng và phát triển của các loài thủy sinh vật [5].

Như vậy, từ kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố môi trường vẫn đang nằm trong ngưỡng thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của bào ngư tại Cù Lao Chàm. Bào ngư phân bố nhiều tại các khu vực có độ ôxy hòa tan cao, nhiệt độ và độ mặn ổn định như: Sụp Lá, Đá Trắng, Hục Nhàn.

3.2.2. Phân bố của bào ngư

3.2.2.1. Mật độ phân bố

Kết quả cho thấy, tại khu vực Sụp Lá có mật độ trung bình các loài bào ngư cao nhất, với 9 cá thể/m2. Tiếp đến là hai khu vực Hục Nhàn và Đá Trắng có mật độ trung bình các loài bào ngư xấp xỉ nhau, với 6 – 7 cá thể/m2. Hai khu vực Đá Đen và Bãi Nần có mật độ trung bình các loài bào ngư ngang nhau, với 3.5 cá thể/m2. Mật độ trung bình rất thấp tại khu vực Hòn Dài (2.5 cá thể/m2) và thấp nhất tại Hòn Mồ, chỉ với 1.5 cá thể/m2.

Bảng 3.8. Mật độ phân bố các loài bào ngư tại Cù Lao Chàm, năm 2014

STTTên khoa họcTên Việt NamHục NhànSụp LáĐá TrắngHòn DàiHòn MồBãi NầnĐá ĐenTrung bình
1Haliotis ovina (Gmelin, 1791)Bào ngư bầu dục2111.10.50.31.51.1
2Haliotis varia (Linne’, 1758)Bào ngư dài5851.413.223.7
Mật độ trung bình (cá thể/m2)7962.51.53.53.5

Mật độ cá thể bào ngư dài Haliotis varia dao động từ 1 – 8 cá thể/m2. Trong đó mật độ trung bình cao nhất là ở Sụp Lá, với 8 cá thể/m2. Thấp nhất là tại khu vực Hòn Dài, với 1 cá thể/m2.

Bào ngư bầu dục Haliotis ovina có mật độ trung bình dao động từ 0.3 – 2 cá thể/m2. Mật độ trung bình cao nhất là ở Hục Nhàn (2 cá thể/m2), thấp hơn là ở khu vực Đá Đen với 1.5 cá thể/m2, các khu vực còn lại nhìn chung đều có mật độ trung bình thấp.

3.2.2.2. Phân bố địa lý

Các loài bào ngư ở CLC phân bố khắp các đảo, cùng sống ở vùng dưới triều nhưng sinh cảnh phân bố lại khác nhau.

Đối với loài bào ngư bầu dục thì chúng thường sống ở vùng triều sâu hơn, từ 2 – 10m nước, lố đá tốt (lớn, đá sống), bề mặt đá trơn, nền đáy có cát, sỏi. Các khu vực phân bố nhiều bào ngư bầu dục như Hục Nhàn, Đá Bạc, Đá Đen. Vùng phân bố sinh thái của bào ngư bầu dục được thể hiện trong hình 3.4.

BAO NGU BAO DUC

Hình 3.4. Bản đồ phân bố bào ngư bầu dục ở Cù Lao Chàm, năm 2014.

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm
Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm

Hình 3.5. Bản đồ phân bố bào ngư dài ở Cù Lao Chàm, năm 2014.

Đối với bào ngư dài, chúng phân bố ở ven các đảo, ở độ sâu từ tuyến hạ triều đến một vài mét nước, lố đá nhỏ hơn, đặc biệt có nhiều hà chậu như Sụp Lá, Đá Trắng.

3.2.2.3. Phân bố theo thời gian

Mức độ xuất hiện các loài bào ngư trong tự nhiên tại vùng biển Cù Lao Chàm được thể hiện trong hình 3.6.

Hình 3.6. Phân bố theo thời gian của các loài bào ngư tại Cù Lao Chàm.

Qua hình 3.6, ta dễ dàng nhận thấy bào ngư dài xuất hiện nhiều từ tháng 2 đến tháng 6 nhưng nhiều nhất là từ tháng 3 đến tháng 5, giảm dần từ tháng 7 và thấp nhất từ tháng 9 đến tháng 10, sau đó mức độ phân bố lại tăng dần từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau. Bào ngư bầu dục xuất hiện nhiều nhất từ tháng 3 đến tháng 5, giảm dần từ tháng 6 và thấp nhất vào tháng 10, sau đó mức độ phân bố lại tăng dần từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau.

3.3. NHẬN ĐỊNH VỀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN CỦA BÀO NGƯ Ở CLC

3.3.1. Mùa vụ sinh sản của bào ngư

Kết quả khảo sát từ cộng đồng cho thấy, có hơn 83% ngư dân làm nghề khai thác bào ngư không biết loài này sinh sản vào thời gian nào. Gần 17% ngư dân khai thác bào ngư cho rằng, họ có thể nhận biết thời gian sinh sản của bào ngư nhờ quan sát kích thước của chúng. Các cá thể chuẩn bị sinh sản có kích thước lớn, gạch nhiều (tuyến sinh dục) nên khi ăn chúng thì thấy béo hơn. Tuy nhiên các nhận định này là khác nhau về thời điểm sinh sản của bào ngư qua các tháng trong năm (Hình 3.7).

Hình 3.7. Nhận định về thời gian sinh sản của bào ngư tại Cù Lao Chàm

Như vậy, những kiến thức về sinh học sinh sản của bào ngư đối với ngư dân khai thác bào ngư ở CLC còn rất hạn chế sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại của các quần đàn bào ngư trong Khu bảo tồn biển CLC.

3.3.2. Thời điểm xuất hiện con non

Kết quả khảo sát cho thấy, có đến 91% ý kiến cho rằng bào ngư non hầu như xuất hiện quanh năm. Ngoại trừ những tháng mùa đông sóng to, gió lớn (tháng 11, 12 dương lịch) người dân hầu như không khai thác nên không biết có bào ngư non xuất hiện hay không. Ngư dân khai thác bào ngư không quan tâm nhiều đến mức độ xuất hiện con non qua các tháng trong năm. Bởi lẽ, bào ngư non nhỏ, sống trong các nẻ đá, hang đá nên khó nhìn thấy. Vì vậy, mức độ nhận định của họ khá thấp và không đồng nhất.

Hình 3.8. Ghi nhận về mức độ xuất hiện bào ngư non trong tự nhiên.

Mức độ xuất hiện bào ngư non trong tự nhiên có thể là một trong những căn cứ đánh giá về hiện trạng sinh sản của bào ngư. Điều này có ý nghĩa quan trong trong việc đưa ra các giải pháp khoa học về bảo vệ và khai thác hợp lý bào ngư tại CLC.

3.3.3. Thời điểm bào ngư đạt kích thước lớn nhất trong tự nhiên

Khi tham vấn về thời điểm bào ngư đạt kích thước lớn nhất trong năm, có hơn 95% ý kiến ghi nhận về vấn đề này. Trong đó, có đến 66,67% ngư dân khai thác bào ngư cho rằng thời điểm bào ngư đạt kích thước lớn nhất trong tự nhiên vào tháng 4 và có 62,5% ý kiến cho rằng chúng đạt kích thước lớn nhất trong tự nhiên là vào tháng 5. Với tỉ lệ thấp hơn nhưng vẫn có các ý kiến khác nhau về thời điểm bào ngư đạt kích thước lớn nhất trong năm. Mức độ ghi nhận của cộng đồng về thời điểm bào ngư đạt kích thước lớn nhất trong năm được thể hiện trong hình 3.9.

Hình 3.9. Thời điểm bào ngư đạt kích thước lớn nhất

Qua 03 đợt khảo sát thực địa từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2014, bào ngư có kích thước lớn nhất thu được là 78mm đối với bào ngư bầu dục và đối với bào ngư dài là 56mm. Đối với bào ngư được ngư dân địa phương khai thác thì bào ngư bầu dục có kích thước lớn nhất đạt 84mm và bào ngư dài là 60mm. Các cá thể có kích thước lớn nhất chủ yếu được ngư dân khai thác được trong tháng 04 và 05. Điều này cho thấy thông tin thu thập từ cộng đồng về thời điểm bào ngư đạt kích thước lớn nhất trong năm là tương đối chính xác.

3.4. HIỆN TRẠNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG BÀO NGƯ TẠI CLC

3.4.1. Năng lực khai thác bào ngư tại Cù Lao Chàm

3.4.1.1. Nhân lực tham gia khai thác

Ngoài ngư dân trên đảo, các ngư dân các vùng biển lân cận (Đà Nẵng, Núi Thành, Lý Sơn) và cả du khách cũng tham gia khai thác bào ngư tại Cù Lao Chàm.

Đối với nhóm ngư dân khai thác bào ngư tại CLC, chúng tôi đã ghi nhận những thông tin cơ bảng sau (Bảng 3.10):

Bảng 3.10. Một số chỉ tiêu về nhân khẩu đối với các hộ ngư dân địa phương khai thác bào ngư.

Một số chỉ tiêu về nhân khẩu đối với các hộ khai thác bào ngư tại CLC
Tuổi trung bình người khai thác41,3
Số nhân khẩu trung bình trong các hộ3,92
Số người khai thác trung bình/hộ1,13

Kết quả cho thấy, độ tuổi trung bình của những ngư dân địa phương khai thác bào ngư nằm trong mức trung niên (41.3) và đang có dấu hiệu trẻ hóa. Kết quả trên cũng cho thấy, trung bình một người làm nghề khai thác bào ngư phải nuôi sống 3.08 người, tỉ lệ này khá cao so với các nhóm nghề khác tại CLC.

Như vậy, có thể nói nghề khai thác bào ngư đang giữ vai trò khá quan trọng trong cơ cấu ngành nghề của địa phương, thu hút nhiều ngư dân từ nhiều nơi đến khai thác, có ảnh hưởng khá lớn đến nguồn lợi thủy sản và sự đa dạng sinh học trong Khu bảo tồn biển CLC.

3.4.1.2. Công cụ và phương thức khai thác

Năm 2014, toàn xã Tân Hiệp có 13 phương tiện hoạt động khai thác bào ngư với khoảng 30 lao động trực tiếp tham gia khai thác bào ngư. Trong đó có đến 9 phương tiện thực hiện lặn có khí tài với khoảng 23 lao động, đây là phương thức chính để khai thác bào ngư. Nhờ sự hỗ trợ của các thiết bị, người thợ lặn có thể ở độ sâu từ 0 đến 20 mét nước hàng giờ để khai thác bào ngư nên đây là phương thức có khả năng khai thác triệt để nhất.

3.4.2. Hiện trạng khai thác bào ngư tại CLC

3.4.2.1. Mùa vụ và thời gian khai thác bào ngư

Thời gian khai thác bào ngư của ngư dân CLC được chia thành 2 mùa: mùa chính và mùa phụ với số ngày đi khai thác khác nhau giữa 2 mùa và được miêu tả chi tiết trong bảng 3.11.

Bảng 3.11. Thời gian đi khai thác bào ngư của ngư dân CLC

Chỉ tiêuMùa chínhMùa phụTổng cộng
Trung bình số tháng khai thác trong mùa chính6.15.9
Số ngày đi khai thác nhiều nhất trong một tháng2510
Trung bình số ngày đi khai thác trong một tháng17.24.1
Tổng số ngày đi khai thác của các ngư dân được khảo sát trong một năm25395753114

3.4.2.2. Sản lượng khai thác theo loài và kích thước

Kết quả về sản lượng bào ngư được khai thác theo loài và theo kích thước được thể hiện trong hình 3.12.

Hình 3.12. Sản lượng và kích thước bào ngư được khai thác

Bào ngư dài có kích thước bé (trung bình 115con/kg), chiếm 83% tổng sản lượng bào ngư được khai thác tại CLC.

3.4.2.3. Diễn biến sản lượng khai thác theo loài và theo kích thước

Tỉ lệ % các nhóm kích thước được khai thác đối với bào ngư bầu dục được thể trong hình 3.13.

Hình 3.13. Tỉ lệ các nhóm kích thước được khai thác đối với bào ngư bầu dục.

Kết quả ở hình 3.13 cho thấy, nhóm kích thước ưu thế được khai thác đối với bào ngư bầu dục là 40-65mm (chiếm 64.8%) và nhóm có tỉ lệ thấp nhất là kích thước nhỏ hơn 40mm (12.8%).

Đối với bào ngư dài, nhóm kích thước khai thác ưu thế là 35-48mm (chiếm ) và nhóm có tỉ lệ thấp nhất là có kích thước lớn hơn 48 mm. Tỉ lệ các nhóm kích thước được khai thác đối với bào ngư dài được thể hiện trong hình 3.14.

Hình 3.14. Tỉ lệ các nhóm kích thước được khai thác đối với bào ngư dài.

Về diễn biến sản lượng các loài bào ngư khai thác được từ tháng 3 đến tháng 9 được thể hiện trong hình 3.15.

Hình 3.15. Diễn biến sản lượng các loài bào ngư được khai thác từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2014

Kết quả cho thấy, sản lượng các loài bào ngư khai thác được tăng mạnh từ tháng 3 đến tháng 4 (Bào ngư dài: từ 409.2 kg tăng lên 752.7 kg; Bào ngư bầu dục: từ 80.5 kg tăng lên 116.3 kg) và duy trì ở mức ổn định trong tháng 4 và tháng 5, sau đó sản lượng các loài bào ngư khai thác được đã giảm mạnh từ tháng 6 đến tháng 9.

Cùng với sự giảm sút về sản lượng bào ngư được khai thác thì tỉ lệ các loại bào ngư có kích thước bé có chiều hướng gia tăng. Kết quả về diễn biến kích thước các loại bào ngư theo phân loại của cộng đồng khai thác từ tháng 3 đến tháng 9 được thể hiện trong hình 3.16.

Hình 3.16. Diễn biến tỉ lệ các loại bào ngư được khai thác theo phân loại của cộng đồng.

Nếu tình trạng như trên vẫn tiếp diễn trong nhiều năm tới thì kích thước bào ngư trong các quần đàn tự nhiên dần dần nhỏ lại và nguy cơ dẫn đến tuyệt chủng trong tự nhiên là rất rõ ràng.

3.4.2.4. Diễn biến kích thước khai thác theo thời gian

Theo ghi nhận của ngư dân Cù Lao Chàm, các loài bào ngư khai thác được có kích thước lớn nhất vào thời điểm tháng 4 và nhỏ nhất vào thánh 9. Diễn biến kích thước bào ngư khai thác tại Cù Lao Chàm theo ghi nhận của cộng đồng được biểu diễn trong hình 3.17.

Hình 3.17. Diễn biến kích thước bào ngư được khai thác tại CLC.

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm
Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm

3.4.3. Hiện trạng tiêu thụ sản phẩm bào ngư tại Cù Lao Chàm

3.4.3.1. Thị trường tiêu thụ sản phẩm bào ngư

Kết quả khảo sát cho thấy, thị trường tiêu thụ bào ngư rất đa dạng, trong đó hình thức tiêu thụ cho các đầu nậu ở CLC chiếm tỉ lệ cao nhất (41%), tiêu thụ tại các nhà hàng với tỉ lệ khá cao (26%). Ngoài ra còn nhiều hình thức tiêu thụ khác như: bán trực tiếp cho khách du lịch, bày bán ở chợ và cho dân trên đảo. Mức độ tiêu thụ của các hình thức được biểu thị qua hình 3.18.

Hình 3.18. Thị trường tiêu thụ bào ngư tại Cù Lao Chàm.

Như vậy, sản phẩm bào ngư có thị trường tiêu thụ rộng sẽ rất thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của ngư dân khai thác. Ngư dân khai thác luôn chủ động trong việc bán sản phẩm nên thu nhập cao và tương đối ổn định.

3.4.3.2. Chất lượng thịt bào ngư theo thời gian

Kết quả khảo sát cộng đồng, cùng với một số chủ nhà hàng và thực khách cho thấy, có đến 54% ý kiến không rõ về vấn đề này. Trong số các ý kiến có nhận định về chất lượng thịt bào ngư thì có 72,7% ý kiến cho rằng thịt bào ngư ngon nhất vào tháng 4, chất lượng thịt ngon nhất vào tháng 3 có 45,5% ý kiến ghi nhận. Diễn biến chất lượng thịt bào ngư theo thời gian được biểu diễn trong hình 3.19.

Hình 3.19. Thời điểm bào ngư đạt chất lượng thịt ngon nhất.

3.5. HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN VÀ QUẢN LÝ NGUỒN LỢI BÀO NGƯ TẠI CLC

3.5.1. Đánh giá chung về hiện trạng tài nguyên bào ngư tại CLC

3.5.1.1. Mức độ xuất hiện tai các khu vực đảo trong khai thác

Mức độ xuất hiện bào ngư trong khai thác tại các khu vực đảo CLC được thể hiện trong hình 3.20.

Hình 3.20. Các khu vực xuất hiện bào ngư tại Cù Lao Chàm

Kết quả cho thấy, hiện nay các khu vực bào ngư vẫn còn xuất hiện nhiều theo ghi nhận của cộng đồng là Sụp Lá, Hục Nhàn, Đá Trắng. Đây là những khu vực khá xa khu dân cư, thường có sóng lớn và đặc biệt là có điều kiện môi trường thuận lợi: có nhiều rạn đá nhô ra biển, thức ăn tự nhiên phong phú và dòng chảy tương đối mạnh tạo nên sự thông thoáng nước.

3.5.1.2. Sự suy giảm nguồn lợi bào ngư tại một số khu vực đảo CLC

Theo ghi nhận của cộng đồng khai thác bào ngư tại CLC thì sự suy giảm bào ngư diễn ra tại hầu hết các khu vực đảo thuộc quần đảo CLC với mức độ khác nhau được thể hiện trong hình 3.21.

Hình 3.21. Sự suy giảm bào ngư tại một số khu vực đảo CLC

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các khu vực Chuồng Dê (Hòn Dài), Trong De (Hòn Mồ), Đá Tàu (Hòn Dài) được ghi nhận là các khu vực trước đây có nhiều bào ngư nhưng hiện nay đã suy giảm nghiêm trọng. Khu vực Chuồng Dê với sự ghi nhận của 71,4% cộng đồng khai thác bào ngư tại CLC, tiếp đến là khu vực Trong De với sự ghi nhận của 66,7% và Đá Tàu (57,1%).

Như vậy các khu vực Chuồng Dê, Đá Tàu (Hòn Dài) và Trong De (Hòn Mồ) được cộng đồng đánh giá là những điểm thể hiện rõ nét nhất về sự suy giảm nguồn lợi bào ngư. Nguyên nhân chính được cho là do các đảo này nằm khá gần với dân cư đảo CLC, thuộc mặt phía Tây của đảo chính, thời tiết thuận lợi hơn (được đảo chính che chắn) nên rất dễ tiếp cận. Chính vì thế ngư dân và cả du khách đều dễ dàng khai thác bào ngư tại các khu vực này với áp lực và cường độ cao. Hơn nữa các đảo này nằm gần và trực diện với hướng chảy ra từ Cửa Đại, dòng chảy từ cửa sông mang theo nhiều trầm tích, phù sa bám vào các phiến đá, làm cho giá thể bám của bào ngư bị thu hẹp. Điều này tất yếu sẽ dẫn đến sự suy giảm về nguồn lợi bào ngư trong tự nhiên.

Các khu vực còn lại, nguồn lợi bào ngư đều có sự suy giảm nhưng với mức độ đánh giá của cộng đồng là ít hơn. Đó là do các khu vực này hầu hết đều khá xa khu dân cư, sóng lớn, thời tiết bất lợi nên việc khai thác gặp khó khăn hơn.

3.5.2. Hiện trạng quản lý nguồn lợi bào ngư

Đối với bào ngư, theo kết quả khảo sát cho thấy, có 91% ý kiến cộng đồng cho rằng hiện tại vẫn chưa có khung thể chế, pháp lý để quản lý đối tượng này. Chỉ có 9% ý kiến cộng đồng cho rằng có quản lý, nhưng đơn thuần chỉ là theo dõi sản lượng và kích thước các loài khai thác được (trong đó có bào ngư) do BQL Khu bảo tồn biển CLC thực hiện.

3.5.3. Những khó khăn và mâu thuẫn phát sinh trong khai thác, quản lý

3.5.3.1. Những khó khăn của nghề khai thác bào ngư

Qua kết quả khảo sát, những khó khăn được đề tài phân tích bao gồm:

– Tuy không có qui định về thời gian khai thác nhưng không gian khai thác bị giới hạn theo phân vùng cấm của Khu bảo tồn biển CLC, tức không được khai thác trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt.

– Lực lượng quản lý mỏng, địa bàn khá rộng cùng với phương tiện hoạt động chưa tốt nên công tác tuần tra và giám sát các đối tượng xâm phạm vùng cấm gặp rất nhiều khó khăn, nhất là các ngư dân từ Đà Nẵng, Núi Thành. Trên thực tế, nguồn thông tin hỗ trợ đắc lực cho công tác tuần tra là do cộng đồng thông báo.

– Chính quyền địa phương gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý.

– Hầu hết ngư dân khai thác trên đảo và đa số cán bộ có chức năng liên quan đều không biết về các đặc điểm sinh sản của bào ngư nên rất khó đề xuất các giải pháp bảo vệ chúng.

– Tài nguyên ngày càng cạn kiệt, khai thác càng khó khăn, hiện tại nghề khai thác bào ngư đêm lại thu nhập cao và tương đối ổn định nên không có lựa chọn nào khác ngoài nghề này.

– Trong mùa du lịch cao điểm, tuy giá bào ngư có tăng cao nhưng không có sản phẩm để bán. Thời gian này bào ngư khai thác với kích thước rất nhỏ làm cho chúng không có thời gian tái sinh, mất cân bằng sinh thái.

3.5.3.2. Những mâu thuẫn phát sinh trong cộng đồng người khai thác

Mặc dù mang lại thu nhập cao nhưng nghề khai thác bào ngư tiềm ẩn nhiều rủi ro nguy hiểm, đặc biệt là nghề lặn có khí tài và thường thì chỉ có các ngư dân nhiều kinh nghiệm mới theo nghề này. Tuy nhiên do nhu cầu sử dụng bào ngư ngày càng tăng đã thu hút khá nhiều ngư dân trẻ tuổi vào nghề trong những năm gần đây.

Theo quan sát của ngư dân địa phương và bản thân khi thực hiện đề tài, thường xuyên có 2 – 3 thuyền từ Đà Nẵng, khoảng 15 thuyền từ Núi Thành, Quảng Ngãi hoạt động khai thác các loại thủy hải sản tại vùng biển CLC, trong đó có bào ngư. Trong thực tế đã phát sinh mâu thuẫn lợi ích giữa ngư dân bên trong và bên ngoài Khu bảo tồn. Vấn đề nảy sinh ở đây là các nhóm ngư dân bên ngoài khai thác với qui mô lớn hơn, trang thiết bị có tính chất hủy diệt cao hơn. Và đặc biệt là hoạt động khai thác của các nhóm ngư dân này tiến hành vào ban đêm nên dễ lẫn tránh được sự tuần tra, giám sát của các lực lượng chức năng. Hoạt động tuần tra của các lực lượng chức năng vẫn diễn ra thường xuyên, phát hiện không ít trường hợp xâm phạm vào các vùng cấm và đã xử lý theo qui định của pháp luật. Tuy nhiên, khung xử phạt hành chính được qui định đối với các cấp chức năng khác nhau là khác nhau và những đối tượng vùng ngoài vẫn chấp nhận bị xử phạt hành chính vì lợi ích thu được là lớn hơn nhiều so với mức xử phạt. Ngư dân địa phương không ít lần phát hiện các phương tiện vùng ngoài hoạt động khai thác trong phân vùng cấm nghiêm ngặt nhưng các lực lượng chức năng không kiểm soát được. Điều này đã làm cho ngư dân địa phương đôi lúc có những suy nghĩ rất tiêu cực, đó là họ sẽ không giữ gìn và bảo vệ đa dạng sinh học nữa, vì “có giữ thì cũng để cho ngư dân vùng khác đến khai thác hết”.

3.6. XÂY DỰNG CÁC NHÓM GIẢI PHÁP

3.5.3.1. Nhóm giải pháp kỹ thuật

(1) Cần tiến hành các nghiên cứu về các đặc điểm sinh học, sinh sản và môi trường sinh thái của bào ngư làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các quy định cụ thể về bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại CLC.

(2) Di chuyển các cá thể từ ngoài vùng về vùng bảo vệ nghiệm ngặt của Khu bảo tồn biển để bảo vệ tốt hơn.

(3) Vào ngày 1 tháng 4 hàng năm (ngày hội làng cá), mua giống bào ngư về thả trong vùng nghiêm ngặt.

(4) Cần nghiên cứu gây nuôi nhân tạo từ các nguồn giống tự nhiên hoặc mua giống từ các trại nhân giống quốc gia để phục hồi nguồn lợi đã suy giảm trong tự nhiên.

3.5.3.2. Nhóm các giải pháp quản lý

(1) Cấm khai thác bào ngư ở một số khu vực đảo.

Bảng 3.12. Các khu vực cần được bảo vệ bào ngư.

Khu vực đề nghị bảo vệ bào ngưXếp hạng% đồng ýMức độ
Chuồng Dê188.46154CAO
Trong Mồ276.92308
Trên Tai365.38462
Đá Tàu457.69231
Dưới Lá550
Đá Đen634.61538TRUNG BÌNH
Lố Gai634.61538
Dưới Thùng823.07692
Bãi Nần823.07692
Ba Lố1015.38462
Mũi Bãi Bìm1015.38462
Mũi Bãi Xếp1015.38462
Trên Lá1015.38462
Bao Gạo1411.53846THẤP
Đá Đứng1411.53846
Bãi Chồng1411.53846
Mũi Đá177.692308
Khô Mẹ177.692308
Mũi Thờ193.846154
Khô Con193.846154

Kết quả khảo sát cho thấy, 5 khu vực có điều kiện thuận lợi nhất để bảo vệ nghiêm ngặt là Chuồng Dê, Trong Mồ, Trên Tai, Đá tàu, Dưới Lá. Ngoài các khu vực đã nằm trong phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt của Khu bảo tồn biển CLC, cộng đồng đã đề xuất cần khoanh vùng bảo vệ nghiệm ngặt đối với khu vực Chuồng Dê và Dưới Lá.

(2) Khoanh vùng bảo vệ luân phiên.

Nhận định chung về khoanh vùng bảo vệ luân phiên từ kết quả khảo sát được thể hiện trong hình 3.22.

Hình 3.22. Nhận định chung về khoanh vùng bảo vệ luân phiên.

Kết quả cho thấy, có hơn 78% ý kiến được khảo sát đề nghị nên chọn những khu vực có ảnh hưởng nhiều đến quá trình sống và phát triển của bào ngư để khoanh vùng bảo vệ luân phiên. Trên quan điểm này, cộng đồng nhận thấy rằng việc khoanh vùng bảo vệ luân phiên là cần thiết trước thực trạng khai thác quá mức, nguồn lợi đang suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng, kích thước, vùng phân bố…vv. Đây là một trong những cách hạn chế khai thác, bảo vệ và duy trì quần đàn tự nhiên; có thời gian cho bào ngư tái tạo nguồn lợi.

(3) Điều chỉnh kích thước khai thác.

Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm ngày càng được nhiều người biết đến, làm cho lượng du khách đến tham quan CLC gia tăng nhanh chóng trong thời gian qua. Sự gia tăng lượng du khách đến CLC đã gây áp lực rất lớn đến nguồn lợi hải sản đánh bắt ở địa phương, trong đó có bào ngư. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguồn lợi bào ngư ở CLC suy giảm cả về sản lượng và kích thước theo thời gian. Trước thực tế đó, cộng đồng dân cư CLC nhận định rằng nếu không nhanh chóng có biện pháp bảo vệ thích hợp thì nguy cơ biến mất nguồn lợi này là rất rõ ràng. Bằng kinh nghiệm bản thân, cộng đồng CLC đã đề xuất nâng kích thước bào ngư được khai thác so với thực tế. Kích thước bào ngư đề xuất được phép khai thác thể hiện trong hình 3.23.

Hình 3.23. Kích thước bào ngư đề nghị được phép khai thác.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, kích thước bào ngư khai thác được đề xuất là 44mm/cá thể đối với bào ngư bầu dục và đối với bào ngư dài là 34mm/cá thể.

Bào ngư là động vật thân mềm có tốc độ sinh trưởng chậm [34]. Bào ngư tăng trưởng 20-30mm mỗi năm, trong vài trường hợp chỉ tăng 10mm/năm. Tốc độ tăng trưởng của bào ngư bị ảnh hưởng rất nhiều bởi mức độ và loại chất dinh dưỡng cũng như các yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến chức năng sinh lí của cơ thể. Do đó, kích cỡ khai thác bào ngư trong tự nhiên là vấn đề cốt lõi trong bảo vệ, phục hồi và tái tạo nguồn lợi trong tự nhiên. Kích cỡ khai thác càng hợp lí, khả năng phục hồi quần đàn tự nhiên càng lớn.

(4) Thay đổi thời gian khai thác.

Qua khảo sát tri thức địa phương, trên cơ sở vừa hạn chế thời gian khai thác vừa đảm bảo ổn định sinh kế, cộng đồng đã đề nghị nên khai thác bào ngư trong một thời gian nhất định như thể hiện trong hình 3.24.

Hình 3.24. Thời gian đề nghị được phép được khai thác bào ngư.

Theo nhận định của cộng đồng thì chỉ nên khai thác bào ngư từ tháng 3 đến tháng 8 trong năm, trong đó có 64 – 100% cộng đồng đề nghị nên khai thác từ tháng 4 đến tháng 7.

Như vậy, việc khoanh vùng bảo vệ hay khai thác bào ngư, điều chỉnh kích thước hay thời gian khai thác bào ngư đã được sự đồng thuận nhất trí cao của cộng đồng địa phương. Tuy nhiên những nhận định trên đây đều chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm lâu năm trong nghề trên cơ sở đảm bảo sinh kế của người dân. Do vậy trong thời gian sớm nhất, cần có những nguyên cứu chuyên sâu về các đặc điểm sinh vật học và sinh thái trên đối tượng bào ngư tại CLC làm cơ sở khoa học cho việc khoanh vùng bảo vệ hay khai thác luân phiên, ban hành những qui định về kích thước và thời gian được phép khai thác.

(5) Nghiên cứu tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư, đặc biệt là các đối tượng đang sống quá lệ thuộc vào nguồn lợi bào ngư tự nhiên trên đảo. Mở các lớp đào tạo nghề miễn phí như đào tạo hướng dẫn viên du lịch, dạy tiếng anh cho cộng đồng dân cư; làm nước mắm; trồng rau sạch (trồng rau mầm, rau thủy canh); làm quà lưu niệm bán cho du khách. Hoặc có chính sách cho người dân vay vốn với lãi suất thấp để chuyển đổi sinh kế.

(6) Thành lập các tổ tự quản bảo vệ tài nguyên và môi trường theo từng thôn, khuyến khích sự tham gia quản lý của cộng đồng nhằm ngăn ngừa, phát hiện và thông báo kịp thời các hành vi phạm pháp.

(7) Tăng cường phối hợp hoạt động của các cơ quan chức năng như UBND Xã, Đồn biên phòng, BQL Khu bảo tồn biển…để giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của tổ chức, cá nhân trên địa bàn xã đảo.

3.5.3.3. Nhóm các giải pháp giáo dục – truyền thông

Tăng cường hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng cũng như du khách thông qua phát tài liệu, pano, poster, bưu thiếp… Hoặc thông qua các buổi họp dân tại các thôn, tổ dân cư kết hợp thảo luận các vấn đề liên quan đến bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý các loại nguồn lợi trong khu bảo tồn.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

KẾT LUẬN

1. Qua nghiên cứu từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2014, đề tài đã xác định được ở vùng biển CLC hiện có 2 loài bào ngư gồm bào ngư bầu dục (Haliotis ovina Gmelin, 1791) và bào ngư dài (Haliotis varia Linne, 1758).

2. Trong 2 loài bào ngư đề tài đã xác định thì loài bào ngư bầu dục nằm trong Danh lục đỏ Việt nam 2007 đang trong tình trạng nguy cấp (VU).

3. Đối với loài bào ngư vành tai, trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài không bắt gặp cá thể nào.

4. Bào ngư ở vùng biển CLC phân bố hầu hết ven các đảo. Chúng thường sống bám ở san hô hay kẻ đá của các rạn đá tảng nhô ra biển nơi nước trong, sóng vỗ, độ mặn ổn định (30.2‰) và độ oxy hòa tan cao (4.92ppm).

5. Ngư dân CLC nhận định từ tháng 3 đến tháng 5 bào ngư xuất hiện với mức độ nhiều nhất và từ tháng 9 đến tháng 12 bào ngư xuất hiện với mức độ rất thấp.

6. Trong 2 loài bào ngư đã xác định ở CLC thì chỉ có loài bào ngư dài phân bố với mật độ trung bình cao (3.7 cá thể/m2) và cung cấp sản lượng vào khoảng 5327,5 kg/năm, chiếm tỉ lệ 83,49% tổng sản lượng bào ngư được khai thác tại CLC. Loài bào ngư bầu dục có mật độ phân bố trung bình thấp hơn nhiều so với bào ngư dài (1.1 cá thể/m2), vì vậy cung cấp sản lượng thấp, với 1053.5kg/năm.

7. Mùa vụ khai thác bào ngư của ngư dân CLC tập trung từ tháng 3 đến tháng 8. Đây là mùa khách du lịch đến tham quan và sử dụng thực phẩm bào ngư tại CLC. Trong mùa khai thác chính, trung bình 1 người thợ lặn hoạt động 17,2 ngày/tháng, có thời điểm cường độ hoạt động lên đến 25 ngày/tháng.

8. Bào ngư khai thác tại CLC được tiêu thụ dưới nhiều hình thác khác nhau, chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu của khách tham quan. Trong đó phần lớn là phân phối trực tiếp cho các đầu nậu, các nhà hàng tại CLC.

9. Hiện tại, kích thước bào ngư bầu dục được khai thác dao động từ 29 mm đến 84 mm, trong đó nhóm chiếm ưu thế có kích thước từ 40mm đến 65mm. Kích thước bào ngư dài được khai thác dao động từ 23mm đến 60mm, trong đó nhóm chiếm ưu thế có kích thước từ 35mm đến 48mm.

10. Bên cạnh những kết quả đạt được, hạn chế của đề tài này là chưa có điều kiện nghiên cứu chuyên sâu về mùa vụ sinh sản cũng như kích thước thành thục sinh dục lần đầu của bào ngư tại vùng biển CLC.

KIẾN NGHỊ

1. Trong suốt thời gian nghiên cứu, đề tài không bắt gặp cá thể bào ngư vành tai nào. Điều này cho thấy mức độ suy giảm nghiêm trọng đối với loài này trong tự nhiên. Để phục hồi và bảo tồn loài bào ngư vành tai ở CLC, cần nghiên cứu giải pháp bảo tồn nguồn gen đối với loài bào ngư này.

2. Trước mắt, cần xem xét kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Chung [8] và Lê Đức Minh [14] để ban hành kịp thời các qui định về mùa vụ cũng như kích thước bào ngư được phép khai thác trong tự nhiên, đặc biệt là bào ngư bầu dục. Cần cấm khai thác bào ngư bầu dục trong tháng 3-4 và tháng 8. Kích thước bào ngư bầu dục được phép khai thác phải lớn hơn 40mm.

3. Cần có những nghiên cứu tiếp theo về đối tượng bào ngư tại CLC: đặc điểm sinh học (nguồn thức ăn của bào ngư, tốc độ sinh trưởng của bào ngư), sinh sản (mùa vụ sinh sản, kích thước thành thục sinh dục lần đầu)…để có cơ sở khoa học cho việc xây dựng các giải pháp bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lí, đảm bảo sự phát triển bền vững.

4. Ngoài ra cần nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo hoặc mua giống bào ngư non tại các trại giống quốc gia để tái tạo nguồn lợi bào ngư trong tự nhiên. Điều này không chỉ góp phần vào sự duy trì, phát triển của các quần đàn bào ngư tại vùng biển CLC, đảm bảo sự phát triển bền vững trong KBTB CLC mà còn góp phần đáng kể vào việc thay đổi cơ cấu ngành nghề của ngư dân địa phương (nuôi bào ngư), đáp ứng được nhu cầu cao của thực khách, nâng cao mức thu nhập cho ngư dân địa phương.

5. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi thu thập được những thông tin mang tính chất định tính là chủ yếu, đó là hạn chế của phương pháp này. Tuy nhiên đây là cơ sở quan trọng để tiến hành các nghiên cứu thực địa. Vì vậy, để đạt kết quả cao cần xây dựng thật tốt các câu hỏi sử dụng trong bảng hỏi.

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm. Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm. Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi bào ngư tại Cù Lao Chàm

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN KHOA HỌC\THU DONG\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *