Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng

Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng

Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng

1. Lý do chọn đề tài

Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) lần đầu tiên được nhắc đến trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của Doanh nhân (Social Responsibilities of the Businessman) của tác giả Howard Rothmann Bowen vào năm 1953 và đây là cuộc thảo luận toàn diện đầu tiên về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội. Từ đó CSR bắt đầu trở thành đề tài nghiên cứu và trở nên phổ biến trong những năm 1980 trên thế giới. Sau cuộc khủng hoảng tài chính cuối năm 2007, CSR một lần nữa trở thành chủ đề được nhiều người, tổ chức quan tâm và nghiên cứu vì quan điểm cho rằng, trong điều kiện thị trường có nhiều bất ổn, một trong những yếu tố giúp doanh nghiệp đứng vững trong khủng hoảng tài chính là do CSR. Ngày nay, cùng với xu hướng phát triển bền vững, CSR đã được nhiều doanh nghiệp áp dụng vào công việc kinh doanh của mình như một chiến lược dài hạn nhằm tạo ra một giá trị chung cho doanh nghiệp và cho toàn xã hội.

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CSR. Tùy thuộc vào từng góc độ, quan điểm, chức năng, điều kiện cũng như trình độ phát triển mà mỗi người nghiên cứu, tổ chức, chính phủ có một nhìn nhận khác về nó. Nhưng về cơ bản CSR là cam kết của doanh nghiệp rằng sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp luôn đi cùng với việc đảm bảo lợi ích chung và phát triển của toàn xã hội. Xã hội ở đây bao hàm một ý nghĩa sâu, rộng gồm các vấn đề liên quan đến: cách ứng xử của doanh nghiệp đến các bên liên quan trong quá trình hoạt động như đội ngũ cán bộ, công nhân viên, người lao động thuộc doanh nghiệp, các nhà sản suất, cung ứng nguyên vật liệu, đối tác đến người tiêu dùng. Đồng thời đề cập đến trách nhiệm đối với các vấn đề môi trường, trách nhiệm với sự phát triển của cộng đồng như các hoạt động tình nguyện, nhân đạo, tài trợ, và các vấn đề xã hội khác.

Trên thế giới, CSR đã được áp dụng rộng rãi, đặc biệt là trong các lĩnh vực tài chính, thương mại và bán lẻ, … nơi các hoạt động kinh doanh tạo ra đáng kể lợi ích từ các bên liên quan. Trong ngành xây dựng, CSR đang ngày càng phát triển trong những năm gần đây [58]. Đặc điểm đặc thù của ngành xây dựng gắn liền với sự phát triển của một quốc gia, chẳng hạn việc tạo ra nhiều công trình, nhà máy công nghiệp và các cơ sở hạ tầng giúp cho việc phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao điều kiện sống, sức khỏe, … của con người. Bên cạnh đó, ngành xây dựng cũng là một nguồn cung cấp các cơ hội việc làm và các phương tiện kiếm sống cho đông đảo người lao động như những người hành nghề chuyên nghiệp, những người lao động có kỹ năng và không có kỹ năng.

Tuy nhiên ngành xây dựng có nhiều nguy cơ, ảnh hưởng tiêu cực đến con người, môi trường, xã hội như: sử dụng nhiều lao động với mức tiếp xúc với các tai nạn cao, do đó làm cho việc xây dựng trở nên kém an toàn hơn đối với công nhân xây dựng. Ngoài ra , ngành xây dựng cũng gồm nhiều bên liên quan như cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư, thiết kế, thi công xây dựng, cung ứng vật tư, người sử dụng, … hình thành nên nhiều mối quan hệ. Do kết quả của sự cạnh tranh gay gắt và tìm kiếm lợi nhuận, nhiều tổ chức xây dựng hoạt động không lành mạnh. Ngành xây dựng cũng gắn liền với việc lạm dụng đất, sử dụng quá mức tài nguyên [38], năng lượng và gây ô nhiễm môi trường thông qua các hình thức phát thải khí nhà kính, bụi, chất thải, … Điều này ảnh hưởng xấu đến môi trường và hệ sinh thái.

Vì những tác động và ảnh hưởng như trên, việc thực hiện CSR để duy trì những khía cạnh có ích cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực từ ngành xây dựng hứa hẹn sẽ đem lại sự ảnh hưởng tích cực đến xã hội, góp phần lớn cho mục tiêu phát triển bền vững của toàn cầu. Ở Việt Nam hiện nay, CSR đã có được sự quan tâm, tìm hiểu của nhiều doanh nghiệp, nhưng chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, trong các lĩnh vực thương mại, tài chính, còn trong ngành xây dựng các nghiên cứu chưa được thực hiện nhiều. Với các đặc điểm riêng của ngành xây dựng như đã đề cập ở trên, khi các doanh nghiệp xây dựng nhận thức và áp dụng trách nhiệm xã hội vào tổ chức của mình sẽ có thể mang lại lợi ích rất lớn về mặt xã hội cũng như giảm thiểu được các vấn đề về môi trường giúp ích cho sự phát triển bền vững. Ngoài ra khi nền kinh tế ngày một phát triển, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ ngày càng phức tạp và gay gắt thì các hoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro, xây dựng uy tín, nâng cao danh tiếng, từ đó mang lại nhiều lợi ích kinh doanh cho doanh nghiệp.

Xuất phát từ các vấn đề nêu trên và để hoàn thiện về mặt lý luận, các phương pháp khoa học về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, học viên đề xuất lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng” làm luận văn tốt nghiệp của mình.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện Trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng.

Ðề xuất một số giải pháp tiềm năng nhằm thực hiện Trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Ðối tượng nghiên cứu: Giải pháp tiềm năng thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng.

Phạm vi nghiên cứu:

– Về nội dung: Giải pháp thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng.

– Về địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu các doanh nghiệp đã và đang thi công xây dựng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

– Về thời gian nghiên cứu: Năm 2021.

4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Cách tiếp cận:

Nghiên cứu các quy định, hướng dẫn của nhà nước về việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp. Từ các lý thuyết đó tìm ra các vấn đề cốt lõi của trách nhiệm xã hội và tiến hành khảo sát thực trạng thực hiện, khảo sát ý kiến về một số giải pháp tiềm năng thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng.

4.2. Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: khảo sát được thực hiện bằng cách gửi bảng câu hỏi trực tiếp, gửi thư điện tử và khảo sát qua công cụ google Form. Sử dụng kỹ thuật lấy mẫu thuận tiện, trong đó các đối tượng được hướng đến trong nghiên cứu là những người làm trong lĩnh vực xây dựng tại các doanh nghiệp xây dựng, thiết kế, các sở ban ngành chuyên môn xây dựng, môi trường.

Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu: thu thập, tổng hợp các tài liệu hiện có về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, dữ liệu từ phiếu khảo sát và tiến hành phân tích số liệu.

Một số phương pháp kết hợp khác để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề được đặt ra.

5. Những đóng góp của đề tài

Tổng quan, đánh giá được thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn Đà Nẵng hiện nay.

Ðề xuất một số giải pháp thực hiện Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực môi trường.

6. Bố cục đề tài

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 – Tổng quan về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

CHƯƠNG 2 – Phương pháp nghiên cứu

CHƯƠNG 3 – Phân tích dữ liệu

KẾT LUẬN

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Tổng quan về trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp (CSR)

1.1.1. Các khái niệm về CSR

1.1.2. Một số bộ tiêu chuẩn về CSR hiện nay

1.1.3. Lợi ích của việc thực hiện CSR đối với các doanh nghiệp

1.1.3.1 Tối ưu hóa hoạt động và duy trì sự bền vững của doanh nghiệp

1.1.3.2. Lợi thế cạnh tranh, danh tiếng của tổ chức

1.1.3.3. Khả năng thu hút và giữ chân người lao động, duy trì tinh thần, cam kết và năng suất của người lao động

1.2. Trách nhiệm xã hội về lĩnh vực môi trường của các doanh nghiệp xây dựng

1.2.1. Ngành xây dựng và các vấn đề về môi trường

1.2.1.1. Tình hình môi trường trên thế giới, ảnh hưởng của ngành xây dựng và các giải pháp đang được áp dụng

1.2.1.2. Tình hình môi trường tại Việt Nam hiện nay, ảnh hưởng của ngành xây dựng và các giải pháp đang được áp dụng

1.2.1.3. Tình hình môi trường tại Đà Nẵng, ảnh hưởng của ngành xây dựng và các giải pháp đang được áp dụng

1.2.2. Các nghiên cứu CSR về lĩnh vực môi trường trong ngành xây dựng

1.2.3. Tìm hiểu thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội và các quy định trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng

1.3. Kết luận chương 1

Chương 1 đã trình bày các nội dung về:

Tổng quan về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, các khái niệm về CSR của các tổ chức qua các giai đoạn trên thế giới, các bộ tiêu chuẩn CSR phổ biến hiện nay và các lợi ích khi doanh nghiệp áp dụng CSR vào công việc kinh doanh của mình.

Các ảnh hưởng của ngành xây dựng đến môi trường hiện nay, các nghiên cứu CSR về lĩnh vực môi trường của ngành xây dựng. Từ đó rút ra bảng tổng hợp thông qua các nghiên cứu, ngoài ra tham khảo thêm ý kiến chuyên gia đúc rút ra các giải pháp tiềm năng thúc đẩy việc thực hiện CSR trong lĩnh vực môi trường phục vụ cho việc khảo sát. Bên cạnh đó, sử dụng các tiêu chí trong tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 26000:2013 và luật bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 tìm hiểu thực trạng thực hiện CSR hiện nay.

Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng
Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Quy trình nghiên cứu

2.2. Quy trình thiết kế bảng câu hỏi khảo sát

2.3. Quy trình thu thập và xử lý số liệu

2.3.1. Xác định kích thước mẫu

2.3.2. Kỹ thuật lấy mẫu

2.3.3. Phương pháp thu thập dữ liệu

2.3.4. Làm sạch và mã hóa mẫu

2.4. Phân tích dữ liệu

2.4.1. Thống kê mô tả

2.4.2. Kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s alpha

2.4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis)

2.5. Kết luận chương 2

Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của các nội dung sau:

– Quy trình nghiên cứu: trình bày các bước trong nghiên cứu từ khi xác định được đề tài, mục tiêu cho tới khi có được dữ liệu tiến hành phân tích và đưa đến kết luận. Đây là cách thức nghiên cứu một cách tổng quát.

– Quy trình thiết kế bảng câu hỏi: trình bày các bước để thiết kế ra bảng câu hỏi khảo sát, tóm tắt lại các nghiên cứu trước và bổ sung thêm các ý kiến của chuyên gia.

– Quy trình thu thập và xử lý số liệu: nêu ra cách xác định kích thước mẫu, kỹ thuật lấy mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu và làm sạch, mã hóa mẫu được sử dụng trong bài nghiên cứu

– Phân tích dữ liệu: xác định các phương pháp, công cụ để phân tích dữ liệu sau khi thu thập được. Bao gồm thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA. Phần mềm sử dụng cho nghiên cứu là excel và SPSS.

CHƯƠNG 3 – PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

3.1. Thiết kế bảng khảo sát

3.1.1. Bảng khảo sát

Sau khi phân tích các nghiên cứu trước đây, học viên đề xuất các nội dung chính cần khảo sát như sau:

– Phần I – Thông tin cá nhân

– Phần II – Khảo sát nhận thức về trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường

– Phần III – Khảo sát thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội và các quy định trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng

– Phần IV – Khảo sát các giải pháp tiềm năng thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng

3.1.2. Phần khảo sát thực trạng về thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường tại thành phố Đà Nẵng

3.1.3. Phần khảo sát về các giải pháp tiềm năng thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng

Bảng 3.3. Các giải pháp tiềm năng thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng

STTNhóm nhân tố/ Tiêu chíKý hiệu
INhóm giải pháp liên quan đến chính sách pháp luật
1Xây dựng một hệ thống đánh giá CSR toàn diện dành riêng cho ngành xây dựng. Trong đó có sự kết hợp của tự nguyện và bắt buộc.CSPL1
2Cơ quan chuyên môn tăng cường hỗ trợ, hướng dẫn thực hiện CSR và đánh giá mức độ thực hiện CSR đối với các doanh nghiệp xây dựng.CSPL2
3Có chính sách ưu tiên, xếp hạng những doanh nghiệp xây dựng có CSR tốt khi thực hiện các dự án.CSPL3
4Có chính sách đẩy mạnh thu hút đầu tư các doanh nghiệp xây dựng, đơn vị tư vấn, nhà cung cấp, sản xuất công nghệ, vật liệu, …hoạt động quan tâm đến lĩnh vực môi trường, phát triển bền vững vào thành phố Đà Nẵng.CSPL4
IINhóm giải pháp liên quan đến doanh nghiệp xây dựng
5Luôn cập nhật, thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản chính sách, pháp luật liên quan đến vấn đề môi trường của Nhà nước và thành phố đối với các doanh nghiệp xây dựngDNXD1
6Tăng cường quản trị tổ chức, xây dựng kế hoạch phát triển CSR trong lĩnh vực môi trường như một chiến lược để thiết lập trọng tâm các hoạt động chính của doanh nghiệpDNXD2
7Cải tiến, tiếp cận các công nghệ, giải pháp nước ngoài để đẩy nhanh quá trình thực hiện liên quan đến vấn đề môi trường.DNXD3
8Cung cấp môi trường khuyến khích tất cả nhân viên học tập suốt đời, nâng cao hiểu biết, kiến thức về CSR trong lĩnh vực môi trường nói riêng và chuyên môn nghề nghiệp nói chung.DNXD4
9Tổ chức thi công hợp lý và thiết kế quy trình xây dựng phải “giảm phát thải chất ô nhiễm”DNXD5
IIINhóm giải pháp liên quan đến các bên liên quan
10Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các bên liên quan về các giá trị và rủi ro vốn có khi thực hiện hoặc không thực hiện CSR trong lĩnh vực môi trường.BLQ1
11Phát triển các quy tắc ứng xử chính thức về thực hiện CSR trong lĩnh vực môi trường và truyền đạt các quy tắc này cho tất cả các bên liên quan đến dự án.BLQ2
12Các cơ quan nhà nước có chính sách xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, khen thưởng, khuyến khích đối với các doanh nghiệp thực hiện tốt theo quy định.BLQ3
13Các cơ quan nhà nước tăng cường tổ chức kiểm tra, giám sát đối với các doanh nghiệp xây dựng, áp dụng cơ chế thanh tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm.BLQ4
14Tăng cường các thiết bị đo lường, báo cáo các chỉ số về môi trường để thuận tiện trong việc quản lý, kiểm soát các mục tiêu đề ra khi thực hiện dự án.BLQ5
15Tăng cường sự giám sát của cộng đồng, xã hội trong lĩnh vực môi trường đối với các doanh nghiệp xây dựng trong thời gian thi công xây dựng.BLQ6
16Tăng cường hiểu biết, năng lực, kinh nghiệm của đơn vị thiết kế, giám sát về các công trình xanh, tiết kiệm năng lượng, các loại vật liệu bền vững, tái sử dụng, … để tư vấn, tham mưu cho chủ đầu tư, khách hàngBLQ7
17Chủ đầu tư lồng ghép các yếu tố về thực hiện CSR trong lĩnh vực môi trường khi chọn lựa các đơn vị xây dựng thực hiện dự án.BLQ8
IVNhóm giải pháp liên quan đến ngành công nghiệp xây dựng
18Nghiên cứu, phát triển thị trường vật liệu xây dựng bền vững, sản phẩm tiết kiệm năng lượng, sản phẩm, dịch vụ hiệu quả năng lượng tại thành phố.CNXD1
19Nâng cao nhận thức của cộng đồng về sản xuất và tiêu dùng bền vững những sản phẩm của ngành xây dựngCNXD2
20Xác định nhu cầu, đặt hàng các chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ xây dựng về thực hiện CSR trong lĩnh vực môi trường.CNXD3

3.2. Làm sạch và mã hóa dữ liệu

Thu được 166 phiếu để tiến hành phân tích dữ liệu. 166 phiếu > 144 phiếu, vì vậy số lượng này cũng đã đạt yêu cầu để tiến hành phân tích.

Tiếp theo điền các dữ liệu vào file excel và tiến hành mã hóa các câu trả lời thành dạng số.

3.3. Phân tích dữ liệu

3.3.1. Thống kê mô tả

3.3.1.1. Thông tin cá nhân

Bảng khảo sát có đầy đủ các đơn vị cũng như con người làm việc tại các bộ phận tham gia án xây dựng, tỷ lệ phân bổ cũng tương đối phù hợp. Mặc khác, dựa vào trình độ học vấn cũng như số năm kinh nghiệm làm việc cho thấy đối tượng tham gia khảo sát tương đối tốt, có thể đưa ra đánh giá đúng cho các câu hỏi khảo sát.

3.3.1.2. Nhận thức về trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường

Các đối tượng tham gia khảo sát phần lớn có nhận thức về CSR, mặc dù đó có thể là những hiểu biết sơ lược, có ý thức bảo vệ môi trường và cũng ý thức được ngành xây dựng ảnh hưởng lớn đến vấn đề môi trường hiện nay.

Tuy nhiên về các ảnh hưởng đến môi trường như ô nhiễm không khí, đất, nước, tiếng ồn, độ rung hay phát thải khí nhà kính, tiêu hao năng lượng lớn, tiêu hao nhiều tài nguyên, mặc dù ngành xây dựng góp phần gây ra tất cả các vấn đề đó nhưng một số ít người cho rằng ngành xây dựng chỉ góp phần gây ra một số chứ không phải tất cả các vấn đề trên.

3.3.1.3. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội và các quy định trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng

Qua kết quả thống kê mô tả, rút ra kết luận về thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội và các quy định về lĩnh vực môi trường của các doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng như sau:

– Các tiêu chí thực hiện trách nhiệm xã hội theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 26000:2013 được thực hiện ít hơn so với các tiêu chí quy định theo Luật bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14. Tuy nhiên các giá trị trung bình của các nhóm nhân tố cũng như từng tiêu chí cũng chưa đạt tới 4.0 thể hiện mức độ thực hiện chưa nhiều.

– Đối với các tiêu chí thực hiện trách nhiệm xã hội theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 26000:2013, bao gồm các tiêu chí từ phòng ngừa ô nhiễm, đến sử dụng tài nguyên bền vững và cuối cùng là giảm nhẹ và thích nghi với biến đổi khí hậu. Các tiêu chí này bao quát và đầy đủ những bước thực hiện để bảo vệ môi trường. Tuy nhiên chỉ có một số tiêu chí, hoạt động là được thực hiện ở mức trung bình, như tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy mua sắm bền vững, báo cáo ô nhiễm, quản lý nguồn tài nguyên nước, đây là các hoạt động thiên về ứng phó chứ chưa thực sự chủ động phòng ngừa. Bên cạnh đó các hoạt động còn lại, thực hiện ở mức thấp thiên về đo lường, quản lý, kiểm tra, báo cáo, giám sát. Thiếu kế hoạch thực hiện đồng bộ và đo lường, giám sát thì các hoạt động sẽ trở nên lỏng lẻo, tự phát gây khó khăn cho quản lý để đạt được mục tiêu. Ngoài ra, trong một số khảo sát có ý kiến cho rằng những tiêu chí, hoạt động trong thực hiện trách nhiệm xã hội theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 26000:2013 hơi khó hiểu và khó thực hiện. Vì vậy việc có một hướng dẫn riêng, phù hợp hơn với ngành xây dựng dựa trên tiểu chuẩn sẽ giúp cho các đối tượng dễ dàng tiếp cận hơn.

– Đối với các tiêu chí là các quy định theo Luật bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 được thực hiện ở mức nhiều hơn trung bình và có một số hoạt động gần đạt đến mức thực hiện nhiều, đây là tín hiệu đáng mừng nhưng cùng cần cải thiện nhiều hơn trong thời gian tới. Theo ý kiến chủ quan của học viên thì khảo sát này cũng tương đối đúng với thực tế hiện nay, vì theo thông cáo số 135/TC-BXD ngày 16/11/2020 của Bộ Xây dựng về việc công bố thông tin thống kê ngành xây dựng phổ biến chính thức năm 2019 và 6 tháng đầu năm 2020 tỷ lệ chất thải rắn được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn theo quy định năm 2019 của thành phố là 100%. Ngoài ra chất lượng môi trường không khí, nước của Đà Nẵng đang ở mức độ tốt, chỉ có tỷ lệ các nhà máy kiểm soát ô nhiễm không khí; tỷ lệ chất lượng nước đạt yêu cầu tại các khu vực: sông, ven biển, hồ, nước ngầm (có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ); tỷ lệ tái sử dụng chất thải rắn công nghiệp) chưa đạt yêu cầu. Tuy nhiên những quy định được nêu ra trong khảo sát này vẫn còn tổng quát, chung chung và sợ bộ.

3.3.1.4. Các giải pháp tiềm năng thúc đẩy doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường

Từ kết quả thống kê mô tả các biến quan sát ở trên, hầu hết các biến được đánh giá từ 1 (hoàn toàn không đồng ý) hoặc 2 (không đồng ý) đến 5 (Hoàn toàn đồng ý). Vì vậy mỗi đối tượng đều có quan điểm riêng của mình đối với các biến quan sát ở trên.

Nhóm nhân tố liên quan đến chính sách pháp luật bao gồm 4 biến quan sát, giá trị trung bình biến thiên từ 3.02 đến 3.65, độ lệch chuẩn không lớn, không có sự chênh lệch quá lớn về giá trị trung bình.

Nhóm nhân tố liên quan đến đến doanh nghiệp xây dựng bao gồm 5 biến quan sát, giá trị trung bình biến thiên từ 3.06 đến 3.87, độ lệch chuẩn không lớn, không có sự chênh lệch quá lớn về giá trị trung bình.

Nhóm nhân tố liên quan đến các bên liên quan bao gồm 8 biến quan sát, giá trị trung bình biến thiên từ 3.05 đến 3.84, độ lệch chuẩn không lớn, không có sự chênh lệch quá lớn về giá trị trung bình.

Nhóm nhân tố liên quan đến ngành công nghiệp xây dựng bao gồm 3 biến quan sát, giá trị trung bình biến thiên từ 3.17 đến 3.57, độ lệch chuẩn không lớn, không có sự chênh lệch quá lớn về giá trị trung bình.

3.3.2. Kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s alpha

3.3.2.1. Kiểm định độ tin cậy thang đo cho nhóm nhân tố liên quan đến chính sách pháp luật

Sau khi kiểm định nhóm nhân tố đã loại đi biến CSPL4 vì trong kiểm định lần 1 hệ số tương quan biến tổng CSPL4 là 0.111 < 0.3. Kết quả sau khi giữ lại 3 biến CSPL1, CSP2, CSPL3

– Hệ số Cronbach’s Alpha là 0.72 > 0.6, thang đo sử dụng tốt

– Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3

Dữ liệu có độ tin cậy cao và có quan hệ chặt chẽ với nhau, có thể sử dụng cho phân tích tiếp theo

3.3.2.2. Kiểm định độ tin cậy thang đo cho nhóm nhân tố liên quan đến đến doanh nghiệp xây dựng

Sau khi kiểm định nhóm nhân tố đã loại đi biến DNXD1, DNXD3 vì trong kiểm định lần 1 hệ số tương quan biến tổng của 2 biến lần lượt là 0.171, 0.195 đều nhỏ hơn 0.3. Kết quả sau khi giữ lại 3 biến DNXD2, DNXD4, DNXD5

– Hệ số Cronbach’s Alpha là 0.729 > 0.6, thang đo sử dụng tốt

– Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3

Dữ liệu có độ tin cậy cao và có quan hệ chặt chẽ với nhau, có thể sử dụng cho phân tích tiếp theo

3.3.2.3. Kiểm định độ tin cậy thang đo cho nhóm nhân tố liên quan đến các bên liên quan

Hệ số Cronbach’s Alpha là 0.758 > 0.6, thang đo sử dụng tốt

– Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3.

– Qua kết quả cho thấy dữ liệu có độ tin cậy cao và có quan hệ chặt chẽ với nhau, có thể sử dụng cho phân tích tiếp theo.

3.3.2.4. Kiểm định độ tin cậy thang đo cho nhóm nhân tố liên quan đến ngành công nghiệp xây dựng

– Hệ số Cronbach’s Alpha là 0.817 > 0.6, thang đo sử dụng tốt

– Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3.

– Qua kết quả cho thấy dữ liệu có độ tin cậy cao và có quan hệ chặt chẽ với nhau, có thể sử dụng cho phân tích tiếp theo.

3.3.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis)

Tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA cho 4 nhóm nhân tố với 17 biến quan sát (tiêu chí) khi đã loại đi 3 biến quan sát CSPL4, DNXD1, DNXD3 trong phần kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha.

Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) được chọn là 0.44, phù hợp với kích thước mẫu là 166.

Từ bảng 3.18. Kết quả kiểm định KMO và Bartlett’s Test ta thấy:

– Hệ số KMO = 0.676 > 0.5, đạt yêu cầu

– Kiểm định Bartlett’s Test với Sig. = 0.000 < 0.05, đạt yêu cầu

Có 5 nhân tố được trích dựa vào tiêu chí eigenvalue = 1.423 lớn hơn 1, tăng so với ban đầu 1 nhân tố, như vậy 5 nhân tố này tóm tắt thông tin của 17 biến quan sát đưa vào EFA một cách tốt nhất.

Tổng phương sai mà 5 nhân tố này trích được là 69.265% > 50%, như vậy, 5 nhân tố được trích giải thích được 69.265% biến thiên dữ liệu của 17 biến quan sát tham gia vào EFA.

Kết quả ma trận xoay cho thấy, 17 biến quan sát được phân thành 5 nhân tố, tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố Factor Loading lớn hơn 0.5 và không có các biến xấu. Như vậy 17 biến quan sát hội tụ và phân biệt thành 5 nhân tố.

Ban đầu, 17 biến quan sát được chia thành 4 nhóm nhân tố, tuy nhiên, sau khi chạy khám phá nhân tố EFA, có sự thay đổi như sau:

– Các biến quan sát thuộc 4 nhóm nhân tố đã được chia thành 5 nhóm nhân tố, như vậy đã xuất hiện một nhóm nhân tố mới gồm các biến có cùng tính chất hơn hội tụ về.

– Ngoài ra biến quan sát BLQ5, ban đầu thuộc nhóm nhân tố liên quan đến các bên liên quan, nhưng sau khi chạy khám phá nhân tố EFA, biến quan sát này được xếp vào nhóm nhân tố của các doanh nghiệp xây dựng.

+ Đối với nhóm nhân tố bao gồm các biến quan sát BLQ1, BLQ2, BLQ7, BLQ8, xem xét các biến quan sát này, các tiêu chí vẫn thiên về các bên liên quan, nên giữ nguyên tên gọi của nhóm nhân tố này là nhóm nhân tố liên quan đến các bên liên quan với 4 biến quan sát như trên.

+ Đối với nhóm nhân tố liên quan đến doanh nghiệp xây dựng bao gồm biến quan sát DNXD2, DNXD4, DNXD5 và thêm biến BLQ5. Nội dung về biến BLQ5 là “Tăng cường các thiết bị đo lường, báo cáo các chỉ số về môi trường để thuận tiện trong việc quản lý, kiểm soát các mục tiêu đề ra khi thực hiện dự án”, xét thấy tiêu chí này nằm trong nhóm doanh nghiệp xây dựng là hợp lý về mặt nội dung, giá trị của biễn cũng hội tụ cùng các biến khác trong nhóm nhân tố này. Vì vậy, tên nhân tố này vẫn giữ nguyên là nhóm nhân tố liên quan đến doanh nghiệp xây dựng.

+ Đối với nhóm nhân tố liên quan đến ngành công nghiệp xây dựng, vẫn giữ nguyên 3 biến quan sát CNXD1, CNXD2, CNXD3.

+ Đối với nhóm nhân tố bao gồm 3 biến BLQ3, BLQ4, BLQ6, các biến này có nội dung thiên về khía cạnh kiểm tra, giám sát của nhà nước và cộng đồng, cụ thể:

BLQ3: Các cơ quan nhà nước có chính sách xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, khen thưởng, khuyến khích đối với các doanh nghiệp thực hiện tốt theo quy định.

BLQ4: Các cơ quan nhà nước tăng cường tổ chức kiểm tra, giám sát đối với các doanh nghiệp xây dựng, áp dụng cơ chế thanh tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm.

BLQ6: Tăng cường sự giám sát của cộng đồng, xã hội trong lĩnh vực môi trường đối với các doanh nghiệp xây dựng trong thời gian thi công xây dựng.

Vì vậy đặt tên nhóm nhân tố mới này là kiểm tra, giám sát của nhà nước và cộng đồng.

+ Đối với nhóm nhân tố liên quan đến chính sách pháp luật vẫn giữ nguyên 3 biến quan sát bao gồm CSPL1, CSPL2, CSPL3 sau khi đã loại đi biến quan sát CSPL4 qua kiểm định độ tin cậy Cronbach’s alpha.

Bảng 3.24. Các nhân tố và biến quan sát qua kiểm định Cronbach’s alpha và khám phá nhân tố EFA

STTNhân tốBiến quan sát
1Chính sách pháp luậtCSPL1, CSPL2, CSPL3
2Doanh nghiệp xây dựngDNXD2, DNXD4, DNXD5, BLQ5
3Các bên liên quanBLQ1, BLQ2, BLQ7, BLQ8
4Ngành công nghiệp xây dựngCNXD1, CNXD2, CNXD3
5Kiểm tra, giám sát của nhà nước và cộng đồngBLQ3, BLQ4, BLQ6

3.3.4. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhóm nhân tố và các tiêu chí qua phân tích giá trị trung bình

        1. Đối với nhóm nhân tố liên quan đến chính sách pháp luật (nhân tố 1)
        2. Đối với nhóm nhân tố liên quan đến doanh nghiệp xây dựng (nhân tố 2)
        3. Đối với nhóm nhân tố liên quan đến các bên liên quan (nhân tố 3)
        4. Đối với nhóm nhân tố liên quan đến ngành công nghiệp xây dựng (nhân tố 4)
        5. Đối với nhóm nhân tố liên quan đến kiểm tra, giám sát của nhà nước và cộng đồng (nhân tố 5)

Bảng 3.30. Giá trị trung bình các nhân tố và biến quan sát qua kiểm định Cronbach’s alpha và khám phá nhân tố EFA

STTNhân tốBiến quan sátTB nhóm nhân tố
1Chính sách pháp luậtCSPL1, CSPL2, CSPL33.53
2Doanh nghiệp xây dựngDNXD2, DNXD4, DNXD5, BLQ53.4
3Các bên liên quanBLQ1, BLQ2, BLQ7, BLQ83.11
4Ngành công nghiệp xây dựngCNXD1, CNXD2, CNXD33.3
5Kiểm tra, giám sát của nhà nước và cộng đồngBLQ3, BLQ4, BLQ63.79

Các bước giải pháp tuần tự như sau:

– Trước tiên nhóm nhân tố chính sách pháp luật cần được thực hiện trước, nhà nước cần xây dựng một hệ thống đánh giá CSR toàn diện dành riêng cho ngành xây dựng trong lĩnh vực môi trường. Trong đó có sự kết hợp của tự nguyện và bắt buộc. Song song với việc đó là xây dựng hệ thống hướng dẫn thực hiện của các cơ quan chuyên môn kèm theo đánh giá mức độ thực hiện CSR đối với các doanh nghiệp xây dựng. Và để các doanh nghiệp có động lực thực hiện mặc dù đây là trách nhiệm thì cần có chính sách ưu tiên, xếp hạng những doanh nghiệp xây dựng có CSR tốt khi thực hiện các dự án. Các chính sách, hướng dẫn cần được tuyên truyền rộng rãi trên nhiều kênh phương tiện truyền thông để phổ biến kiến thức không chỉ đến doanh nghiệp mà đến với tất cả mọi người vì môi trường là vấn đề chung của xã hội, và thực hiện trách nhiệm xã hội cần có kiến thức rõ ràng.

– Như đã nói ở trên kiểm tra, giám sát là một khâu quan trọng, nên nhóm nhân tố kiểm tra, giám sát của nhà nước và cộng đồng cần được coi trọng, cần có những quy định rõ ràng và bố trí các cán bộ hợp lý, các xử lý vi phạm và khen thưởng cần thể hiện được mức độ răn đe, khuyến khích. Đối với giám sát cộng đồng, có thể trao nhiều quyền hơn và phổ biến kiến thức cho cộng đồng để họ có ý thức về quyền của bản thân vì họ cũng là đối tượng hưởng lợi cũng như bị ảnh hưởng trực tiếp từ những hoạt động xây dựng.

– Về phía doanh nghiệp xây dựng, luôn phải chủ động trong thực hiện trách nhiệm xã hội, đặc biệt với vấn đề môi trường, vì đây đã là xu thế chung của quốc gia, khu vực và thế giới. Như ông Florian Beranek – Cố vấn trưởng dự án CSR – do Switch Asia tài trợ đã nói: ” CSR không phải là một sự thay đổi mang tính công nghệ có thể xảy ra trong chớp nhoáng, đó là cả một quá trình mà nếu doanh nghiệp không thực hiện nó đúng thời điểm, rất có thể sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội và thậm chí là thất bại trong việc kinh doanh. Do vậy, CSR không chỉ là trách nhiệm của doanh nghiệp mà có ý nghĩa hơn cả, nó mang ý nghĩa là một cơ hội mà doanh nghiệp có được”. Mỗi doanh nghiệp là những tổ chức riêng biệt với năng lực về tài chính, kinh nghiệm và nguồn nhân lực hoàn toàn khác nhau, vì vậy cần tìm cho mình những giải pháp riêng để thực hiện CSR, không chỉ là theo những hướng dẫn của chính phủ, mà còn có thể có những sáng kiến mới để đạt hiệu quả tối ưu khi thực hiện CSR. Muốn vậy, các doanh nghiệp cần tăng cường quản trị tổ chức, xây dựng kế hoạch phát triển CSR trong lĩnh vực môi trường như một chiến lược để thiết lập trọng tâm các hoạt động chính của doanh nghiệp như hoạt động đào tạo, sản xuất, tiêu dùng bền vững, cải tiến phương pháp, quy trình làm việc, thi công xây dựng hay nâng cấp các thiết bị máy móc, …

– Ngoài ra ngành xây dựng nên tập trung nghiên cứu phát triển thị trường vật liệu xây dựng bền vững, sản phẩm tiết kiệm năng lượng, sản phẩm, dịch vụ hiệu quả năng lượng tại thành phố, xác định nhu cầu, đặt hàng các chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ xây dựng về thực hiện CSR trong lĩnh vực môi trường và nâng cao nhận thức của cộng đồng về sản xuất và tiêu dùng bền vững những sản phẩm của ngành xây dựng.

– Các bên liên quan cũng chính là các doanh nghiệp xây dựng ở nhiều lĩnh vực, vị trí trong xây dựng, các cơ quan chuyên môn luôn cần nâng cao sự hiểu biết và thực hiện CSR thông qua việc tự tìm tòi, nghiên cứu, tham gia các lớp học bồi dưỡng, … và áp dụng vào công việc chuyên môn của mình. Ngoài ra, trong cùng một dự án, phát triển các quy tắc ứng xử chính thức về thực hiện CSR trong lĩnh vực môi trường để dễ dàng thực hiện mang lại hiệu quả lớn hơn cho dự án. Và như ở trên đã phân tích, nâng cao và thực hành CSR sẽ dần tạo nên một cộng đồng thực hành CSR lớn hơn, hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển các mục tiêu của doanh nghiệp cũng như thực hành CSR.

3.4. Kết luận chương 3

Chương 3 đã trình bày kết quả phân tích dữ liệu qua bảng khảo sát từ các thông tin cá nhân, nhận thức về CSR, thực trạng thực hiện CSR cũng như các giải pháp tiềm năng thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp xây dựng trong lĩnh vực môi trường tại thành phố Đà Nẵng.

Từ những số liệu và phân tích cho thấy được các vấn đề liên quan đến nhận thức, thực trạng về CSR trong lĩnh vực môi trường hiện nay trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Phần lớn mọi người đều có nhận thức về CSR, nhưng ở mức độ khái niệm tổng quan mà chưa đi sâu vào các khía cạnh của CSR. Phân tích thực trạng cho thấy các tiêu chí thực hiện trách nhiệm xã hội theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 26000:2013 được thực hiện ít hơn so với các tiêu chí quy định theo Luật bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14. Tuy nhiên các giá trị trung bình của các nhóm nhân tố cũng như từng tiêu chí cũng chưa đạt tới 4.0 thể hiện mức độ thực hiện chưa nhiều.

Về các giải pháp tiềm năng thúc đẩy doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường, qua phân tích thống kê mô tả, kiểm tra độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, từ 20 giải pháp tiềm năng trong 4 nhóm nhân tố đã đúc kết lại 17 giải pháp sắp xếp trong 5 nhóm nhân tố là chính sách pháp luật, doanh nghiệp xây dựng, các bên liên quan, ngành công nghiệp xây dựng, kiểm tra, giám sát của nhà nước và cộng đồng

KẾT LUẬN

1. Kết luận

Vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không còn là khái niệm mới hiện nay, nhưng để thực sự hiểu rõ các khía cạnh của nó và thực hiện tốt thì cần có những định hướng đúng đắn và ý thức thực hiện của từng cá nhân, từng doanh nghiệp. Đối với ngành xây dựng là một ngành đặc trưng, tác động động rất lớn đến kinh tế, xã hội, môi trường, thì trách nhiệm đối với xã hội càng phải được quan tâm nhiều hơn, đặc biệt là vấn đề môi trường.

Mục tiêu của nghiên cứu là tìm ra các giải pháp tiềm năng nhằm thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng. Qua tham khảo các nghiên cứu trước và ý kiến góp ý của các chuyên gia, học viên đã xác định 20 giải pháp tiềm năng trong 4 nhóm nhân tố để tiến hành khảo sát đại trà. Các nhóm nhân tố được xác định là các nhóm nhân tố liên quan đến chính sách pháp luật, doanh nghiệp xây dựng, các bên liên quan và ngành xây dựng. Sau khi tiến hành khảo sát, phân tích dữ liệu thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, xác định được 17 giải pháp trong 4 nhóm nhân tố đầu và xuất hiện nhóm nhân tố mới về kiểm tra, giám sát của nhà nước và cộng đồng. Đánh giá mức độ ảnh hưởng theo giá trị trung bình của từng tiêu chí, có các tiêu chí sau có giá trị trung bình cao hơn so với các tiêu chí khác như: BLQ4, BLQ6, BLQ3, CNXD1, DNXD2, BLQ5, DNXD5.

Đây cũng chính là những giải pháp tiềm năng thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của các doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng mà nghiên cứu đã đưa ra.

2. Hạn chế của đề tài

Bảng câu hỏi khảo sát hầu như tham khảo các tài liệu nghiên cứu về CSR trong ngành xây dựng nước ngoài nên sẽ có những bối cảnh, điều kiện, … khác với Việt Nam, đặc biệt là thành phố Đà Nẵng. Mặc dù các nghiên cứu về CSR rất nhiều với những đề tài rộng nhưng với những giới hạn về thời gian cũng như năng lực bản thân, những nghiên cứu tìm hiểu được vẫn còn khá ít nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.

Mặc dù thành phần khảo sát đầy đủ, kích thước mẫu đạt yêu cầu nhưng việc khảo sát thực hiện với những đối tượng ngẫu nhiên, số lượng phiếu khảo sát vẫn còn ít so với số lượng các nhân viên trong các doanh nghiệp xây dựng tại Đà Nẵng nên có thể chưa mang ý nghĩa đại diện cho tổng thể.

Nội dung đề tài mang tính bao quát, tổng thể, chưa đi vào sâu sắc các vấn đề bên trong.

3. Định hướng nghiên cứu tiếp theo

Dựa trên những hạn chế của đề tài đã nêu ở trên, mở rộng quy mô nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn các hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng về lĩnh vực môi trường để tìm ra những giải pháp cụ thể hơn.

Tăng số lượng mẫu khảo sát, có phân biệt giữa các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ để tìm ra sự khác biệt trong cách thực hiện giữa các loại hình doanh nghiệp.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\QUAN LY XAY DUNG\HAI YEN + THANH TU\HAI YEN Ko xep ABC

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *