Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố các loài chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, có sự đa dạng về địa hình và sinh cảnh. Điều này đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển và đa dạng của các loài thực vật, động vật. Cho đến nay, những điều tra thống kê về khu hệ động vật có xương sống trên cạn ở Việt Nam đã xác định được khoảng 297 loài thú [5,10], 887 loài chim [17], 385 loài bò sát, 181 loài lưỡng cư [33].
Trên thế giới, tổng số loài chim đã ghi nhận được khoảng 9.702 loài (Sibley, Monroe 2009). Trong đó, khu vực Đông Nam Á có khoảng 2,586 loài, chiếm 25,7% tổng số loài chim trên thế giới (Inskipp ed. 1996). Các số liệu thống kê về khu hệ chim Việt Nam thay đổi và cập nhật liên tục từ những năm 1995 cho đến nay, từ 828 loài (Nguyễn Cử, Võ quý 1995) đã được công bố năm 1995 đến hiện nay là 887 loài (Nguyễn Lân Hùng Sơn, 2006). Theo đó, tổng số loài chim của Việt Nam hiện nay chiếm 34% tổng số loài chim ghi nhận tại vùng phương Đông, chiếm 9,07% tổng số loài chim trên thế giới.
Là nơi sinh sống của hơn 9% tổng số loài chim trên thế giới, Việt Nam được xem như là một điểm nóng về đa dạng các loài chim. Không những đa dạng về thành phần loài chim, Việt Nam còn là nơi sinh sống của 11 loài chim đặc hữu, nhiều hơn Thái Lan (2 loài), Mianma (2 loài), Malayxia (2 loài), Campuchia (không có), (Nguyễn Cử 1995), (Avibase-the world bird database 2010). Nếu tính cả các phân loài chỉ có mặt ở Việt Nam thì có đến 100 phân loài đặc hữu (Nguyễn Cử 1995), 23 loài có vùng phân bố hẹp (loài có vùng sinh sản toàn cầu nhỏ hơn 50.000km2) (Tordoff 2002), 40 loài bị đe dọa trên phạm vi toàn cầu (IUCN 2010), 74 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường 2007).
Bán đảo Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng là một phần của Vùng sinh thái Trường Sơn – một trong 200 vùng sinh thái tiêu biểu toàn cầu, là nơi trú ngụ của nhiều loài sinh vật độc đáo nhưng đang đứng trước nguy cơ bị đe dọa. Theo Quyết định số 41-TTg ngày 24/01/1977 của Thủ tướng Chính phủ, khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà chính thức thành lập theo Quyết định phê duyệt Luận chứng kinh tế kĩ thuật rừng đặc dụng Sơn Trà, số 2062/QĐ-UB ngày 12/9/1989 của UBND tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng trên cơ sở chuyển đổi khu rừng đặc dụng Bán đảo Sơn Trả.
Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 10 km về phía Đông Bắc, thuộc địa phận hành chính quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, với tổng diện tích là 2.591,1 ha theo Quyết định số 6758/QĐ-UBND ngày 20/9/2008 của UBND thành phố Đà Nẵng, về việc phê duyệt quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2008 – 2020 trong đó có 2.320 ha diện tích rừng tự nhiên, 192,1 ha rừng trồng, 79 ha là đất trống, đồi núi trọc.
Rất nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế quan tâm đến tính đa dạng và đặc trưng của một hệ sinh thái đặc biệt như bán đảo Sơn Trà, do vậy, có nhiều nghiên cứu về khu hệ động vật, thực vật được tiến hành tại đây như J.F.T.Eydoux (1837), Van Peenan (1969,1971), Lippold (1977, 1995), Phạm Nhật (1993), khảo sát của Đinh Thị Phương Anh và cộng sự (1997), Phạm Thị Thoa (2012), Larry Ulibary (2011)… Các nghiên cứu này chỉ tập trung vào khu hệ thực vật thân gỗ, lâm sản ngoài gỗ, thú linh trưởng, Lưỡng cư, Bò sát.
Cho đến nay, chỉ có 1 khảo sát chung về khu hệ động vật, thực vật của TS. Đinh Thị Phương Anh và cộng sự (1997) đưa ra dữ liệu danh lục chim bán đảo Sơn Trà với 106 loài được ghi nhận. Từ đó đến nay, chưa có thêm 1 công trình nghiên cứu nào liên quan đến khu hệ chim ở đây. Nhằm mục tiêu đánh giá hiện trạng khu hệ chim tại đây nhằm cung cấp dữ liệu khoa học và thực tiển cho công tác bảo tồn của địa phương, chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố các loài chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng”.
Xác định tính đa dạng thành phần loài chim và đặc điểm sự phân bố chim tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng và
– Xác định thành phần loài và thành lập danh lục các loài chim có phân bố tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà
– Sự phân bố các loài chim theo các sinh cảnh khác nhau
– Xác định các yếu tố chính tác động đến khu hệ chim và đề xuất một số biện pháp bảo tồn, phát triển bền vững.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Khu hệ chim tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, Đà Nẵng
Phạm vị nghiên cứu: Bán đảo Sơn Trà – Phường Thọ Quang, Quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng, với tổng diện tích là 4,370ha.
Đề tài áp dụng các phương pháp chung trong các nghiên cứu khu hệ chim như khảo sát thực địa để ghi nhận sự có mặt các loài chim trong khu vực, tuyến, điểm khảo sát và đặt lưới mờ. Các mẫu định danh tên loài, lập danh mục có sự cố vấn và hỗ trợ của PGS. TS Nguyễn Lân Hùng Sơn, kết hợp với các tài liệu hướng dẫn định danh chim của Võ Quý, Nguyễn Cử, Lê Mạnh Hùng, Nguyễn Lân Hùng Sơn, Craig Robson.
Xác định thông tin về sự có mặt của một số loài quý hiếm, ít gặp trong khu vực nghiên cứu thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn đối với cán bộ Hạt kiểm lâm liên quận Sơn Trà – Ngũ Hành Sơn, người dân địa phương thường xuyên đi rừng, và những người đi bẫy chim. Các số liệu được thu thập, lưu trữ trong máy tính cá nhân và phân tích, xữ lý bằng phần mềm Excel 2010. Các địa điểm ghi nhận sự xuất hiện của các loài chim, các tuyến, điểm khảo sát được đánh dấu bằng máy định vị GPS Garmin 62SC và phân tích, xử lý số liệu, biên tập bản đồ với phần mềm Basic Camp, Mapinfor 10.5.
Quan sát chim ngoài thực địa với ống nhòm Nikon 10×42 và chụp ảnh chim để làm tư liệu để hỗ trợ cho việc đinh danh tên loài bằng máy ảnh Nikon D90 và ống kính Lens 150 -500mm. Ghi âm tiếng hót của chim bằng máy Máy ghi âm Sony KTS MP3 dòng PX nhằm hỗ trợ cho việc định danh tên loài.
Ý nghĩa khoa học
Xây dựng được cơ sở dữ liệu khoa học về hiện trạng đa dạng thành phần loài chim và sự phân bố của chúng trong Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà.
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài tạo cơ sở khoa học để Ban quản lý Khu bảo tồn và thành phố Đà Nẵng định hướng quy hoạch, phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên của khu bảo tồn.
Tạo cơ sở dữ liệu cho việc xây dựng các tuyến quan sát chim trên bán đảo Sơn Trà nhằm phát triển các loại hình du lịch sinh thái và giáo dục bảo tồn cho cộng đồng địa phương và khách du lịch tới thành phố Đà Nẵng.
7. Cấu trúc luận văn: gồm có 5 phần chính
– Mở đầu
– Chương 1: Tổng quan tài liệu
– Chương 2: Thời gian, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu
– Chương 3: Kết quả và thảo luận
– Kết luận và kiến nghị

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KHU HỆ CHIM Ở VIỆT NAM
Việc nghiên cứu động vật, đặc biệt là chim trên lãnh thổ Việt Nam đã có một lịch sử hơn một trăm năm và đã có nhiều nhà sinh học từ các nước khác nhau tới đây nghiên cứu. Nghiên cứu chim ở Việt Nam đã bắt đầu từ những năm 70 của thế kỉ XIX với các nhà khoa học nước ngoài. Giai đoạn đầu các nhà Điểu học chủ yếu thu mẫu và định danh dựa trên các đặc điểm hình thái ngoài khởi đầu với bộ sưu tập tiêu bản. Trong công trình “Sinh học những loài chim thường gặp ở Việt Nam” [Võ Quý (1971). Sinh học những loài chim thường gặp ở Việt Nam. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội], Võ Quý đã giới thiệu sơ lược về lịch sử nghiên cứu chim ở Việt Nam từ những giai đoạn đầu. Tài liệu nghiên cứu chim đầu tiên ở Đông Dương là bản mô tả loài gà rừng (Gallus gallus) của Linneus với tiêu bản bắt được ở đảo Côn Lôn năm 1758. Sau đó 30 năm, năm 1788, Gmelin mô tả loài chim thứ hai bắt được ở Đông Dương, đó là loài Chim xanh nam bộ (Chloropis cochinchinensis). Trong khoảng thời gian từ 1875-1878, G. Tirant đã thu thập hơn 1000 tiêu bản ở vùng Nam Bộ.
Trong thời kỳ Pháp chiếm đóng Việt Nam, một số nghiên cứu về khu hệ chim ở Việt Nam được tiến hành bởi một số nhà khoa học nước ngoài. Trong đó phải kể đến công trình “Chim Campuchia, Lào, Nam Bộ và Bắc Bộ Việt Nam” 1899 – 1903 của E. Oustalet. Cùng thời gian đó, ở miền Bắc Việt Nam, E. Boutan tổ chức sưu tầm chim ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và tập trung vào một số điểm như Hà Đông và vùng quanh Hà Nội. Công trình của Boutan được xuất bản trong công trình “Mười năm nghiên cứu động vật”. Công trình này đã ghi nhận 90 loài chim và một số dẫn liệu sinh học của một số loài.
Vào năm 1918, nhà điểu học người Nhật Kuroda phân tích một bộ sưu tập chim sưu tầm vào năm 1911 – 1912 ở các tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Trong công trình này tác giả đã ghi nhận 130 loài và loài phụ.
Cuối năm 1923, Delacour đến Đông Dương để nghiên cứu sâu hơn khu hệ chim vùng này. Ông đã cùng các đồng nghiệp bỏ nhiều công sức vào nghiên cứu chim Đông Dương. Từ năm 1924 đến 1938, họ đã tổ chức nhiều cuộc sưu tầm lớn ở nhiều vùng khác nhau trên lãnh thổ Đông Dương và đã thu thập được một sưu tập chim khổng lồ, hơn 23.000 tiêu bản.
Năm 1924, M.H. Steven đã gửi về Viện bảo tàng động vật Anh một sưu tập chim và trứng chim gồm 333 tiêu bản chim và 170 trứng thu thập ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Trong công trình này đã ghi nhận được 219 loài và loài phụ và một số dẫn liệu sinh học. Ngoài ra, tác gia còn mô tả thêm 11 loài và loài phụ chim mới ở miền Bắc Việt Nam.
Cuộc sưu tầm thứ ba của Delacour và Jabouille được tổ chức tháng 11/1926 đến thăng 5/1927 ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Bắc Kạn và vùng núi gần giáp biên giới Trung Quốc thuộc tỉnh Lạng Sơn, sau đó họ chuyển đến miền Nam Việt Nam. Trong lần sưu tầm này họ thu thập được khoảng 4.500 tiêu bản chim. Trong các công trình này tác giả đã ghi nhận được 580 loài và loài phụ, trong đó có đến 40 loài mới cho khoa học.
Tháng 10 năm 1929 đến tháng 5 năm 1930, Delacour, Jabouille và Lowe tham gia sưu tầm ở vùng núi Hoàng Liên Sơn, Sapa và các vùng núi lân cận, sau đó trở về Hạ Long. Lần này họ thu thập được khoảng 4.500 tiêu bản chim. Danh sách chim thu thập được gồm 349 loài và loài phụ trong đó có đến 30 loài mới cho khoa học.
Năm 1931, Delacour và Jabouille cho xuất bản một công trình tổng hợp về Chim Đông Dương gồm 4 tập. Trong đó công trình này tác giả đã mô tả 954 loài và loài phụ kèm theo một ít dẫn liệu chung về đặc tính sinh học và phân bố của chúng.
Vào năm 1942, Milon nghiên cứu chim tỉnh Lạng Sơn. Công trình của Milon được xuất bản vào cuối năm 1942 là một danh sách gồm 142 loài và loài phụ với một số đặc điểm sinh học.
Trong năm 1941 – 1942, một bộ sưu tập chim thu thập ở Lạng Sơn và một số địa phương khác ở miền Bắc Việt Nam được gửi về phòng nghiên cứu Động vật trường Đại học Tổng hợp Đông Dương. Các sưu tập này đã được R.Bourret phân tích và công bố.
Trong khoảng những năm cuối cùng này nhiều tác giả nhất là Deignan đã cho công bố nhiều công trình về chim thu thập được ở vùng Đông Nam Á, trong đó có 20 loài mới đã sưu tầm được trên lãnh thổ Đông Dương. Dựa vào những công trình mới này vào năm 1951, Delacour lại cho bổ sung lần thứ ba danh sách chim Đông Dương. Lần này tác giả đã mở rộng thêm danh sách đến 1.058 loài và loài phụ trong đó có 2 loài mới.
Những năm 1945 đến 1954 vì chiến tranh nên mọi công việc nghiên cứu chim ở Đông Dương bị gián đoạn và chỉ mới bắt đầu lại từ năm 1957, sau khi miền Bắc Việt Nam được giải phóng. Vào những năm tiếp theo đã có nhiều công trình của các nhà khoa học Việt Nam được công bố như: Võ Quý, Nguyễn Cử, Trần Gia Huấn, Lê Diên Dực, Đỗ Ngọc Quang, Trương Văn Lã, Lê Đình Thủy… Ngoài ra còn có một số công trình của Fischer nói về chim miền Bắc Việt Nam và sau đó có công trình của Wildash Phillip nói về chim miền Nam Việt Nam. Hầu hết các công trình nào cũng chỉ mới đề cập đên khu hệ chim của một vài vùng nhỏ ở Việt Nam hay đi sâu vào một vài mặt sinh học của từng loài chim riêng biệt.
Năm 1975, GS. Võ Quý đã biên soạn và xuất bản thành công cuốn sách chim đầu tiên của Việt Nam “Chim Việt Nam – Hình thái và Phân loại. Sách gồm các bảng định loại của 19 bộ, họ chính (trừ Bộ Sẻ), cùng với bản mô tả chi tiết từng loài và phân loài. Trong công trình này, ông đã liệt kê 415 loài và phân loài chim thường gặp ở Việt Nam. Năm 1981, tác giả tiếp tục xuất bản thêm phần II của cuốn sách có cùng tên với nội dung dành riêng cho việc mô tả 518 loài chim thuộc Bộ Sẻ đã tìm thấy ở Việt Nam.
Đến năm 1983, GS. Võ Quý tiếp tục cho xuất bản cuốn sách Chim Việt Nam gồm 773 loài thuộc 20 bộ, 68 họ, và 313 giống.
Bắt đầu từ năm 1990, các dự án nghiên cứu thành lập Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên được triển khai mạnh hơn, với nhiều công trình được công bố làm cơ sở khoa học cho việc hình thành các khu ưu tiên bảo vệ ở Việt Nam. Các nhà khoa học của các trường, viện, tổ chức quốc tế đã phối hợp điều tra và công bố Danh lục chim của nhiều khu bảo tồn thiên nhiên từ Bắc vào Nam.
Theo đó, từ cuối những thập niên 90 trở lại đây, khu hệ Chim Việt Nam ngày càng được điều tra và nghiên cứu nhiều hơn, đặc biệt là các khu vực điểm nóng đa dạng sinh học như dãy Trường Sơn, khu vực Tây nguyên, và các tỉnh phía Nam. Một trong các kết quả minh chứng là việc tổng hợp và biên soạn cuốn sách “Danh lục Chim Việt Nam” xuất bản năm 1995, tái bản lần 2 năm 1999 đã mô tả 828 loài, cùng với các đặc điểm về tính chất cư trú, vùng phân bố, và độ phong phú của mỗi loài (Võ Quý và Nguyễn Cử, 1995). Đến năm 2000, tổ chức Chim quốc tế Birdlife ở Việt Nam đã cho xuất bản cuốn sách “Chim Việt Nam” (Nguyễn Cử và cộng sự 2000) trong đó có nhiều loài mới được bổ sung cùng với 550 hình vẻ màu giúp cho nhiều người dễ dàng nhận biết các loài chim ngoài tự nhiên.
Gần đây, trong cuốn sách tổng hợp mới nhất và bổ sung đầy đủ nhất về khu hệ chim Việt Nam được trình bày trong cuốn “Danh lục Chim Việt Nam” với tổng cộng 878 loài Chim thuộc 20 bộ, 88 họ, được biết đến ở Việt Nam được liệt kê với đầy đủ các thông tin. Phần tên loài, bên cạnh tên phổ thông, tên tiếng Anh, còn nêu tên khoa học đầy đủ của các loài bao gồm cả tên tác giả và năm công bố. Một số phân loài hiện biết ở Việt Nam cũng được nêu dưới tên loài với tên khoa học đầy đủ bao gồm cả tên tác giả và năm công bố. Hiện trạng các loài chim ngoài những thông tin được ghi nhận như trong các công bố khoa học, sách trước đây, tài liệu này còn bổ sung một số dẫn liệu mới liên quan đến vùng phân bố của các loài Chim.
Gần đây nhất, một cuốn sách mới nhất về Chim Việt Nam “Giới thiệu một số loài chim Việt Nam” của tác giả Lê Mạnh Hùng (2013), giới thiệu hơn 500 loài chim cùng với 840 bức ảnh chụp thực tế ngoài tự nhiên. Đây là tài liệu rất tốt cho các nhà nghiên cứu khoa học sử dụng trong công tác định danh chim ngoài thực địa.
1.2. MỘT SỐ KẾT QUẢ VỀ NGHIÊN CỨU KHU HỆ CHIM Ở VIỆT NAM
Trong công bố mới đây của tổ chức Chim quốc tế Birdlife, Việt Nam có 63 vùng chim quan trọng (IBA) phân bố ở 37 tỉnh thành với tổng diện tích 16.899 km2 chiếm 5% diện tích của cả nước. Vùng chim quan trọng (tiếng Anh: Important Bird Area-IBA) là khu vực có tầm quan trọng quốc tế về bảo tồn các loài chim ở các cấp độ toàn cầu, vùng và quốc gia, dựa trên các tiêu chí đã được cộng đồng quốc tế công nhận [31]. Trên thế giới, Việt Nam luôn được đánh giá là một trong những nước có đa dạng sinh học cao, đây là tài nguyên vô cùng quý giá do thiên nhiên ban tặng.
Các kết quả nghiên cứu Chim trong nhiều năm qua chính là kết quả của quá trình hợp tác nghiên cứu quốc tế trong nhiều năm qua. Cho đến nay, khu hệ Chim Việt Nam đã thống kê được 878 loài thuộc 88 họ, 20 bộ, . Trong đó, Bộ Sẻ chiếm gần 50% trong tổng số 20 Bộ đã được ghi nhận ở Việt Nam và ghi nhận tổng cộng 6 loài mới cho khoa học gồm:
Bảng 1.1: Các loài Chim mới được ghi nhận ở Việt Nam
| STT | Tên loài | Khu vực phân bố |
| 1 | Khướu vằn đầu đen (Actinodura sodangorum) | Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Ngọc Linh, Kon Tum |
| 2 | Khướu ngọc linh (Garrulax ngọclinhhensis) | Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Ngọc Linh, Kon Tum |
| 3 | Khướu Kon Ka Kinh (Garrulax konkakinhensis) | VQG Kon Ka Kinh, Gia Lai |
| 4 | Chích đá vôi (Phylloscopus calciatilis) | Vườn quốc gia (VQG) Phong Nha – Kẻ Bàng, Quảng Bình – và VQG Hinamo – Lào. |
| 5 | Khướu ngực hung (Garrulax annamensis) | Rừng Nam Trung Bộ, Việt Nam |
| 6 | Gà lôi lam Hà Tỉnh (Lophura hatinhensis) | Rừng Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Hà Tỉnh |
Một số phân loài chim mới cho khoa học cũng được phát hiện vào cuối thập niêm 90 như Nectarina jugalusris tandaoensis; Aliceppe chrysotis robsoni; Aethopiga christinae sokolovi; Alcippe castaneceps stepanyani; Garrulax milleti weeti; Aliceppe dubia cui; Pomatorhimus ferruginous dickinsoni’ Heterophasia annectans roundi; Cutia nipalensis hoae; Heterophasisa melanoneuca kingi;…
Số loài chim có vùng phân bố hẹp hay loài đặc hữu của Việt Nam tính đến nay đã xác định được 13 loài, bao gồm:
Bảng 1.2: Các loài chim đặc hữu có vùng phân bố hẹp ở Việt Nam
| STT | Tên loài | Khu vực phân bố |
| 1 | Gà so cổ hung (Arborophila davidi) | Nam Bộ |
| 2 | Gà so trung bộ (Arborophila merlini) | Trung Bộ |
| 3 | Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi) | Bắc Trung Bộ |
| 4 | Gà lôi lam đuôi trắng (Lophura hatinhensis) | Bắc Trung Bộ |
| 5 | Khướu đầu đen (Garrulax milleti) | Nam Trung Bộ |
| 6 | Khướu đầu đen má xám (Garrulax yersini) | Nam Trung Bộ |
| 7 | Khướu ngọc linh (Garrulax ngọclinhhensis) | Rừng Ngọc Linh |
| 8 | Khướu Kon Ka Kinh (Garrulax konkakinhensis) | VQG Kon Ka Kinh |
| 9 | Khướu ngực hung (Garrulax annamensis) | Nam Trung Bộ |
| 10 | Khướu vằn đầu đen (Actinodura sodangorum) | Rừng Ngọc Linh |
| 11 | Sẻ thông họng vàng (Canduelis monguilloti) | Nam Trung Bộ |
| 12 | Mi langbian (Mi núi bà) (Crosias langbbianis) | Nam Trung Bộ |
| 13 | Chích chạch má xám (Macronous kelleyi) | Cả nước |
Tổng số loài chim đặc hữu rộng (Đông dương và khu vực) đến nay có thể đạt đến con số 30 loài (Nguyễn Cử, 1995)
Nhiều loài chim đặc hữu của Việt Nam cùng với nhiều loài khác bị đe dọa ở mức cao, được ghi trong sách đỏ Việt Nam, sách đỏ Châu Á và thế giới. Tuy nhiên, với các nổ lực không mệt mỏi của các nhà bảo tồn học trong nước và các chương trình quốc tế, chùng ta đã có thể tìm lại được một số loài đã tưởng chừng như bị mất tích như:
Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi), Ngan cánh trắng (Asarcornis scutulata), Niệc cổ hung (Aceros nipalensis), Quắm cánh xanh (Plegadis falcinellus), Vạc hoa (Gorsachius magnificus), Mi lang biang (Mi núi bà) (Crosias langbbianis) , Cò Á châu (Ephippiorhynchus asiaticus)và một số loài khác.
Hiện nay, danh lục chim của nhiều khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn Quốc Gia trong cả nước đã được bổ sung và xây dựng, làm cở sở cho công tác quản lý bảo vệ. Các loài chim được coi là một nhóm trong các nhóm động vật hoang dã quan trọng để tiến hành một dự án nghiên cứu, đề xuất kế hoạch quản lý và xây dựng khu bảo tồn như dự án nghiên cứu các vùng quan trọng phục vụ quy hoạch bảo tồn khu vực đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng Sông Cửu Long, khu BTTN Kẻ Gỗ, Hà Tỉnh, vùng rừng Đăk Rông (Quảng Trị), Phong Điền (Thừa Thiên Huế).
Trong những năm gần đây, có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các chương trình khảo sát trên cả nước của các nhà khoa học trong và ngoài nước nhằm mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học về khu hệ Chim Việt Nam nói chung, và khu hệ chim cho từng khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn quốc gia, các vùng đất ngập nước…nói riêng. Các dữ liệu khoa học này là cơ sở cho công tác quản lý, bảo tồn, gìn giữ nguồn gen quí của Việt Nam. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:
Danh lục chim của khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên Phong Điền và Đăk Rông do Lê Trọng Trải và các đồng nghiệp công bố gồm 171 loài thuộc 13 bộ 35 họ (Le Trong Trai ed. 1999).
Danh lục chim khu BTTN Ngọc Linh (Kon Tum) do Lê Trọng Trải công bố gồm 190 loài (Le Trong Trai ed. 2000a).
Danh lục chim KBTTN Kon Ka Kinh do Lê Trọng Trải và các cộng sự công bố gồm 160 loài thuộc 12 bộ 35 họ (Le Trong Trai ed. 2000c).
Danh lục chim của KBTTN Kẻ Gỗ do Lê Trọng Trải và đồng nghiệp công bố 270 loài gồm 17 bộ 61 họ (Le Trong Trai ed. 2000d).
Danh lục chim của KBTTN Khe Nét do Lê Trọng Trải và đồng nghiệp công bố gồm 182 loài thuộc 13 bộ 35 họ (Le Trong Trai ed. 2001).
Danh lục chim xã Chế Tạo do Tordoff và đồng nghiệp công bố gồm 98 loài (Andrew ed. 2001).
Danh lục chim tại các vùng ven biển của tỉnh Quảng Ninh do Lê Mạnh Hùng công bố gồm 83 loài thuộc 9 bộ 29 họ. Đây là một trong số ít những báo cáo về chim biển ở Việt Nam, trong báo cáo này đã ghi nhận được một số loài đáng quan tâm là Cò thìa mặt đen Platalea minor (E), Quạ khoang Platalea minor (NT), Đại bàng Aquila clanga (VU), Mòng bể mỏ ngắn Larus saundersi (VU) (Lê Mạnh Hùng ed. 2002), (IUCN 2010).
Danh lục chim của huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai do Tordoff công bố gồm 156 loài (Andrew ed. 2002).
Danh lục chim của VQG Phú Quốc do Lê Mạnh Hùng công bố 119 loài chim thuộc 16 bộ, 41 họ (Lê Mạnh Hùng 2005).
Danh lục chim của KBTTN Hữu Liên do Trương Văn Lã công bố gồm 165 loài thuộc 16 bộ 48 họ (Trương Văn Lã 2005).
Danh lục chim của VQG Núi Chúa do Lê Đình Thủy và Hà Quí Quỳnh công bố 162 loài thuộc 17 bộ 49 họ (Lê Đình Thủy và Hà Quí Quỳnh 2005).
Danh lục chim của Khu vực Núi Bidoup do Ngô Xuân Tường công bố đã ghi nhận được 165 loài thuộc 15 bộ 45 họ (Ngô Xuân Tường 2005).
Danh lục chim của Lâm trường Tân Phú do Nguyễn Hoài Bão công bố gồm 153 loài thuộc 14 bộ 39 họ (Nguyễn Hoài Bão 2005).
Danh lục chim ở khu vực rừng thuộc 2 huyện Lệ Thủy và Quảnh Ninh tỉnh Quảng Bình do Ngô Xuân Tường công bố gồm 129 loài thuộc 11 bộ 33 họ (Ngô Xuân Tường 2007b).
Danh lục chim ở xã Tà Bhing (Nam Giang) và Quế Phước (Phước Sơn) tỉnh Quảng Nam do Ngô Xuân Tường công bố gồm 120 loài thuộc 12 bộ 32 họ (Ngô Xuân Tường 2007a).
Danh lục chim vùng đồng Hà Tiên Kiên Lương do tác giả Nguyễn Phúc Bảo Hòa công bố gồm 132 loài chim (Nguyễn Phúc Bảo Hòa và đồng nghệp 2007).
Tài liệu về Khu hệ động vật có xương sống trên Cao nguyên đá Đồng Văn ghi nhận tại đây có 125 loài chim thuộc 12 bộ 40 họ (Đặng Huy Huỳnh 2009).
Kết quả nghiên cứu về chim ăn thịt tại VQG Cúc Phương tại đây đã ghi nhận được 30 loài chim ăn thịt bao gồm 21 loài thuộc bộ Cắt Falconiformes và 9 loài thuộc bộ Cú Stringiformes (Lê Mạnh Hùng 2009).
Tài liệu về thành phần loài chim tại Vườn chim Đạo Trù ghi nhận tại đây có 40 loài chim thuộc 8 bộ 23 họ, không có loài nào nằm trong sách đỏ (IUCN 2010), (Nguyễn Lân Hùng Sơn và đồng nghiệp 2009).
Danh lục chim ở các vùng đất ngập nước tỉnh Vĩnh Phúc do Ngô Đình Thủy và Lê Xuân Tường công bố đã ghi nhận được 96 loài chim thuộc 12 bộ 33 họ (Lê Đình Thủy, Ngô Xuân Tường 2009).
Danh lục chim ở Lâm trường Lộc Bắc do Nguyễn Trần Vỹ công bố đã ghi nhận được 127 loài thuộc 12 bộ 31 họ (Nguyễn Trần Vỹ 2009a).
Danh lục chim ở Lâm trường Nghĩa Trung do Nguyễn Trần Vỹ công bố đã ghi nhận được 115 loài với 13 bộ 33 họ (Nguyễn Trần Vỹ 2009b).
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHIM TẠI BÁN ĐẢO SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG
Các chương trình nghiên cứu khu hệ động vật tại bán đảo Sơn Trà được thực hiện rất sớm từ năm 1973 của Van Peenen và cộng sự nhằm đánh giá khu hệ thú hoang dã tại đây. Cho đến năm 1997, lần đầu tiên các số liệu tổng hợp về khu hệ động, thực vật dược đánh giá một cách tổng thể trong chương trình khảo sát dài hàn trong vòng 2 năm từ 1995 – 1997 của TS. Đinh Thị Phương Anh và cộng sự. Theo đó, kết quả được công bố trong chương trình khảo sát này xác lập danh lục chim của bán đảo Sơn Trà có 106 loài thuộc 34 họ và 15 bộ. Danh lục chim bán đảo Sơn Trà được trình bày cụ thể bên dưới:
Bảng 1.3: Danh lục chim được ghi nhận tại bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng
| TT | Tên loài | TL | QS | TSBQ |
| 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 |
1 – Họ Diệc Ardeidae Cò trắng Egretta garzetta Cò bợ Ardeola bacchus Cò xanh Butories striatus Cò ngàng nhỏ Egretta intermedia Cò lửa Ixobrychus cinnamomeus
2 – Họ Ưng Falconidae Diều hâu Milvus korschun Ưng xám Accipiter 3 – Họ cắt Falconide Cắt bụng hung Falco severus III. Bộ Gà GALLIFORMES 4 – Họ trĩ Phasianidae Gà rừng Gallus gallus Gà tiền mặt đỏ Polyplectron germaini Gà so chân xám Tropicoperdix chloropus Cay Trung Quốc Cotumix chinensis IV. Bộ Sếu GRUIFORMES 5 – Họ Cun Cút Turnicidae Cun cút lưng nâu Turnix suscitator 6 – Họ Gà Nước Rallidae Gà nước vần Rallus striatus Cuốc lùn Porzana pusilla | X X | X X X X X X X X X X X X X X | ++ ++ + + + + + + ++ + + + |
| 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 | V. Bộ rẽ CHARADRIIFORMES 7 – Họ choi choi Charadriidae Choi choi biển Charadrius dubius Choi choi Mông cổ Ch. mongolus Choi choi lưng hung Ch. leschenaultii Choắt nhỏ Tringa hypoleucos Rẽ giun Á châu Capella stenura VI.Bộ Mòng bể LARIFORMES 8- Họ mòng bể Laridae Nhàn nhỏ Stema albifrons VII. Bộ Bồ câu COLUMBIFORMES 9- Họ bồ câu Commbiade Cu xanh đầu xám Treron vemans Cu xanh mỏ quặp T.curvirostra Cu gáy Stroptopelia chinensis Cu ngói S. tranquebaria Cu luồng Challcophaps indica VIII. Bộ Vẹt PSITTACIFORMES 10- Họ Vẹt Psittacidae Vẹt ngực đỏ Psittacula alexandri IX. Bộ Cucu CUCULIFORMES 11- Họ Cucu Cuculidae Chèo chẹo lớn Cuculus sparverioides Phướn Phaenicophaeus tristis Bìm bịp lớn Centropus sinensis Bìm bịp nhỏ C. bengalensis X. Bộ Cú STRIGIFORMES 12- Họ Cú mèo Strigidae Cú mèo khoang cổ Otus bakkamoena XI. Bộ Cú muỗi CAPRIMULGIFORMES 13- Họ cú muỗi Caprimulgidae Cú muỗi lưng xám Caprimulgus affinis XII. Bộ Yến APODIFORMES 14- Họ Yến Apodidae | X X X X X X X | X X X X X X X X X X X X X X X X X X | ++ + + + + + +++ +++ ++ ++ ++ + + + ++ + + |
| 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 | Yến cầm trắng Apus affinis XIII. Bộ Sả CORACIIFORMES 15- Họ Bói cá Alcedidae Bồng chanh Alcedo atthis Sả đầu nâu Halcyon smyrnensis 16- Họ Trảu Meropidae Trảu ngực nâu Merops philippinus Trảu đầu nâu M. viridis Trảu lớn Nyctyornis athertoni 17- Họ Đầu rìu Upupidae Đầu rìu Upupa epops XIV. Bộ Gõ kiến PICIFORMES 18- Họ Cu rốc Capitonidae Thầy chùa đầu xám Megalaima faiostricta Thầy chùa bụng nâu M. lineata 19- Họ Gõ kiến Picidae Gõ kiến nâu Micropternus brachyurus Gõ kiến vàng lớn Chrysocolaptes lucidus XV. Bộ Sẻ PASSERIFORMES 20- Họ Sơn ca Alaudidae Sơn ca Alauda gulgula 21- Họ Nhạn Hirundidae Nhạn bụng xám Hiruno daurica Nhạn hông trắng Delichon urbia 22- Họ Chìa vôi Motacillidae Chim manh Vân Nam Anthus hodgsoni Chim manh lớn A. richardi richardi Chim manh họng đỏ A. cervinus Chim manh Miến Điện A. richardi rufulus Chìa vôi vàng Motacilla flava Chìa vôi trắng M. alba 23- Họ Chào mào Pycnonotidae Cành cạch nhỏ Hypsipetes propinquus Chào mào đít đỏ Pycnonotus jocosus Bông lau đít vàng P. aurigaster Bông lau xám P. bafordi | X X X X X | X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X | ++ + ++ ++ ++ + + + + + + + ++ ++ ++ ++ ++ + ++ ++ +++ +++ ++ ++ |
| 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 68 69 70 71 72 73 74 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 | Bông lau trán vàng P. Finlaysoni 24- Họ Chim lam Irennidae Chim xanh Nam Bộ Chloropsis conchinnensis Chim nghệ lớn Aegithina Iafresnayei Chim lam Irena puella 25- Họ Bách thanh Lanidae Bách thanh lưng nâu Pachycephala cinerea 26- Họ Sáo Sturnidae Sáo đá đầu xám Sturnus malabarica Sáo sậu S. nigricollis Sáo nâu Acridotheres tristis Sáo mỏ vàng A. fuscus Yểng Gracula religiosa 27- Họ Vàng anh Oriolidae Vàng anh đầu đen Oriolus xanthornus 28- Họ Chèo bẻo Dicruridae Chèo bẻo cờ Dicrurus paradiceus Chèo bẻo mỏ quạ D. annectans Chèo bẻo D. macrocercus 29- Họ quạ Corvidae Giẻ cùi xanh Kitta chinensis Chim khách Crypsirina temia 30- Họ Đớp ruồi Muscicapidae Chích chòe nước trán trắng Enicurus schistceus Chích chòe Copsychus saularis Chích chòe lửa C. melabaricus Sẻ đầu đen Saxicola torquata Hoét đá Monticola solitaria Hoét bụng trắng Turdus cardis Chuối tiêu đất Trichastoma tickelli Chuối tiêu đuôi ngắn Malacopteron cinerum Họa mi đất mỏ dài Pomatorhinus hypoleucos Chích chạch má vàng Macronus gularis Chích chạch má xám M. flavicollis Khướư bạc má Garrulax chinensis Khưóư đầu trắng G. leucolophus Lách tách họng hung Alcippe rufogularis Chích nâu Phylloscopus fuscatus Chích mày lơn Ph.proregulus | X X X X X | X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X | ++ ++ + + + + + ++ ++ + + ++ ++ +++ + ++ + ++ ++ ++ + + + + + ++ ++ ++ ++ ++ ++ +++ |
| 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 100 101 102 103 104 105 106 | Chích phương bắc Ph. borealis Chiền chiện núi Prinia atrogularis Chiền chiện bụng vàng P. flaviventris Đớp ruồi Nhật Bản Muscicapa cyanomelana Đớp ruồi họng vàng M. rufigastra Đớp ruồi xanh xám M. thalassina Đớp ruồi xanh gáy đen Hypothymis azurea Rẻ quạt họng trắng Rhipidura albicollis 31- Họ Chim sâu Dicaeidae Chim sâu bụng vạch Dicaeum chrysorrheum Chim sâu vàng lục D. concolor 32- Họ hút mật Nectariniidae Hút mật họng hung Anthreptes singalensis Hút mật họng tím Nectarinia jugularis 33- Họ Vành khuyên Zosteropidae Vành khuyên họng vàng Zosterops palpebrosa 34- Họ Sẻ Ploceidae Sẻ Passer montanus Di đầu đen Lonchura malacca Di đá L. punctulata Di cam L. striata | X X | X X X X X X X X X X X X X X X X | ++ + ++ ++ ++ +++ ++ ++ ++ ++ ++ ++ ++ +++ ++ ++ ++ |
Ghi chú: TL: Theo tài liệu của các tác giả khác đã công bố
QS: Tác giả trực tiếp quan sát ở thực địa
TSBG: Tần suất bắt gặp ở thực địa
Theo đó, Khu hệ chim bán đảo Sơn Trà được ghi nhận không có sự đa dạng về thành phần loài, tuy nhiên rất đa dạng về bậc phân loại Bộ, họ. Với tóng số 15 họ ghi nhận chiếm 75% tổng số bậc phân loại này được ghi nhận tại Việt Nam (20 bộ). Trong đó, Bộ sẻ chiếm đa số trong với 44.12 (tương đương 15 họ) trong tổng số 34 họ chim được ghi nhận tại đây. Trong 42 họ ghi nhận thì họ đớp ruồi có sự đa dạng loài lớn nhất với tổng số 24 loài được ghi nhận, chiếm 22.4%. Tuy nhiên, trong điều kiện của chương trình khảo sát, tác giả chỉ đề cập đến các loài quan sát được ngoài tự nhiên, qua phỏng vấn, kế thừa tác giả khác mà không có hình ảnh minh họa, chưa nêu được đặc trưng về phân bố của khu hệ chim cũng như dữ liệu về các loài chim bản địa, chim di cư trong khu vực nghiên cứu. Ngoài ra, cơ sở dữ liệu để sắp xếp danh lục chim này đã củ và có rất nhiều sự thay đổi về cách sắp xếp các bậc phân loại từ Bộ, Họ, Phân họ, Giống, loài, Phân loài từ đó cho đến nay. Do đó, rất cần một khảo sát tổng thể lại để xác định được đầy đủ tính đa dạng khu hệ chim của bán đảo Sơn Trà.
2.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Địa điểm nghiên cứu nằm trong bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng với tổng diện tích rừng tự nhiên là 4,370ha, với đặc trưng 3 mặt giáp biển, 1 mặt giáp với đất liện có khu dân cư và có nhiều sinh cảnh rừng khác nhau. Tại khu vực nghiên cứu, sỉnh cảnh rừng trồng, cây bụi, trảng cỏ chỉ phân bố phía Nam, giáp với khu vực dân cư và cao độ địa hình thấp từ 80 – 200m so với mực nước biển. Trong điều kiện nghiên cứu như vậy, chúng tôi thiết lập 9 tuyến khảo sát, phân bố trên các sinh cảnh khác nhau. Chiều dài mỗi tuyến dao động từ 3-8km. Chủ yếu sử dụng các tuyến đường mòn trong rừng và đường ô tô. Các điểm đầu tuyến và cuối tuyến, hành trình đi khảo sát trên tuyến, chiều dài tuyến được lưu lại bằng máy định vị toàn cầu GPS Garmin 62Sc.
Chúng tôi thiết lập 5 tuyến khảo sát chính (T1-5) trên sinh cảnh rừng tự nhiên, 2 tuyến (T6-7) đi qua sinh cảnh rừng trồng, cây bụi, trảng cỏ và đặc biệt có 2 tuyến (T8-9) dọc theo các bãi cát, bãi đá ven biển. Thông tin chi tiết về tọa độ đầu, cuối tuyến; chiều dài tuyến, số thứ tự các tuyến được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1: Thông tin chi tiết về các tuyến khảo sát trong khu vực nghiên cứu
| Sinh cảnh | Tuyến | Chiều dài | Tọa độ đầu tuyến | Tọa độ cuối tuyến |
| Rừng tự nhiên | 1 | 7.3 | N16°08’16.5″ E108°14′ 06.7″ | N16°08’08.2″ E108°15′ 37.3″ |
| 2 | 3.5 | N16° 07′ 17.2″ E108° 14′ 54.6″ | N16° 07′ 58.2″ E108° 15′ 19.8″ | |
| 3 | 3.7 | N16° 07′ 43.9″ E108° 16′ 01.5″ | N16° 07′ 10.0″ E108° 17′ 30.9″ | |
| 4 | 8.0 | N16° 07′ 00.3″ E108° 16′ 58.7″ | N16° 06′ 37.1″ E108° 18′ 33.5″ | |
| 5 | 6.8 | N16° 07′ 17.2″ E108° 19′ 56.8″ | N16° 07′ 52.4″ E108° 18′ 57.9″ | |
| Rừng trồng, cây bụi, trảng cỏ, khu dân cư | 6 | 6.9 | N16° 06′ 10.9″ E108° 18′ 26.0″ | N16° 06′ 04.1″ E108° 16′ 35.0″ |
| 7 | 6.6 | N16° 06′ 59.2″ E108° 14′ 59.5″ | N16° 07′ 23.3″ E108° 13′ 47.6″ | |
| Bĩa cát, bãi đá dọc theo ven biển | 8 | 3.0 | N16° 08′ 06.6″ E108° 18′ 56.4″ | N16° 07′ 51.8″ E108° 18′ 25.6″ |
| 9 | 3.2 | N16° 08′ 04.7″ E108° 17′ 15.7″ | N16° 08′ 37.0″ E108° 16′ 12.5″ | |
| Tổng | 9 | = |
Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian gần 5 tháng từ ngày 01/07/2014 đến 15/11/2014. Mỗi tháng thường tổ chức đi thực địa khoảng 8 – 10 ngày vào các ngày thứ 7, chủ nhật cuối tuần. Thời gian khảo sát chỉ diển ra ban ngày từ lúc 6:00 đến 11:00 vì đây là thời điểm chim hoạt động mạnh nhất [Robson, 2010]. Buổi chiều, nhóm khảo sát tập trung cho việc chụp ảnh chim để phục vụ cho công việc nhận dạng loài để lập danh lục thành phần loài chim.
Từ ngày 1 – 15/07/2014: Làm quen với khu vực nghiên cứu, xác định các sinh cảnh cần đặt các tuyến khảo sát, các ô tiêu chuẩn thực vật và tập quan sát chim, chụp ảnh, và nhận dạng chim qua tiếng kêu. Các dữ liệu thu được trong thời gian này rất quan trọng cho việc khảo sát và thu số liệu trên các tuyến khảo sát, điểm quan sát.
Từ 15/07 – 15/11/2014: Khảo sát theo các tuyến đường mòn qua các sinh cảnh khác nhau để thu số liệu, chụp ảnh, đặt lưới mờ để xác định thành phần các loài chim có phân bố.
Tổng số ngày khảo sát trên tyến: 30 ngày
Tổng số tuyến đã khảo sát qua các sinh cảnh: 9 tuyến, số liệu cụ thể về sự phân bồ các tuyến và chiều dài tuyến được trình bày cụ thể trong bảng sau:

Bản đồ phân bố các tuyến khảo sát trên các sinh cảnh sống khác nhau
2.2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Sơn Trà là một bán đảo nằm ở phía Đông Bắc thành phố Đà Nẵng, phía Tây Bắc giáp vịnh Đà Nẵng, Đông Bắc và Đông Nam giáp biển đông, Tây Nam giáp đất liền và Cảng Sông Hàn (hình 3.1).
Về mặt hành chính, bán đảo Sơn Trà thuộc phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, nằm ngang theo hướng Đông Tây và nối với đất liền vùng nội thị của thành phố Đà Nẵng. Khối núi có chiều dài 13 km, chỗ rộng nhất 5 km, hẹp nhất 1,5 km.
Toạ độ địa lý: 108012’45” – 108020’48” kinh độ Đông.
16005’50” – 16009’06” vĩ độ Bắc
Bán đảo Sơn Trà được quy hoạch trở thành khu BTTN Sơn Trà từ năm 1997 theo quyết định số 41/TTg ngày 24.1.1977 của thủ tướng chính phủ với tổng diện tích là 4,370 ha. Tuy nhiên, theo quyết định 1758-QD UBND của ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc quy hoạc 3 loài rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2008 -2020 thì tổng diện tích khu BTTN Sơn Trà còn lại 2,591.1 ha. Trong đó, diện tích đất có rừng là 2,512,1ha (với 2.230 ha diện tích rừng tự nhiên) và diện tích đất trống, đồi trọc là 79.0ha. [Đinh Thị Phương Anh, 1997, Bùi Văn Tuấn, Nguyễn Thị Hiên, Huỳn Thị Nguyệt Hằng, Nguyễn Thị Thoa, Quyết định..]

| Hình 2.1. Ảnh vệ tinh bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) (Nguồn Google Earth, 2010) |
Dãy núi Sơn Trà có hình dáng như một con cá, dài theo hướng Đông Tây, các sườn chạy theo hướng Bắc Nam có độ dốc lớn từ 250 – 300, sườn Đông Bắc dốc hơn sườn Tây Nam. Địa hình của Khu BTTN Sơn Trà bị chia cắt mạnh bởi hệ thống kênh suối. Đỉnh cao nhất bán đảo Sơn Trà là đỉnh ốc cao 696m, đỉnh truyền hình cao 647m, đỉnh 3 quả cầu cao 621m. chiều dài 13 km, rộng 5 km bao quanh vịnh đà nẵng. (Đinh Thị Phương Anh, 1997)
Trong khu vực Sơn Trà có 20 con suối chảy quanh năm hoặc theo mùa, những con suối thường xuyên chảy quanh năm.
Ở sườn Bắc Sơn Trà: Có suối Hải Độ 8, Tiên Sa, Suối Lớn, Suối Sâu, Suối ông Tám, Suối Ông Lưu và suối Bãi Bắc.
Ở sườn Nam Sơn Trà: Có suối Bãi Cồn, Bãi Trệm, suối Đá Bằng, suối Bãi Xếp, Suối Heo, Suối Đá, Suối Cầu Trắng .
Theo đài khí tượng thủy văn Khu vực Trung trung bộ (2007), Bán đảo Sơn Trà mang đặc điểm chung của tính chất khí hậu chung của thành phố Đà Nẵng, tuy nhiên do tính chất bán đảo nên có các đặc điểm khác:
Mùa hè (tháng 1- 8) : Nhiệt độ trung bình 280C – 290C, cao nhất 370 C – 380 C, thấp nhất 270 C – 290 C .
Mùa đông (tháng 9 -12) : Nhiệt độ trung bình 210C – 230C, thấp nhất 170 C – 190C, cao nhất 270C – 290C.
Tổng nhiệt độ năm 90000C.
Tổng lượng mưa 2048mm/ năm; lượng mưa lớn nhất tập trung vào tháng 10, 11, 12; lượng mưa thấp nhất tập trung tháng 6, 7.
Độ ẩm không khí trung bình: 80 – 90%; độ ẩm cao tập trung các tháng 9, 10, 11 (85% – 87%); độ ẩm thấp nhất tập trung tháng 6, 7 (74% – 76%).
Tốc độ gió: Cao tập trung vào tháng 9, 10 (13m/s – 14m/s); thấp tập trung váo tháng 1, 2, 3, 4, 11, 12 (4m/s – 7m/s).
Tổng số giờ nắng trong năm: 1800 – 2000 giờ.
Bảng 2.1. Thống kê lượng mưa qua các tháng ở Sơn Trà và TP Đà Nẵng
| Tháng Khu vực | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 |
| Đà Nẵng | 153.3 | 0.4 | 58.0 | 55.3 | 156.4 | 7.1 | 24.1 | 152.2 | 252.8 | 1147.4 | 893.6 | 163.8 |
| Sơn Trà | 190.1 | 0 | 66.2 | 65.8 | 57.8 | 18.2 | 20.3 | 239.1 | 133.5 | 982.3 | 1164.6 | 303.6 |
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thuỷ văn khu vực Trung trung bộ, 2007)
Qua bảng thống kê cho thấy mùa mưa tại Sơn Trà và Thành phố Đà Nẵng bắt đầu từ tháng 8 đến cuối tháng 12 hoặc tháng 1, các tháng có mưa lớn là 10,11,12. Mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 7.
Luợng mưa tại Sơn Trà nhìn chung cao hơn Đà nẵng, tuy nhiên vào 2 tháng 9, 10 lượng mưa tại Đà Nẵng cao hơn tại Sơn Trà do đây là 2 tháng tại Sơn Trà tốc độ gió cao (13m/s -14m/s), ảnh hưởng đến sự hình thành lượng mưa [8].
Điều này được minh họa qua hình 2.2:
Hình 2.2. Biểu đồ so sánh lượng mưa Đà nẵng và Sơn Trà
Kế thừa kết quả “Điều tra khu hệ động thực vật và nhân tố ảnh hưởng, đề xuất phương án bảo tồn sử dụng hợp lý khu bảo tồn thiên nhiên bán đảo Sơn Trà” của PGS.TS Đinh Thị Phương Anh- Đại học Sư Phạm – ĐH Đà Nẵng, 1997; Khu BTTN Sơn Trà với diện tích tổng cộng là 4.439 ha, trong đó có 4.189,7 ha đất rừng và 249,3 đất loại khác. Trong Khu bảo tồn có khoảng 985 loài thực vật với 483 chi, 143 họ, Trong tổng số gần một nghìn loài thực vật tại khu BTTN Sơn Trà có 22 loài quý hiếm cần được bảo vệ phục hồi và phát triển. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, khu hệ thực vật rừng của bán đảo Sơn Trà bao gồm các kiểu thảm thực vật rừng sau [1].:
+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới
+ Kiểu quần hệ rừng phục hồi sau khai thác kiệt
+ Kiểu quần hệ trảng cây bụi
+ Kiểu quần hệ trảng cỏ
Hình thành các kiểu rừng trên là sự cấu thành bởi 985 loài thực vật thuộc:
Ngành thực vật hạt kín – Angiospermae (919/9812 loài)
Ngành thực vật hạt trần – Gymnospemae (4/63 loài)
Ngành quyết thực vật – Pterophyta (62/644 loài)
Tổ thành loài phong phú, bao gồm nhiều loài ưu thế thuộc họ Dầu (Dipterocarppaceae); Họ Đậu (Leguninoaceae); Họ 3 mảnh vỏ (Euphorbiaceae); Họ Tử vi ( Lythaceae); Họ Lan (Orchidaceae)…Đặc điểm quan trọng là khu hệ thực vật gồm yếu tố khu hệ bản địa Bắc Việt Nam – Trung Hoa mang đặc trưng khu hệ nhiệt đới cổ kỷ thứ III (Tertiary) tiêu biểu là các họ Re (Lanraceae), Da (Fagaceae), Dâu tằm (Moraceae), Đậu (Fabaceae)…Yếu tố ngoại lai gồm thành phần thực vật di cư nguồn Malaysia – Indonesia tiêu biểu là họ Dầu (Dipterocarppaceae) và yếu tố nguồn Ấn độ – Mianma tiêu biểu là các loài cây rụng lá họ Tử vi ( Lythaceae); Họ Thung (Datissaceae), họ Chưng bầu (Combretaceae) và yếu tố nguồn Hymalayas Tiber-Yunman mà tiêu biểu là các loài hạt trần như Thông tre trung bộ, Kim giao lá nhỏ.Với tống diện tích rừng che phủ với hơn 90% diện tích đất, bán đảo Sơn Trà có điều kiện sinh thái rất tốt cho việc sinh trưởng, phát triển, làm tổ của các loài chim.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KY THUAT\LUAN VAN (Dai)


