Nghiên cứu chiết tách xác định thành phần hóa học và phân lập chất từ một số dịch chiết của quả cây Bằng lăng nước

Nghiên cứu chiết tách xác định thành phần hóa học và phân lập chất từ một số dịch chiết của quả cây Bằng lăng nước

Nghiên cứu chiết tách, xác định thành phần hóa học và phân lập chất từ một số dịch chiết của quả cây Bằng lăng nước (Lagerstroemia speciosa L.) tại thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hóa học các hợp chất thiên nhiên nói chung và các hợp chất có hoạt tính sinh học nói riêng là một trong những lĩnh vực luôn được các nhà khoa học quan tâm. Ngay từ xa xưa con người đã biết sử dụng nhiều loại cây cỏ sẵn có trong tự nhiên để phòng và điều trị bệnh. Ngày nay dù y học và ngành công nghệ tổng hợp hóa dược phát triển vượt bậc đã tạo ra rất nhiều các biệt dược trong điều trị bệnh. Song không vì thế mà những đóng góp của thảo dược mất đi chỗ đứng trong y học hiện đại.

Ở nước ta, nền y học cổ truyền đã sử dụng rất nhiều các bài thuốc dân gian, nghiên cứu và sản xuất ra nhiều chế phẩm dược vô cùng quý ‎giá để phòng và điều trị bệnh. Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật cùng thảm thực vật phong phú, các nhà khoa học đã chiết xuất được rất nhiều các hợp chất từ các cây thuốc quý không những chỉ có giá trị chữa bệnh mà còn mang ‎‎đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

Nước ta có một nguồn dược liệu rất phong phú. Theo các số liệu thống kê mới nhất thảm thực vật Việt Nam có trên 12000 loài, trong số đó có trên 3200 loài được sử dụng làm thuốc trong Y học [2], [5]. Trong vô vàn các loại dược liệu quý đó phải kể đến cây Bằng lăng nước có tên khoa học là Lagerstroemia speciosa L. thuộc họ Tử vi Lythraceae. Ở Việt Nam cây thường được gọi đơn giản là Bằng lăng tím hay Bằng lăng. Đây là loài cây có hoa rất đẹp, tán xòe tỏa bóng mát nên thường được trồng nhiều hai bên đường hoặc nơi công sở, trường học để lấy bóng mát. Ngoài dùng làm cây cảnh thì Bằng lăng còn được sử dụng để làm thuốc tùy theo từng bộ phận.

Đối với các nước trên thế giới đặc biệt là Philippines và Ấn Độ, cây Bằng lăng nước thường được sử dụng như một vị thuốc dân gian để chữa trị nhiều bệnh với hiệu quả cao và an toàn. Tất cả các bộ phận của cây đều có thể dùng để làm thuốc. Vỏ cây và lá chữa bệnh tiêu chảy. Hoa cũng dùng để chữa tiêu chảy đồng thời có tác dụng lợi tiểu rất có ích đối với người bị bệnh về bàng quang. Hạt có tác dụng an thần, gây ngủ. Quả dùng để đắp ngoài trị những tổn thương viêm loét ở miệng. Đặc biệt những nghiên cứu hiện đại đã chứng minh trong lá và quả già của cây Bằng lãng nước có chứa nhiều axit corosolic có tác dụng làm giảm đường huyết tương tự như tác dụng của insulin, do đó dùng làm thuốc hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường [13], [14]. Ở Việt Nam, Bằng lăng nước được trồng rất nhiều song tác dụng dược lý của cây vẫn chưa được nhiều người biết đến. Vì vậy nguồn dược liệu quý giá này vẫn chưa được tận dụng.

Trên thế giới đã có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu về hoạt tính sinh học của các chất có trong cây Bằng lăng nước. Tại Việt Nam công trình nghiên cứu về loài cây này chưa nhiều, nếu có chủ yếu tập trung vào hoạt tính và công dụng của lá, vỏ mà chưa có nhiều công trình nghiên cứu về quả của cây. Do đó, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu chiết tách, xác định thành phần hóa học và phân lập chất từ một số dịch chiết của quả cây Bằng lăng nước (Lagerstroemia speciosa L.) tại thành phố Đà Nẵng” cho luận văn của mình để góp phần vào việc tìm hiểu nguồn tài nguyên dược liệu quý giá của đất nước.

2. Mục tiêu nghiên cứu

– Tìm hiểu về loài Bằng lăng nước (Lagerstroemia speciosa L.) thuộc họ Tử vi (Lythraceae) tại thành phố Đà Nẵng.

– Nghiên cứu chiết tách, phân lập và xác định thành phần hóa học chất thu được từ quả Bằng lăng nước.

– Thử hoạt tính sinh học của các cao chiết thu được.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Quả cây Bằng lăng nước thu hái tại thành phố Đà Nẵng vào tháng 8, 10 và tháng 12 năm 2017.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Xác định một số chỉ tiêu hóa lý của nguyên liệu (độ ẩm, hàm lượng tro, hàm lượng kim loại nặng).

– Tiến hành chiết tổng cao ethanol, các cao phân đoạn từ tổng cao ethanol.

– Phân lập chất bằng sắc ký cột (SKC), sắc ký bản mỏng (SKBM) và xác định thành phần các chất từ dữ liệu phổ.

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

– Thu thập, tổng hợp, phân tích các tư liệu trong và ngoài nước về đặc điểm, hình thái thực vật, thành phần hóa học, tác dụng dược lý của quả Bằng lăng nước.

– Tổng hợp tài liệu về phương pháp chiết tách và phân lập các hợp chất thiên nhiên.

4.2. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

– Phương pháp thu hái và xử lý mẫu dược liệu.

– Phương pháp chiết rắn- lỏng, lỏng- lỏng bằng các dung môi có độ phân cực khác nhau.

– Thăm dò hoạt tính sinh học các cao chiết.

– Phương pháp sắc ký cột, sắc ký bản mỏng để phân lập một số hợp chất trong cao chiết.

– Phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (‎GC-MS) xác định thành phần hóa học trong cao chiết.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5.1. Ý nghĩa khoa học

Cung cấp thông tin khoa học về quy trình chiết tách, thành phần và cấu tạo một số hợp chất hóa học, hoạt tính sinh học trong dịch chiết ethanol của quả Bằng lăng nước (Lagerstroemia speciosa L.).

5.2. Ý nghĩa thực tiễn

Góp phần mở rộng nuôi trồng, khai thác và sử dụng loài cây dược liệu này một cách hiệu quả và bền vững.

6. Bố cục của luận văn

Luận văn gồm 85 trang, 15 bảng, 38 hình, 49 tài liệu tham khảo. Ngoài phần mở đầu (04 trang) và kết luận, kiến nghị (02 trang), nội dung chính gồm các phần sau:

Chương 1. Tổng quan (17 trang)

Chương 2. Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu (19 trang)

Chương 3. Kết quả và thảo luận (43 trang)

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN

1.1. TỔNG QUAN VỀ HỌ BẰNG LĂNG VÀ CHI TỬ VI

1.1.1. Họ Bằng lăng

Họ Bằng lăng (hay Tử vi, Tường vi) là một họ khá lớn có tên khoa học là Lythraceae, bao gồm khoảng 24 chi và gần 500 loài, đa số là cây thân thảo và một số cây thân bụi hoặc cây thân gỗ. Các thực vật họ Lythraceae phân bố khắp toàn cầu. Ở Ấn Độ nó được đại diện bởi 11 chi và khoảng 45 loài. Vùng nhiệt đới là khí hậu “ưa thích” của loài này, tuy nhiên chúng cũng sinh sống tốt trong các khu vực có khí hậu ôn đới [7].

Nghiên cứu chiết tách, xác định thành phần hóa học và phân lập chất từ một số dịch chiết của quả cây Bằng lăng nước (Lagerstroemia speciosa L.) tại thành phố Đà Nẵng
Nghiên cứu chiết tách, xác định thành phần hóa học và phân lập chất từ một số dịch chiết của quả cây Bằng lăng nước (Lagerstroemia speciosa L.) tại thành phố Đà Nẵng

1.1.2. Thực vật chi Tử vi

Chi Bằng lăng hay Chi Tử vi (tên khoa học: Lagerstroemia- đặt tên theo nhà tự nhiên học người Thụy Điển là Magnus von Lagerström). Chi Lagerstroemia lần đầu tiên được mô tả bởi Carlos Linnaeus.

Đặc điểm chung của chi Bằng lăng là loại cây gỗ lớn, cao đến 15m, thân thẳng, tán cao, cây trồng chủ yếu bằng hạt, ươm gieo như các cây khác. Thân cây giống như có gân, tạo nếp máng, hàng năm đều lột vỏ. Lá mọc đối, đơn và có chiều dài khoảng 5-20 cm. Hoa mọc thành những cụm dài từ 20-40 cm, có màu trắng, hồng hoặc tím. Cây nở hoa từ giữa đến cuối hè. Quả dạng nang, ban đầu có màu xanh lục, khi quả già chuyển thành nâu, được mở rộng theo 6 hoặc 7 đường, tạo ra các răng giống như đài hoa và giải phóng nhiều hạt nhỏ [7].

Ở Việt Nam, chi Bằng lăng là một chi thảo mộc khá lớn, mọc nhiều ở các rừng Đông Nam Bộ với nhiều tên gọi khác nhau như: Bằng lăng tía, Bằng lăng nước, Bằng lăng lông, Bằng lăng ổi, Bằng lăng sẻ, …, dựa trên sự khác biệt về đặc điểm của thân, gỗ, nơi sinh trưởng cũng như màu sắc của hoa. Hoa Bằng lăng có nhiều màu: tím, tím trắng, tím sậm, hồng, hồng trắng, trắng, đỏ, trắng lợt, …, trong đó phổ biến là Bằng lăng nước (Lagerstroemia speciosa L.) và Bằng lăng ổi (Lagerstroemia calyculata Kurz) [2].

1.2. TỔNG QUAN VỀ BẰNG LĂNG NƯỚC

1.2.1. Tên gọi, phân loại thực vật

Tên khoa học: Lagerstroemia speciosa L.

Tên thông thường: Bằng lăng nước, Bằng lăng tím.

Theo phân loại thực vật:

– Giới (Regnum) : Plantae (Thực vật)

– Ngành (Division) : Magnoliophyta (Thực vật có hoa)

– Lớp (Class) : Magnoliopsida (Thực vật 2 lá mầm)

– Bộ (Ordo) : Myrtales (Đào kim nương)

– Họ (Familia) : Lythraceae (Bằng lăng)

– Chi (Genus) : Lagerstroemia (Tử Vi)

– Loài (Species) : Lagerstroemia speciosa L.

Hình 1.1. Tiêu bản cây Bằng lăng nước [Nguồn: internet]

Bằng lăng nước hay Bằng lăng tím (Lagerstroemia speciosa L.) được phân bố rộng rãi ở Philippines, Ấn Độ và Malaysia. Người Ấn Độ thường gọi nó là “Niềm tự hào của Ấn Độ” và người Philippines gọi nó là banaba theo tiếng Tagalog (dân tộc lớn nhất Philippines) [7]. Loài này có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Nam Á, hiện có nhiều ở Đông Nam Á, Ấn Độ và các vùng nhiệt đới khác. Ở Việt Nam Bằng lăng tím mọc nhiều nhất ở các rừng vùng Đông Nam Bộ, đặc biệt là rừng cây gỗ gần thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông [6]

1.2.2. Đặc điểm hình thái thực vật học

Bằng lăng nước là loài cây thân gỗ, cao từ 10 – 15 m, đường kính từ 20 – 40 cm. Thân cây thẳng và khá nhẵn nhụi, phân nhánh cao. Tán rộng, dày, hình chóp, cành dài, mềm, hơi rũ xuống. Lá hình oval hoặc elip, cứng, nhẵn, dài từ 8 đến 20 cm, rộng từ 3 đến 7 cm, đan xen vào nhau. Lá màu xanh lục khi non và màu đỏ khi già, rụng theo mùa. Hoa màu tím hoặc tím nhạt, mọc thành chùm, dài từ 20 đến 40 cm. Mỗi bông hoa có 6 cánh, mỗi cánh dài chừng 2 đến 3,5 cm. Quả nang hình trứng, bên ngoài hơi nhám, kích thước 20×18 mm. Lúc tươi quả màu xanh lục, mềm. Khi chín quả có màu nâu, nứt làm 6 mảnh, bung ra và phát tán hạt. Các quả già thường khô trên cây. Loài Bằng lăng cho bóng mát và cho hoa đẹp nên được trồng làm cây cảnh. Cây thường rụng lá vào đầu mùa đông, ra lá non tháng 3,4. Mùa hoa tháng 5-6, thường nở rộ vào khoảng tháng 6 và mùa quả từ tháng 8 đến tháng 10 [1].

Một số bộ phận của cây Bằng lăng nước được thể hiện trên hình 1.2.

q1

Hình 1.2. Một số bộ phận của cây Bằng lăng nước: Lá (a), quả trưởng thành (b), quả già (c) và quả khô (d)

1.2.3. Phân bố

Cây Bằng lăng nước sinh trưởng tốt ở những nơi khí hậu ấm áp nên thường thấy ở các vùng nhiệt đới Nam Á, Đông Nam Á, Ấn Độ và các vùng nhiệt đới khác. Loại cây này thường sinh sống chủ yếu trong những kiểu rừng khô rụng lá, nửa rụng lá. Cây thường phân bố tại những nơi có độ cao không quá 700 m trên mực nước biển.

Hình ảnh có liên quan

Hình 1.3. Bằng lăng nước được trồng trên các tuyến phố làm tăng vẻ đẹp cho cảnh quan đô thị

[Nguồn: internet]

Mặc dù có nguồn gốc từ Ấn Độ, Bằng lăng nước đã nhanh chóng được du nhập và phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, trước đây Bằng lăng nước là loại cây mọc hoang, thường phân bố chủ yếu ở những tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ như Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Đà Nẵng và một số tỉnh ở khu vực Tây Nguyên như Gia Lai, Đắc Lắc, Kon Tum. Ngoài ra ở vùng Đông Nam Bộ như Bình Phước, Đồng Nai, …, cũng bắt gặp cây Bằng lăng nước sinh sống và phát triển. Hiện nay, Bằng lăng nước được ưa chuộng trên tất cả các tuyến phố để xây dựng cảnh quan đô thị, cho bóng mát và lọc sạch không khí. Một số nơi bắt đầu trồng làm dược liệu [7].

1.2.4. Điều kiện sinh trưởng và phát triển

Bằng lăng nước là cây có biên độ sinh thái khá rộng, thường hay mọc tại ven hồ, ven sông suối, ven các đầm nước ngọt. Một trong những đặc điểm của Bằng Lăng là thuộc loại cây ưa sáng khi đã trưởng thành. Tuy nhiên, lúc cây còn non thì lại là cây ưa bóng. Do đó, cây có thể phát triển được tốt dưới những tán rừng có tàn che nhẹ. Bằng lăng nước được trồng chủ yếu bằng hạt, ươm gieo như các cây khác.

Đất trồng Bằng lăng nước phải có tầng đất mặt tơi xốp, dễ thoát nước. Nếu đất có độ pH thấp cần bón thêm vôi. Trước khi trồng tiến hành đào hố trước ít nhất 1 tháng, kích thước hố và lượng phân bón lót tùy thuộc vào đất giàu hoặc nghèo dinh dưỡng, thông thường là 50 x 50 x 50 cm. Trộn đều lớp đất mặt với phân hữu cơ, NPK, phân bón lót, phân lân, vôi,…, sau đó cho hỗn hợp đất, phân xuống hố. Công việc trên cần thực hiện trước khi trồng cây ít nhất nửa tháng. Mật độ trồng thích hợp từ 500 đến 834 cây/ha. Cây cách cây 3m, hàng cách hàng 4 m, hoặc cây cách cây 4m, hàng cách hàng 5m. Sau khi trồng cần làm cỏ, xới đất kết hợp tủ gốc giữ ẩm cho cây 4-5 lần/năm. Trong 3 năm đầu khi cây chưa kép tán cần trồng thêm cây che bóng giữa các hàng để bảo vệ đất, nhằm tăng cường chất hữu cơ và giảm công làm cỏ. Lượng phân bón trong 3 năm đầu như sau: phân chuồng 5-10 kg, phân NPK 150g/gốc/năm. Các năm sau tăng dần lượng phân lên, nên bón phân vào lúc làm cỏ và vun gốc vào đầu, giữa và cuối mùa mưa.

Cây được trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5,6) và được trồng dặm trước tháng 9 hàng năm. Là loài cây chịu được điều kiện thời tiết khắc nghiệt, khả năng chống gió bão tốt nên có thể chọn làm cây trồng bảo vệ đô thị, bảo vệ rừng đầu nguồn, cây lấy lấy gỗ và làm dược liệu [7]

1.2.5. Thuộc tính dược lý

Bằng lăng nước từ xa xưa đã được người Philippines, Ấn Độ sử dụng như một loại dược liệu để chữa bệnh tiểu đường và béo phì vì trong lá và quả già của cây có hàm lượng axit corosolic khá cao có tác dụng làm hạ đường huyết [4], [22]. Ngoài ra, các hợp chất tanin như ellagitannins, lagertannins, lagerstroemia trong lá và quả Bằng lăng cũng được chứng minh có tác dụng làm hạ đường huyết [3], [5]. Trong Y học cổ truyền châu Á, người ta sử dụng lá Bằng lăng nước làm trà uống hàng ngày để trị đau dạ dày và kiểm soát mức đường huyết. Các chất trích ly được thương mại hóa đôi khi cũng được dùng làm giảm mỡ, chống béo phì [18]. Người bị bệnh tiểu đường có thể dùng lá hoặc quả Bằng lăng già sắc hoặc hãm lấy nước uống hằng ngày. Lá non và hoa Bằng lăng cũng có tác dụng giảm đường huyết nhưng chỉ có hiệu lực bằng 70% so với lá già và quả già. Các hoạt chất chiết được từ lá và quả Bằng lăng nước thường tìm thấy trong các thuốc bổ sung đa thành phần để làm giảm cân, ví dụ như CortiSlim.

Hình 1.4. Chế phẩm CortiSlim sản xuất từ lá và quả Bằng lăng nước.

Dược liệu này chứa ankaloid, flavonoid, saponin và cumarin. Tanin trong vỏ với hàm lượng 30%, chủ yếu là catechin (khoảng 23%) và một lượng nhỏ tanin gallic (khoảng 7%).

Vỏ cây Bằng lăng còn được dùng để trị bệnh đau, loét dạ dày, tiêu chảy, rễ trị sốt, quả đắp lở miệng, hạt trị mất ngủ [27].

Chất có trong lá, quả, vỏ cây Bằng lăng có thể ngăn cản sự tồn đọng carbonhydrate đồng thời làm giảm sự hình thành mỡ, do đó có thể sử dụng để chữa bệnh béo phì, thừa cân [40]. Trong lá và quả Bằng lăng còn chứa valoneic acid dilactone được sử dụng như chất ức chế xanthine oxidase giúp làm giảm acid uric nên được dùng trong điều trị bệnh gout. Dịch chiết từ lá và quả Bằng lăng có tác dụng đối với bệnh nhân gout tốt hơn là sử dụng thuốc tân dược [44].

Trong lá, quả, vỏ Bằng lăng cũng chứa các thành phần kháng khuẩn, lợi tiểu rất tốt đối với người mắc bệnh đường tiết niệu. Do đó giúp phòng ngừa, chữa trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu [35].

Bằng lăng còn dùng để điều trị các vết bỏng. Có thể dùng cao đặc vỏ Bằng lăng bôi lên vết bỏng có tác dụng làm se khô, giảm nhiễm khuẩn và tạo màng thuốc che phủ các vết thương, không cần phải băng, tránh đau đớn cho người bệnh khi thay băng. Nhờ tính kháng khuẩn nên cao Bằng lăng giúp cho vết bỏng mau lành và liền sẹo nhanh hơn. Cao Bằng lăng được dùng để chữa trị nấm, hắc lào, ….[10].

Kết quả thử độc tính cho thấy các hoạt chất trong Bằng lăng nước tuyệt đối an toàn đối với sức khỏe khi sử dụng và chưa có báo cáo về tác dụng phụ được công bố. Tuy nhiên, cần lưu ý sử dụng thận trọng trong các trường hợp trẻ em, phụ nữ có thai và cho con bú. Bệnh nhân tiểu đường đang sử dụng thuốc hạ đường huyết nhóm sulfonylureas (Glipizide và Glyburide) cần phải điều chỉnh liều nếu sử dụng kết hợp với sản phẩm chứa Bằng lăng nước [22].

Sau đây là một số công trình nghiên cứu về tác dụng dược lý‎‎ của cây Bằng lăng nước:

+ Năm 1999, Suzuki Y, Unno T và các cộng sự, nghiên cứu khả năng chống béo phì của 5% chiết xuất nước nóng từ lá Lagerstroemia speciosa L. và kết quả cho thấy rằng banaba có tác dụng có lợi trên chuột cái béo phì KK-AY [40].

+ Năm 2003, William V. Judy và các cộng sự sàng lọc hoạt động chống đái tháo đường của 80% w/w chiết xuất lá ethanol nước từ Lagerstroemia speciosa L. tiêu chuẩn hóa để 1% axit corosolic (GlucosolTM). Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên liên quan đến bệnh nhân tiểu đường loại II cho thấy công thức gel mềm có khả dụng sinh học tốt hơn so với chế phẩm dạng bột khô: lượng GlucosolTM trong một công thức viên nang gel mềm làm giảm 30% lượng đường trong máu (so với giảm 20% thấy với dạng bột khô) [45].

+ Năm 2004, Unno T và các cộng sự nghiên cứu Xanthine oxidase trên dịch chiết lá của Lagerstroemia speciosa L. và thấy rằng chiết xuất có hoạt tính ức chế trên Xanthine oxidase, cho thấy khả năng ngăn ngừa và điều trị tăng acid uric máu [44].

+ Năm 2005, Custer C. Deocaris và các cộng sự thử tác dụng hoạt động hạ đường huyết của chiếu xạ ethanol 80% của lá Lagerstroemia speciosa L.. Kết quả thử nghiệm điều trị tiểu đường trên chuột bằng alloxan cho thấy sự suy giảm đáng kể nồng độ đường trong máu trong vòng 1,5 giờ [14].

+ Năm 2008, Priya TT và các cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính chống viêm của chiết xuất ethyl acetate và ethanol của lá cây Lagerstroemia Speciosa L.. Nghiên cứu được tiến hành bằng cách sử dụng viêm cấp tính do carrageenan gây ra và các xét nghiệm phù nề mạn tính do formalin gây ra. Chiết xuất ethyl axetat làm giảm đáng kể tình trạng viêm theo liều phụ thuộc, còn chiết xuất ethanol không cho tác dụng trên cả các mô hình viêm cấp tính và mãn tính [34].

+ Năm 2009, Amornnat Thuppia và các cộng sự đã đánh giá tác dụng hạ đường huyết từ lá Lagerstroemia speciosa L. ở chuột bình thường và thấy rằng chiết xuất lá của Lagerstroemia speciosa L. có thể làm giảm đường huyết và làm giảm lượng streptozotocin (STZ) gây ra bệnh tiểu đường của chuột [9].

+ Năm 2009, Barun Kanti Saha và các cộng sự nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của chiết xuất nước nóng lá Lagerstroemia speciosa L. trên bệnh tiểu đường gây bởi các quá trình phản ứng chuyển hóa hóa học ở chuột. Trong trường hợp này chiết xuất nước nóng của Lagerstroemia speciosa L. có tác dụng ức chế gluconeogenesis và kích thích quá trình oxy hóa glucose bằng cách sử dụng con đường phosphate pentose [36].

+ Năm 2010, Ahosan Morshed và các cộng sự sàng lọc hoạt tính chống nhiễm khuẩn của chiết xuất cloroform của vỏ cây Lagerstroemia speciosa L., sử dụng mô hình đau dạ dày do axit axetic gây ra ở chuột bạch tạng của Thụy Sĩ. Kết quả nghiên cứu cho thấy Lagerstroemia speciosa L. có hoạt tính chống ung thư mạnh [27].

+ Năm 2011, Saumya SM và các cộng sự nghiên cứu hoạt động chống oxy hóa của chiết xuất lá Lagerstroemia speciosa L. nhằm triệt tiêu các gốc tự do tạo ra bởi TEAC, superoxide, hydroxyl, hydrogen peroxide và nitric oxide và cho thấy nó là một chất chống oxy hóa đầy tiềm năng [38].

+ Năm 2012, Fatema Nasrin và các cộng sự nghiên cứu hoạt tính chống oxy hóa của chiết xuất methanolic của lá Lagerstroemia speciosa L. cho hoạt động chống oxy hóa của họ và tìm thấy hoạt động chống oxy hóa đáng kể [17].

+ Năm 2013, Pavithra GM và các cộng sự nghiên cứu hoạt động chống oxy hóa của chiết xuất methanol của hoa Lagerstroemia speciosa L. bằng cách sử dụng xét nghiệm nhặt rác gốc DPPH và quan sát thấy hoạt tính chống oxy hóa đáng kể của chất chiết xuất từ ​​hoa [33].

+ Năm 2013, Suri S và các cộng sự sàng lọc hoạt tính chống HIV của dung dịch nước và 50% chất chiết xuất từ ​​lá và thân của Lagerstroemia speciosa L. bằng xét nghiệm dựa trên gen in vivo và tìm thấy hoạt tính chống HIV mới của Lagerstroemia speciosa L. vì sự hiện diện của axit gallic và axit ellagic thông qua sự ức chế sao chép ngược và protease HIV [39].

+ Năm 2013, LMV Laruan và các cộng sự nghiên cứu phytochemical và hoạt tính kháng khuẩn của chiết xuất methanol từ Lagerstroemia speciosa L. bằng một phương pháp cải tiến của kỹ thuật Kirby-Bauer. Họ phát hiện ra rằng chất chiết xuất có hoạt tính kháng khuẩn cao chống lại vi khuẩn E. coli, Staphylococcus và Pseudomonas aeruginosa [26].

+ Năm 2014, Asish Bhaumik và các cộng sự nghiên cứu các hợp chất hoạt tính sinh học của methanol, ethanol và chiết xuất cloroform của quả cây Lagerstroemia speciosa L. bằng phương pháp khuếch tán agar sử dụng vi khuẩn nuôi cấy, Staphylococcus auerus, Bacillus subtillus, Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli và nấm Asperilgillus niger, Asperigillus flavus , Candida albicans. Họ phát hiện ra rằng tất cả các chất chiết xuất đều có hoạt tính chống vi khuẩn vừa phải đối với các vi sinh vật thử nghiệm [10].

+ Tại Việt Nam, năm 2007, để kiểm chứng, một nhóm tác giả Phùng Thanh Hương, Nguyễn Xuân Thắng, Đỗ Ngọc Liên đã nghiên cứu khả năng hạ đường huyết của cao chiết ethanol 700 từ lá và quả Bằng lăng nước trên chuột nhắt trắng có mức glucozo huyết cao. Kết quả nghiên cứu cho thấy cao chiết lá và quả Bằng lăng nước có tác dụng hạ mức đường huyết trên chuột, đỉnh tác dụng vào giờ thứ 3 và thứ 4. Cao chiết với liều tương đương 18,2 gam dược liệu khô/kg có tác dụng ức chế tăng glucose huyết. Tác dụng này tương tự như tác dụng của insulin [4]

1.2.6. Thành phần hóa học

Năm 1961, Carew D.P và Chin T.F đã làm các thí nghiệm để kiểm tra một số nhóm chất có trong lá và quả của Lagerstroemia speciosa L. ở Philippin và đã đi đến kết luận: lá, quả có tanin, glucosit trợ tim, flavonoid, terpenoid và alkaloid [12].

Các nghiên cứu thực hiện trong những năm gần đây cũng cho thấy thành phần hóa học của Lagerstroemia speciosa L. có terpenoid, alkaloid, tanin, các axit béo và dẫn xuất [21]. Ngoài ra, trong thành phần của loài này cũng có chứa các kim loại như sắt, magiê và kẽm [37].

Tại Việt Nam, Năm 2011, Nguyễn Quyết Tiến và cộng sự đã phân lập được 5 hợp chất từ lá cây Bằng lăng nước thu hái tại Từ Liêm, Cầu Giấy, Hà Nội đó là: β – sitosterol, β-sitosterol-3-O-glucopyranoside, 2,3,7-tri-O-methylellagic acid, 2,3,8-tri-O-methylellagic acid và Cyclitol [7].

Năm 2012, Tôn Nữ Liên Hương và cộng sự đã phân lập được 3 hợp chất từ vỏ cây Bằng lăng nước là: stigmasterol, acid betulinic và oleana-9,12-dien-3-ol [8].

a. Terpenoid

Các terpenoid đã phân lập được từ lá và quả của Lagerstroemia speciosa L. bao gồm: Stigmassterol (1), Campesterol (2) [29]; β-sitosterol (3) và axit ursolic (4) [30], axit leolenic (5) và axit betulinic (6) [20]; axit corosolic (7) [24]. Ngoài ra trong thành phần của L. speciosa còn có lagerenol, lagerenyl acetate [41]. Một số terpenoid đã phân lập được được trình bày ở bảng 1.1.

Bảng 1.1. Các tecpenoid trong Lagerstroemia speciosa L.

STTTên ChấtCông thức cấu tạoTLTK
 

1

StigmassterolNiranjan M

[29]

(2010)

 

2

CampesterolNiranjan M

[29]

(2010)

 

3

β – sitosterolOkada Y

[30]

(2003)

4Ursolic acidOkada Y

[30]

(2003)

 

5

Oleanoic acidJanicsak, G

[20]

(2006)

 

6

Corosolic acidKatta VK

[7]

(2006)

 

7

Betulinic acidJanicsak, G

[20]

(2006)

b. Alkaloid

Kết quả của những công trình nghiên cứu về loài Lagerstroemia speciosa L. cho biết, thành phần hóa học chủ yếu của loài này là các alkaloid. Một số alkaloid đã được phân lập là: Lagerin (1), o-metyllagerin (2), lagerstroemin (3), dihidroverticillatin (4), verti (5), decamin (6) [29].

Khi nghiên cứu lá loài Lagerstroemia speciosa L. Iida. H và Comins D.L đã phát hiện một số alkaloid khác như: Subcosin I (7), lasubin I (9), lasubin II (10) [19], subcosin II (8) [13]. Còn Blomster R.N và Zachrias D.E đã phân lập được lythridin (11) [11], lythrin (12) [49] và decinin (13) [46]. Alkaloid đã được phân lập từ loài Lagerstroemia speciosa L. được trình bày ở bảng 1.2

Bảng 1.2. Các alkaloid trong cây Bằng lăng nước

STTTên chấtCấu tạoTLTK
1LagerinNiranjan M

[29]

(2010)

2o-MetyllagerinNiranjan M

[29]

(2010)

3LagerstroeminNiranjan M

[29]

(2010)

4DihidroverticillatinNiranjan M

[29]

(2010)

5VertinNiranjan M

[29]

(2010)

6DecaminNiranjan M

[29]

(2010)

7Subcosin IIida. H

[19]

(1984)

8Lasubin IIComins D.L

[13]

(1992)

9Lasubin IIida. H

[19]

(1984)

10Subcosin IIIida. H

[19]

(1984)

11LythridinBlomster R.N

[11]

(1964)

12LythrinZacharias D.E

[49]

(1965)

13DecininWright. H

[46]

(1971)

c. Tanin

Trong lá, vỏ, quả của của cây Bằng lăng nước có chứa tanin. Những tanin được phân lập được gồm: Axit gallic (1), catechin (2) [42], axit ellagic (3), lagertanin (4), 3,7,8-tri-O-methylellagic acid (5) [12], [16] được trình bày ở bảng 1.3.

Bảng 1.3. Ccác tanin trong cây Bằng lăng nước

STTTên chấtCông thức cấu tạoTLTK
1Axit gallicTomonori Unno

[42]

(1997)

2CatechinTomonori Unno

[42]

(1997)

3Axit ellagicCarew D.B

[12]

(1961)

Della GM

[16]

(1994)

4LagertaninCarew D.B

[12]

(1961)

Della GM

[16]

(1994)

53,7,8-tri-O–

methylellagic acid

Carew D.B

[12]

(1961)

Della GM

[16]

(1994)

Trong công trình nghiên cứu về thành phần hóa học của loài Lagerstroemia speciosa L., Xu Y.M đã chỉ ra rằng trong lá có flosin A, reginin A, reginin B, reginin C và reginin D [48].

d. Các thành phần khác

Ngoài tanin, alkaloid, terpenoid đã đề cập ở trên, các nhà khoa học cũng đã nhận dạng và phân lập một số hợp chất khác như: ancol n- amylic [50], lageraxetal, epiepoxydon [51] và các axit cacboxylic (axit panmitic, axit oleic, axit stearic…) [52] từ lá cây Bằng lăng nước.

CHƯƠNG 2

NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. NGUYÊN LIỆU, HÓA CHẤT VÀ DỤNG CỤ

2.1.1. Nguyên liệu

Nguyên liệu quả Bằng lăng được thu hái trên cùng một cây tại Liên Chiểu – Đà Nẵng với 3 loại: quả trưởng thành, quả già và quả khô.

Quả trưởng thành (hình 2.1a): thu hái vào tháng 8/2017 sau khi cây kết quả chừng 2 tháng, đạt kích thước gần như lớn nhất, nhưng còn mềm, chưa cứng chắc.

Quả già (hình 2.1b): thu hái vào tháng 10/2017 sau khi cây kết quả chừng 4 tháng, quả cứng chắc, số ít bắt đầu mất nước, vỏ quả màu sậm và đã có quả chớm khô nứt.

Quả khô (hình 2.1c): thu hái vào tháng 12/2017 sau khi cây kết quả chừng 6 tháng, quả cơ bản khô, vỏ ngoài nứt để lộ các lớp bên trong.

Hình 2.1. Nguyên liệu thô sau khi thu hái (tháng 8, 10, 12/2017)

Quả Bằng lăng nước sau thu hái được rửa sạch, để khô trong không khí, nghiền mịn, bảo quản trong bao polyetylene và đựng trong hộp có nắp, để nơi râm mát theo quy định bảo quản bột dược liệu

2.1.2. Hóa chất

Các dung môi để ngâm chiết mẫu đều dùng loại tinh khiết (P), khi dùng cho các loại sắc ký cột, sắc ký lớp mỏng sử dụng loại tinh khiết phân tích (PA). Các hóa chất sử dụng trong nghiên cứu của luận văn này được đưa ra trên bảng 2.1.

Bảng 2.1. Các hóa chất sử dụng trong luận văn

STTTên hóa chấtĐộ tinh khiếtTiêu chuẩnNguồn gốc
1HexaneTinh khiếtTCCSTrung Quốc
2Ethyl acetateTinh khiếtTCCSTrung Quốc
3Ethanol 96%Tinh khiếtTCCSTrung Quốc
4DiclometanTinh khiếtTCCSTrung Quốc
5H2SO4 (98%)Tinh khiếtTCCSTrung Quốc
6(Bi(NO3)3.H2O98%TCCSTrung Quốc
7KITinh khiếtTCCSTrung Quốc
8HCl đặcTinh khiếtTCCSTrung Quốc
9HgCl2Tinh khiếtTCCSTrung Quốc
10NaOHTinh khiếtTCCSTrung Quốc
11AgNO399,8%TCCSTrung Quốc
12NH4OHTinh khiếtTCCSTrung Quốc
13VanillinTinh khiếtTCCSTrung Quốc
14MethanolTinh khiếtTCCSTrung Quốc
15Fe2(SO4)3Tinh khiếtTCCSTrung Quốc
16CH3COOHTinh khiếtTCCSTrung Quốc
17KOHTinh khiếtTCCSTrung Quốc
18Formol 36%Tinh khiếtTCCSTrung Quốc
19Na2SO4Tinh khiếtTCCSTrung Quốc

Sắc ký lớp mỏng dùng loại đế nhôm tráng sẵn Kieselgel 60F254 độ dày 0,2 mm (Art. 5554).

Sắc ký cột sử dụng silicagel Merck 60, cỡ hạt 230-400 mesh (0,063 – 0,200 mm).

Các sắc ký lớp mỏng sau khi đã chấm mẫu được soi dưới đèn tử ngoại ở 254 và 365 nm hoặc phun thuốc thử vanilin – H2SO4 5% và sấy ở trên 100oC, để phát hiện chất.

2.1.3. Dụng cụ và thiết bị

Tủ sấy, lò nung, cân phân tích 3 số, bếp cách thủy, bếp điện, cốc thủy tinh, phễu chiết, ống đong, pipet, giấy lọc, cột sắc ký và các dụng cụ thí nghiệm khác.

– Đèn UV bước sóng 254 và 365 nm.

– Máy đo quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS 100 Perkin Elmer.

– Máy đo quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS LAMBDA25.

– Máy sắc ký kết hợp khối phổ GC – MS.

2.2. ĐỊNH LƯỢNG CAO ETHANOL VÀ XÁC ĐỊNH CÁC CHỈ TIÊU HÓA LÝ CỦA NGUYÊN LIỆU

2.2.1. Định lượng cao ethanol quả Bằng lăng các loại trưởng thành, già và khô

Quả Bằng lăng các loại trưởng thành, già và khô trên cây được nghiền thành dạng bột mịn. Cho vào 3 bình cầu mỗi bình 100 g bột nguyên liệu các loại, thêm vào 500 ml ethanol 96o, ngâm chiết 3 lần, mỗi lần 24 giờ ở nhiệt độ phòng. Gộp dịch chiết và cô đuổi dung môi đến khối lượng không đổi, đem cân xác định khối lương cao ethanol thu được.

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\HOA HUU CO\HO DAC TRAN QUYNH NI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *