NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA LỚP GIÁP XÁC LỚN (MALACOSTACA: CRUSTACES) Ở SÔNG TRƯỜNG GIANG TẠI HUYỆN NÚI THÀNH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA LỚP GIÁP XÁC LỚN (MALACOSTACA: CRUSTACES) Ở SÔNG TRƯỜNG GIANG TẠI HUYỆN NÚI THÀNH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA LỚP GIÁP XÁC LỚN (MALACOSTACA: CRUSTACES) Ở SÔNG TRƯỜNG GIANG TẠI HUYỆN NÚI THÀNH

1. Lý do chọn đề tài

Quảng Nam có đường bờ biển dài trên 125 km với nhiều con sông lớn. Sông Trường Giang chiều dài 67 km, chạy dọc tỉnh Quảng Nam, phía bắc đổ ra Cửa Đại- Hội An, phía Nam đổ ra Cửa Hòa An- Núi Thành. Trong những năm gần đây, sự gia tăng dân số, sự phát triển của các ngành kinh tế, công nghiệp, cùng với tác động khai thác ngày càng lớn làm ảnh hưởng đến dòng chảy và suy giảm chất lượng nước ở sông Trường Giang từ đó ảnh hưởng đến sự đa dạng và phân bố của các sinh vật thủy sinh. Tại các thủy vực nước ngọt, Giáp xác tham gia vào quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng, là mắt xích quan trọng trong lưới thức ăn của thủy vực và tạo sự cân bằng cho các thuỷ vực. Ngoài ra, nhiều loài còn là sinh vật chỉ thị để đánh giá chất lượng nước ở các thủy vực.

Việc nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến thành phần loài và phân bố của Giáp xác là cơ sở cho việc bảo vệ, khai thác lâu dài, phục vụ phát triển bền vững kinh tế- xã hội tỉnh Quảng Nam.

2. Mục tiêu đề tài

– Xác định được thành phần loài của lớp Giáp xác tại sông Trường Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

– Xác định được khu vực phân bố của các loài Giáp xác, đặc điểm phân bố, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố Giáp xác ở sông Trường Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

– Tìm hiểu mối liên quan giữa các động vật lớp Giáp xác ở các thủy vực với một số yếu tố môi trường nước.

– Tìm hiểu tình hình nuôi trồng, khai thác các loài Giáp xác ở sông Trường Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

– Đề xuất được các nhóm giải pháp khả thi về quản lý và khai tháchợp lý các loài Giáp xác.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Các loài thuộc lớp Giáp xác (Crustacea), bao gồm các loài Giáp xác cỡ lớn ở nước tại sông Trường Giang trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Công tác khảo sát thực địa, thu thập mẫu vật được tiến hành trong thời gian từ tháng 4/2017 đến tháng 11/2017, tiến hành thu mẫu cả hai mùa, mùa khô và mùa mưa. Diễn ra ở 10 điểm thu mẫu, các điểm thu mẫu được ký hiệu từ M1–10.

4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

4.1. Ý nghĩa khoa học

Cung cấp một cách có hệ thống về thành phần loài, phân bố, sự biến động về thành phần loài và mật độ, mức độ đa dạng sinh học của lớp giáp xác ở nước tại khu vực nghiên cứu.

4.2.Ý nghĩa thực tiễn

Là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch, giải pháp khả thi nhằm quản lí, bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên sinh vật; quy hoạch và phát triển bền vững nguồn lợi của lớp giáp xác tại đây.

5. Những đóng góp mới của đề tài

– Lần đầu tiên cung cấp một cách có hệ thống và đầy đủ về thành phần loài, hiện trạng ĐDSH giáp xác cỡ lớn ở nước tại sông Trường Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

– Ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến thành phần loài giáp xác cỡ lớn ở nước.

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

    1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘNG VẬT GIÁP XÁC CỠ LỚN TRÊN THẾ GIỚI

Đã có hàng loạt công trình khảo sát cơ bản quan trọng về thành phần Giáp xác nước ngọt ở khu vực này như Lonergan và cộng sự (1996) [43], Hunt và cộng sự (2003) [42], Balian và cộng sự (2008) [36], De Grave (2008) [39]. Tại Philippin, từ nửa đầu thế kỷ XX đã có nhiều công trình nghiên cứu về tôm Atyidae, trong đó phải kể đến các công trình của Blanco (1935, 1939) và gần đây là công trình của Chace (1997), công bố các kết quả nghiên cứu tôm Atyidae của chuyến khảo sát Albatros (1907-1910) tại Philippines và công trình nghiên cứu của Cai (2004) với 41 loài tôm thuộc các giống Atyoida, Atyopsis và Caridina, trong đó nhiều nhất là giống Caridina (38 loài). Braak (1995) đã nghiên cứu các phương pháp về sinh thái học nước [37]. Về cua nước ngọt, tại khu vực phía Đông châu Á đã được nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX, với những công trình điều tra về thành phần loài ở vùng Indonesia (De Man, 1892), Thái Lan và Annam (Kemp, 1923) [50], Trung Quốc và Đông Dương (Rathbun, 1904, 1905).

1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỘNG VẬT LỚP GIÁP XÁC Ở VIỆT NAM

Việc nghiên cứu ĐVKXS tại Việt Nam được chia thành hai giai đoạn chính là trước cách mạng tháng 8 năm 1945 và sau cách mạng tháng 8 năm 1945 [28].

1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐVKXS NƯỚC NGỌT TẠI TỈNH QUẢNG NAM

Nghiên cứu của Vũ Thị Phương Anh, Hoàng Văn Mỹ (2016) về giáp xác cỡ lớn nước ngọt tại sông Tiên, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đã xác định được 29 loài giáp xác cỡ lớn thuộc 9 giống và 4 họ [1]. Trong nghiên cứu của Vũ Thị Phương Anh, Phạm Xuân Hương (2016) đã xác định có 21 loài, thuộc 6 giống và 4 họ của Giáp xác cỡ lớn ở sông Tranh, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam[2].

1.4. ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA LỚP GIÁP XÁC

1.5. TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.5.1. Điều kiện tự nhiên

a. Vị trí địa lý

b. Địa hình

c. Khí hậu

d. Thủy văn

1.5.2. Điều kiện kinh tế xã hội

a. Dân cư và nguồn lao động

b. Giá trị sản xuất

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA LỚP GIÁP XÁC LỚN (MALACOSTACA: CRUSTACES) Ở SÔNG TRƯỜNG GIANG TẠI HUYỆN NÚI THÀNH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA LỚP GIÁP XÁC LỚN (MALACOSTACA: CRUSTACES) Ở SÔNG TRƯỜNG GIANG TẠI HUYỆN NÚI THÀNH

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

Các loài thuộc lớp Giáp xác (Malacostaca: Crustacea), bao gồm các loài Giáp xác cỡ lớn ở nước tại sông Trường Giang trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Công tác khảo sát thực địa, thu thập mẫu vật được tiến hành trong thời gian từ tháng 3/2017 đến tháng 11/2017.

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu

2.2.2.Phương pháp điều tra qua ngư dân

Phỏng vấn các hộ gia đình, người dân khai thác hải sản ven sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam về sự có mặt của các loài giáp xác ở những địa điểm nghiên cứu, từ đó có định hướng thu thập mẫu vật đầy đủ hơn.

Điều tra về tên (tên phổ thông, tên địa phương), kích thước và khối lượng tối đa của các loài Giáp xác mà họ gặp, điều kiện sống, tập tính sinh học, khu vực và thời gian hay gặp hoặc gặp nhiều nhất.

Điều tra về biến động của loài.

Điều tra các ngư cụ khai thác, các hình thức và phương pháp khai thác.

Điều tra về năng suất sản lượng, mùa vụ, khả năng đánh bắt và giá trị sản phẩm.

2.2.3. Thu thập vật mẫu ngoài tự nhiên

Thu thập vật mẫu theo các phương pháp được sử dụng trong các nghiên cứu động vật không xương sống nước ngọt của các tác giả Đặng Ngọc Thanh (1974), Nguyễn Xuân Quýnh (1995, 2004), cụ thể như sau:

Thu mẫu bằng vợt ao (Pond net), vợt tay (hand net), khi thu thập vật mẫu, dùng vợt sục vào các đám cỏ, bụi cây nhỏ ven bờ, đối với một số loài sống ở nền đáy thủy vực, khi thu mẫu, dùng phương pháp đạp nước (Kick-sampling) ở nền sông có mực nước thấp hoặc nhấc các vật thể lên để tìm kiếm. Ngoài ra còn dùng thêm các phương pháp như: đèn pin soi vào buổi tối; dùng vó thả xuống nước sau đó bỏ thức ăn vào để dẫn dụ, kéo vó lên và bắt; phương pháp thu mẫu cộng đồng bằng cách đặt các lọ nhựa tại các gia đình đánh bắt thủy sản trên sông, mỗi điểm thu mẫu đặt 03 lọ ở 03 gia đình khác nhau, mỗi lọ có thể tích 1 lít, các lọ có ghi nhãn và bỏ sẵn cồn 90o trong lọ, đi vào trong chợ tại các khu vực thu mẫu để tìm hiểu và thu mẫu; Đi đánh bắt trực tiếp với người dân tại nơi mình thu mẫu bằng các phương pháp người dân dùng để đánh bắt gồm lưới, rớ, chài quét.Tổng số mẫu thu được trong 8 đợt là 203 mẫu, vật mẫu sau khi thu được đựng trong lọ có dung tích từ 0,5-1lít, ghi nhãn và được định hình bằng cồn 90%.

Trong quá trình thu thập vật mẫu, tiến hành khảo sát điều kiện tự nhiên tại thời điểm thu mẫuđo 8 chỉ tiêu thủy lý hóa học của nước như: nhiệt độ nước, độ dẫn, pH, TDS: đo bằng máy đo đa chỉ tiêu Model: Hi 98129, Nhà sản xuất: Hanna, xuất xứ: Rumani, Độ phân giải:  pH  0.01 pH, EC: 1 µS/cm, TDS: 1 ppm, Nhiệt độ: 0.1 oC/ 0.1 oF, độ chính xác (20 oC/ 68 oF), pH  ±0.05 pH, EC/TDS:  ±2 F.S, Nhiệt độ:  ±0.5 oC / ±1 oF, độ muối (đo bằng khúc xạ kế độ mặn AZ, Model: LM-HSR10ATC, Hãng sản xuất: AZ Instruments- Đài Loan); hàm lượng NH4+,DO và độ trong (đo bằng máy đo đa chỉ tiêu EcoSense 9500 của Phòng Cảnh sát Môi trường Công an tỉnh Quảng Nam).

2.2.4. Phân tích vật mẫu trong phòng thí nghiệm

Việc định loại vật mẫu được tiến hành dựa trên các tài liệu định loại đã được công bố ở trong và ngoài nước (Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Prinder, Steve Tilling (2001), Khóa định loại các loài ĐVKXS nước ngọt thường gặp ở Việt nam, NXB ĐHQGHN, 66 tr., Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Prinder, Steve Tilling (2001), Khóa định loại các loài ĐVKXS nước ngọt thường gặp ở Việt nam, NXB ĐHQGHN, Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải (2001), Động vật chí Việt Nam, tập 5 (phần giáp xác nước ngọt), NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 239 tr., Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải (2012), Tôm, Cua nước ngọt Việt Nam (Palaemonidae, Atyidae, Parathelphusidae, Potamidae), NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, 265tr..) bằng các trang thiết bị chuyên dùng (kính lúp Stemi DV4 của Đức, độ phóng đại từ 8-64 lần; lam, lamen…).

2.2.5. Xử lý số liệu

Các số liệu được tính toán, xử lý và được thể hiện qua bảng biểu, sơ đồ, đồ thị biểu diễn số lượng và tỷ lệ. Sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel® v.2010 của hãng Microsoft® Corporation và Primer® v.6 của hãng Primer – ETM Ltd, UK để xử lý số liệu.

Tính chỉ số ĐDSH: Công thức để tính chỉ số này là:

Trong đó:

H’: Chỉ số đa dạng Shannon-Wiener;

s:Số lượng loài; pi = ni/N:Tỷ lệ số lượng cá thể của loài i so với số lượng cá thể trong toàn bộ mẫu

ni: Số lượng cá thể loài i

N: Số lượng cá thể trong toàn mẫu

2.2.6. Phân tích BEST (BIO-ENV)

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. ĐẶC ĐIỂM SINH CẢNH VÀ THỦY LÝ, HÓA HỌC CÁC ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

3.1.1. Đặc điểm sinh cảnh các điểm nghiên cứu

Kết quả khảo sát thực địa cho thấy, các điểm thu mẫu có độ che phủ tương đối (60%). Đây là điều kiện cho nhóm động vật không xương sống ở nước phát triển, trong đó có Giáp xác.Vào mùa mưa, mực nước ở sông Trường Giang tăng cao, dòng chảy mạnh. Mùa khô, mực nước thường thấp hơn, dòng chảy ổn định hơn.

3.1.2. Đặc điểm thủy lý, hóa học khu vực nghiên cứu

Phân tích, đánh giá chất lượng môi trường nước sông Trường Giang dựa trên các kết quả phân tích mẫu nước qua các đợt thu mẫu.Kết quả phân tích chất lượng môi trường nước của hai đợt thu mẫu được tổng hợp bảng 3.2 và phụ lục 1

Bảng 3.2.. Tổng hợp kết quả đo một số chỉ tiêu thủy lý, hóa học theo mùa các thủy vực nghiên cứu

Chỉ tiêuMùa khôMùa mưaQCVN 38:2011 BTNMT
Khoảng dao độngGiá trị trung bìnhKhoảng dao độngGiá trị trung bình
Nhiệt độ(oC)20,1- 33,127,4017,9-28,022,57–
pH6,1–8,56,946,1–8,76,916,5 – 8,5
Độ dẫn (µS/cm)61,3- 210,3113,5047,3-110,785,66–
Độ đục (NTU)17- 67,137,2920,3- 65,948,66–
DO (mg/l)4,9- 7,66,485,3-7,76,62≥ 4
TDS (mg/l)43,4- 103,467,8841,3-93,457,071000
NH4+ (mg/l)0,01 – 0,080,040,01 – 0,080,041
Độ mặn4,3-33,017,684,0-26,014,59–

Ghi chú: QCVN 38:2011/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy sinh [4]

“-”: Không xác định.

3.2. THÀNH PHẦN LOÀI GIÁP XÁC CỠ LỚN TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Kết quả thu thập và phân tích mẫu vật tại 10 điểm thu mẫu trong thời gian nghiên cứu đã thu được 30 loài thuộc 7 giống và 4 họ (Atyidae, Palaemonidae, Penaeidae và Portunidae). Kết quả được thể hiện tại bảng 3.1.

Bảng 3.1. Thành phần loài Giáp xác cỡ lớn đã gặp tại các điểm thu mẫu

TTTên khoa học Tên Việt Nam Điểm thu mẫu
M1M2M3M4M5M6M7M8M9M10
IMalacostaca (Lớp giáp xác mai mềm)      
Atyidae (Họ tôm)      
1Caridina acuticaudata Dang, 1975Tôm riu+++++++
2Caridina serrata Stimpson, 1860+++
3Caridina subnilotica Dang, 1975Tôm riu++++++++
4Caridina flavilineata Dang, 1975Tôm riu+++++++
5Caridina sp.Tép+++++
II Palaemonidae (Họ tôm gai)
6Macrobrachium dalatense Xuan Nguyen Van, 2003++++++
7Macrobrachium pilimanus (De Man, 1879)Tôm càng++++++
8Macrobrachium mirabile (Kemp, 1917)Tép gạo++
9Macrobrachium nipponense (De Haan, 1849)Tôm càng sông++++++++++
10Macrobrachium suongae Nguyên, 2003++++
11Macrobrachium lanchesteri (De Man, 1911)Tép trấu++++++
12Macrobrachium secamanense Dang, 1998++++
13Macrobrachium hainanense Parisi, 1919+++
14Macrobrachium mieni Dang, 1975++++
15Macrobrachium sp.++++
16Macrobrachium formosense Bate, 1868++++++++
17Palaemon elegans  Rathke, 1837Tép+++++
IIIPenaeidae (Họ tôm he)
18Penaeus monodon Fabricius, 1798Tôm sú++++++++++
19Penaeus semisulcatusDe Haan, 1844 Tôm rằn++++++++++
20Metapenaeus tenuipes Kubo, 1949Tôm bạc+++++++++
21Metapenaeus merguiensis De Man, 1888Tôm bạc thẻ++++++++++
22Metapenaeus ensis De Haan, 1844Tôm đất++++++++++
23Metapenaeus indicusH. Milne Edwards, 1837Tôm he Ấn Độ++
24Metapenaeus joyneriMiers, 1880Tôm rảo vàng+
IVPortunidae (Họ cua bơi)
25Portunus pelagicus Linnaeus, 1758Ghẹ xanh, ghẹ hoa++++++++++
26Portunus trituberculatus

Mier, 1876

Ghẹ cát, ghẹ đốm+++
27Potunus sanguinolentus Herbst, 1976Ghẹ ba chấm++++++++
28Scylla olivacea  Herbst, 1796Cua lửa++++
29Scylla paramamosain

Estampador, 1949

Cua xanh,Cua bùn++++++++++
30Scylla serrata

Forsskal, 1775

Cua đen, cua ta+++++++

Cấu trúc thành phần loài giáp xác lớn tại sông Trường Giang, huyện Núi Thành được trình bày ở bảng 3.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng giống giữa các họ là tương đối đều nhau, trong đó số lượng giống thuộc họ Atyidae làthấp nhất (chiếm 14,29%). Trong khi đó số lượng loài thu được tại khu vực nghiên cứu giữa các họ khác nhau rõ rệt. Trong 4 họ Giáp xác cỡ lớn thì họ Palaemonidaecó số lượng loài nhiều nhất với 12 loài thuộc 2 giống (chiếm 40% ), tiếp theo là họ Penaeidae được 7 loài thuộc 2 giống (chiếm 23,33% ), họ Portunidaethu được 6 loài thuộc 2 giống (chiếm 20,00% ).

Hình 3.1.Tỷ lệ % loài theo họ thuộc lớp Giáp xác tại các điểm thu mẫu

3.3. BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ SỐ LƯỢNG CÁ THỂ CỦA GIÁP XÁC CỠ LỚN Ở NƯỚC NGỌT THEO MÙA

3.3.1. Biến động thành phần loài Giáp xác cỡ lớn ở nước tại sông Trường Giang

a. Mùa khô

Vào mùa khô, tại các điểm thu mẫu đã xác định 27 loài giáp xác thuộc 6giống, 4 họ. Xét về cấp độ loài: tại điểm M4 và M7 có số lượng loài nhiều nhất với 27 loài (chiếm tỷ lệ 13,37% trong tổng số loài tại các điểm), tiếp theo là điểm M2 với 24 loài (chiếm tỷ lệ 11,88% trong tổng số loài tại các điểm), kế tiếp là điểm M3 có 22 loài (chiếm tỷ lệ 10,89% trong tổng số loài tại các điểm). Điểm M1, M8,M5 có số loài bằng nhau, mỗi điểm 21 loài (chiếm tỷ lệ 10,40% trong tổng số loài tại các điểm). Điểm M6 có 20 loài (chiếm tỷ lệ 9,90% trong tổng số loài tại các điểm), ít nhất là điểm M9 và M10 tương ứng với 10 và 9loài (chiếm tỷ lệ lần lượt4,95% và 4,46% trong tổng số loài tại các điểm).

Hình 3.2. Tỷ lệ % các loài giáp xác tại các điểm thu mẫu vào mùa khô

b. Mùa mưa

Vào mùa mưa, tại các điểm thu mẫu đã xác định 21 loài giáp xác thuộc 6 giống, 4 họ.

Hình 3.3. Tỉ lệ % các loài giáp xác tại các điểm thu mẫu vào mùa mưa

Như vậy, vào mùa mưa M7 có số lượng loài nhiều nhất trong khu vực nghiên cứu. Nguyên nhân có thể do vào mùa mưa, các loài di cư theo con nước hoặc bị cuốn trôi theo nước lũ từ điểm này tới điểm khác đến vùng cửa sông.

c. So sánh hai mùa với nhau

3.2.2.Biến động số lượng cá thể giáp xác cỡ lớn ở nước tại sông Trường Giang

* Biến động số lượng cá thể Giáp xác cỡ lớn ở nước vào mùa khô

Qua kết quả nghiên cứu đã thể hiện rõ tại bảng 3.8 cụ thể: vào mùa khô, tổng số cá thể thu được tại 10 điểm thu mẫu là 203 cá thể, dao động từ 16 – 25cá thể, trong đó cao nhất là điểm thu mẫu M7 và M2 (25 cá thể), điểm kế tiếp là điểm thu mẫu M4 (23 cá thể), vị trí tiếp theo điểm thu mẫu M3, M8 (21 cá thể). Các điểm còn lại theo thứ tự giảm dần và thấp nhất là tại điểm thu mẫu M5 và M10 (với 17 cá thể).

 

Hình 3.5. Sự biến động số lượng cá thể Giáp xác cỡ lớn vào mùa khô

Từ hình 3.5 ta thấy, sự biến động số lượng cá thể của các loài Giáp xác cỡ lớn vào mùa khô tại các điểm thu mẫu tương đối lớn. Sự biến động số lượng cá thể lớn nhất là giữa điểm thu mẫu M6với các điểm thu mẫu M7 và M2.

*Biến động số lượng cá thể Giáp xác cỡ lớn ở nước vào mùa mưa

Kết quả phân tích biến động số lượng có thể vào mùa mưa cho thấy: tổng số cá thể thu được tại 10 điểm thu mẫu là 171 cá thể, số lượng cá thể bình quân vào mùa mưa là 17,1 cá thể, dao động từ 12 – 22 cá thể, trong đó cao nhất là điểm thu mẫu M7 (với 22 cá thể) và thấp nhất là tại điểm thu mẫu M5 và M6 (với 12 cá thể).

 

Hình 3.6. Sự biến động số lượng cá thể Giáp xác cỡ lớn vào mùa mưa

*Biến động số lượng cá thể Giáp xác cỡ lớn ở nước giữa hai mùa

Để làm rõ sự khác nhau về sự biến động số lượng cá thể của Giáp xác cỡ lớn giữa hai mùa chúng tôi tiến hành phân tích, so sánh và kết quả được thể hiện tại hình 3.13.

Hình 3.7. Biến động số lượng cá thể Giáp xác cỡ lớn

tại các điểm thu mẫu giữa hai mùa

3.3.3. Đánh giá hiện trạng ĐDSH của giáp xác cỡ lớn trong khu vực nghiên cứu

Chỉ số H’ trung bình của sông Trường Giang là 2,099- 2,240 tương ứng với mức độ ĐDSH trung bình khá.

3.4. PHÂN TÍCH MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA QUẦN XÃ SINH VẬT VỚI CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG (BIO-ENV)

3.4.1. Hệ số BIO –ENV vào mùa khô

Kết quả phân tích BIO-ENV vào mùa khô cho thấy, tổ hợp 3 yếu tố Độ đục, độ muối và TDS có hệ số tương quan cao nhất đối với Giáp xác cỡ lớn ở nước vào mùa khô, có hệ số tương quan là 0,398. Kết quả này cho thấy, trong 8 yếu tố môi trường thì độ đục, độ muối và TDS giữ vai trò quan trọng đối với các loài Giáp xác cỡ lớn vào mùa khô.

3.4.2. Hệ số BIO –ENV vào mùa mưa

Kết quả phân tích BIO-ENV vào mùa mưa cho thấy, tổ hợp 3 yếu tố Nhiệt độ, Độ dẫn, DO có ý nghĩa quan trọng hơn cả trong 8 yếu tố môi trường đối với Giáp xác cỡ lớn ở nước vào mùa mưa. Hệ số tương quan Rho cả tổ hợp này là 0,543.

3.4.3. Nhận xét chung về mối tương quan giữa giáp xác cỡ lớn với một số yếu tố môi trường nước

Sự thay đổi về độ mặn của môi trường nước diễn ra rõ rệt. Độ mặn làm thay đổi đáng kể thành phần Giáp xác ở đây. Ở vùng xa cửa sông như ở điểm M1 (xã Tam Xuân 2), M10 (xã Tam Nghĩa), độ mặn thấp. Thành phần Giáp xác lớn ở đây đặc trưng cho sông vùng đồng bằng như các loài trong giống Tôm càng (Macrobrachium). Ở vùng gần cửa sông như M4 (xã Tam Hòa), M7 (xã Tam Hải), M8 (xã Tam Giang) là những nơi có độ mặn cao bắt đầu xuất hiện các loài Giáp xác nước mặn. Nước sông chịu ảnh hưởng của thủy triều, thực vật ven sông là rừng cây ngập mặn. Thành phần loài Giáp xác bắt đầu xuất hiện loài nước lợ như các loài thuộc họ Tôm Penaeidae, cua bơi Portunidae.

3.5. ĐỀ XUẤT CÁC ĐỊNH HƯỚNG BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN ĐDSH GIÁP XÁC CỠ LỚN Ở NƯỚC TẠI SÔNG TRƯỜNG GIANG

3.5.1. Tình hình khai thác Giáp xác ở khu vực nghiên cứu

Ở trên sông, các loài Giáp xác được khai thác bằng lồng, lú thu bắt tôm đấtMetapenaeus ensis De Haan, 1844, tôm càng sông Macrobrachium nipponense De Haan, 1849. Người ta còn khai thác bằng câu, đánh lưới, rớ giàn.Ngoài ra, còn các kiểu phương tiện đánh bắt thủ công khác. Các loài Giáp xác lớn được đánh bắt chủ yếu bằng tay, ngoài ra còn nhiều dụng cụ hỗ trợ khác như: đăng lưới, giã tôm, lồng, lú. Hiện tại có nhiều ngư dân sử dụng các phương tiện có tính hủy diệt cao như lưới vét mắt nhỏ, chã điện. Với phương tiện này, có thể thu được tất cả tôm lớn, nhỏ trong phạm vi hoạt động của thuyền.Các loài Giáp xác có giá trị trong khu vực nghiên cứu chủ yếu được khai thác tự nhiên, chỉ có 2 loài có giá trị kinh tế cao được nuôi trồng trong các ao đầm như Tôm bạc Metapenaeus tenuipes Kubo, 1949, Tôm sú (Penaeus monodon). Các loài được khai thác mạnh nhất như Cua bùn, Tôm sú, Tôm đất, Ghẹ ba chấm.

3.5.2. Những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến môi trường sống và sự ĐDSH của giáp xác cỡ lớn ở nước tại sông Trường Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

a. Khai thác quá mức và sử dụng các biện pháp khai thác không hợp lý của người dân

b. Chất thải sinh hoạt và sản xuất của người dân

c. Do đô thị hóa và phát triển công nghiệp

d. Tác động của biến đổi khí hậu

3.5.3. Đề xuất các định hướng bảo tồn và phát triển ĐDSH giáp xác cỡ lớn ở nước tại sông Trường Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

Tình hình khai thác Giáp xác ở khu vực nghiên cứu

Ở trên sông, các loài Giáp xác được khai thác bằng lồng, lú thu bắt tôm đất Metapenaeus ensis De Haan, 1844, tôm càng sông Macrobrachium nipponense De Haan, 1849. Các loài Giáp xác có giá trị trong khu vực nghiên cứu chủ yếu được khai thác tự nhiên, chỉ có 2 loài có giá trị kinh tế cao được nuôi trồng trong các ao đầm như Tôm bạc Metapenaeus tenuipes Kubo, 1949, Tôm sú (Penaeus monodon). Các loài được khai thác mạnh nhất như Cua bùn, Tôm sú, Tôm đất, Ghẹ ba chấm.

Về dụng cụ và phương tiện đánh bắt: Các loài Giáp xác lớn được đánh bắt chủ yếu bằng tay, ngoài ra còn nhiều dụng cụ hỗ trợ khác như: đăng lưới, giã tôm, lồng, lú. Hiện tại có nhiều ngư dân sử dụng các phương tiện có tính hủy diệt cao như lưới vét mắt nhỏ, chã điện. Với phương tiện này, có thể thu được tất cả tôm lớn, nhỏ trong phạm vi hoạt động của thuyền.

Sản lượng đánh bắt

Sản lượng khai thác tôm, cua trung bình mỗi ngày của mỗi hộ ngư dân ở đoạn sông qua xã Tam Tiến là cao nhất (1,0 kg/ngày) tiếp đến là khu vực qua xã Tam Hòa (0,8 kg/ngày), thấp nhất là khu vực qua xã Tam Xuân 2. Tổng sản lượng ở khu vực nghiên cứu dao động từ 0,900 tấn – 9,000 tấn. Đoạn sông qua xã Tam Xuân 1 và Tam Anh Nam có sản lượng thấp nhất, tương ứng là 0,900 và 1,320 tấn. Sản lượng khai thác qua xã Tam Tiến là cao nhất (9 tấn/năm).

3.5.2. Những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến môi trường sống và sự ĐDSH của giáp xác cỡ lớn ở nước tại sông Trường Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

a. Khai thác quá mức và sử dụng các biện pháp khai thác không hợp lý của người dân

b. Chất thải sinh hoạt và sản xuất của người dân

c. Do đô thị hóa và phát triển công nghiệp

d. Tác động của biến đổi khí hậu

3.5.3. Đề xuất các định hướng bảo tồn và phát triển ĐDSH giáp xác cỡ lớn ở nước tại sông Trường Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

a. Bảo tồn nguồn lợi Giáp xác

b. Nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ ĐDSH

c. Tuyên truyền, giáo dục bảo vệ môi trường, thực hiện các biện pháp ứng phó biến đổi khí hậu

d. Phát triển du lịch sinh thái theo định hướng phát triển bền vững

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

  1. KẾT LUẬN

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát và phân tích mẫu vật thu được tại sông Trường Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, chúng tôi có một số kết luận như sau:

1.1. Thành phần loài giáp xác cỡ lớn tại sông Trường Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam gồm 30 loài, thuộc7 giống và 4 họ. Trong đó họ Atyidae có 5 loài, họ Palaemonidae có12 loài, họ Penaeidae có 7 loài và họ Portunidae có 6 loài.

1.2. Thành phần loài giáp xác cỡ lớn ở nước thu được có sự biến động theo các điểm thu mẫu và theo mùa. Số loài thu được giữa hai mùa cũng khác nhau, mùa khô thu được 27 loài, mùa mưa thu được 21 loài.

1.3. Hiện trạng ĐDSH của giáp xác lớn tại sông Trường Giang đều ở mức trung bình khá. Chỉ số đa dạng H’ trung bình dao động 2,099- 2,240.

1. 4. Kết quả phân tích BIO-ENV cho thấy hệ số tương quan giữa giáp xác cỡ lớn với các yếu tố môi trường dao động từ 0,398 đến 0,543. Trong đó, nhóm tổ hợp gồm các yếu tố độ đục, độ mặn và TDS luôn giữ vai trò quan trọng đối với giáp xác cỡ lớn ở khu vực nghiên cứu.

1.5. Các loài Giáp xác có giá trị trong khu vực nghiên cứu chủ yếu được khai thác tự nhiên, các loài được khai thác mạnh nhất như Cua bùn, Tôm sú, Tôm đất, Ghẹ ba chấm. Sản lượng khai thác tôm, cua trung bình mỗi ngày của mỗi hộ ngư dân ở đoạn sông qua xã Tam Tiến là cao nhất (1,0 kg/ngày) tiếp đến là khu vực qua xã Tam Hòa (0,8 kg/ngày), thấp nhất là khu vực qua xã Tam Xuân 2.

  1. KIẾN NGHỊ

2.1. Cần mở rộng phạm vi nghiên cứu để có được số liệu hoàn chỉnh hơn về ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến thành phần loài và phân bố của Giáp xác cỡ lớn tại sông Trường Giang

2.2. Có chương trình và kế hoạch trước mắt và lâu dài, có nguồn kinh phí cần thiết cho công tác bảo tồn và phát triển ĐDSH, bảo vệ tài nguyên môi trường của sông Trường Giang, cụ thể:

+ Quy hoạch nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện Núi Thành theo hướng phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường, tránh việc nuôi thủy sản tràn lan không theo quy hoạch như hiện nay đã và đang gây ô nhiễm môi trường nước sông Trường Giang.

+ Bảo tồn các đoạn sông có sản lượng khai thác bị giảm sút theo từng năm như khu vực sông ở xã Tam Hòa, Tam Giang, Tam Hiệp.

– Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, định kỳ kiểm tra, giám sát ĐDSH để có biện pháp bảo tồn ĐDSH tại đây có hiệu quả. Cụ thể:

+ Thường xuyên kiểm tra, giám sát chất lượng nước ở sông Trường Giang nhất là các yếu tố: nhiệt độ, DO, pH, độ đục, độ dẫn, độ mặn… tác động đến các loài ĐVKXS, nhất là các loài giáp xác cỡ lớn ở nước.

+ Cấm sử dụng các phương tiện đánh bắt hủy diệt. Chỉ khai thác các đối tượng Giáp xác lớn ở giai đoạn trưởng thành, tránh khai thác vào mùa sinh sản.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KY THUAT\SINH THAI HOC\NGUYEN THI THU HIEN\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *