Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống mướp đắng xanh đen tại huyện Hòa Vang

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống mướp đắng xanh đen tại huyện Hòa Vang

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống mướp đắng xanh đen tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Mướp đắng hay còn gọi là khổ qua, cẩm lệ chi, lương qua… có tên khoa học là Momordica charantia L. thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae). Đây là loại cây được trồng ở nhiều nơi trên thế giới như Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ…, đặc biệt là những vùng có khí hậu nhiệt đới. Ở Việt Nam, cây được trồng ở hầu hết các tỉnh từ đồng bằng đến trung du và miền núi.

Trong cuộc sống hàng ngày, trái mướp đắng được con người sử dụng như một loại thực phẩm thông dụng gần như không thể thiếu trong mỗi gia đình. Đây là một nguồn quan trọng cung cấp các axit amin thiết yếu, vitamin C, vitamin A, carotenoids, axit folic, thiamin, riboflavin, niacin và khoáng chất. Vì vậy, loại thực phẩm này có một vai trò quan trọng trong chế độ ăn uống của con người để duy trì sức khỏe.

Mướp đắng còn có giá trị dược liệu trong đông y. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy quả mướp đắng có vị đắng, tính lạnh, không độc, có tác dụng giải nhiệt, trừ phiền, thanh tâm sáng mắt, giảm đau, hỗ trợ trong điều trị bệnh tiểu đường. Theo y học hiện đại mướp đắng có tác dụng diệt vi khuẩn và virus, chống lại các tế bào ung thư, hỗ trợ đắc lực cho bệnh nhân ung thư đang chữa trị bằng tia xạ. Nhiều đề tài khoa học ngày nay đã chứng minh dịch chiết trái mướp đắng có khả năng ức chế khối u, có tác dụng hỗ trợ men gan và điều trị bệnh đái tháo đường nhờ hoạt chất glycosid.

Đặc biệt, những giống mướp đắng xanh đen có vị đắng hơn, đậm hơn, màu sắc bắt mắt hơn và tác dụng chữa bệnh cũng cao hơn so với giống mướp đắng thường. Vì vậy, hiện nay trên thị trường tiêu thụ, người tiêu dùng ưa chuộng giống này hơn mặc dù giá cả cao hơn nhiều so với giống mướp đắng thông thường.

Hòa Vang là huyện nông nghiệp duy nhất của thành phố Đà Nẵng. Phát triển Nông nghiệp ở Hòa Vang đang chuyển hướng mạnh mẽ theo hướng sản xuất nông sản, hàng hóa, nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường đô thị. Huyện đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sản xuất có quy mô đối với những cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng và mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân. Hiện nay, tại một số xã đã được đầu tư để phát triển kinh tế địa phương, phát triển các mô hình rau an toàn theo hướng Vietgap như xã Hòa Phú, xã Hòa Phong, xã Hòa Khương … Qua khảo sát thực tế về điều kiện khí hậu và đất đai thì huyện Hòa Vang có nhiều vùng thích hợp với việc canh tác cây mướp đắng. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về việc trồng thử nghiệm các giống mướp đắng mới có màu xanh đen đang được thị trường tiêu thụ ưa chuộng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Xuất phát từ mong muốn đẩy mạnh việc sản xuất cây mướp đắng, đặc biệt là giống mướp đắng xanh đen để cung ứng các sản phẩm từ mướp đắng cho thị trường tiêu thụ về nông phẩm và dược liệu, đồng thời đánh giá được mức độ thích hợp của giống mướp đắng xanh đen với điều kiện sinh thái tại thành phố Đà Nẵng, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống mướp đắng xanh đen tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng”.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống mướp đắng xanh đen trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, từ đó tạo cơ sở để đưa vào sản xuất.

2.2. Mục tiêu cụ thể

– Đánh giá được ảnh hưởng của loại đất trồng, hàm lượng dinh dưỡng khoáng và mùa vụ trồng đến các đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống mướp đắng xanh đen tại huyện Hòa Vang, thành Phố Đà Nẵng.

– Xác định được các điều kiện sinh thái thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống mướp đắng xanh đen trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

3.1. Ý nghĩa khoa học

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giới thiệu về cây mướp đắng

1.1.1. Nguồn gốc và phân loại mướp đắng

1.1.2. Đặc điểm thực vật học của cây mướp đắng

1.1.3. Thành phần dinh dưỡng và hóa học của cây mướp đắng

1.1.4. Giá trị dược liệu của cây mướp đắng

1.2. Điều kiện sinh thái của cây mướp đắng

1.2.1. Nhiệt độ

1.2.2. Ánh sáng

1.2.3. Đất và dinh dưỡng

1.2.4. Độ ẩm

1.3. Những nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng

1.3.1. Những nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến sinh trưởng và năng suất của một số cây trồng nông nghiệp

1.3.2. Những nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến sinh trưởng và năng suất của cây mướp đắng

1.4. Tình hình sản xuất mướp đắng trên thế giới và Việt Nam

1.4.1. Tình hình sản xuất mướp đắng trên thế giới

1.4.2. Tình hình sản xuất mướp đắng ở Việt Nam

1.5. Điều kiện tự nhiên, tình hình sản xuất nông nghiệp tại Huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

1.5.1. Điều kiện tự nhiên

1.5.2. Tình hình sản xuất nông nghiệp

1.5.3. Điều kiện tự nhiên, khí hậu và thổ nhưỡng tại xã Hòa Khương và Hòa Phú, huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng

1.5.3.1. Điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ những tại xã Hòa Khương

1.5.3.2. Điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ những tại xã Hòa Phú

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Vật liệu phục vụ cho nghiên cứu là giống mướp đắng xanh đen Thái Lan KAMI 999 được cung cấp bởi Công ty cổ phần giống cây trồng công nghệ cao ISRAEL.

2.2. Phạm vi nghiên cứu

– Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được tiến hành trong 9 tháng, từ tháng 7/2018 đến hết tháng 3/2019 với 3 vụ trồng:

+ Vụ Thu – Đông: Gieo giống ngày 12/7/2018 (kết thúc thu 18/11)

+ Vụ Đông: Gieo giống ngày 5/10/2018 (kết thúc thu 23/12)

+ Vụ Xuân: Gieo giống ngày 2/1/2019 (kết thúc thu 30/3)

– Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu trồng giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 tại 3 khu vực khác nhau thuộc 2 xã Hòa Khương và Hòa Phú thuộc Huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

2.3. Nội dung nghiên cứu

– Khảo sát một số NTST và lựa chọn các địa điểm phù hợp để trồng thử nghiệm giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 tại thành phố Đà Nẵng;

– Nghiên cứu ảnh hưởng của loại đất trồng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 được trồng tại huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng;

– Nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 được trồng tại huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng;

– Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ trồng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 được trồng tại huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng;

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu đất

2.4.1.1. Phương pháp lấy mẫu đất

2.4.1.2. Phương pháp xác định pH và độ ẩm đất

2.4.1.3. Phương pháp xác định nitơ tổng số

2.4.1.4. Phương pháp xác định photpho (P2O5)

2.4.1.5. Phương pháp xác định kali (K2O)

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống mướp đắng xanh đen tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống mướp đắng xanh đen tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

2.4.2. Kỹ thuật trồng

2.4.3. Phương pháp bố trí thí nghiệm

2.4.3.1. Bố trí thí nghiệm về đất trồng:

2.4.3.2. Bố trí thí nghiệm về dinh dưỡng khoáng:

2.4.3.4. Bố trí thí nghiệm về mùa vụ

2.4.4. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất

2.4.2.2. Xác định các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển

2.4.2.3. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

2.4.5. Phương pháp xử lý số liệu

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN

3.1. Khảo sát một số NTST tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

3.1.1. Khảo sát đặc điểm đất trồng tại huyện Hòa Vang

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu lý, hóa của các mẫu đất nghiên cứu tại xã Hòa Khương và Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Tên mẫu đấtĐộ ẩm (%)pHNito tổng số (mg/kg)Lân (P2O5) (mg/kg)Kali (K2O) (mg/kg) Thành phần cơ giới đất
Hòa Khương 1 18 7 920 470 47,4 Đất thịt nhẹ
Hòa Khương 2 16,5 6,6910 480 46,8 Đất cát pha
Hòa Phú 20 7 780 450 49,4 Đất thịt trung bình

Từ bảng 3.1 trên nhận thấy, 3 mẫu đất thí nghiệm trên thuộc đất thịt nhẹ, đất thịt trung bình và đất cát pha. Các yếu tố sinh thái của 3 loại đất nghiên cứu cho kết quả về tất cả các tiêu chí xét nghiệm có sự sai khác không nhiều. Độ ẩm của đất dao động từ 16,5 – 20%, pH nằm trong khoảng từ 6,6 – 7. Như vậy, giá trị độ ẩm và pH của đất dao động không lớn và khá phù hợp cho sự thích nghi của bộ rễ và sự sinh trưởng của cây mướp đắng. Đây là vùng chuyên canh cây hoa màu và sản xuất nông nghiệp của vùng nên hàm lượng dinh dưỡng tương đối cao. Hàm lượng N tổng của vùng đất thịt nhẹ và đất cát pha ở xã Hòa Khương là 910 – 920 mg/kg, trong đất thịt trung bình của xã Hòa Phú có thấp hơn và đạt 780 mg/kg. Hàm lượng P2O5 trong cả 3 loại đất dao động từ 450 – 480 mg/kg và K2O từ 46,8 – 49,4 mg/kg.

Như vậy, từ các số liệu trên cho thấy các chỉ tiêu về lý, hóa và thành phần cơ giới của các loại đất khảo sát đều thể hiện ở mức phù hợp đối với cây mướp đắng.

3.1.2. Khảo sát điều kiện thời tiết, khí hậu tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

3.1.2.1. Điều kiện thời tiết, khí hậu qua các năm tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Bảng 3.2. Điều kiện thời tiết, khí hậu qua các năm tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng (Trung tâm Khí tượng thủy văn Khu vực Trung Trung Bộ)

Điều kiện thời tiết, khí hậu20132014201520162017
Nhiệt độ trung bình (oC)26,226,326,726,626,5
Tổng số giờ nắng (giờ)1975,52208,62432,52125,32046,6
Lượng mưa (mm)2316,82224,11872,42688,72285,4
Độ ẩm trung bình (%)8181818182

Qua bảng 3.2 trên nhận thấy, trong 5 năm trở lại đây, nền nhiệt trung bình và độ ẩm trung bình không có sự biến động nhiều nhưng tổng số giờ nắng và lượng mưa lại có sự biến động tương đối. Nhiệt độ luôn dao động trong khoảng 26,2 – 26,7oC và ẩm độ khoảng 81 – 82% là các chỉ số NTST vô sinh của MT phù hợp cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây mướp đắng.

Mướp đắng là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới, là loại cây ưa sáng ngày ngắn và trung tính, thời gian chiếu sáng trung bình là 5 – 8 giờ/ngày [16]. Đồng thời, đây cũng là loại cây ưa ẩm. Vì vậy, tổng số giờ nắng qua các năm dao động từ 1975,5 – 2432,5 giờ/năm, lượng mưa dao động từ 1872,4 – 2688,7 mm/năm là hoàn toàn phù hợp cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây mướp đắng.

3.1.2.2. Điều kiện thời tiết, khí hậu tại huyện Hòa Vang trong thời gian nghiên cứu

a) Nhiệt độ và độ ẩm không khí

b

a

b

Hình 3.1: Nhiệt độ (a) và độ ẩm không khí (b) từ tháng 7/2018 đến tháng 3/2019 tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Nhiệt độ trung bình ở các tháng trong thời gian nghiên cứu nằm trong khoảng từ 22,4 – 29,5°C. Trong đó, giai đoạn từ tháng 7 – 11/2018, nhiệt độ nằm trong khoảng từ 25,5 – 29,5°C, đây là khoảng nhiệt độ thích hợp nhất theo yêu cầu của cây mướp đắng để cây sinh trưởng và phát triển tốt. Tuy nhiên, trong giai đoạn tháng 12/2018 – 1/2019, nhiệt độ tương đối thấp. Nhiệt độ tối thiểu ở tháng 12/2018 là 18.2°C và tháng 1- 2/2019 là 17.5 – 19°C, thấp hơn so với yêu cầu nhiệt độ của cây. Điều này ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây mướp đắng, đặc biệt là giai đoạn cây ra hoa và đậu quả.

Độ ẩm không khí trung bình trong các tháng dao động từ 72% – 87%, trong đó cao nhất trong tháng 12/2018 (87%) và thấp nhất trong tháng 7/2018 (72%). Như vậy, độ ẩm trong các tháng nghiên cứu để trồng thử nghiệm cây mướp đắng không có sự chênh lệch nhiều giữa các tháng và nằm trong khoảng phù hợp để cây sinh trưởng, phát triển tốt.

b) Tổng số giờ nắng và lượng mưa

a

b

Hình 3.2: Tổng số giờ nắng (a) và lượng mưa (b) tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng từ tháng 7/2018 đến tháng 3/2019

Tổng số giờ nắng có sự chênh lệch giữa các tháng thí nghiệm. Trong giai đoạn tháng 12/2018 – 01/2019, tổng số giờ nắng là 79 – 103 giờ, tương đối thấp so với nhu cầu của cây. Đây là giai đoạn cuối vụ Đông và đầu vụ Xuân của thí nghiệm nghiên cứu. Trong các tháng còn lại đều có tổng số giờ nắng nằm trong khoảng thích hợp cho mướp đắng sinh trưởng và phát triển. Đặc biệt, trong thời gian từ tháng 7/2018 – 11/2018, số giờ nắng trung bình của các tháng từ 144 – 240 giờ, phù hợp nhất theo yêu cầu về ánh sáng của cây. Thời gian này tương ứng với vụ Thu – Đông của thí nghiệm nghiên cứu.

Lượng mưa giữa các tháng có sự chênh lệch rất lớn. Lượng mưa cao nhất vào tháng 12/2018 (1174,6 mm) và thấp nhất vào tháng 2/2019 (2,4 mm).

– Trong giai đoạn từ tháng 7/2018 – 11/2018, lượng mưa không dao động quá lớn và khá thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của mướp đắng, đây là thời gian tương ứng với vụ Thu – Đông của thí nghiệm nghiên cứu.

– Trong giai đoạn tháng 12/2018, tại khu vực có lượng mưa rất lớn và cao nhất trong năm. Trong thời gian này, lượng mưa lớn kèm theo độ ẩm không khí cao, điều này dễ xảy ra tình trạng ngập úng đối với cây và dễ gây bệnh đốm lá, thối do vi khuẩn trong đất gây ra. Đây là giai đoạn cây phát triển và cho thu hoạch của vụ Đông trong thí nghiệm nghiên cứu, như vậy điều kiện khí hậu thời tiết này ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.

Trong tháng 2/2019, lượng mưa thấp nhất trong thời gian nghiên cứu thí nghiệm (2,4mm). Vì vậy, trong quá trình thí nghiệm, cần có các biện pháp thoát nước tốt trong tháng 12/2018 và chăm sóc, tưới nước hợp lý trong giai đoạn tháng 2/2019 để đảm bảo khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của đối tượng nghiên cứu.

3.2. Ảnh hưởng của loại đất trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 được trồng tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

3.2.1. Ảnh hưởng của loại đất trồng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999

3.2.1.1. Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng, phát triển

Bảng 3.3: Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 được trồng trên các loại đất khác nhau trong vụ Thu – Đông tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Loại đấtThời gian giai đoạn sinh trưởngThời gian giai đoạn phát triển
Bung tua (ngày)Phân nhánh (ngày)Ra hoa cái đầu (ngày)Thu quả đầu (ngày)Kết thúc thu (ngày)
Đất thịt TB18,2a ± 0,7825,5a ± 1,0837,9ab ± 0,8751,9a ± 0,78109a ± 2,86
Đất thịt nhẹ17a ± 0,8123,2a ± 0.7834,4b ± 0,6949,7b ± 0,81122,8b± 4,51
Đất cát pha17b ± 0,422,8b ± 0,7833,4b ± 0,6948,7c ± 0,99124,6b± 3,83

Qua bảng kết quả 3.3 nhận thấy, thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây từ khi gieo trồng đến các giai đoạn bung tua, phân nhánh, ra hoa cái, đậu quả và cho thu hoạch đầu ở các loại đất có sự khác nhau. Trên đất cát pha, thời gian tính từ khi gieo trồng cây đến khi cây bung tua và phân nhánh diễn ra sớm nhất, bung tua khi cây đạt 17 ngày và phân nhánh lúc cây 22,8 ngày. Trên đất thịt nhẹ, thời gian thực hiện các giai đoạn sinh trưởng ít chênh lệch so với cây trồng trên đất cát pha, bung tua khi cây 17 ngày và phân nhánh lúc cây 23,2 ngày. Trên loại đất thịt trung bình, cây thực hiện giai đoạn sinh trưởng dài nhất, bung tua khi cây 18,2 ngày và phân nhánh khi cây 25,5 ngày.

Thời gian cây bắt đầu thực hiện giai đoạn sinh trưởng cũng ảnh hưởng đến thời gian cây bắt đầu thực hiện giai đoạn phát triển. Thời gian cây sinh trưởng ngắn nhất trên đất cát pha và dài nhất trên đất thịt trung bình. Vì vậy, khi trồng trên đất cát pha, mướp đắng cũng bắt đầu ra hoa cái sớm nhất, khi cây đạt 33,4 ngày và thu quả đầu lúc cây 48,7 ngày. Trên đất thịt trung bình cây ra hoa cái đầu là muộn nhất, khi cây 37,9 ngày và thu quả đầu lúc 51,9 ngày. Trên đất thịt nhẹ, thời gian ra hoa cái và thu quả đầu có muộn hơn so với cây được trồng trên đát cát pha nhưng sự chênh lệch rất ít, ra hoa khi cây đạt 34,4 ngày và thu quả đầu khi cây đạt 49,7 ngày.

Tuy nhiên, thời gian kết thúc thu hoạch của cây trên đất thịt trung bình lại diễn ra sớm nhất, kết thúc chu kỳ sống khi cây đạt 109 ngày, trên đất thịt nhẹ là 122,8 ngày và trên đất cát pha là 124,6 ngày. Như vậy, thời gian cho thu hoạch của giống trên đất thịt nhẹ và đất cát pha được kéo dài hơn so với đất thịt trung bình. Trên đất cát pha, thời gian cho thu hoạch là dài nhất (75,9 ngày), trên đất thịt nhẹ là 73,1 ngày và trên đất thịt trung bình là ngắn nhất (57,1 ngày).

Từ các kết quả phân tích trên đã cho thấy, khi được trồng trên đất cát pha, giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 có thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng, phát triển là sớm nhất, đồng thời, thời gian cho thu hoạch là dài nhất. Đây là một trong những yếu tố quan trọng liên quan đến năng suất của giống sau này.

3.2.1.2. Chiều dài thân chính và số nhánh/cây

Bảng 3.4: Chiều dài thân chính và số nhánh/cây của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 được trồng trên các loại đất khác nhau trong vụ Thu – Đông tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Loại đấtChiều dài thân chính (cm)Số nhánh/cây (nhánh)
Giai đoạn bung tuaGiai đoạn ra hoa cái đầuGiai đoạn xuất hiện nụ hoaGiai đoạn ra hoa cái đầu
Đất thịt

TB

22,7a ± 5,81180,5a ± 9,177,5a ± 1,2710,4a ± 2,27
Đất thịt nhẹ23,8a ± 3,61185,5a ± 8,6410,2a ± 1,6815,5b ± 1,52
Đất cát

pha

25,6a ± 3,40200,5a ± 7,6110,8a ± 1,0316,0b ± 1,24

Bảng kết quả 3.4 đã cho thấy, giống mướp đăng xanh đen KAMI 999 có chiều dài thân chính của cây tính đến giai đoạn cây ra hoa cái đầu dài nhất khi cây được trồng ở loại đất cát pha (200.5 cm), trên đất thịt nhẹ chiều dài thân chính đạt 185,5 cm và thấp nhất khi được trồng trên đất thịt trung bình (180.5 cm). Số lượng nhánh trên cây tính đến thời điểm ra hoa cái cao nhất khi được trồng trên đất cát pha (16 nhánh), trên đất thịt nhẹ là 15,5 nhánh và số cành thấp nhất khi trồng trên đất thịt trung bình (10,4 nhánh). Cây trồng trên đất thịt nhẹ và đất cát pha, số lượng cành/cây chênh lệch nhau không lớn..

3.2.1.3. Số hoa cái trên cây và tỉ lệ đậu quả

Bảng 3.5: Số hoa cái/cây và tỉ lệ đậu quả của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 được trông trên các loại đất khác nhau trong vụ Thu – Đông tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Loại đấtSố hoa cái/cây (hoa)Tỉ lệ đậu quả (%)
Đất thịt TB20,2b ± 2,650,84a ± 0,03
Đất thịt nhẹ23,7a ± 1,250,85a ± 0,03
Đất cát pha24,6a ± 1,070,85a ± 0,02

Qua bảng kết quả 3.5 nhận thấy, số lượng hoa cái/cây có sự sai khác giữa các loại đất trồng. Số hoa cái/cây được trồng trên đất cát pha là 24,6 hoa/cây và đất thịt nhẹ 23,7 hoa/cây là tương đương nhau và cao hơn so với số hoa cái/cây được trồng ở đất thịt trung bình (20,2 hoa/cây).

Tuy nhiên, tỉ lệ đậu quả của giống trên các loại đất trồng khác nhau không có sự chênh lệch nhiều (84% – 85%). Điều này chứng tỏ tỉ lệ đậu quả của giống cây không phụ thuộc nhiều vào loại đất trồng mà chủ yếu do các yếu tố điều kiện thời tiết, khí hậu và khả năng xuất hiện côn trùng thụ phấn quyết định.

Như vậy, qua các bảng kết quả 3.3, 3.4 và 3.5 cho đã thấy: Trong cùng vụ Thu – Đông, giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 đều có khả năng sinh trưởng phát triển trên cả 3 loại đất: đất thịt trung bình, đất thịt nhẹ và đất cát pha tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, khả năng sinh trưởng và phát triển thể hiện tốt nhất được khi được trồng trên đất cát pha và thấp nhất khi được trồng trên loại đất thịt trung bình. Trên đất thịt nhẹ, cây trồng có các chỉ tiêu đánh giá về sinh trưởng phát triển của giống đều thể hiện sự phù hợp nhưng vẫn thấp hơn so với đất cát pha.

3.2.2. Ảnh hưởng của loại đất trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999

Bảng 3.6: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 được trồng ở các loại đất khác nhau trong vụ Thu – Đông tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Loại đấtSố quả thực thu/cây (quả)Khối lượng TB quả (g)NSCT (kg/cây)NSLT (tấn/ha)NSTT (tấn/ha)
Đất thịt TB13,7a±0,79176a±13,792,98a±0,2118,62a±1,3615,07a±1,13
Đất thịt nhẹ15,9b±0,65194b ± 6,13,91b±0,1324,44b±2,6319,27b±2,42
Đất cát pha16,4c±1,03200b ±7,114,18c±0,1126,12c±1,6820,50c±1,03

Chú thích: Các chữ cái khác nhau trên cùng một cột chỉ sự sai khác có ý nghĩa thông kê với p=0,05

Qua bảng kết quả 3.6 nhận thấy, số quả thực thu/cây cao nhất khi được trồng trên đất cát pha (16,4 quả), trên đất thịt nhẹ là 15,9 quả và thấp nhất là trên đất thịt trung bình (13,7 quả). Đồng thời, khối lượng trung bình của quả trên đất cát pha vẫn là cao nhất (200g) và trên đất thịt trung bình là thấp nhất (176g). Như vậy, trên cùng mật độ trồng như nhau thì điều này sẽ cho thấy NSCT, NSLT, NSTT sẽ cao nhất khi được trồng trên đất cát pha và thấp nhất khi được trồng trên đất thịt trung bình. NSTT thu được trên đất cát pha là 20,50 tấn/ha, trên đất thịt nhẹ là 19,27 tấn/ha và trên đất thịt trung bình là 15,07 tấn/ha.

Từ các kết quả khảo sát về khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 trên các loại đất trồng khác nhau đã cho thấy, giống có khả năng sinh trưởng phát triển trên cả 3 loại đất: Đất thịt trung bình, đất thịt nhẹ và đất cát pha. Tuy nhiên, trên đất cát pha, giống có khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao nhất và thấp nhất là trên đất thịt trung bình. Vì vậy, chúng tôi tiếp tục chọn loại đất cát pha để đánh giá ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng và mùa vụ trồng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 tại khu vực huyện Hòa Vang.

3.3. Ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 được trồng tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Để đánh giá ảnh hưởng của các nguyên tố dinh dưỡng khoáng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999, chúng tôi đã áp dụng 3 công thức bổ sung dinh dưỡng với tỉ lệ các nguyên tố N, K và P khác nhau trên cùng loại đất cát pha trong vụ Thu – Đông của thí nghiệm nghiên cứu.

Các công thức bổ sung dinh dưỡng được áp dụng là:

+ CT1: 20 tấn phân chuồng + 100g N + 70kg P2O5 + 50kg K2O

+ CT2: 20 tấn phân chuồng + 125kg N + 100kg P2O5 + 100kg K2O

+ CT3: 20 tấn phân chuồng + 184kg N + 112kg P2O5 + 124kg K2O

Trong đó, CT phân bón 3 dựa trên khuyến cáo của Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu Á dành cho mướp đắng (AVRDC) [22].

3.3.1. Ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999

3.3.1.1) Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng, phát triển

Kết quả nghiên cứu thể hiện ở bảng 3.7.

Bảng 3.7: Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 với các công thức bổ sung dinh dưỡng khác nhau được trồng trên đất cát pha trong vụ Thu – Đông tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

CT bổ sung dinh dưỡngThời gian giai đoạn sinh trưởngThời gian giai đoạn phát triển
Bung tua (ngày)Phân nhánh (ngày)Ra hoa cái đầu (ngày)Thu quả lần đầu (ngày)Kết thúc thu (ngày)
CT116,2a ± 0,7821,5a ± 0,8432,8a ± 1,2246,5a ± 1,0893,2a ± 2,86
CT217b ± 0,422,8b ± 0,7833,4b ± 0,6948,7b ± 0,99124,6b ± 3,83
CT318,5c ± 0,8124,6c ± 0,5136,4a ± 0,6950,4c ± 0,69123,2b ± 2,57

Từ bảng kết quả 3.7 nhận thấy, khi áp dụng bổ sung dinh dưỡng theo CT1, thời gian tính từ khi trồng đến lúc cây hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng, phát triển và ra quả đầu đều diễn ra sớm nhất, cây bung tua khi đạt 16,2 ngày, phân nhánh khi đạt 21,5 ngày, ra hoa cái đầu khi đạt 32,8 ngày và cho quả đầu khi cây đạt 46,5 ngày. Tuy nhiên, cây cũng kết thúc chu kỳ sống sớm hơn, kết thúc thu quả khi cây đạt 93,2 ngày. Áp dụng bổ sung dinh dưỡng khoáng theo CT2, cây bung tua khi cây đạt 17 ngày, phân nhánh khi đạt 22,8 ngày, ra hoa cái đầu khi đạt 33.4 ngày và thu quả đầu khi cây đạt 48,7 ngày, đồng thời, thời gian kết thúc thu kết thúc thu quả cũng kéo dài hơn, khi cây đạt 124,6 ngày. Ở CT3, thời gian sinh trưởng của cây kéo dài nhất, bung tua khi cây đạt 18,5 ngày, phân nhánh khi cây 24,6 ngày, ra hoa đầu khi cây đạt 36,4 ngày và thời gian cho thu quả đầu là 50,4 ngày. Tuy nhiên, thời gian kết thúc thu quả vẫn tương đương với CT2, khi cây đạt 123,2 ngày.

Như vậy, thời gian cho thu hoạch quả khi áp dụng bổ sung dinh dưỡng của CT1 khoảng 46,7 ngày, CT3 là 72,8 ngày và CT2 cho thời gian thu hoạch quả dài nhất (75,9 ngày).

Kết quả nghiên cứu đã thể hiện hàm lượng dinh dưỡng khoáng ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng, phát triển và thời gian hoàn thành chu kỳ sống của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999. Công thức bổ sung dinh dưỡng phù hợp nhất để giống đảm bảo được thời gian các quá trình sinh trưởng, phát triển và cho năng suất là CT2 (20 tấn phân chuồng + 125kg N + 100kg P2O5 + 100kg K2O).

3.3.1.2. Chiều dài thân chính và số nhánh/cây

Kết quả nghiên cứu về các chỉ tiêu sinh trưởng trên thể hiện ở bảng 3.8

Bảng 3.8: Chiều dài thân chính và số nhánh/cây của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 với các công thức bổ sung dinh dưỡng khác nhau được trồng trên đất cát pha trong vụ Thu – Đông tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

CT bổ sung dinh dưỡngChiều dài thân chính (cm)Số nhánh/cây (nhánh)
Giai đoạn bung tuaGiai đoạn ra hoa cái đầuGiai đoạn xuất hiện nụ hoaGiai đoạn ra hoa cái đầu
CT120,3a ± 3,24174,5a ±14,977,0a ± 1,1711,6a ± 1,95
CT225,6a ± 3,4200,5a ± 7,6110,8a ± 1,0316,0b ± 1,24
CT336,22b ±3,19230b ± 15,499,4b ± 0,9614,9b ± 1,28

Chú thích: Các chữ cái khác nhau trên cùng một cột chỉ sự sai khác có ý nghĩa thông kê với p=0,05

C

Từ bảng kết quả 3.8 nhận thấy, khi áp dụng bổ sung dinh dưỡng cho cây theo CT1, chiều dài thân chính của cây qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển là ngắn nhất, tính đến giai đoạn ra hoa cái đầu, chiều dài thân chính của cây là 174,5cm. Chiều dài thân chính khi áp dụng CT3 qua các giai đoạn đều đạt dài nhất, tính đến thời điểm ra hoa cái đầu chiều dài thân chính là 230cm, và khi bổ sung dinh dưỡng theo CT2 các chỉ số chiều dài thân chính qua các giai đoạn đạt mức trung bình, tính đến thời điểm ra hoa cái đầu là 200,5cm.

Tính từ giai đoạn bắt đầu xuất hiện nụ hoa đến khi hoa cái đầu xuất hiện, số nhánh/cây tăng rất nhanh. Khi bổ sung dinh dưỡng theo CT2 đều cho số lượng nhánh nhiều nhất. Áp dụng bổ sung dinh dưỡng theo CT1 số lượng nhánh là ít nhất ở các giai đoạn tương ứng. Tính đến thời điểm ra hoa cái đầu, số lượng nhánh/cây ở CT1 là 11,6 nhánh, CT2 là 16 nhánh và CT3 đạt 14,9 nhánh.

Như vậy, hàm lượng dinh dưỡng khoáng được bổ sung vào đất đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 khi được trồng trên vùng đất cát pha tại Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Khi áp dụng bổ sung dinh dưỡng theo CT1 (20 tấn phân chuồng + 100g N + 70kg P2O5 + 50kg K2O), với hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng khoáng thấp nhất, cây sinh trưởng chậm và khả năng đẻ nhánh thấp. Hàm lượng dinh dưỡng khoáng phù hợp nhất để cây sinh trưởng cân đối về chiều dài thân và số lượng nhánh là CT2 (20 tấn phân chuồng + 125kg N + 100kg P2O5 + 100kg K2O). Khi tăng hàm lượng các nguyên tố khoáng lên ở mức CT3 (20 tấn phân chuồng + 184kg N + 112kg P2O5 + 124kg K2O), thì sự sinh trưởng của cây thiếu cân đối, chiều dài thân chính được kéo dài hơn nhưng khả năng phân nhánh lại thấp hơn so với cây được bổ sung dinh dưỡng khoáng theo CT2.

     3.3.1.3) Số hoa cái trên cây và tỉ lệ đậu quả

Bảng 3.9: Số hoa cái/cây và tỉ lệ đậu quả của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 với các công thức bổ sung dinh dưỡng khác nhau được trồng trên đất cát pha trong vụ Thu – Đông tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

CT bổ sung dinh dưỡngSố hoa cái/cây (hoa)Tỉ lệ đậu quả (%)
CT119,2a ± 1,050,84a ± 0,03
CT224,6b ± 1,070,85a ± 0,02
CT323,6b ± 1,050,84a ± 0,05

Chú thích: Các chữ cái khác nhau trên cùng một cột chỉ sự sai khác có ý nghĩa thông kê với p=0,05

Qua bảng kết quả 3.9 nhận thấy, số hoa cái/cây chịu ảnh hưởng bởi lượng nguyên tố dinh dưỡng được bổ sung vào đất. Số hoa cái/cây thấp nhất khi áp dụng bổ sung dinh dưỡng theo CT1 (19,2 hoa/cây), ở CT2 và CT3, số lượng hoa cái đạt tương đương nhau là 24,6 hoa/cây và 23,6 hoa/cây. Điều này cho thấy, lượng dinh dưỡng khoáng thích hợp sẽ làm tăng số hoa cái/cây, khi tăng lượng dinh dưỡng tăng cao hơn so với nhu cầu của cây cũng không làm tăng thêm số lượng hoa. Tuy nhiên, tỉ lệ đậu quả của cây ít chịu ảnh hưởng của hàm lượng dinh dưỡng khoáng theo các CT được áp dụng trong nghiên cứu này. Các CT bổ sung dinh dưỡng khác nhau trong vụ Thu – Đông đều cho tỉ lệ đậu quả tương đương từ 84% – 85%.

Như vậy, hàm lượng dinh dưỡng khoáng được bổ sung vào đất có ảnh hưởng nhất định đến cả quá trình sinh trưởng và phát triển của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 khi được trồng trên đất thịt nhẹ trong vụ Thu – Đông tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Công thức bổ sung dinh dưỡng khoáng phù hợp nhất cho quá trình sinh trưởng và phát triển của giống là 20 tấn phân chuồng + 125kg N + 100kg P2O5 + 100kg K2O.

3.3.2. Ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999

Bảng 3.10: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 với các công thức bổ sung dinh dưỡng khác nhau được trồng trên đất cát pha trong vụ Thu – Đông tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

CT bổ sung dinh dưỡngSố quả thực thu/cây (quả)Khối lượng TB quả (g)NSCT (kg/cây)NSLT (tấn/ha)NSTT (tấn/ha)
CT113a±0,90184a±10,32,97a±0,1318,56a±0,8214,95a±1,17
CT216,4b±1,03200b±7,114,18b±0,1126,12b±1,6820,50b±1,03
CT314,2c±0,61201c±4,983,98c±0,1524,87c±0,6817,83c±0,59

Chú thích: Các chữ cái khác nhau trên cùng một cột chỉ sự sai khác có ý nghĩa thông kê với p=0,05

Qua bảng kết quả 3.10 nhận thấy, áp dụng bổ sung dinh dưỡng theo CT2, giống mướp đắng KAMI 999 cho các chỉ số về số quả thực thu/cây và năng suất là cao nhất. Số quả thực thu/cây là 16,4 quả và NSTT đạt 20,50 tấn/ha. Trong CT1, hàm lượng N, P, K đều thấp hơn các công thức còn lại nên khả năng sinh trưởng của cây còn thấp, chiều dài thân chính và số nhánh thấp hơn và thời gian hoàn thành chu kỳ sống ngắn hơn nên năng suất thấp hơn hẳn so CT2 và CT3, số quả/cây là 13 quả và NSTT đạt thấp nhất (14,95 tấn/ha). Trong CT3, lượng nguyên tố N tăng cao hơn nhiều so với CT1 và CT2 làm cây kéo dài thời gian sinh trưởng, chiều dài thân chính phát triển mạnh. Tuy nhiên, bổ sung dinh dưỡng theo CT3, cây có thời gian ra hoa cái muộn hơn nên và số nhánh vẫn ít hơn so với thí nghiệm bổ sung dinh dưỡng theo CT2 nên năng suất vẫn thấp hơn, số quả/cây đạt 14,2 quả và NSTT đạt 17,83 tấn/ha.

Đối với giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 được trồng tại khu vực huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, công thức bổ sung dinh dưỡng phù hợp nhất cho sinh trưởng, phát triển và cho năng suất tối đa của giống là: 20 tấn phân chuồng + 125kg N + 100kg P2O5 + 100kg K2O.

3.4. Ảnh hưởng của mùa vụ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 được trồng tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Các thời vụ được nghiên cứu là vụ Thu – Đông, vụ Đông và vụ Xuân trong năm 2018 – 2019.

– Vụ Thu – Đông: Gieo giống ngày 12/7/2018 (kết thúc thu 18/11)

– Vụ Đông: Gieo giống ngày 5/10/2018 (kết thúc thu 23/12)

– Vụ Xuân: Gieo giống ngày 2/1/2019 (kết thúc thu 30/3)

3.4.1. Ảnh hưởng của mùa vụ trồng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999

3.4.1.1. Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng, phát triển

Bảng 3.11: Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 được trồng trên đất cát pha ở các vụ khác nhau tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Mùa vụThời gian giai đoạn sinh trưởng (ngày)Thời gian giai đoạn phát triển (ngày)
Bung tua (ngày)Phân nhánh (ngày)Ra hoa cái (ngày)Thu quả lần đầu (ngày)Kết thúc thu (ngày)
Thu -Đông17a ± 0,422,8b ± 0,7833,4b ± 0,6948,7c ± 0,99124,6b ± 3,83
Đông22b ± 0,6626,8b ± 1,0344,1b ± 0,7357,8b ± 0,878,7b ± 2,00
Xuân26c ± 2,9231,2c ± 0,7849,8c ± 0,7864c ± 0,8192,3c ± 4,64

– Trong vụ Thu – Đông, thời gian cây thực hiện các giai đoạn sinh trưởng và phát triển đều diễn ra sớm nhất, cây bung tua khi đạt 17 ngày, phân nhánh khi đạt 22,8 ngày, ra hoa cái khi đạt 33,4 ngày và thu hoạch quả khi cây đạt 48,7 ngày.

C

– Trong vụ Đông, thời gian cây bắt đầu thực hiện các giai đoạn sinh trưởng và phát triển diễn ra muộn hơn, cây bung tua khi đạt 22 ngày, phân nhánh khi đạt 26,8 ngày, ra hoa cái khi đạt 44,1 ngày và thu quả đầu lúc cây 57,8 ngày.

– Trong vụ Xuân, thời gian cây bắt đầu thực hiện các giai đoạn sinh trưởng và phát triển diễn ra muộn nhất. Thời gian cây bắt đầu bung tua là 26 ngày, phân nhánh khi đạt 31,2 ngày, ra hoa cái khi đạt 49,8 ngày và thu hoạch khi cây đạt 64,0 ngày.

Ngoài ra, thời gian tính từ khi gieo trồng đến kết thúc thu hoạch ở các vụ khác nhau cũng có sự sai khác rất nhiều. Trong vụ Thu – Đông, thời gian tính trên toàn bộ chu kỳ sống của cây là 124,6 ngày, ở vụ Đông là 78,7 ngày và vụ Xuân là 92,3 ngày. Như vậy, ta có thể nhận thấy thời gian cho thu hoạch quả của giống trong vụ Thu – Đông là dài nhất (75,9 ngày), ở vụ Đông là 20,9 ngày và vụ Xuân là 28,3 ngày. Đây là một yếu tố quan trọng liên quan đến khả năng cho năng suất của giống.

Đối chiếu với kết quả khảo sát về điều kiện khí hậu tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng trong thời gian từ tháng 7/2018 đến tháng 3/2019 nhận thấy:

– Trong giai đoạn từ tháng 7 – 11/2018, là thời điểm nằm trong vụ Thu – Đông, nhiệt độ trung bình các tháng nằm trong khoảng từ 25 – 29,5oC, nhiệt độ cao nhất là 36oC và thấp nhất là 20oC nhiệt độ này nằm trong khoảng rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây mướp đắng. Độ ẩm trung bình từ 72 -82%, số giờ nắng từ 144 – 240 giờ và tất cả các tháng đều có mưa dao động từ 90 – 357mm. Như vậy, trong khoảng thời gian này, các yếu tố về điều kiện khí hậu thời tiết hoàn toàn thuận lợi cho quá trình sinh trưởng, phát triển của cây mướp đắng. Vì vậy, thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng của cây là sớm nhất đồng thời, thời gian cho thu hoạch của giống trong vụ này là dài nhất.

– Trong giai đoạn từ tháng 10 – 12/2018, là thời điểm tương ứng với vụ Đông của đối tượng nghiên cứu, thời vụ gieo trồng bắt đầu từ ngày 3/10/2018. Trong giai đoạn này, có sự biến thiên lớn về lượng mưa và độ ẩm không khí:

+ Từ tháng 10 – 11/2018 là thời gian sinh trưởng của cây, nhiệt độ trung bình nằm trong khoảng 25 – 27oC, cao nhất là 32oC và thấp nhất là 20oC, lượng mưa cao hơn trong các tháng 7, 8 và 9 và nằm trong khoảng từ 255-357mm, độ ẩm từ 79 -82%. Như vậy, trong điều kiện nhiệt độ mát mẻ, độ ẩm hơi cao hơn so với nhu cầu của cây nên thời gian sinh trưởng của cây được kéo dài hơn.

+ Tuy nhiên, trong tháng 12/2018, thời tiết, khí hậu có nhiều thay đổi, độ ẩm và lượng mưa tăng lên rất cao. Theo báo cáo của Trung tâm Khí tượng thủy văn Khu vực Trung Trung Bộ đóng tại thành phố Đà Nẵng, trong tháng 12, Đà Nẵng đã có mưa vừa đến mưa to, mưa lớn tập trung xảy ra trong các ngày 9-10 và 14-17/12, lượng mưa trung bình của tháng là 1174.6mm, độ ẩm không khí trung bình là 87%. Đúng vào thời điểm này, cây mướp đắng trồng ở vụ Đông đang giai đoạn đoạn ra hoa, đậu quả và cho thu hoạch. Như vậy, thời tiết khí hậu trong giai đoạn này đã ảnh hưởng bất lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây. Vì vậy, trước những điều kiện bất lợi này, cây đã kết thúc chu kỳ sinh trưởng rất sớm (78,7 ngày).

– Giai đoạn từ tháng 1/2019 – 3/2019 là thời điểm tương ứng với vụ Xuân của đối tượng nghiên cứu. Trong giai đoạn này, nhiệt độ trong các tháng dao động từ 24 – 26oC, thấp nhất là 17,5oC, độ ẩm trung bình từ 83 – 86%. Nhiệt độ này hơi thấp hơn so với khung nhiệt độ thích của cây mướp đắng (25 – 30oC) và độ ẩm tương đối cao. Đồng thời, số giờ nắng trong tháng 1 chỉ đạt 103 giờ, thấp hơn so với nhu cầu của cây (150 – 240 giờ). Vì vậy, cây đã kéo dài thời gian sinh trưởng. Thời gian cho thu quả lần đầu của giống trong vụ này lên đến 64 ngày.

3.4.1.2. Chiều dài thân chính và số nhánh/cây

Bảng 3.12: Chiều dài thân chính và số nhánh/cây của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 được trồng trên đất cát pha trong các vụ khác nhau tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Mùa vụChiều dài thân chính (cm)Số nhánh/cây (nhánh)
Giai đoạn bung tuaGiai đoạn ra hoa cái đầuGiai đoạn xuất hiện nụ hoaGiai đoạn ra hoa cái đầu
Thu – Đông25,6a ± 3,40200,5a ± 7,6110,8a ± 1,0316,0b ± 1,24
Đông28,2a ± 3,25236,5b ±0,037,2a ± 1,6812,5b ± 1,52
Xuân29,6a ± 3,40217b ± 11,878,8a ± 1,0314,0b ± 1,24

Qua bảng kết quả 3.12 nhận thấy, trong vụ Đông, thân chính của cây tính đến thời điểm ra hoa là dài nhất (236,5 cm), ở vụ Xuân là 217 cm và thấp nhất ở vụ Thu – Đông (200,5 cm). Tuy nhiên, số nhánh/cây trong vụ Đông tính đến thời điểm ra hoa cái đầu là thấp nhất (12,5 nhánh), trong vụ Xuân là 14 nhánh/cây và trong vụ Thu – Đông là nhiều nhất (16 nhánh/cây)

Theo kết quả khảo sát về yếu tố thời tiết, khí hậu, trong vụ Thu – Đông, ở các tháng tháng 7/2018 – 10/2018, nhiệt độ trung bình 25 – 29,5oC và thời gian chiếu sáng trong các tháng dao động từ 144 – 240 giờ, cao hơn so với nhiệt độ và thời gian chiếu sáng trong các tháng còn lại. Đồng thời, các yếu tố này đều nằm trong khoảng thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của mướp đắng. Vì vậy, khả năng quang hợp tổng hợp chất hữu cơ được đầy đủ, khả năng phân nhánh cao. Trong vụ Đông và vụ Xuân, nhiệt độ và ánh sáng thấp hơn nên cây sinh trưởng kéo dài và hạn chế khả năng phân nhánh.

3.4.1.3. Số hoa cái/cây và tỉ lệ đậu quả

Bảng 3.13: Số hoa cái/cây và tỉ lệ đậu quả của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 ở các vụ trồng khác nhau tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Mùa vụSố hoa cái/cây (hoa)Tỉ lệ đậu quả (%)
Thu – Đông24,6a ± 1,070,85a ± 0,02
Đông20,7b ± 1,250,71b ± 0,03
Xuân17,6c ± 1,070,72b ± 0,02

Chú thích: Các chữ cái khác nhau trên cùng một cột chỉ sự sai khác có ý nghĩa thông kê với p=0,05

C

Kết quả 3.13 cho thấy, số hoa cái/cây ở các vụ khác nhau có sự chênh lệch khá lớn. Ở vụ Thu – Đông số hoa cái/cây là cao nhất (24,6 hoa), ở vụ Đông là 20,7 hoa và thấp nhất là ở vụ Xuân 17,6 hoa. Đồng thời, tỉ lệ đậu quả cũng cao nhất trong vụ Thu – Đông (85%), trong vụ Đông và vụ Xuân tỉ lệ đậu quả thấp hơn và tương đương nhau (71% và 72%).

– Trong vụ Thu – Đông, các điều kiện về nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa… đều rất thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của giống. Vì vậy, số lượng nhánh/cây và số hoa cái/cây đều cao nhất trong các vụ trồng. Đồng thời, điều kiện thời tiết trong vụ cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các côn trùng tham gia thụ phấn hoạt động tốt. Vì vậy tỉ lệ đậu quả cũng đạt cao nhất trong vụ này (85%).

– Trong vụ Đông, giai đoạn đầu tháng 12 là thời điểm cây đang ra hoa, đậu quả và cho thu hoạch, tuy nhiên tại khu vực đã chịu lượng mưa lớn trong nhiều ngày. Điều này đã làm lượng phấn trên hoa đã bị nước mưa rửa trôi một phần, đồng thời số lượng côn trùng giúp quá trình thụ phấn hoạt động cũng giảm đi, vì vậy tỉ lệ đậu quả thấp hơn so với vụ Thu – Đông.

Trong vụ Xuân, giai đoạn từ tháng 1 và tháng 2/2019 là thời điểm cây đang sinh trưởng và ra hoa nhưng nhiệt độ trung bình tại khu vực chỉ dao động từ 22,4 – 24oC, nhiệt độ tối thiểu rất thấp (17,5 – 18,2oC). Với khoảng nhiệt độ thấp này đã làm giảm số lượng hoa cái/cây. Đồng thời, nhiệt độ thấp kèm theo độ ẩm cao đã làm giảm sự xuất hiện của các loại côn trùng tham gia thụ phấn.

3.4.2. Ảnh hưởng của mùa vụ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 được trồng tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Bảng 3.14: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 ở các vụ trồng khác nhau tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Mùa vụSố quả thực thu/cây (quả)Khối lượng TB quả (g)NSCT (kg/cây)NSLT (tấn/ha)NSTT (tấn/ha)
Thu – Đông16,4a ± 1,03200a ± 1,714,18a ± 0,1126,12a±1,6820,50a ±1,03
Đông10,2b ± 1,03237b ± 9,483,24b ± 0,2720,27b±1,6915,07b±1,26
Xuân9,6c ± 0,84236c ± 8,432,99c ± 0,1418,7c ± 9,9114,1c ± 1,05

Chú thích: Các chữ cái khác nhau trên cùng một cột chỉ sự sai khác có ý nghĩa thông kê với p=0,05

Số quả thực thu/cây và khối lượng trung bình của quả là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất cuối cùng của giống. Qua bảng kết quả 3.14 nhận thấy, số quả thực thu/cây, NSCT, NSLT và NSTT cao nhất ở vụ Thu – Đông. Trong vụ này, số quả thực thu/cây là 16,4 quả, NSCT đạt 4,18 kg/cây, NSTT đạt 20,50 tấn/ha. Ở hai vụ Đông và Xuân các chỉ tiêu này thấp hơn và không có sự chênh lệch lớn giữa 2 vụ. Số quả thực thu/cây ở vụ Đông là 10,2 quả, NSTT đạt 15,07 tấn/ha, ở vụ Xuân số quả thực thu/cây là 9,6 quả, NSTT chỉ đạt 14,1 tấn/ha.

Tuy nhiên, khối lượng TB quả của vụ Thu – Đông là 200g, thấp hơn so với vụ Đông (237g) và vụ Xuân (236g). Sự sai khác này là do nhiệt độ và độ ẩm không khí khác nhau ở các vụ trồng. Trong hai vụ Đông và Xuân, lượng mưa nhiều hơn, độ ẩm không khí cao hơn nên hàm lượng nước trong quả lớn, vì vậy, khối lượng quả cao hơn. Trong thời kỳ sinh trưởng, mướp đắng cần độ ẩm 70 – 80% để sinh trưởng tốt. Tuy nhiên, thời kỳ ra quả rộ và quả phát triển yêu cầu độ ẩm cao 80-90% vì ở giai đoạn này hàm lượng nước trong thân, lá, quả của mướp đắng lên đến trên 90% [18].

Như vậy, kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của mùa vụ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 trên cùng một loại đất cát pha tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng cho thấy, giống có khả năng cho năng suất cao nhất trong vụ Thu – Đông, thời gian gieo trồng từ tháng 7/2018 – 11/2018, năng suất đạt 20,50 tấn/ha, kế tiếp là vụ Đông, năng suất đạt 15.07 tấn/ha, trong vụ Xuân, năng suất của giống là thấp nhất 14,1 tấn/ha.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

1.1. Căn cứ vào kết quả phân tích điều kiện sinh thái đất và yếu tố thời tiết, khí hậu qua các năm tại khu vực nghiên cứu cho thấy, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng có các điều kiện sinh thái phù hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999.

1.2. Nhân tố sinh thái đất trồng có ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống mướp đắng KAMI 999. Trong đó, các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đạt giá trị cao nhất trên đất cát pha tại xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Ddà Nẵng.

1.3. Công thức bổ sung dinh dưỡng phù hợp nhất cho quá trình sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất đối với giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 là: 20 tấn phân chuồng + 125kg N + 100kg P2O5 + 100kg K2O. Bổ sung dinh dưỡng theo công thức này và thí nghiệm trên đất cát pha, trong vụ Thu – Đông tại xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, NSTT của giống đạt 20,50 tấn/ha.

1.4. Thời vụ gieo trồng là nhân tố sinh thái ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của giống mướp đắng xanh đen KAMI 999. Trong vụ Thu – Đông (thời gian từ tháng 7/2018 – 11/2018) có các yếu tố về nhiệt độ, độ ẩm tương đối, tổng số giờ nắng và lượng mưa đều phù hợp theo yêu cầu của giống nên khả năng sinh trưởng phát triển của giống đạt tốt nhất. Đồng thời, trong vụ Thu – Đông, lượng côn trùng tham gia thụ phấn cho cây xuất hiện ổn định nên tỉ lệ đậu quả đạt cao nhất (85%).

2. Kiến nghị

2.1. Giống mướp đắng xanh đen KAMI 999 có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất cao trong điều kiện sinh thái vụ Thu – Đông tại xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Do đó ngành nông nghiệp huyện có thể xem xét, đưa giống vào sản xuất trong vụ Thu – Đông tại địa phương nhằm làm tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân.

2.2. Để có kết luận đầy đủ và chính xác hơn về khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống, cần tiến hành thêm các thí nghiệm ở các vụ khác trong năm và ở các xã khác trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KY THUAT\SINH THAI HOC\NGUYEN THI MONG THUONG\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *