Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ hệ thực vật bậc cao khu vực bãi bồi thuộc hạ lưu sông Thu Bồn

Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ hệ thực vật bậc cao khu vực bãi bồi thuộc hạ lưu sông Thu Bồn

Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ hệ thực vật bậc cao khu vực bãi bồi thuộc hạ lưu sông Thu Bồn, Thành phố Hội An

1. Tính cấp thiết của đề tài

Vùng cửa sông là nơi chuyển tiếp giữa sông và biển, nơi thường xuyên có sự biến đổi mực nước, độ mặn theo hoạt động của thủy triều. Ở nước ta hầu hết các con sông đều đổ ra biển lại phân bố ở địa hình khác nhau tạo nên vùng cửa sông các đầm phá, đất ngập nước, cồn cát,… Chính những khu hệ khác nhau này cùng với sự pha trộn giữa môi trường nước biển và nước ngọt đã tạo ra nguồn lợi thủy sản vô cùng đa dạng và phong phú [31].

Ở các khu vực bãi bồi vùng cửa sông ven biển, thực vật bậc cao có vai trò quan trọng đối với nhiều loài sinh vật: nơi sinh sống và kiếm ăn của nhiều loài chim biển, trong đó có nhiều loài chim di cư, nơi đẻ trứng của nhiều loài thủy sinh vật. Bên cạnh các giá trị về mặt sinh học, hệ thực vật bậc cao khu bãi bồi ở vùng cửa sông ven biển còn có vai trò trong việc điều hòa khí hậu, bảo vệ bờ, hạn chế bão lũ, triều cường, xâm nhập mặn và bảo vệ nước ngầm [35].

Thế nhưng đây cũng là vùng vô cùng nhạy cảm, dễ bị tổn thương bởi tác động của các hiện tượng tự nhiên cũng như các hoạt động khác nhau của con người như việc chuyển đổi các vùng đất ngập nước thành đất canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản [14], [43]. Nếu không được bảo vệ sẽ dẫn đến suy thoái kéo theo các tác động như xâm nhập mặn, lũ lụt, mất nơi cư trú của nhiều loài sinh vật,… làm ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng hệ sinh thái cửa sông đồng thời có nguy cơ tác động đến các hệ sinh thái lân cận như hệ sinh thái nông nghiệp.

Nằm cuối dòng sông Thu Bồn, thành phố Hội An được thừa hưởng một sự đa dạng các hệ sinh thái vùng cửa sông và ven bờ. Các nhánh sông Ba Chươm, sông Cổ Cò, sông Đình, sông Đò nối với sông Thu Bồn tạo ra nhiều bãi bồi, cồn cát kéo dài từ cầu Câu Lâu đến biển Cửa Đại như Thuận Tình, cồn Tiến, cồn 3 xã,… tạo cho khu vực hạ lưu sông Thu Bồn một sinh cảnh rất đặc biệt, đặc trưng của hệ sinh thái nhiệt đới [14]. Trên các bãi bồi vai trò của hệ thực vật bậc cao rất quan trọng đối với môi trường và nguồn lợi sinh vật, không chỉ riêng cho vùng Hội An mà cho cả vùng biển phía ngoài Cửa Đại, các vùng biển lân cận Cù Lao Chàm [15]. Chính vì thế, khu vực này luôn chịu tác động bởi các phương thức đánh bắt, sự đi lại của tàu thuyền, khai thác cát,… của người dân địa phương.

Cho đến nay, có nhiều đề tài nghiên cứu được thực hiện ở khu vực này như hiện trạng tài nguyên dừa nước (Nguyễn Hữu Đại, 2008), hiện trạng thảm cỏ biển (Cao Văn Lương, 2010),… Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về hệ thực vật ở các khu bãi bồi Cửa Đại. Xuất phát từ thực tiễn trên, việc tiến hành đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ hệ thực vật bậc cao khu vực bãi bồi thuộc hạ lưu sông Thu Bồn, Thành phố Hội An” là cần thiết, cấp bách. Trên cơ sở nghiên cứu về thành phần loài, đặc điểm phân bố và dự báo quy luật diễn thế sinh thái của hệ thực vật bậc cao ở bãi bồi trong nhằm đề ra các giải pháp quản lí, bảo vệ hiệu quả góp phần thực hiện kết nối giữa khu Bảo tồn Cù Lao Chàm và vùng hạ lưu sông Thu Bồn trở thành hành lang Bảo tồn thiên nhiên và đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái đa dạng bền vững.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu về thành phần loài, điều kiện môi trường sống và các yếu tố tác động đến hệ thực vật bậc cao, xác định được quy luật diễn thế sinh thái thực vật bậc cao khu bãi bồi Cửa Đại thuộc sông Thu Bồn từ đó đề xuất các giải pháp bảo vệ thích hợp và hiệu quả.

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1. Ý nghĩa khoa học

Cung cấp thông tin khoa học về xu thế diễn thế sinh thái của hệ thực vật bậc cao ở các bãi bồi.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các giải pháp khả thi nhằm quản lí, bảo vệ hệ thực vật bậc cao ở khu vực này.

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. THÀNH PHẦN VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CÁC LOÀI THỰC VẬT BẬC CAO Ở CÁC BÃI BỒI VÙNG CỬA SÔNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.1.1. Trên thế giới

Dựa trên mô tả phân bố thực vật của Duke (1992) và Saenger (2002), Spalding và cộng sự (2010) đã xây dựng bản đồ phân bố thực vật vùng cửa sông trên thế giới. Qua bản đồ này cho thấy số lượng loài và vĩ độ có mối quan hệ với nhau. Các thực vật vùng cửa sông tập trung, sinh trưởng tốt trên thế giới là vùng mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm nằm trong giới hạn từ đường xích đạo lên phía bắc, tới đường đẳng nhiệt 20oC trong tháng 1 (mùa đông, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm) và từ đường xích đạo về phía nam tới đường đẳng nhiệt 20oC trong tháng 7 hay nói cách khác các vùng này có khí hậu quanh năm ấm áp; khi vĩ độ tăng dần thì số lượng phân bố thực vật vùng của sông càng sụt giảm [1], [6].

Theo tạp chí Science Daily và đánh giá của Hutching và Seanger (1987) cho rằng thực vật vùng cửa sông phân bố ở 118 lãnh thổ quốc gia, chủ yếu ở châu Á, châu Mỹ, châu Phi và châu Úc, có thể chia thành 6 vùng khác nhau đó là [1],[6],[35]:

– Vùng phía tây châu Mỹ

– Vùng phía đông châu Mỹ

– Vùng phía tây châu Phi

– Vùng phía đông châu Phi

– Vùng Ấn Độ – Malaysia

– Vùng châu Úc.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy có một số loài mở rộng khu phân bố lên phía Bắc tới Bermunda (32o20’ Bắc) và Nhật Bản (31o22’ Bắc) như Trang, Vẹt dù, Đâng, Cóc vàng. Giới hạn phía Nam của cây ngập mặn lag New Zealand (38o03’ Nam) và phía Nam Australia (38o43’ Nam). Ở những vùng này do khí hậu mùa đông lạnh nên thường chỉ còn loài Mắm biển [21].

Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài và sự phân bố của thực vật vùng cửa sông trên thế giới đặc biệt là các loài ngập mặn của các tác giả như Hutching và Seanger (1987), Anaclara Guido và các cộng sự, K. Sakthivel và cộng sự. Tomlinson (1986) đã phân chia các quần xã RNM làm 2 nhóm có thành phần loài cây khác nhau:

– Nhóm phía đông tương ứng với vùng Ấn Độ – Thái Bình Dương với số loài đa dạng, phong phú.

– Nhóm phía tây gồm bờ biển nhiệt đới châu Phi, châu Mỹ và cả Đại Tây Dương, Thái Bình Dương [41].

1.1.2. Ở Việt Nam

Theo Phan Nguyên Hồng, thành phần thảm thực vật ở vùng cửa sông thường gồm những loài cây nước lợ điển hình như cây Bần trắng (Sonneratia alba Sm), Dừa nước (Nypa fruticans),…

Ở Việt Nam, hệ thực vật vùng cửa sông có khoảng 29 họ thực vật bậc cao (TVBC) với 61 loài [13]. Theo một nhóm các tác giả TVBC vùng cửa sông chủ yếu là CNM phân bố tập trung ở 2 vùng chính:

– Ở các bãi lầy ngập triều định kỳ: chủ yếu là nhóm cây ngập mặn chính thức.

– Trên đất chỉ ngập triều cao: có nhóm cây tham gia ngập mặn và một số cây du nhập.

Đến 1975, có tất cả 97 báo cáo và tài liệu khác nhau về RNM (theo Rollet).

Sau 1975, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành ở RNM miền Nam Việt Nam, chủ yếu là của Viện Điều tra Quy hoạch rừng thuộc Bộ lâm nghiệp và của Trung tâm Tài nguyên Môi trường Đại học Quốc gia Hà Nội do GS.TS Phan Nguyên Hồng chủ trì.

Theo Phan Nguyên Hồng sự phân bố của thực vật ở vùng cửa sông được chia thành 4 khu vực [19], [20], [21]:

* Khu vực 1: Ven biển Đông bắc, từ mũi Ngọc đến Đồ Sơn.

* Khu vực 2: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường.

* Khu vực 3: Ven biển Trung Bộ, từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu.

* Khu vực 4: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nại, Hà Tiên.

Sau Phan Nguyên Hồng cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài và sự phân bố thực vật ngập mặn vùng cửa sông ở các địa phương của các tác giả như: Phạm Văn Ngọt, Nguyễn Thanh Nhân [28], Hoàng Công Tín, Mai Văn Phô [32], Phạm Ngọc Dũng, Tôn Thất Pháp [12], Lê Bá Khoa [24], Đặng Văn Sơn [30],… Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đều cho thấy sự phân bố, độ nhiều của các loài thực vật vùng cửa sông của nước ta phần lớn đều nằm ở ven biển Nam Bộ rồi đến Bắc Bộ và miền Trung.

Riêng ở Quảng Nam, trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả như Cao Văn Lương [27], Nguyễn Hữu Đại [15], … Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có một có công trình nào đề cập đến chi tiết hệ TVBC trên các bãi bồi cũng như diễn thế sinh thái của thực vật ở vùng cửa sông.

Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ hệ thực vật bậc cao khu vực bãi bồi thuộc hạ lưu sông Thu Bồn, Thành phố Hội An
Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ hệ thực vật bậc cao khu vực bãi bồi thuộc hạ lưu sông Thu Bồn, Thành phố Hội An

1.2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÀNH VÀ DIỄN THẾ SINH THÁI THỰC VẬT BẬC CAO Ở KHU VỰC BÃI BỒI VÙNG CỬA SÔNG

1.2.1. Đặc điểm hình thành hệ thực vật bậc cao ở khu vực bãi bồi vùng cửa sông

1.2.2. Quá trình diễn thế sinh thái của thực vật bậc cao ở vùng cửa sông

1.3. VAI TRÒ CỦA HỆ THỰC VẬT BẬC CAO KHU VỰC BÃI BỒI VÙNG CỬA SÔNG

1.4. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Các loài thực vật bậc cao phân bố ở các bãi bồi thuộc hạ lưu sông Thu Bồn – Thành phố Hội An.

2.2. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 01/2015 đến tháng 10/2015. Trong đó, chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát 3 đợt: Đợt 1: Từ ngày 23 – 25/5/2015; Đợt 2: Từ ngày 30 – 31/5/2015; Đợt 3: Từ ngày 19 – 21/9/2015.

2.2.2. Địa điểm nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành thu mẫu ở 7 điểm tương ứng ở 7 bãi bồi dọc theo sông Thu Bồn – TP Hội An. (bảng 2.1 và hình 2.1)

Bảng 2.1. Các vị trí thu mẫu vùng hạ lưu sông Thu Bồn

TTKhu vực nghiên cứuTọa độKí hiệu
1Thanh HàN-150 87’38’’

E-1080 30’27’’

V1
2Gò Ông Một (Thanh Hà)N-150 87’52’’

E-1080 29’85’’

V2
3Cẩm KimN-150 86’75’’

E-1080 33’77’’

V3
4Cẩm NamN-150 72’64’’

E-1080 31’96’’

V4
5Cẩm NamN-150 87’48’’

E-1080 34’37’’

V5
6Cẩm ThanhN-150 86’91’’

E-1080 36103

V6
7Gò Thuận Tình (Cẩm Thanh)N-150 86’54’’

E-1080 36’07’’

V7

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

2.3.2. Phương pháp điều tra thực địa

Một số thiết bị được dùng trong khi khảo sát: GPS, máy ảnh.

2.3.3. Phương pháp lập ô tiêu chuẩn

Để tiến hành thu thập các số liệu về thành phần loài của hệ TVBC trên các bãi bồi chúng tôi sử dụng phương pháp lập ô tiêu chuẩn [34]. Lập 7 ô tiêu chuẩn có kích thước 10m x 10m (100m2), ô được tính từ mép nước vào bờ 10m và chiều dài 10m, được đánh dấu tọa độ ô tiêu chuẩn bằng máy GPS. Trong ô tiêu chuẩn (A) tiến hành đo đếm tất cả các cây thân bụi và thân gỗ. Trong mỗi ô A, lập 1 ô nhỏ hơn (ô B) với kích thước là 5m x 5m (25m2), trong đó tiến hành đo đếm tất cả các cây thân thảo.

2.3.4. Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu ngoài thực địa

a. Đối với mẫu thực vật

Sử dụng phương pháp thu mẫu thực địa theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 2007) [33], [34]:

Phương pháp thu mẫu: Các mẫu thu được có bộ phận dinh dưỡng và bộ phận sinh sản. Trường hợp mẫu thu được không đủ đặc điểm phân loại (do không vào mùa hoa, quả) thì tiến hành thu và thay thế mẫu trong các đợt thu mẫu tiếp theo. Mỗi mẫu đều được gắn nhãn (etyket) ghi số hiệu mẫu, địa điểm và nơi lấy, các đặc điểm quan trọng: Dạng thân; màu sắc lá, hoa, quả; mùi vị đặc trưng (nếu có); có nhựa mủ hay không; môi trường sống…

Cách xử lý mẫu: Mẫu vật được xử lý ngay sau mỗi đợt thu mẫu, ép tạm thời bằng giấy báo, buộc chặt, cho vào túi nilon và tẩm cồn 70%.

b. Đối với các mẫu đất và nước

– Các mẫu nước: Sử dụng gàu lấy nước ở độ sâu 1,5m và cho vào chai có ghi sẵn khu vực thu mẫu. Mẫu nước phân tích các yếu tố pH được giữ lạnh và phân tích trong ngày.

– Các mẫu đất: Tiến hành lấy mẫu đất ở các khu vực nghiên cứu và cho vào chai nhựa có ghi sẵn vị trí và thời gian lấy mẫu. Mẫu được bảo quản và gửi đến phòng phân tích môi trường xử lý.

2.3.5. Phương pháp xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm

a. Đối với các mẫu thực vật

Sử dụng phương pháp xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [34]:

b. Đối với các nước và mẫu đất

Gửi đến phòng phân tích môi trường thuộc Trung tâm khí tượng thủy văn khu vực miền Trung phân tích xử lí.

2.3.6. Phương pháp xác định danh tính khoa học

Xác định tên khoa học của các loài thực vật sử dụng phương pháp so sánh hình thái truyền thống kết hợp với kinh nghiệm của các chuyên gia và một số tài liệu chuyên ngành.

– Danh mục thực vật được xếp vào từng chi, họ theo cách sắp xếp của Brummitt, 1992 [38].

– Danh mục được lập trên cơ sở thu các mẫu vật, đồng thời tham khảo đối chiếu các tài liệu của các tác giả Phạm Hoàng Hộ [17], Đỗ Tất Lợi [26], Võ Văn Chi [8].

2.3.7. Phương pháp xử lí số liệu

– Sử dụng chương trình Microsoft Excel để xử lí các số liệu.

– Xác định độ ưu thế (Dominance) [23]: Mức độ ưu thế (C) được xác định: C = Σ(ni/N)2

Trong đó : – ni là mức độ ưu thế của mỗi loài (số cá thể)

– N: mức độ ưu thế chung – tất cả các cá thể trong một ô tiêu chuẩn.

2.3.8. Phương pháp lập bản đồ

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT BẬC CAO Ở BÃI BỒI HẠ LƯU SÔNG THU BỒN

3.1.1. Danh mục thành phần loài thực vật ở khu vực nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy toàn khu vực hiện có 56 loài, 52 chi, 31 họ thuộc hai ngành thực vật bậc cao có mạch là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) và ngành Thực vật hạt kín (Angiospermae). Trong đó, ngành Dương xỉ có 1 loài, 1 chi và 1 họ; ngành Thực vật hạt kín (Angiospermae) có 55 loài, 51 chi và 30 họ, điều đó chứng tỏ ngành Thực vật hạt kín (Angiospermae) chiếm ưu thế trong khu vực nghiên cứu.

Thống kê các họ có số loài nhiều nhất (từ 3 – 10 loài) cho thấy, ở cấp độ họ có 6 họ có số lượng loài nhiều nhất với 27 loài chiếm 48,21% tổng số loài trong toàn hệ.

3.1.2. Đa dạng về nhóm thực vật ở bãi bồi VHLSTB

Qua điều tra, khảo sát ở toàn khu vực nghiên cứu nhận thấy trên các bãi bồi vùng cửa sông ngoài các nhóm cây ngập mặn còn có sự tham gia của các cây du nhập.

Kết quả triều tra và phân tích số liệu cho thấy, nhóm cây du nhập chiếm ưu thế ở khu vực nghiên cứu với 40 loài thuộc 35 chi và 25 họ thực vật. Nhóm cây ngập mặn chính thức (MS) có số lượng thấp nhất với 3 loài thuộc 3 chi và 3 họ thực vật.

So sánh nhóm cây ngập mặn ở các bãi bồi Hội An với kết quả vùng Trung Bộ và Việt Nam nói chung [32], kết quả được trình bày ở bảng 3.4.

Bảng 3.4. Số lượng nhóm cây ngập mặn ở các khu vực

Nhóm thực vậtBãi bồi

Hội An

Vùng Trung bộViệt Nam
MS32237
MAS134141
Tổng số166378

((*): Nguồn Phan Nguyên Hồng, 1993)

Qua so sánh, chúng tôi nhận thấy số lượng TVNM ở các bãi bồi thuộc hạ lưu sông Thu Bồn khá thấp. Chúng tôi cho rằng, do các bãi bồi ở khu vực Hội An chỉ ngập triều vào mùa lũ, điều này đã ảnh hưởng đến sự phân bố của TVNM, và đây cũng là yếu tố thuận lợi cho các loài du nhập phát triển và chiếm ưu thế hơn.

Phân tích kết quả thành phần loài các cây ngập mặn ở khu vực nghiên cứu được thể hiện ở hình 3.2.

Hình 3.2. Biểu đồ tỉ lệ thành phần loài của các họ cây ngập mặn

Kết quả ở biểu đồ 3.2 cho thấy, các loài tham gia ngập mặn phân bố trong toàn khu vực nghiên cứu thuộc nhiều họ khác nhau như họ Ráng (Pteridaceae), họ Cau dừa (Arecaceae),… tuy nhiên, số lượng thành phần loài trong mỗi họ thấp, đa số từ 1 -2 loài. Trong số các họ cây ngập mặn phân bố trên các bãi bồi, họ Cỏ (Poaceae) chiếm ưu thế nhất (chiếm 37,5% tổng số loài cây ngập mặn) với các loài điển hình như Lau (Saccharum arundinaceum Retz.), Sậy (Phragmites communis (L.) Trin.),…

Tóm lại, qua phân tích và so sánh kết quả nghiên cứu với các khu vực khác, chứng tỏ rằng mức độ đa dạng về nhóm thực vật ở khu vực bãi bồi không cao, nhóm TVNM khá nghèo nàn, chủ yếu là các loài thuộc họ Cỏ.

3.1.3. Đa dạng về dạng sống của thực vật bậc cao ở các bãi bồi

Kết quả cho thấy, dạng thân thảo chiếm ưu thế trên toàn khu vực với 29 loài (chiếm 51,79% ) trong đó tập trung chủ yếu vào các họ Cỏ (Poaceae), họ Cói (Cyperaceae),… Dạng sống có số lượng loài thấp nhất trong toàn khu vực là dạng dây leo (DL) và thân gỗ với 7 loài chiếm 12,5% tổng số loài.

Tóm lại, qua kết quả điều tra, khảo sát và phân tích số liệu, có thể nhận định hệ TVBC ở khu vực bãi bồi hạ lưu sông Thu Bồn ít đa dạng về thành phần loài, dạng sống và nhóm thực vật.

3.2. ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG SỐNG

3.2.1. Độ pH

Kết quả phân tích cho thấy:

– Vào mùa khô độ pH của đất ở các bãi bồi khác nhau chênh lệch không đáng kể, dao động từ 4,37 – 5,68. Tuy nhiên, vào mùa mưa có sự chênh lệch khá lớn về pH ở các bãi bồi, dao động từ 5,03 – 8,02. Nhìn chung, toàn bộ đất trên các bãi bồi đều là đất chua.

– Độ pH của nước qua hai đợt khảo sát khá ổn định, dao động từ 6,29 – 6,69, biên độ này rất thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của thực vật đặc biệt là các loài ngập mặn.

3.2.2. Độ mặn

Kết quả phân tích độ mặn của đất và nước tại các khu vực nghiên cứu như sau:

– Về độ mặn của đất: Hầu hết ở các bãi bồi, đất không bị nhiễm mặn, chỉ có khu vực gò Thuận Tình (V7) vào mùa khô đất bị nhiễm mặn nhẹ.

– Độ mặn của nước có sự phân hóa rõ rệt giữa các bãi bồi và giữa hai mùa. Vào mùa khô độ mặn dao động từ 0 – 8,8‰. Vào mùa mưa độ mặn dao động với biên độ thấp hơn từ 0 – 2,6‰. Kết quả này hoàn toàn phù hợp vì vào mùa mưa một lượng nước từ thượng nguồn đổ về làm cho độ mặn ở khu vực hạ lưu giảm xuống. Với kết quả độ mặn thu được khác nhau ở các điểm có thể cho thấy đây là yếu tố tác động đến toàn bộ sinh vật sống ở vùng hạ lưu, đặc biệt ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài thực vật ngập mặn trên các bãi bồi.

3.1.3. Chế độ thủy triều

Trong thời gian khảo sát, chỉ có ít ngày nhật triều, thủy triều xuống thấp vào ban ngày (từ 1- 2 giờ chiều), sau đó là bán nhật triều. Trong những ngày bán nhật triều, thời gian triều lên dài nhất là 9 giờ, trung bình là 5,4 giờ, ngắn nhất là 2 giờ. Thời gian triều xuống dài nhất là 9 giờ, trung bình là 5,5 giờ, ngắn nhất là 2 giờ. Tại vùng cửa sông Thu Bồn, do địa hình bằng phẳng nên ảnh hưởng của thủy triều vào rất sâu trong lục địa – tới 40km.

3.3. TÌNH HÌNH PHÂN BỐ CỦA THỰC VẬT Ở CÁC BÃI BỒI

3.3.1. Đặc điểm phân bố của thực vật trên các bãi bồi

a. Khu vực 1 (Cảng cá Thanh Hà)

Vị trí: N-15o87’38’’ – E-108o 30’27’’ và 15o87’52’’N – 108o 29’85’’E

Khu vực này gồm các bãi bồi có thể nền khá cao, chỉ ngập nước vào mùa lũ. Khảo sát ở khu vực này cho thấy thảm thực vật tự nhiên ở đây ít đa dạng, nhóm cây gỗ rất ít chủ yếu là các loài thân thảo (với 21 loài) và một số ít cây bụi. Trong số các loài thân thảo, chúng tôi nhận thấy Cỏ cứt lợn (Ageratum conyzoides L.) là loài có chỉ số Cd cao nhất trong toàn khu vực (chiếm 0,0737), chứng tỏ đây là loài ưu thế nhất ở khu vực này.

Đặc biệt, trong khu vực 1 có 1 loài thực vật ngập mặn chính thức là loài Ráng đại (Acrostichum aureum Linn). Với các số liệu về độ mặn của nước chúng tôi cho rằng có thời điểm ở khu vực này bị ngập nước do thủy triều, bão lũ hoặc do độ mặn tăng đã tạo điều kiện cho sự phát tán của loài này.

b. Khu vực V2 (Xã Cẩm Kim – Cẩm Nam)

Vị trí: 15o87’26’’N – 108o 31’96’’E ; 15o86’75’’N – 108o 33’76’’E và 15o87’48’’N – 108o 34’37’’E.

Qua điều tra khảo sát chúng tôi nhận thấy các bãi bồi ở đây có thể nền thấp, thoải thường xuyên bị ảnh hưởng của triều cường, nên ở khu vực này thảm thực vật ở chủ yếu là các trảng cỏ với các loài thực vật chỉ thị nước lợ như Muống biển (Ipomoea pes-capre (L.) Sweet.), Sậy (Phragmites communis (L.) Trin.), Cỏ lác (Cyperus malaccensis Lam.). Đặc biệt, ở khu vực này xuất hiện 2 loài thực vật ngập mặn chính thức là loài Ráng đại (Acrostichum aureum Linn.) và Dừa nước (Nypa fruticans Wurmb.).

Với bảng số liệu về độ mặn của nước (bảng 3.11), chứng tỏ khu vực 2 là vùng nước lợ nên thảm thực vật ở đây khá đặc trưng cho vùng nước lợ, tuy nhiên diện tích thảm tự nhiên các trên bãi bồi ở khu vực này khá ít do phần lớn diện tích bãi bồi đã được người dân sử dụng canh tác sản xuất nông nghiệp. Loài thực vật chiếm ưu thế nhất ở khu vực 2 là loài Lau (Saccharum arundinaceum ). Trong số các cây bụi có mặt ở khu vực này đáng chú ý nhất là loài Mai dương (Mimosa pigra), qua chỉ số Cd có thể nhận định loài này xuất hiện khá nhiều, có thể ở đây do địa hình thoải thuận lợi đã giúp cho chúng phát triển nhanh hơn.

c. Khu vực 3 (Xã Cẩm Thanh)

Vị trí: 15o86’91’’N – 108o 36’10’’E và 15o86’54’’N – 108o 36’07’’E.

Tại khu vực này có 3 loài TVNM chính thức và các loài tham gia ngập mặn. Qua bảng số liệu về độ mặn, cho thấy đây là vùng nước lợ, Cỏ lác (Cyperus malaccensis Lam.) là loài chiếm ưu thế nhất ở khu vực này. Đặc biệt, ở cuối gò Thuận Tình xuất hiện loài Đước đôi (Rhizophora apiculata Bl.). Qua tìm hiểu được biết loài này được địa phương đem trồng và hiện nay diện tích rừng Đước ở khu vực này khá lớn và đang được địa phương bảo vệ.

Phân tích mối tương quan giữa độ mặn và sự phân bố của các nhóm thực vật. Kết quả được trình bày ở hình 3.14.

Hình 3.14. Biểu đồ về tương quan độ mặn và sự phân bố

các nhóm TV

Kết quả ở hình 3.14 cho thấy, sự phân bố của các nhóm thực vật trên các bãi bồi có liên quan đến độ mặn của nước đặc biệt là các TVNM. Độ mặn của nước và số lượng các loài TVNM chính thức tăng theo tỉ lệ thuận. Kết quả này chứng tỏ khu vực 3 nằm gần ở cửa sông, có độ mặn thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài TVNM hơn so với khu vực 1 nằm sâu phía trong cửa sông.

Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi đã xây dựng bản đồ phân bố một số loài TVBC ở các bãi bồi như sau:

E:\SINH VAT HOC\c tham 1 (1).jpg

Hình 3.15. Bản đồ phân bố một số loài TVBC ở khu vực nghiên cứu

Như vậy, qua kết quả điều tra, khảo sát và phân tích các số liệu, chúng tôi nhận thấy thành phần các loài TVBC phân bố trên các bãi bồi rất khác nhau. Khu vực 1 là vùng nước ngọt nhưng vẫn có sự hiện diện của một số loài ngập mặn chứng tỏ khu vực này có thời điểm nước bị mặn. Từ khu vực 2 đến khu vực 3 sự phân bố tự nhiên của các loài ngập mặn như Dừa nước (Nypa fruticans Wurmb.) tăng dần; Tuy nhiên, sự phân bố tự nhiên của thảm thực vật trên các bãi bồi khá ít do hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người đã làm giảm diện tích phân bố của chúng.

3.3.2. Đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài thực vật có giá trị ở khu vực nghiên cứu

a. Dừa nước – Nypa fruticans Wurmb.

b. Đước đôi – Rhizophora apiculatta Bl.

c. Ráng đại – Acrostichum aureum L.

d. Tra hoa vàng – Hibiscus tilliaceus L.

e. Cỏ lác – Cyperus malaccensis

f. Phi lao – Casuarina equisetifolia L.

3.4. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÂN BỐ CỦA TVBC TRÊN CÁC BÃI BỒI

3.4.1. Địa hình – khí hậu

Theo Jenning và Bird (1967), Wash (1974), Chapman (1977) ở những vùng xích đạo hoặc gần xích đạo có nhiệt độ trung bình năm từ 26 – 27OC, nền bùn mềm, được các đảo che chắn, bờ nông là điều kiện rất thuận lợi cho các loài TVNM phát triển. Với nhận định trên của các tác giả thì các bãi bồi VHLSTB có diện tích hẹp, đất bồi tụ nhiều cát, ít được che chắn, chịu tác động mạnh của gió bão và gió mùa Đông Bắc là một trong những yếu tố đã ảnh hưởng đến tính đa dạng về thành phần loài của TVBC ở khu vực cửa sông.

3.4.2. Chế độ thủy triều, độ mặn

Khu vực hạ lưu sông Thu Bồn -Hội An chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều. Sự thay đổi độ mặn ở các khu vực của cửa sông theo chế độ thủy triều đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố của thực vật đặc biệt là TVNM.

3.4.3. Tác động của con người

Các hoạt động khai phá thảm thực vật tự nhiên trên các bãi bồi để canh tác trồng hoa màu, mở rộng diện tích nuôi tôm đã tác động đến sự phân bố và mức độ đa dạng của thực vật trên bãi bồi. Song song với vấn đề canh tác nông nghiệp, việc chăn thả trâu bò trên các bãi bồi cũng ảnh hưởng đến sự phân bố của thực vật. Nếu các hoạt động canh tác sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi thủy sản trên các bãi bồi được mở rộng thì chắc chắn rằng hệ TVBC trên các bãi bồi đặc biệt là các loài TVNM có vai trò quan trọng sẽ suy giảm.

3.5. DỰ BÁO XU THẾ DIỄN THẾ SINH THÁI CỦA TVBC TRÊN BÃI BỒI HẠ LƯU SÔNG THU BỒN

Dựa vào kết quả khảo sát và phân tích độ mặn của nước ở các khu vực nghiên cứu, đề tài đã phân chia toàn bộ vùng nghiên cứu thành 3 khu vực như sau:

– Khu vực 1: gồm các bãi bồi V1, V2.

– Khu vực 2: gồm các bãi bồi V3, V4, V5.

– Khu vực 3: gồm các bãi bồi V6 và V7.

Độ mặn trung bình của 3 khu vực được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 3.14. Độ mặn trung bình của các khu vực nghiên cứu

Khu vực

nghiên cứu

Khu vực 1Khu vực 2Khu vực 3
Độ mặn ‰0,151,834,25

Dựa theo kịch bản nước biển dâng ở Quảng Nam và phân tích từ các kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra những dự báo về xu thế diễn thế sinh thái của hệ TVBC ở khu vực bãi bồi VHLSTB theo độ mặn, kết quả được trình ở bảng 3.15.

Bảng 3.15. Kịch bản diễn thế sinh thái của TVBC ở bãi bồi hạ lưu sông Thu Bồn theo độ mặn

Khu vực nghiên cứuB1B2
Độ mặn

(‰)

Phân bố thực vậtĐộ mặn

(‰)

Phân bố thực vật
Khu vực 10,45Cỏ lác, Cói chiếu, Sậy0,9Cỏ lác, Cói chiếu, Sậy, Ráng
Khu vực 25,49Ráng đại, Tra, Dừa nước10,98Dừa nước, Đước
Khu vực 312,74Dừa nước, Đước25,47Mắm, Đâng

Qua bảng 3.15 có thể nhận thấy theo kịch bản B1, khi mực nước biển dâng và độ mặn ở khu vực 1 tăng lên 0,45‰ so với độ mặn trung bình của khu vực tại thời điểm nghiên cứu thì các loài thực vật phân bố chủ yếu ở khu vực này sẽ là những loài chỉ thị nước lợ. Các loài Cỏ cứt lợn, Xuyến chi chiếm ưu thế trước đó sẽ được thay thế bởi Cỏ lác, Cói chiếu, Sậy. Số lượng phân bố của các loài Ráng đại, Tra, Dừa nước ở khu vực 2 sẽ tăng lên khi độ mặn trung bình đạt 5,49‰ .

Theo kịch bản B2, sự phân bố của các loài Ráng đại, Cỏ lác, Sậy tập trung nhiều ở khu vực 1. Dừa nước, Đước sẽ xuất hiện nhiều ở khu vực 2 khi độ mặn ở đây đạt trung bình 10,98‰. Đặc biệt, ở khu vực 3 khi độ mặn lên 25,47‰ sẽ không còn thích hợp sinh trưởng của Dừa nước, khi đó Mắm, Đâng là những loài sinh trưởng tốt ở độ mặn từ 20 – 30‰ sẽ là những loài thay thế Dừa nước.

Như vậy, cả hai kịch bản đều cho thấy có thay đổi lớn về phân bố của thực vật so với thời điểm hiện tại. Điều này càng khẳng định rõ khi mực nước biển dâng, chắc chắn sẽ kéo theo độ mặn ở vùng cửa sông tăng lên có thể các loài bị mất hoặc di chuyển lên phía trên cửa sông làm thay đổi đặc điểm phân bố của các loài sinh vật, đặc biệt là ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của Dừa nước hiện đang có diện tích phân bố lớn ở Cẩm Thanh thuộc vùng cửa sông này, điều đó dẫn đến nguy cơ về tiềm năng du lịch sinh thái ở khu vực này sẽ giảm cũng như thay đổi các hệ sinh thái khác ở vùng cửa sông.

3.6. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ HỆ THỰC VẬT BẬC CAO KHU VỰC BÃI BỒI HẠ LƯU SÔNG THU BỒN – HỘI AN

– Tăng cường các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên môi trường vùng đất bãi bồi bằng các hoạt động đo đạc lập bản đồ địa chính đất bãi bồi ven biển, xác định diện tích trên toàn bộ các bãi bồi.

– Cần tập trung triển khai lập quy hoạch phân vùng trên các bãi bồi nhằm hạn chế hoạt động khai thác tràn lan.

– Cần xác định và bảo vệ những khu vực bãi bồi có phân bố TVNM quan trọng, những khu RNM có xu hướng tiến về phía bờ cần được đặc biệt chú ý bảo vệ do chúng rất dễ chịu tác động của con người. Kiểm soát những tác động của con người đối với RNM. Đặc biệt là hệ thống rừng Dừa nước ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, Hội An.

– Loài Mai dương (Mimosa pigra) là loài ngoại lai có khả năng phát tán rộng, ảnh hưởng đến các hệ sinh thái đất ngập nước nói chung và TVBC ở bãi bồi nói riêng. Do đó cần có các biện pháp phòng trừ cũng như quản lí sự phát triển của chúng để tránh sự phát tán rộng lớn của chúng làm ảnh hưởng đến môi trường sống của các loài TVBC có vai trò quan trọng đối với bãi bồi vùng cửa sông.

– Xây dựng kế hoạch bảo vệ, di trồng và phát triển đa dạng các loài thực vật có vai trò trong việc giảm thiểu, hạn chế xói lở ở các khu vực ven bờ quanh các bãi bồi, cụ thể như sau: Ở các vùng cao ít ngập triều và quanh các bãi bồi cần bảo vệ và phát triển Cỏ lác, Sậy. Ở vùng ngập triều thấp, sình lầy, nền bùn loãng nên mở rộng trồng Dừa nước, Bần chua; vùng ngập triều thấp, nền ổn định có thể trồng Đước,… khi đó các thảm rừng này sẽ có sinh cảnh phong phú hơn. Đặc biệt, ở các bãi bồi có diện tích rộng như ở bãi bồi V7 (gò Thuận Tình) cần quy hoạch lại, mở rộng diện tích trồng và bảo vệ các loài cây ngập mặn ở khu vực này để trở thành một điểm tham quan du lịch sinh thái. Đồng thời, triển khai Đề án xây dựng làng quê du lịch sinh thái đặc thù kết hợp chặt chẽ với công tác bảo tồn các hệ sinh thái ngập mặn ở khu vực sẽ là cơ hội cho từng hộ gia đình cải thiện sinh kế, trong đó việc phát triển du lịch sinh thái cộng đồng sẽ là hướng đi bền vững.

– Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trong cộng đồng cư dân địa phương trong việc thực hiện các quy định của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên RNM.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. KẾT LUẬN

– Đã xác định được 56 loài, 52 chi, 31 họ của hai ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) và ngành Thực vật hạt kín (Angiospermae), ngành Thực vật hạt kín (Angiospermae) chiếm ưu thế. Hệ TVBC tại khu vực nghiên cứu ít đa dạng chủ yếu là các nhóm cây du nhập, dạng thân thảo chiếm ưu thế trong số các dạng sống hiện có ở khu vực, điển hình là các loài thuộc họ Cỏ (Poaceae).

– Sự phân bố của TVBC trên các bãi bồi rất khác nhau. Khu vực 1 là vùng nước ngọt nhưng vẫn có sự hiện diện của một số loài ngập mặn chứng tỏ rằng ở khu vực này có thời điểm nước mặn. Từ khu vực 2 đến khu vực 3 sự phân bố tự nhiên của Dừa nước (Nypa fruticans Wurmb.) tăng dần; đặc biệt loài Ráng đại (Acrostichum aureum Linn.) xuất hiện rất ít ở khu vực 1 nhưng ở khu vực 2 đến khu vực 3 số lượng cá thể tăng nhiều. Loài Lau (Saccharum arundinaceum Retz.), Sậy (Phragmites communis (L.) xuất hiện nhiều ở các bãi bồi thuộc khu vực 2.

– Các yếu tố địa hình, khí hậu, chế độ thủy triều và đặc biệt là hoạt động canh tác sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phân bố của các loài TVBC trên các bãi bồi. Một số loài TVBC có vai trò quan trọng hạn chế xâm nhập mặn, xói lở trên các bãi bồi VCS như: Dừa nước, Đước, Ráng, Cỏ lác,…

– Theo kịch bản B1, khi mực nước biển dâng và độ mặn ở khu vực 1 tăng lên 0,45‰ các loài thực vật phân bố chủ yếu ở khu vực 1 sẽ là những loài chỉ thị nước lợ như Cỏ lác, Cói chiếu, Sậy. Số lượng phân bố của các loài Ráng đại, Tra, Dừa nước ở khu vực 2 sẽ tăng lên khi độ mặn trung bình đạt 5,49‰. Theo kịch bản B2, sự phân bố của các loài Ráng đại, Cỏ lác, Sậy tập trung nhiều ở khu vực 1. Dừa nước, Đước sẽ xuất hiện nhiều ở khu vực 2 khi độ mặn ở đây đạt trung bình 10,98‰. Đặc biệt, ở khu vực 3 khi độ mặn lên 25,47‰ Mắm, Đâng là những loài sinh trưởng tốt ở độ mặn từ 20 – 30‰ sẽ là những loài thay thế Dừa nước.

– Xây dựng kế hoạch bảo vệ, di trồng và phát triển đa dạng các loài thực vật có vai trò trong việc giảm thiểu, hạn chế xói lở ở các khu vực ven bờ quanh các bãi bồi. Đồng thời, triển khai Đề án xây dựng làng quê du lịch sinh thái đặc thù kết hợp chặt chẽ với công tác bảo tồn các hệ sinh thái ngập mặn ở khu vực. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức của cộng đồng trong công tác quản lí bảo vệ hệ thực vật ở bãi bồi.

2. KIẾN NGHỊ

– Tiếp tục mở rộng nghiên cứu trên toàn khu vực HLSTB, phân tích sâu yếu tố biên độ triều và thể nền ở từng khu vực nhằm có kết quả đầy đủ nhất, hoàn thiện nhất về xu thế diễn thế sinh thái của TVBC ở vùng cửa sông.

– Nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò của hệ thực vật vùng cửa sông, có chiến lược bảo vệ và phát triển hệ TVBC trên các bãi bồi mang tính bền vững.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KY THUAT\SINH THAI HOC\LE THI THAM\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *