Nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố môi trường đến thành phần loài và đặc điểm phân bố của các loài động vật hai mảnh vỏ (Bivalvia) chân bụng (Gastropoda) tại sông Tranh tỉnh Quảng Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố môi trường đến thành phần loài và đặc điểm phân bố của các loài động vật hai mảnh vỏ (Bivalvia) chân bụng (Gastropoda) tại sông Tranh tỉnh Quảng Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố môi trường đến thành phần loài và đặc điểm phân bố của các loài động vật hai mảnh vỏ (Bivalvia) chân bụng (Gastropoda) tại sông Tranh tỉnh Quảng Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài

Sông Tranh có diện tích lưu vực 2140km2, dài 130km, đây là nhánh sông lớn và dài nhất của sông Thu Bồn, được hợp thành bởi năm nhánh nhỏ: Đak Di, Trà Leng, Ta Vin, Tranh (nhỏ) và Vang.

Sông Tranh không những có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nước ngọt, cung cấp điện cho vùng mà còn là nguồn lợi thủy sản phong phú, nguồn cung cấp thực phẩm cho nhân dân địa phương. Môi trường sống ở đây thuận lợi cho các quần xã thủy sinh vật, trong đó có các nhóm động vật không xương sống cỡ lớn đóng vai trò cân bằng sinh thái và giảm thiểu ô nhiễm. Một số loài Thân mềm hai mảnh vỏ (Bivalvia), chân bụng (Gastropoda) không chỉ có ý nghĩa chỉ thị sinh học môi trường nước mà còn có giá trị kinh tế. [7]

Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ và Chân bụng luôn phải chịu những tác động trực tiếp cũng như gián tiếp từ các yếu tố môi trường. Bên cạnh đó, với sự phát triển kinh tế xã hội nhanh, các hoạt động kinh tế xã hội của con người ở các vùng lưu vực khác nhau như việc đánh bắt, khai thác thủy sản nước ngọt ngày càng gia tăng. Tình trạng ô nhiễm của sông theo các đoạn khác nhau đã ảnh hưởng đến thành phần loài động vật không xương sống theo xu hướng môi trường càng ô nhiễm thì số loài động vật không xương sống càng giảm. Từ đó làm suy giảm đa dạng sinh học và làm mất cân bằng sinh thái [9], [11].

Cho đến nay, việc nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến thành phần loài và đặc điểm phân bố của thân mềm hai mảnh vỏ (Bialvia)và chân bụng (Gastropoda) tại sông Tranh chưa được quan tâm nghiên cứu. Vì vậy, việc nghiên cứu này sẽ bổ sung thêm dẫn liệu khoa học về thành phần loài lớp hai mảnh, chân bụng và ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tại khu vực nghiên cứu là cơ sở cho việc xây dựng phương án bảo vệ, khai thác hợp lí và sử dụng lâu dài nguồn lợi thủy sản tại đây.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố môi trường đến thành phần loài và đặc điểm phân bố của các loài động vật hai mảnh vỏ (Bivalvia), chân bụng (Gastropoda) tại sông Tranh, tỉnh Quảng Nam”.

2. Mục tiêu của đề tài

– Nghiên cứu hiện trạng thành phần loài và đặc điểm phân bố lớp Hai mảnh vỏ và chân bụng ở sông Tranh, tỉnh Quảng Nam.

– Tìm hiểu những ảnh hưởng của các điều kiện môi trường đến đặc điểm phân bố lớp Hai mảnh vỏ và Chân bụng ở sông Tranh.

– Đề xuất được những giải pháp khai thác hợp lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản nước ngọt tại khu vực nghiên cứu.

3. Bố cục đề tài

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN

1.1. Tình hình nghiên cứu thân mềm (Mollusca) trên thế giới

Về thân mềm nước ngọt, các khóa phân loại đã được bổ sung và hoàn chỉnh bởi các công trình của Modell (1942, 1949, 1964), Has (1969), Starobogatov (1970). Và gần đây là khóa phân loại về động vật Hai mảnh vỏ và mối quan hệ của nhóm động vật này được nghiên cứu bởi Bieler (2010), Carter và cộng sự (2011).

Tại Pháp, có nghiên cứu về khả năng tích lũy Cd và Zn của loài Hến nước ngọt (Corbicula fluminea) và loài Trai vằn (Dreisena polymorpha), cho thấy loài Trai vằn có khả năng tích lũy Cd và Zn cao hơn so với Hến.

Paukert và cộng sự (2003) đã chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa lớp phủ thực vật và một số chỉ tiêu môi trường với cấu trúc thành phần loài động vật không xương sống trong 30 hồ được nghiên cứu. Kết quả chỉ ra rằng mức độ phong phú của Gastropoda có tương quan chặt chẽ đến các loài thực vật thủy sinh [41]. Kết quả nghiên cứu của Lonergan và Rasmussen (1996) đã chỉ ra sự suy giảm số lượng cũng như thành phần loài chân bụng có liên quan chặt chẽ đến sự suy giảm pH của môi trường [39]

1.2. Tình hình nghiên cứu thân mềm (Mollucsca) ở Việt Nam

Ở tỉnh Quảng Nam, theo Hồ Thanh Hải (2007) đã xác định được 30 loài giáp xác, thân mềm thuộc 12 họ của hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Trong đó, đặc biệt đã phát hiện 3 loài mới cho khu hệ thủy sinh Việt Nam [6]. Công trình của Võ Văn Phú và một số tác giả khác (2009) nghiên cứu về thành phần loài ĐVKXS ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam đã xác định trong số 28 loài ĐVĐ ngành thân mềm có số loài cao nhất với 17 loài thuộc 8 họ [14]. Theo Vũ Thị Phương Anh và Phan Thị Mỹ Thanh (2015) về thành phần loài thân mềm hai mảnh vỏ trên sông Tam Kỳ, Quảng Nam đã thống kê có 8 loài thuộc 4 giống và 4 họ[3].

Như vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu thân mềm, chân bụng với các hướng nghiên cứu như: nghiên cứu thành phần loài, mức độ đa dạng, xác định mức độ gần gũi giữa khu vực nghiên cứu với các khu hệ khác, sử dụng thân mềm để đánh giá chất lượng môi trường. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện môi trường đến thành phần loài thân mềm, chân bụng ở trên sông Tranh chưa có nghiên cứu nào .

1.3. Khái quát đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội khu vực nghiên cứu

1.3.1. Điều kiện tự nhiên

a. Vị trí địa lý

  Sông Tranh có lưu vực trên các huyện: Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức.

b. Địa hình

Địa hình của lưu vực sông Tranh có xu hướng nghiêng dần từ Tây sang Đông tạo cho lưu vực có địa hình núi và trung du.

c. Khí hậu

* Nhiệt độ trung bình năm 2016 tại trạm quan trắc Trà My là 25,40C

* Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình trong năm 88%, mùa khô 84%, mùa mưa 92%.

* Lượng mưa: Mùa mưa chủ yếu tập trung nhiều vào các tháng 9 đến tháng 12, chiếm 70 – 75% lượng mưa cả năm. Tháng 12 có lượng mưa lớn nhất: 1792 mm.Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, lượng mưa chiếm 25 – 30% lượng mưa cả năm, tháng 4 có lượng mưa nhỏ nhất trong năm: 19 mm.

* Chế độ gió: Chế độ gió trong năm được phân thành hai mùa gió chính, là gió mùa tây nam và gió mùa đông bắc.

d. Thủy văn

Do lưu vực sông Tranh có lượng mưa lớn, nên dòng chảy bề mặt con sông khá lớn. Sông Tranh nhận nước từ thượng nguồn đổ về, vì thế khi mùa mưa mực nước sông dâng cao, nước chảy siết, lũ lên nhanh và xuống nhanh. Lưu lượng dòng chảy đo tại Nông Sơn cao nhất là 2110 m3/s, thấp nhất là 111m3/s

Hiện nay trên lưu vực sông Tranh có các công trình đập thủy điện như thủy điện sông Tranh 2 với dung tích toàn bộ hồ chứa là 733,4 triệu m3, trong đó dung tích chết là 212,3 triệu m3, dung tích hữu ích là 521,1 triệu m3. Mực nước dâng bình thường là 175m, mực nước chết là 140m. Điều này cũng ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy tự nhiên của con sông.

1.3.2. Các nguồn tài nguyên

a. Tài nguyên đất

Tổng diện tích tự nhiên cả 4 huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức là 262.479 ha.

b. Tài nguyên nước

Trong mùa mưa, lũ thường xảy ra trong các tháng 9, 10 và 11 với cường suất lớn, gây sạt lở đất ở nhiều nơi.

Mùa kiệt từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Việc chặn dòng và xây dựng thủy điện sông Tranh 2 đã giải quyết lượng nước tưới cho 27.000ha đất nông nghiệp.

1.3.3. Thực trạng phát triển kinh tế, môi trường

CHƯƠNG 2.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Các loài động vật thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) và Chân bụng (Gastropoda) ở sông Tranh, tỉnh Quảng Nam.

2.2. Nội dung nghiên cứu

– Nghiên cứu thành phần loài và hiện trạng phân bố của động vật Hai mảnh vỏ và chân bụng tại sông Tranh, tỉnh Quảng Nam.

– Nghiên cứu sự biến động về thành phần loài và số lượng cá thể theo mùa của động vật Hai mảnh vỏ và Chân bụng tại sông Tranh, tỉnh Quảng Nam.

– Đánh giá mối tương quan giữa các yếu tố môi trường với động vật Hai mảnh vỏ và Chân bụng tại khu vực nghiên cứu.

– Đề xuất các định hướng khai thác và sử dụng hợp lý, phát triển bền vững nguồn lợi động vật Hai mảnh vỏ và Chân bụng tại sông Tranh, tỉnh Quảng Nam.

2.3. Phạm vi nghiên cứu

2.3.1. Thời gian nghiên cứu

Luận văn được thực hiện từ tháng 01 năm 2017 đến tháng 11 năm 2017.

Công tác khảo sát thực địa, thu mẫu được tiến hành trong 8 đợt, đại diện cho mùa mưa và mùa khô.

2.3.2. Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại 9 điểm thu mẫu ở sông Tranh (bảng 2.1). Các điểm thu mẫu được ký hiệu từ M1 đến M9 theo sơ đồ.

2.4. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu

– Phương pháp thu thập và xử lý mẫu

– Phương pháp định danh loài trong phòng thí nghiệm

– Phương pháp xử lý số liệu và tính các chỉ số sinh học

Nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố môi trường đến thành phần loài và đặc điểm phân bố của các loài động vật hai mảnh vỏ (Bivalvia) chân bụng (Gastropoda) tại sông Tranh tỉnh Quảng Nam
Nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố môi trường đến thành phần loài và đặc điểm phân bố của các loài động vật hai mảnh vỏ (Bivalvia) chân bụng (Gastropoda) tại sông Tranh tỉnh Quảng Nam

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đặc điểm sinh cảnh và các điều kiện môi trường tại các điểm nghiên cứu

3.1.1. Đặc điểm sinh cảnh các điểm nghiên cứu

Bảng 3.1. Đặc điểm sinh cảnh các điểm thu mẫu

TTKý hiệu/

tọa độ

Điểm thu mẫuĐặc điểm sinh cảnh
1M1

15006’30”N

108010’30”E

Xã Trà Tân, huyện Nam Trà MyMùa khô: Độ rộng của nước là 25-30m, lòng sông nông với độ sâu 4-5m, nước chảy chậm. Bờ có cây bụi rậm, chủ yếu là cây thân gỗ. Nền đáy có nhiều cát sỏi. Nước khá trong.

Mùa mưa: nước chảy nhanh. Bờ có cây bụi rậm, chủ yếu là cây thân gỗ. Nền đáy có nhiều cát sỏi. Nước đục

2M2

150 25’49”N

108009’00”E

Xã Trà Đốc, huyện Bắc Trà MyMùa khô: nước chảy trung bình. Bờ có thực vật thủy sinh chủ yếu là cỏ lau, cây gỗ. Nền cát pha đất đỏ đồi, bùn, đá sỏi to. Nước khá trong.

Mùa mưa: nước chảy nhanh, siết. Bờ có thực vật thủy sinh chủ yếu là cỏ lau, cây gỗ. Đoạn sông này có nền cát pha đất đỏ đồi, bùn, đá sỏi to.

3M3

150 27’14”N

108008’57”E

Xã Tiên Lãnh huyện Tiên PhướcMùa khô: Nền đáy có nhiều đất bùn pha cát. Nước đục trung bình.

Mùa mưa: Đoạn sông này sâu 10 – 16 m và rộng khoảng 90 – 140m, nước chảy nhanh. Ven bờ sông có cỏ và cây bụi nhỏ. Nền đáy có nhiều đất bùn pha cát. Nước đục.

4M4

150 30’81”N

108008’96”E

Xã Tiên Lãnh huyện Tiên PhướcMùa khô: Nước sông nông. Nền đáy có nhiều cát, ven bờ sông có một số bãi bồi nhỏ, hẹp, cây bụi nhỏ và cỏ. Nước có độ đục trung bình.

Mùa mưa: nước chảy nhanh. Nền đáy có nhiều cát, ven bờ sông có một số bãi bồi nhỏ, hẹp, cây bụi nhỏ và cỏ.

5M5

150 32’16”N

108009’19”E

Xã Thăng Phước huyện Hiệp ĐứcMùa khô: Bờ có cây bụi rậm với độ che phủ khoảng 10%. Nền đáy có nhiều cát và đá sỏi, ven bờ sông có cỏ thưa. Có một số bãi bồi cát, nước khá trong.

Mùa mưa: Mực nước sâu khoảng 15– 20m, sông rộng khoảng 120 – 150m, nước chảy mạnh, siết. Nền đáy có nhiều cát và đá sỏi. Nước đục.

6M6

150 32’59”N

108007’49”E

Xã Quế Lưu, huyện Hiệp ĐứcMùa khô: Nền đáy chủ yếu đá sỏi. Có các bãi bồi cát ven sông. Ven bờ sông có thực vật thủy sinh chủ yếu là thực vật thân gỗ nhỏ. Nước đục trung bình.

Mùa mưa: nước chảy mạnh. Ven bờ sông có thực vật thủy sinh chủ yếu là cỏ và cây bụi nhỏ. Nước đục.

7M7

150 34’29”N

108005’57”E

TT Tân An huyện Hiệp ĐứcMùa khô: nước chảy trung bình. Nước đục. Nền đáy có nhiều đất bùn và đá sỏi, ven bờ sông bãi bồi cát.

Mùa mưa: nước chảy mạnh. Nền đáy có nhiều đất bùn và đá sỏi Độ đục. Ven bờ nhiều cây bụi, gỗ nhỏ, tre.

8M8

150 34’19”N

108004’55”E

Xã Quế Bình, huyện Hiệp ĐứcMùa khô: Bờ có nhiều thực vật thủy sinh. Nước trong.

Mùa mưa: nước chảy mạnh. Bờ có nhiều thực vật thủy sinh. Nền đáy có bùn pha cát, ven bờ sông cây bụi nhỏ và cỏ phát triển. Nước đục.

9M9

150 34’83”N

108002’42”E

Xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp ĐứcMùa khô: Nền đáy có bùn pha cát mịn. Nước trong.

Mùa mưa: nước chảy mạnh. Bờ có nhiều thực vật thủy sinh. Nền đáy có bùn pha cát, ven bờ sông cây bụi nhỏ và cỏ phát triển. Nước đục.

3.1.2. Đặc điểm thủy lý, hóa học khu vực nghiên cứu

Bảng 3.4. Tổng hợp các chỉ tiêu thủy lý, hóa học khu vực nghiên cứu

Chỉ tiêuMùa khôMùa mưaQCVN 38:2011/BTNMT
Khoảng dao độngGiá trị trung bìnhKhoảng dao độngGiá trị trung bình
Nhiệt độ (0C)30,6 – 32,031,227,3 – 30,128,8–
Độ dẫn (mS/cm)5,3-6,15,66,4 – 8,97,8–
TDS (mg/l)73 – 7875175-2962601000
pH6,9 – 7,57,27-7,37,26,5 – 8,5
Độ đục (NTU)2,3 – 3,72,84,9-6,95,8–
DO (mg/l)5,9 – 6,36,15,6-6,15,9≥4
NH4+ (mg/l)0,103 – 0,1150,1090,118 – 0,1280,1241

– Nhiệt độ: Theo mùa, mùa mưa có nhiệt độ dao động trong khoảng 27,3 – 31,1 0C với nhiệt độ trung bình 28,80C; mùa khô có nhiệt độ dao động trong khoảng 30,6 – 320C với nhiệt độ trung bình 31,2 0C.

– Độ dẫn: Tại các điểm nghiên cứu khác nhau, độ dẫn có sự chênh lệch nhau và có sự sai khác trong các đợt khảo sát: độ dẫn mùa mưa trung bình là cao hơn mùa khô

– Tổng lượng chất rắn hòa tan (TDS): Nhìn chung, các điểm nghiên cứu của cùng đợt khảo sát cũng như giữa 2 đợt khảo sát có sự sai khác nhau, TDS ở mùa mưa cao hơn mùa khô do lượng mưa lớn cuốn theo các chất hữu cơ, vô cơ

– pH: Nước ở các điểm thu mẫu có pH trung tính và ít biến thiên giữa các điểm thu mẫu và giữa hai mùa, pH có giá trị trung bình vào mùa khô là 7,2 và mùa mưa là 7,2.

– Độ đục: Vào mùa khô tại các điểm thu mẫu nước khá trong với giá trị trung bình 2,8 NTU và có sự chênh lệnh 3 NTU so với mùa mưa .

– DO: Kết quả đo được từ các điểm thu mẫu cho thấy DO tại các điểm có tốc độ dòng nước chảy mạnh hơn có giá trị cao hơn. Giữa hai mùa thì DO mùa mưa cao hơn mùa khô do mùa mưa tốc độ dòng chảy lớn hơn, sự khuếch tán không khí vào nước mạnh hơn.

– NH4+: Ở các điểm thu mẫu khác nhau có hàm lượng NH+ tương đối ổn định, ít biến động. NH4+ mùa mưa thấp hơn mùa khô do mùa khô mực nước sông ít hơn

Nhìn chung, có thể thấy rằng khu vực nghiên cứu thuộc thượng nguồn con sông, chưa bị ảnh hưởng nhiều của các hoạt động kinh doanh sản xuất. Tính chất thủy lý, hóa học tại các điểm nghiên cứu có thể không ổn định và thay đổi. Tuy nhiên, hầu hết các chỉ tiêu về chất lượng nước đều nằm trong giới hạn cho phép về chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy sinh theo quy định tại QCVN 38: 2011/BTNMT.

3.2. Thành phần loài động vật hai mảnh vỏ (Bivalvia) và chân bụng (Gastropoda) tại khu vực nghiên cứu

3.2.1. Đặc điểm thành phần loài động vật Hai mảnh vỏ và Chân bụng

a. Thành phần loài

Qua 8 đợt thu mẫu trong thời gian nghiên cứu đã thu được 400 mẫu. Kết quả nghiên cứu đã xác định được:

Động vật hai mảnh vỏ có 7 loài thuộc 3 giống, 3 họ, 2 bộ ở sông Tranh.

Động vật chân bụng có 7 loài thuộc 5 giống, 3 họ, 2 bộ ở sông Tranh.

Bảng 3.5. Thành phần loài động vật Hai mảnh vỏ cỡ lớn và Chân bụng đã gặp tại các điểm thu mẫu

TTTaxonĐiểm thu mẫu
M1M2M3M4M5M6M7M8M9
Lớp BIVALVIA
Bộ Veneroida
  1. Họ Corbiculidae
1Corbicula blandiana Prime, 1864+++++++++
2Corbicula luteola Prashad, 1929+++++++
3Corbicula bocourti Morlet, 1865+++++
4Corbicula cyreniformis Prime, 1860++++++
5Corbicula castanae Prashad, 1929++++++
Bộ Unionida
  1. Họ Amblemidae
6Oxynaia micheloti Morlet, 1886+++++++
  1. Họ Unionidae
7Nodularia douglasiae crassidens Haas, 1910+++++++++
Lớp GASTROPODA
Bộ Architaenioglossa
  1. Họ Ampullariidae
8Pila polita Deshayes, 1830++++++
9P. conica Gray, 1828+++++++++
10Pomacea canaliculata Lamarck, 1822++++
  1. Họ Viviparidae
11Angulyara oxytropice Benson, 1836++++++
12Sinotaia aeruginosa Reeve, 1863++++++++
Bộ Sorbeoconcha
  1. HọThiaridae
13Melanoides tuberculata Muller, 1774++++++
14Stelanomelanis reeve Brot, 1974+++++++++
Tổng số6710121414111211

Bảng 3.6. Cấu trúc thành phần loài động vật Hai mảnh vỏ cỡ lớn và Chân bụng ở sông Tranh

Tên lớpTên họSố giốngSố loàiTỉ lệ % số loài/lớp
BivalviaCorbiculidae1571,4%
Amblemidae1114,3%
Unionidae1114,3%
GastropodaAmpullariidae1342,8%
Viviparidae2228,6%
Thiaridae2228,6%

Về động vật hai mảnh vỏ: Trong số 3 họ động vật Hai mảnh vỏ thì họ Corbiculidae có số lượng loài nhiều nhất với 5 loài thuộc 1 giống (chiếm 71,1% tổng số loài); họ Unionidae có 1 loài thuộc 1 giống (chiếm 14,3% tổng số loài) gồm giống Lanceolaria; họ Amblemidae có 1 loài thuộc giống Oxynaia (chiếm 14,3% tổng số loài)

Về động vật chân bụng: Trong số 3 họ động vật chân bụng thì số lượng loài giữa các họ không có sự chênh lệch lớn. Cụ thể họ Ampullariidae có số lượng nhiều hơn với 3 loài thuộc 1 giống (chiếm 42,8% tổng số loài); họ Viviparidae có 2 loài thuộc 2 giống (chiếm 28,6%); họ Thiaridae có 2 loài thuộc 2 giống (chiếm 28,6%)

b. So sánh thành phần loài của khu vực nghiên cứu với các thủy vực khác ở Việt Nam

Về động vật hai mảnh vỏ: Số lượng loài ở sông Tranh ít hơn so các sông khác, nhưng sự chênh lệnh về số lượng loài không quá lớn giữa sông Tranh, sông Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam và sông Hiếu ở Quảng Trị. Số lượng giống thuộc lớp Bivalvia ở sông Tranh ít hơn so với các sông khác trong khu vực.

Về động vật chân bụng: Số lượng loài và số lượng giống ở sông Tranh ít hơn so với các sông khác. So với sông Hiếu, Quảng Trị ít hơn 5 loài; so với sông Bồ, Thừa Thiên Huế ít hơn 23 loài.

Qua đó cho thấy, về taxon loài thân mền hai mảnh vỏ và động vật chân bụng ở sông Tranh ít đa dạng về thành phần loài hơn so với các sông trong khu vực (Hình 3.3 và Hình 3.4)

Sự khác nhau này chứng tỏ giữa các thủy vực có những tính chất khác nhau về đặc điểm môi trường sống như sông Tranh nằm trên khu vực miền núi và trung du, các bãi bồi hẹp, tính chất nền đáy không đồng nhất, nhiều khu vực nền đáy chủ yếu là đá sỏi và mức độ phong phú của nguồn thức ăn dẫn đến sự đa dạng thành phần loài cũng khác nhau.

nội dung luận văn_Page_1

Hình 3.3. So sánh các bậc taxon động vật thân mềm hai mảnh vỏ ở vùng nghiên cứu và các thủy vực khác ở Việt Nam

nội dung luận văn_Page_1

Hình 3.4. So sánh các bậc taxon động vật chân bụng ở vùng nghiên cứu và các thủy vực khác ở Việt Nam

Bảng 3.8. Mối quan hệ thành phần loài động vật Hai mảnh vỏ ở sông Tranh, Quảng Nam với một số thủy vực khác ở Việt Nam

TTCác thủy vựcTổng số loàiSố loài chung (C)Chỉ số

Sorencen-Hệ số gần gũi

1Sông Tranh– Sông Tam Kỳ, Quảng Nam1550.667
2Sông Tranh – Sông Bồ, Huế1640.421
3Sông Trà Tranh– Sông Hiếu, Quảng Trị1530.400

Bảng 3.9. Mối quan hệ thành phần loài động vật Chân bụng ở sông Tranh, Quảng Nam với một số thủy vực khác ở Việt Nam

TTCác thủy vựcTổng số loàiSố loài chung (C)Chỉ số

Sorencen-Hệ số gần gũi

1Sông Tranh – Sông Bồ, Huế3730,162
2Sông Trà Tranh– Sông Hiếu, Quảng Trị1910,105

Về thành phần loài động vật Hai mảnh vỏ sông Tranh có quan hệ gần gũi nhất với khu hệ động vật Hai mảnh vỏ ở sông Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (0,667). Xuất phát từ nguyên nhân hai thủy vực này có điều kiện tự nhiên, đặc tính môi trường nước và tính chất nền đáy khá tương đồng nên có số loài chung càng nhiều và hệ số gần gũi càng cao. Hệ số gần gũi S= 0,412 khi tiến hành so sánh khu hệ động vật hai mảnh vỏ ở sông Tranh so với khu hệ ở sông Bồ, tỉnh Thừa Thiên Huế. Và S= 0,400 khi so sánh thành phần loài sông Tranh với sông Hiếu, tỉnh Quảng Trị, chứng tỏ hai khu hệ này ít gần gũi hơn nhất. Sự khác nhau về chỉ số Sorencen chứng tỏ giữa các thủy vực có những tính chất khác nhau về đặc điểm khí hậu, nền đáy và mức độ phong phú của nguồn thức ăn trong thủy vực.

Về thành phần loài động vật chân bụng ở sông Tranh có quan hệ gần gũi hơn với khu hệ chân bụng ở sông Bồ, tỉnh Thừa Thiên Huế, sau đó đến khu hệ sông Hiếu, tỉnh Quảng Trị với giá trị về chỉ số Sorencen lần lượt là S = 0,162 và S=0,105. Điều này được lí giải do sông Tranh chảy qua khu vực miền núi và trung du, địa hình dốc, tính chất nền đáy khác xa so với sông Bồ và sông Hiếu. Nên thành phần loài ở khu vực nghiên cứu có nhiều loài đặc trưng riêng.

3.2.2. Mô tả đặc điểm của các loài

3.3. Đặc điểm phân bố và biến động thành phần loài, số lượng cá thể động vật hai mảnh vỏ (Bivalvia) và chân bụng (Gastropoda) tại khu vực nghiên cứu

3.3.1. Đặc điểm phân bố các loài động vật Hai mảnh vỏ và Chân bụng ở sông Tranh

Sự phân bố của động vật Hai mảnh vỏ và chân bụng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường tự nhiên, đặc biệt là tính chất nền đáy của thủy vực. Đa số các loài động vật Hai mảnh vỏ và Chân bụng thu được qua các đợt khảo sát là những loài phân bố rộng và phổ biến. Các kết quả nghiên cứu về thân mềm và chân bụng ít có sự sai khác là do các loài có khả năng phân bố rộng và khu vực nghiên cứu đều là thuộc khu vực miền Trung nên các điều kiện môi trường sống như: khí hậu, chế độ thủy văn, đặc điểm dòng chảy của sông, tính chất nền đáy tương đối giống nhau.

3.3.2. Biến động thành phần loài theo mùa

a. Mùa khô

b. Mùa mưa

c. Sự biến động thành phần loài động vật Hai mảnh vỏ và chân bụng tại các điểm thu mẫu giữa hai mùa

Bảng 3.11. Tổng hợp số lượng loài ở các điểm thu mẫu giữa hai mùa

MùaSố lượng loài xuất hiện ở các điểm thu mẫu (loài)
M1M2M3M4M5M6M7M8M9
Mùa khô6710121414111211
Mùa mưa64910131291210

Từ kết quả tổng hợp ở bảng 3.11 cho thấy, số lượng loài động vật Hai mảnh vỏ và Chân bụng tại các điểm thu mẫu giữa hai mùa có sự chênh lệch không đáng kể. Vào mùa khô, số lượng loài động vật Hai mảnh vỏ và Chân bụng thu được nhiều hơn so với mùa mưa. Mùa khô số lượng loài xuất hiện tương đối đồng đều, dao động từ 6 – 14 loài ở các điểm thu mẫu. Mùa khô đập thủy điện sông Tranh giữ nước nên lượng phù sa và vật chất hữu cơ lắng đọng ở hồ chứa. Do đó ở nhiều đoạn sông tại các điểm thu mẫu M5, M7, M8, M9 cạn nước làm hở nhiều bãi vào mùa khô, nước có độ trong cao nhưng nghèo dinh dưỡng. Kết quả này phù hợp với đặc điểm điều kiện tự nhiên, chế độ thủy văn của khu vực nghiên cứu. Theo kết quả đo được về các chỉ tiêu lý, hóa của môi trường nước ở mục 3.1 cho thấy, các chỉ tiêu đều ở mức cho phép bảo vệ đời sống thủy sinh theo quy định tại QCVN 38: 2011/BTNMT. Mùa mưa có biến động số lượng loài dao động từ 4 đến 13 loài, dao động hơn mùa nắng. Sự dao động này là do mùa mưa dòng chảy mạnh hơn.

3.3.3. Biến động số lượng cá thể theo mùa

Hình 3.20. Biểu đồ số lượng cá thể của các loài theo mùa

Từ kết quả tổng hợp ở bảng 3.12 và hình 3.20 cho thấy, số lượng cá thể các loài động vật Hai mảnh vỏ và Chân bụng tại các điểm thu mẫu giữa hai mùa có sự chênh lệch đáng kể. Về lý thuyết, mùa mưa là mùa sinh sản và phát triển mạnh của các nhóm động vật nên số lượng cá thể tăng lên. Tuy nhiên, trên thực tế ở khu vực nghiên cứu vào mùa mưa cùng với hiện tượng xả lũ của đập thủy điện sông Tranh, nước dâng khá cao, làm cho việc thu mẫu khó khăn hơn. Do vậy, kết quả thu được cho thấy vào mùa khô số lượng cá thể động vật thu được nhiều hơn mùa mưa.

3.4. Đánh giá hiện trạng da dạng sinh học của động vật hai mảnh vỏ và chân bụng tại khu vực nghiên cứu

3.4.1. Đa dạng sinh học của động vật Hai mảnh vỏ và chân bụng theo mùa

Hình 3.21. Chỉ số ĐDSH ở hai mùa

Nhìn chung, chỉ số đa dạng sinh học H’ của động vật Hai mảnh vỏ và chân bụng ở khu vực nghiên cứu tương ứng vào mùa mưa H’=2,47 và mùa khô H’=2,43 với mức độ ĐDSH trung bình khá. Chỉ số H’ cho thấy mùa khô có ĐDSH thấp hơn mùa mưa. Tuy nhiên, sự chênh lệch chỉ số này ở 2 mùa không đáng kể

3.4.2. Đa dạng sinh học của động vật Hai mảnh vỏ và chân bụng theo các dạng sinh cảnh

Dựa vào thành phần và độ lớn các cấp hạt nền đáy, có thể xác định trong khu vực nghiên cứu có các loại nền đáy sau: Nền đáy đá sỏi chiếm chủ yếu, nền đáy cát bùn chủ yếu, nền đáy xen kẽ giữa đá sỏi và cát bùn.

Sinh cảnh 1: Gồm các điểm thu mẫu M1, M2 là phần thượng nguồn con sông, có nền đáy chủ yếu là đá sỏi. Công trình đập thủy điện sông Tranh đã làm thay đổi tính chất nền đáy, tốc độ dòng chảy, lưu lượng nước trên sông. Nhiều khu vực do tốc độ dòng chảy lớn, nền đáy bị xói mòn, nền đáy đá, đá cuội, ít bùn cát, nghèo dinh dưỡng nên thành phần loài kém đa dạng. Khu vực này có 7 loài trong đó các loài chân bụng sống trên đá như Melanoides tuberculata Muller, 1774; Stelanomelanis reeve Brot, 1974; và 3 loài thân mềm sống.

Sinh cảnh 2: Gồm các điểm thu mẫu M3, M4, M5, M6 có nền đáy đá sỏi xen kẽ với nền cát, những bãi bồi ven sông lớn hơn sinh cảnh 1 và nhận thấy rõ vào mùa khô. Một số đoạn của vùng sông chịu sự tác động của hoạt động khai thác cát, sỏi của con người. Môi trường ở đây thuận lợi cho các loài chân bụng sống trên đá và thân mềm sống ở nền đáy cát bùn, nên số lượng loài nhiều hơn so sinh cảnh 1.

Sinh cảnh 3: Điểm thu mẫu M7, M8, M9 có nền đáy cát bùn là chủ yếu. Trong thành phần cấp hạt dạng cát chiếm tỉ lệ nhiều hơn bùn sét. Một số đoạn của vùng sông chịu sự tác động của hoạt động khai thác cát sỏi của con người. Do có nhiều bãi bồi do phù sa bồi lắng, chất dinh dưỡng tương đối lớn nên có cả các loài thân mềm của đặc trưng cho khu vực đồng bằng như Pila polita Deshayes, 1830; Pila conica Gray, 1828 …cũng phân bố trong sinh cảnh này.

Kết quả khảo sát đã xác định được sự phân bố của thân mềm và chân bụng theo các dạng nền đáy được thể hiện ở hình 3.22

Hình 3.22: Phân bố các loài thân mềm, chân bụng theo các dạng sinh cảnh

Như vậy lớp thân mềm và chân bụng có số lượng tăng lên từ sinh cảnh cảnh 1 đến sinh cảnh 2, 3. Số lượng loài lớn nhất ở nền bùn hữu cơ, đến nền bùn cát, thấp nhất ở nền đá đáy.

3.5. Đề xuất một số giải pháp bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản nước ngọt tại khu vực nghiên cứu

3.5.1. Đánh giá những tác động tiêu cực đến thành phần loài động vật Hai mảnh vỏ và động vật hai mảnh vỏ

a. Hoạt động khai thác thủy sản

Hoạt động khai thác động vật hai mảnh vỏ và chân bụng được đánh bắt theo mùa. Chủ yếu vào mùa khô khi mực nước xuống thấp. Người dân chủ yếu khai thác bằng các vật dụng thô sơ hoặc bằng tay. Nhưng hiện nay nhu cầu về động vật chân bụng trên địa bàn tăng lên thì số lượng người tham gia khai thác tăng lên đáng kể. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến số lượng loài chân bụng và hai mảnh vỏ của khu vực có chiều hướng suy giảm.

b. Hoạt động khai thác cát

Theo ghi nhận của chúng tôi về việc khai thác cát, sỏi tại sông Tranh cho thấy, tình trạng khai thác cát trái phép diễn ra phức tạp, khó lường, tăng về quy mô, công suất cũng như phương thức hoạt động dọc sông Tranh, tập trung nhất là khu vực từ xã Thăng Phước (Hiệp Đức) và xã Tiên Lãnh (Tiên Phước). Hoạt động khai thác cát trái phép bằng hình thức bơm hút (dùng máy bơm có công suất lớn) thường tạo nên những hố sâu cục bộ, đáy sông lồi lõm; khi mùa mưa lũ về sẽ hình thành các dòng nước xoáy, dòng chảy rối.

c. Hoạt động của công trình thủy điện Sông Tranh

Việc tích nước trên các thủy điện trên dòng sông Tranh ảnh hưởng không nhỏ đến lưu lượng nước trên sông vào hai mùa. Vào mùa mưa, thường đây là mùa sinh sản của các loài nhưng lượng nước khá lớn do hiện tượng xả đập thủy điện nên quá trình thu mẫu gặp nhiều khó khăn. Như vào ngày 5/11/2017 cùng với lượng mưa lớn trên toàn bộ lưu vực và hiện tượng xả lũ trên đập sông Tranh 2, gây ra hiện tượng nước sông dâng cao. Các loài chân bụng thường bám vào cành cây, tảng đá ven bờ để sinh sống. Vào mùa khô, mực nước sông xuống khá thấp, ảnh hưởng đến môi sinh của các loài sinh vật. Việc vận hành đập thủy điện bên cạnh nhưng lợi ích về mặt kinh tế, thì cũng ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy. Từ đó ảnh hưởng đến các loài sinh vật.

d. Biến đổi khí hậu toàn cầu

Thông thường trên biển Đông có khoảng 10-11 cơn bão hoạt động mỗi năm. Năm 2017 trên khu vực biển Đông có 16 cơn bão và 4 áp thấp nhiệt đới, nhiều nhất từ trước đến nay. Quảng Nam là khu vực đang chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu như bão, lụt, sự xâm nhập mặn, đối mặt với nhiều loại hình thiên tai và những diễn biến bất thường khác của thời tiết. 

3.5.2. Đề xuất giải pháp bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản nước ngọt tại khu vực nghiên cứu

– Tuyên truyền, giáo dục cho người dân về bảo vệ ĐDSH và thực hiện các biện pháp bảo vệ ĐDSH

– Tuyên truyền, giáo dục bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, thực hiện các biện pháp ứng phó biến đổi khí hậu

– Nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ ĐDSH

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

  1. Kết luận

1. Kết quả phân tích mẫu thu được tại sông Tranh, tỉnh Quảng Nam đã xác định được 14 loài. Động vật Hai mảnh vỏ (Bivalvia) có 7 loài trong đó họ Corbiculidae có số loài nhiều nhất. Động vật chân bụng là 7 loài trong đó có những loài đặc trưng cho sông ngòi vùng trung du và miền núi, chủ yếu sống bám trên đá.

2. Hầu hết các chỉ tiêu về chất lượng nước đều nằm trong giới hạn cho phép về chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy sinh theo quy định tại QCVN 38: 2011/BTNMT.

3. Hiện trạng ĐDSH của động vật thân mền và chân bụng tại sông Tranh đều ở mức trung bình khá. Chỉ số đa dạng H’ trung bình dao động 2,43 – 2,47.

4. Thành phần loài thân mềm và chân bụng thu được có sự biến động theo các điểm thu mẫu và theo mùa. Số lượng loài thu được tại các điểm thu mẫu mùa khô cao hơn mùa mưa.

5. Sự phân bố của các loài động vật hai mảnh vỏ và chân bụng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường tự nhiên đặc biệt là tính chất nền đáy của thủy vực. Số lượng loài lớn nhất ở nền bùn hữu cơ, nền bùn cát, thấp nhất ở nền đá đáy.

2. Kiến nghị

1. Cần mở rộng nghiên cứu để có số liệu hoàn chỉnh hơn về ĐDSH của động vật Hai mảnh vỏ, chân bụng nói riêng và ĐVĐ nói chung ở sông Tranh, tỉnh Quảng Nam.

2. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài, để bảo tồn ĐDSH, bảo vệ và phát triển bền vững các loài động vật Hai mảnh vỏ và chân bụng nói riêng và ĐVĐ nói chung tại sông Tranh, các cấp chính quyền của tỉnh Quảng Nam cần:

– Có kế hoạch thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình khai thác cát trên sông Tranh thuộc địa bàn các thôn 4 xã Thăng phước và thôn 3 xã Hiệp Hòa và có biện pháp kịp thời và hiệu quả, tránh những tác động xấu ảnh hưởng đến môi trường nước sông Tranh.

– Cụ thể hóa các chủ trương, chính sách và cơ chế trong công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản trên sông. Chính quyền địa phương cần triển khai các ngành nghề, các lớp đào tạo nghề cho người dân để họ có thể chuyển đổi nghề nghiệp hoặc hình thức lao động tạo nên sinh kế bền vững cho vùng.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KY THUAT\SINH THAI HOC\DO THI TUONG VI\SAU BAO VE\TOM TAT

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *