Ảnh hưởng của phân kali đến quá trình sinh trưởng phát triển năng suất phẩm chất cây dưa lưới (Cucumis melo L.) trồng trong điều kiện sinh thái bán nhân tạo tại Đà Nẵng
Ở Việt Nam, dưa lưới (Cucumis melo.L) là một sản phẩm nông nghiệp cao cấp, được người tiêu dùng ưa thích bởi chất lượng tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất. Tại miền Nam, dưa lưới được du nhập và trồng nhiều tại thành phố Hồ Chí Minh từ 2010, và bắt đầu được sản xuất thử tại Đà Nẵng từ năm 2017
Thực tế cho thấy việc sản xuất canh tác dưa lưới trên đồng ruộng gặp nhiều trở ngại và khó khăn trong việc tìm nguồn nước, phụ thuộc lớn về điều kiện tự nhiên, đất trồng, thời vụ và nhất là vấn đề ô nhiễm nông nghiệp. Chính vì vậy, canh tác theo hướng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao trong nhà màng được xem là điều kiện tích cực và cần thiết để sản xuất dưa lưới thành sản phẩm hàng hóa với năng suất và chất lượng ổn định.
Mùi vị và hương thơm dưa lưới phụ thuộc vào nồng độ đường, chất rắn hòa tan tổng số, vitamin, chất thơm và các axit amin trong quả. Hàm lượng sucroza đã được chứng minh là chỉ số quan trọng để đánh giá chất lượng dưa lưới [45]. Dung dịch dinh dưỡng là một yếu tố quan trọng quyết định năng suất và chất lượng dưa lưới khi trồng trên môi trường không sử dụng đất [29].
Kali có vai trò rất quan trọng trong việc điều hòa hoạt động của các enzym trong cây. Kali gia tăng cường độ quang hợp của lục lạp và vận chuyển sản phẩm quang hợp từ lá qua libe đến mô lưu trữ, qua đó cải thiện chất lượng trái cây và năng suất [25]. Nồng độ kali không đủ hoặc quá mức ảnh hưởng xấu đến chất lượng quả [44].
Kali là một chất khử mạnh. Nó dễ dàng cho điện tử và chuyển thành cation K+. Sự có mặt của kali ảnh hưởng tốt đến quá trình hình thành gluxit trong quang hợp cũng như quá trình chuyển hóa và vận chuyển gluxit trong cây. Mặt khác, sự tổng hợp các vitamin được tăng cường dưới tác dụng của kali. Ngoài ra, kali còn liên quan chặt chẽ đến quá trình hô hấp của cây. Thiếu kali dẫn đến sự giảm hô hấp, kìm hãm quá trình tổng hợp đường saccarose gây cản trở đến nhiều khâu của quá trình oxy hóa khử, mà trước hết là có liên quan đến sự phá hủy trao đổi photphat và hình thành các liên kết cao năng [3].
Để góp phần bổ sung và hoàn thiện quy trình trồng dưa lưới trong nhà màng theo hướng công nghệ cao trong điều kiện sinh thái tại Đà Nẵng, chúng tôi thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của phân kali đến quá trình sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm chất cây dưa lưới (Cucumis melo L.) trồng trong điều kiện sinh thái bán nhân tạo tại Đà Nẵng”.
2.1. Mục tiêu chung
Xác định nồng độ kali thích hợp cho dưa lưới được trồng trong nhà màng, trên giá thể, sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt sinh trưởng và phát triển, chất lượng quả tốt trong điều kiện sinh thái tại Đà Nẵng.
2.2. Mục tiêu cụ thể
– Xác định ảnh hưởng của các nồng độ kali khác nhau đến các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển: Đường kính thân, diện tích lá, thời điểm ra hoa, số lượng hoa dưa lưới trong điều kiện sinh thái tại Đà Nẵng.
– Xác định ảnh hưởng của các nồng độ kali khác nhau đến các chỉ tiêu năng suất: số lượng quả, đường kính quả và độ dày thịt quả, trọng lượng quả dưa lưới trong điều kiện sinh thái tại Đà Nẵng.
– Xác định ảnh hưởng của các nồng độ kali khác nhau đến chất lượng quả: Độ Brix, hàm lượng vitamin axit hữu cơ, hàm lượng vitamin C, hàm lượng nước, hàm lượng nitrat của dưa lưới trong điều kiện sinh thái tại Đà Nẵng.
3. Nội dung nghiên cứu
– Nội dung 1: Theo dõi, tổng hợp, phân tích các điều kiện sinh thái: ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm trong thời điểm trồng dưa lưới tại Hòa Vang, Đà Nẵng.
– Nội dung 2: Ảnh hưởng của các nồng độ kali khác nhau đến các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển: chiều dài thân, diện tích lá, thời điểm ra hoa, số lượng hoa dưa lưới;
– Nôi dung 3: Ảnh hưởng của các nồng độ kali khác nhau đến các chỉ tiêu năng suất: số lượng quả, chiều dài quả, đường kính quả và độ dày thịt quả, trọng lượng quả dưa lưới.
– Nội dung 4: Ảnh hưởng của các nồng độ kali khác nhau đến chất lượng quả: Độ Brix, hàm lượng vitamin axit hữu cơ, hàm lượng vitamin C, hàm lượng chất xơ, hàm lượng nước, hàm lượng nitrat của dưa lưới.
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
4.1. Ý nghĩa khoa học
– Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học mới về ảnh hưởng của kali đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng dưa lưới (Cucumis melo L.) trồng trong nhà màng, trên giá thể, sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt trong điều kiện sinh thái tại thành phố Đà Nẵng.
– Là nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu khoa học, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
– Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp kiến thức, quy trình để sản xuất giống dưa lưới (Cucumis melo L.) trồng trong nhà màng, trên giá thể, sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt trong điều kiện sinh thái tại Đà Nẵng.
– Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài còn là tài liệu quan trọng cho người nông dân trong quá trình sản xuất đại trà cây dưa lưới trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp.
Luận văn gồm 3 chương:
– Chương 1: Tổng quan tài liệu
– Chương 2: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
– Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
1.1. Tổng quan về cây dưa lưới
Dưa lưới có nguồn gốc từ vùng Đông Phi (Sudan, Ethiopia, Somalia và Tanzania), là giống dưa hoang dại được thuần hóa ở phía Đông Địa Trung Hải và Tây Á 4000 năm trước rồi lan rộng khắp châu Á. Ngày nay dưa lưới được trồng rộng rãi trên thế giới, là loài trái cây cũng như rau tiêu biểu của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [30]. Dưa lưới (Cucumis melo L.), thuộc bộ Cucurbitales, họ Bầu bí (Cucurbitaceae) [36].
– Dưa lưới phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ấm và khô, nhiều ánh sáng. Nhiệt độ phát triển tối ưu từ 18 – 28oC, phát triển chậm khi nhiệt độ dưới 12oC. Dưa lưới có thể chịu được nhiệt độ lên tới 40oC nhiều giờ mỗi ngày.
– Rễ của câu dưa lưới thuộc loại rễ chùm, phân bố chủ yếu ở tầng canh tác 0-30cm, rộng 50-60 cm [30].
– Thân của cây dưa lưới thuộc dạng thân cỏ 1 năm, leo bằng tua cuốn [30].
– Lá dưa lưới mọc so le đơn, cuống dài, không lá kèm, phiến có lông nhám, thùy gân kiểu chân vịt [30].
– Hoa dưa lưới mọc ở nách lá, là hoa đơn tính, lưỡng tính. Hoa đực mọc thành chùm 2 đến 4 hoa với 3 nhị. Hoa cái hoặc hoa lưỡng tính mọc riêng lẽ. Cây thường ra hoa vào tháng bảy đến tháng chín, hạt chín từ tháng tám đến tháng 10 [30].
– Quả dưa lưới mọng, to, vỏ ngoài cứng, đôi khi hóa gỗ, vỏ giữa dày, nạc, có thể xơ, ruột chiếm bởi cơm quả nhiều nước. Quả dưa lưới chín được dùng tươi hoặc làm bột trái cây. Quả còn xanh được dùng như một loại rau ăn sống hoặc chế biến các món ăn. Lá non có thể được dùng như rau gia vị trong món súp. Ngoài ra thân của loài thực vật này có thể dùng làm thức ăn cho vật nuôi [30].
– Dưa lưới là nguồn chứa chất chống oxy hóa dạng polyphenol, là chất có lợi cho sức khỏe giúp phòng chống bệnh ung thư và tăng cường hoạt động miễn dịch.
1.1.3. Tình hình sản xuất cây dưa lưới trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.3.1. Tình hình sản xuất cây dưa lưới trên thế giới
1.1.3.2. Tình hình sản xuất cây dưa lưới ở Việt Nam
1.1.4. Tình hình nghiên cứu về cây dưa lưới trên thế giới và Việt Nam
1.1.4.1. Trên thế giới
1.1.4.2. Tại Việt Nam
1.2. Công nghệ nhà màng trong sản xuất nông nghiệp
Nhà màng nhà lưới là kết cấu được xây dựng bởi các khung có mái che và bao quanh bằng các vật liệu cho ánh sáng đi qua nhằm kiểm soát yếu tố môi trường để con người thực hiện các hoạt động trồng cây thuận lợi bên trong nhà.
– Ưu điểm của sản xuất trong nhà màng [9]:
+ So với canh tác truyền thống, hệ thống chăm sóc cây trồng trong nhà màng hiện đại mang lại thực sự nhiều lợi ích: giúp tiết kiệm tới 1/3 công lao động, năng suất tăng gấp 1,5 – 2 lần so với trồng truyền thống.
+ Do sử dụng chất liệu màng chắn côn trùng nên hạn chế rất nhiều loại sâu bênh hại cây dưa lưới.
+ Ít chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, nên trồng dưa lưới trong nhà màng được từ 4 -5 vụ/năm. Ngoài ra, có thể trồng thâm canh dưa lưới liên tục.
+ Chủ động được các yếu tố đầu vào (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,…) do đó, sản phẩm sau thu hoạch đảm bảo an toàn, đạt chất lượng.
– Nhược điểm của sản xuất trong nhà màng [9]:
+ Tăng nhiệt độ bên trong nhà do hiệu ứng nhà kính.
+ Đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật cao và có kinh nghiệm (quản lý nước tưới, dinh dưỡng, dịch hại) .
+ Hạn chế các thiên địch tự nhiên.
+ Chi phí đầu tư xây dựng nhà màng ban đầu lớn, để đầu tư 1000 m2 nhà màng cần có tối thiểu 80 triệu đồng cho mô hình nhà màng đơn giản (cột thép và dây cáp), từ 300 – 350 triệu đồng cho kiểu nhà kiên cố và tốt nhất là nhà màng có hệ thống nhà điều hành của Israel, Hà Lan: Điều khiểu tưới nước và phân bón tự động, có hệ thống làm mát giữ nhiệt độ ổn định 27-280C, có hệ thống mái che 3 lớp di động, khung chịu được sức gió trên 120km/h với giá 1,2 tỷ đồng.
– Quản lý trang thiết bị trong nhà màng, nhà lưới[9]:
+ Thiết bị ánh sáng: Thiết bị chiếu sáng được sử dụng bằng các loại bóng đèn có cường độ chiếu sáng khác nhau theo những loại nhà trồng có độ cao. Đối với nhà lưới nhà màng đơn giản chủ yếu đóng mở bằng thủ công người trồng. Một số nhà màng nhà lưới bán tự động và tự động được thiết kế điều khiển đóng cắt theo yêu cầu của người trồng cây vì vậy đảm bảo chính xác thời điểm đóng cắt. Độ bền của hệ thống chiếu sáng phụ thuộc vào thời giản sử dụng nên cần đóng mở hợp lý theo từng loại cây trồng trong nhà trồng. Định kỳ bảo trì, bảo dưỡng để nguồn chiếu sáng được tối ưu và hiệu quả nhất.
+ Thiết bị điều chỉnh nhiệt độ: Chủ yếu sử dụng trong nhà lưới nhà màng là hệ thống quạt thông gió và hệ thống phun sương trong nhà trồng, các hệ thống này thông thường được sự phối hợp làm việc. Để làm việc hiệu quả và tiết kiệm năng lượng tiêu thụ cho loại thiết bị này người ta thường sử dụng các bộ điều khiển để đóng mở khi cần thiết trong quá trình trồng cây.
+ Thiết bị thông gió: Thiết bị được chia hai loại: thiết bị thông gió tự nhiên và thông gió cưỡng bức. Thông gió tự nhiên được thiết kế theo chuyển động của góc mở theo hướng gió phù hợp cho từng nhà, từng loại cây trồng. Thông gió cưỡng bức theo hai loại quạt hút và đẩy trong nhà trồng.
+ Thiết bị tưới, bón: Trong nhà màng nhà lưới thiết bị loại này chủ yếu là hệ thống tưới nhỏ giọt và tưới phun mưa cho các loại cây trồng khác nhau. Hệ thống phân bón được hòa tan trong nước tưới. Vì vậy cần được điều khiển các chế độ tưới khác nhau cho cây trồng. Trong quá trình quản lý sử dụng thiết bị này tránh tắc vòi, đảm bảo áp lực máy bơm.
+ Thiết bị khác: Ngoài ra còn có bộ phận phối trộn, thiết bị chăm sóc cây, đồng hồ đo, các cảm biến, van điều khiển… Cần có sự theo dõi, kiểm tra hoạt động của các thiết bị này.
– Ưu điểm của công nghệ tưới nhỏ giọt [13]:
+ Tưới nhỏ giọt (Drip irrigation/Strickle irrigation) là dạng tưới tiết kiệm nước hay còn gọi là vi tưới (micro irrigation). Tưới nhỏ giọt đưa nước trực tiếp trên mặt đất đến gốc cây trồng liên tục dưới dạng từng giọt nhờ các thiết bị tưới đặc trưng tạo giọt.
+ Giúp tiết kiệm nước, tiết kiệm điện và hao phí lao động tạo ra sản phẩm.
+ Tưới nhỏ giọt đảm bảo phân bố độ ẩm đều quanh gốc rễ, tạo điều kiện thuận lợi về chế độ không khí, nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng, quang hợp… cho cây trồng.
+ Cung cấp một cách đều đặn lượng nước tưới cần thiết nhưng tránh được hiện tượng tập trung muối trong nước tưới.
+ Tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước đến mức tối đa, giãm đến mức tối thiểu các tổn thất lượng nước tưới do bốc hơi, thấm…
+ Tưới nhỏ giọt không gây ra hiện tượng xói mòn đất, không tạo nên váng đất đọng trên bề mặt và không phá vỡ cấu tượng đất.
+ Tưới nhỏ giọt đảm bảo năng suất tưới, năng suất lao động được nâng cao không ngừng vì có khả năng cơ khí hóa, tự động hóa nông nghiệp ở khâu nước tưới.
+ Tưới nhỏ giọt phụ thuộc rất ít vào các yếu tố thiên nhiên như độ dốc của địa hình, thành phần và cấu trúc đất tưới, mực nước ngầm nông hay sâu, ảnh hưởng của sức gió… Tưới nhỏ giọt phù hợp với mọi địa hình nông nghiệp Việt Nam.
+ Tưới nhỏ giọt sử dụng cột nước áp lực làm việc thấp, lưu lượng nhỏ nên tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí vận hành.
+ Tưới nhỏ giọt góp phần ngăn chặn sự phát triển của cỏ dại quanh gốc cây và sâu bệnh vì lượng nước chỉ cung cấp làm ẩm gốc cây.
+ Tưới nhỏ giọt cung cấp nước thường xuyên, duy trì chế độ ẩm thích hợp theo nhu cầu sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng. Nhờ đó, cây sinh trưởng tốt, phát triển nhanh, đạt năng suất cao.
– Hạn chế của công nghệ tươi nhỏ giọt [13]:
+ Hệ thống ống tưới nhỏ giọt hay bị tắt nghẽn do bùn cát, rong, tảo, tạp chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng không hòa tan… Chính vì vậy, nguồn nước tưới của hệ thống tưới nhỏ giọt cần phải được xử lý qua bộ lọc.

+ Tưới nhỏ giọt không có khả năng làm mát cây và cải tạo vi khí hậu như tưới phun mưa, không có khả năng rửa lá giúp cây quang hợp tốt.
+ Tưới nhỏ giọt cần phải có vốn đầu tư ban đầu, người đầu tư phải có trình độ tiếp cận kỹ thuật tưới.
+ Khi tưới nhỏ giọt bị gián đoạn, cây trồng sẽ xấu đi nhiều so với các phương pháp tưới khác.
1.4. Ảnh hưởng của một số yếu tố đối với sự sinh trưởng của thực vật trong nhà màng
1.5. Kỹ thuật trồng cây dưa lưới trong nhà màng, trên giá thể sử dụng tưới nhỏ giọt, châm phân tự động [17]
1.6. Sơ lược về điều kiện tự nhiên, khí hậu của xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Giống dưa lưới (Cucumis melo L.) Camry 002 của Công ty TNHH Nhà Nguyễn tại thành phố Hồ Chí Minh, thuộc chi Cucumis, họ Bầu bí (Cucurbitaceae), bộ Bầu bí (Cucurbiatles), có đặc điểm là sinh trưởng khỏe, trọng lượng quả từ 1,5 – 2,0 kg. Thời gian từ gieo đến thu hoạch khoảng 80 – 90 ngày.
Thời gian nghiên cứu đề tài từ tháng 01 đến tháng 8 năm 2018 (8 tháng)
– Ươm hạt giống trong khay xốp, trong nhà màng tại hộ nông dân thôn Phú Sơn Nam, xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
– Trồng cây trong nhà màng, trên giá thể và chăm sóc, theo dõi, đo đếm số liệu tại hộ nông dân thôn Phú Sơn Nam, xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
2.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
2.3.1.1. Các nghiệm thức
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), một yếu tố, 3 lần lặp lại và có 5 nghiệm thức như sau:
– Nghiệm thức 1 (NT1): Nền + 250 ppm K2O (đối chứng)
– Nghiệm thức 2 (NT2): Nền + 350 ppm K2O
– Nghiệm thức 3 (NT3): Nền + 450 ppm K2O
– Nghiệm thức 4 (NT4): Nền + 550 ppm K2O
– Nghiệm thức 5 (NT5): Nền + 650 ppm K2O
Ghi chú:
– Nền: (Trình bày ở bảng 2.1)
Bảng 2.1. Nồng độ N, P và lượng nước tưới của “nền” trong thí nghiệm
| TT | Giai đoạn | N (ppm) | P (ppm) | Lượng dung dịch tưới (lít /cây/ngày) |
| 1 | Trồng – bắt đầu ra hoa | 180 | 44 | 0,8 |
| 2 | Bắt đầu ra hoa – tạo lưới | 220 | 56 | 1,8 |
| 3 | Tạo lưới – thu hoạch | 200 | 56 | 2,5 |
Ngoài ra, bổ sung thêm một số phân vi lượng, nồng độ phân vi lượng bổ sung: B: 0,3 – 0,5 mg/lít; Mn: 0,3 mg/lít; Fe: 2 – 3 mg/lít; Mo: 0,05 mg/lít; Cu: 0,1 – 0,5 mg/lít; Zn: 0,3 mg/lít. pH cho dung dịch tưới là: từ 5,5 – 6,5.
– Nền + 250 ppm K2O (đối chứng): Được áp dụng từ quy trình trồng Dưa lưới trên giá thể, trong nhà màng của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh, 2017.
2.3.1.2. Sơ đồ bố trí các nghiệm thức
Bảng 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm
| NT1 | NT2 | NT1 |
| NT2 | NT1 | NT4 |
| NT5 | NT3 | NT3 |
| NT4 | NT4 | NT2 |
| NT3 | NT5 | NT5 |
2.3.2. Quy trình thực hiện thí nghiệm
2.3.2.1. Chuẩn bị nhà màng và hệ thống tưới nhỏ giọt
2.3.2.2. Chuẩn bị giá thể, túi bầu
2.3.2.3. Chuẩn bị phân bón và nước tưới
2.3.2.4. Chuẩn bị cây con
2.3.2.5. Trồng cây và chăm sóc
2.3.2.6. Làm giàn cho cây dưa lưới
2.3.2.7. Tỉa nhánh, quả
2.3.2.8. Rung hoa, thụ phấn
2.3.2.9. Thu hoạch
2.3.3. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu
2.3.3.1. Các chỉ tiêu sinh thái tự nhiên và bán tự nhiên trong nhà màng
– Các chỉ tiêu theo dõi: Nhiệt độ, độ ẩm, số giờ nắng, lượng mưa.
– Địa điểm theo dõi: Ở 02 điều kiện trong nhà màng và ngoài nhà màng tại xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng, từ đó đánh giá khả năng thích nghi của cây dưa lưới trồng trong nhà màng trong thời gian từ tháng 2/2018 đến tháng 5/2018 tại xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
– Phương pháp: điều tra, thu thập thông tin, hồi cứu số liệu, máy đo vi khí hậu.
2.3.3.2. Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển
Trong mỗi ô thí nghiệm chọn 10 cây theo đường chéo góc để theo dõi, đo đếm các chỉ tiêu.
– Tỷ lệ nảy mầm:
Theo dõi bằng phương pháp đếm và tính toán thực tế tỷ lệ nảy mầm của hạt.
– Thời gian sinh trưởng (ngày):
Tiến hành theo dõi thời gian sinh trưởng trong các giai đoạn: từ khi gieo hạt đến nảy mầm, ra lá thật (3-4 lá thật), ra hoa, hình thành quả, thu hoạch và tính tổng thời gian sinh trưởng.
+ Thời gian ra hoa: thời gian tính từ bắt đầu trồng đến khi 50% số cây nở hoa. (theo dõi số ngày tất cả các cây nở hoa, theo dõi số cây trên 3 lần nhắc lại)
+ Thời gian hình thành quả: thời gian tính từ bắt đầu trồng đến khi bắt đầu hình thành quả.
+ Thời gian thu hoạch: tính từ lúc trồng đến lúc 90% số cây thu hoạch hái quả được.
– Chiều dài thân chính của cây dưa lưới (cm):
Dùng thước đo kẻ li đo từ gốc đến đỉnh sinh trưởng của ngọn. Đo từ sau khi cây hình thành lá thật, sau đó 10 ngày đo 1 lần.
– Số hoa trên cây:
Tính tổng số hoa và tổng số hoa cái ở trên cây dưa lưới trồng trong nhà màng. Thực hiện bằng phương pháp đếm và thống kê số liệu.
2.3.3.3. Các chỉ tiêu cấu thành năng suất
– Trọng lượng quả (g/quả):
Mỗi nghiệm thức cân 10 quả ở mỗi lần lặp lại sau đó lấy giá trị trung bình.
– Năng suất lý thuyết (NSLT):
NSLT (kg/1.000m2) = số cây/ha X trọng lượng quả/cây.
– Năng suất thực thu (NSTT):
NSTT (kg/1.000m2) = (Tổng trọng lượng quả/ô)
2.3.3.4. Các chỉ tiêu về phẩm chất
– Chiều dài quả (cm):
Mỗi nghiệm thức đo 10 quả ở mỗi lần lặp lại sau đó lấy giá trị trung bình.
– Đường kính quả (cm):
Mỗi nghiệm thức đo 10 quả ở mỗi lần lặp lại sau đó lấy giá trị trung bình.
– Độ dày thịt quả (cm):
Mỗi nghiệm thức đo 10 quả ở mỗi lần lặp lại sau đó lấy giá trị trung bình.
– Phân tích độ Brix (%):
Thực hiện tại phòng thí nghiệm của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh.
– Phân tích hàm lượng NO3–:
Thực hiện trong phòng thí nghiệm của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh.
– Đánh giá bằng cảm quan về độ giòn và mùi thơm của sản phẩm ở các nghiệm thức:
Thực hiện bằng phương pháp sử dụng phiếu đánh giá khi người tiêu dùng ăn thử. Khảo sát ngẫu nhiên 20 người trên địa bàn Đà Nẵng (Xem mẫu điều tra ở phần phụ lục).
2.3.3.5. Các chỉ tiêu về khả năng chống chịu sâu bệnh
– Đánh giá tình hình sâu bệnh hại theo QCVN 01-169: 2014/ BNNPTNT “Quy chuẩn quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây rau”.
Cách tiến hành:
+ Đối với rệp, bọ trĩ: Quan sát từ xa đến gần, sau đó đếm trực tiếp số lượng cây bị hại và phân cấp hại. Phân cấp cây bị hại theo 3 cấp sau:
Cấp 1: nhẹ (rệp, bọ trĩ phân bố rải rác trên cây).
Cấp 2: trung bình (rệp, bọ trĩ phân bố dưới 1/3 diện tích của cây).
Cấp 3: nặng (rệp, bọ trĩ phân bố từ 1/3 diện tích của cây).
+ Đối với bệnh sương mai, thán thư: đếm số cây bị bệnh trên tổng số cây. Tính tỉ lệ %
Đánh giá theo thang điểm cấp bệnh như sau:
Cấp 1: Không nhiễm bệnh, chống chịu tốt (dưới 5% số cây có vết bệnh)
Cấp 2: Nhiễm nhẹ (6% – 25% số cây có vết bệnh)
Cấp 3: Nhiễm trung bình (26% – 50% số cây có vết bệnh)
Cấp 4: Nhiễm nặng (51% – 75% số cây có vết bệnh)
Cấp 5: Nhiễm rất nặng (trên 76% số cây có vết bệnh)
2.3.3.6. Đánh giá về hiệu quả kinh tế
Thực hiện theo bảng tính sau:
Bảng 2.4. Bảng phương pháp tính hiệu quả kinh tế
| TT | Chỉ tiêu | Số tiền (đồng) |
| I | TỔNG CHI = 1 + 2 + 3 + 4 + 5 | |
| 1 | Tiền giống | |
| 2 | Tiền phân bón | |
| 3 | Thuốc bảo vệ thực vật | |
| 4 | Công lao động | |
| 5 | Khấu hao tài sản (đồng/vụ): (nhà màng + Thiết bị tưới + Giá thể) * Dưa lưới sản xuất trong nhà màng được 3 vụ/năm. * Nhà màng: Khấu hao trong 10 năm. * Hệ thống tưới nhỏ giọt: khấu hao trong 5 năm | |
| II | TỔNG THU (đồng/vụ1.000m2 nhà lưới) = Năng suất x đơn giá | |
| III | LỢI NHUẬN (đồng/vụ/1.000m2 nhà lưới) = II – I |
2.3.4. Phương pháp xử lý thống kê
Xử lý số liệu theo dõi được tính toán bằng phần mềm Microsoft Excel. Phân tích ANOVA trên phần mềm SAS 9.1.3. Phân hạng giữa các nghiệm thức theo Duncan với α = 0,05 hoặc 0,01.
– Trung bình số học:
– Sai số của trung bình số học:
– Hệ số biến động:
– Phương sai mẫu:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Khảo sát các nhân tố sinh thái tự nhiên và bán tự nhiên (trong nhà màng) và đánh giá khả năng phù hợp để trồng thử nghiệm dưa lưới trên địa bàn Hòa Khương – Hòa Vang – Đà Nẵng
Chúng tôi tiến hành khảo sát điều kiện khí hậu tại địa điểm thuộc xã Hòa Khương, Hòa Vang, Đà Nẵng để đánh giá sự phù hợp của việc trồng thử nghiệm cây dưa lưới. Kết quả khảo sát điều kiện khí hậu tại xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng được trình bày ở bảng 3.1. và bảng 3.2.
Kết quả khảo sát cho thấy, vùng sinh thái được khảo sát nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động, nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,2 độ C (trong nhà màng là 28,2 – 29,2 độ C), số giờ nắng bình quân hàng năm là 2195,4 giờ, độ ẩm trung bình là 80,6% (trong nhà màng là 75,6%), lượng mưa trung bình năm 2020 mm. Đối chiếu với đặc điểm sinh thái của cây dưa lưới là loài cây ưa sáng và hơi chịu nóng, phát triển tốt ở nhiệt độ từ 25 đến 33 độ C. Có thể thấy điều kiện khí hậu tại xã Hòa Khương, Hòa Vang, Đà Nằng từ tháng 12/2017 đến tháng 05/2018 phù hợp để tiến hành trồng thử nghiệm cây dưa lưới trong nhà màng.
3.2. Ảnh hưởng của các nồng độ kali đến các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của cây dưa lưới trồng trong nhà màng tại xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
3.2.1. Ảnh hưởng của các nồng độ kali khác nhau đến tỷ lệ nảy mầm của cây dưa lưới
Chúng tối đã tiến hành gieo 500 hạt dưa lưới vào khay xốp, sau khi gieo khay xốp được đặt trong nhà màng để tưới nước, chăm sóc và theo dõi. Sau 12 ngày, có 450 hạt nảy mầm và phát triển thành cây con 3-4 lá thật (Tỷ lệ nảy mầm đạt 90%).
3.2.2. Ảnh hưởng của các nồng độ kali khác nhau đến thời gian sinh trưởng phát triển của cây dưa lưới
Để tìm hiểu ảnh hưởng của phân kali đến thời gian sinh trưởng, phát triển của dưa lưới qua các giai đoạn, chúng tôi đã tiến hành theo dõi, xác định và thu được kết quả ở bảng 3.3.
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của các nồng độ kali đến thời gian sinh trưởng, phát triển (ngày) qua các giai đoạn của cây dưa lưới trồng trong nhà màng
| Nghiệm thức | Thời gian sinh trưởng của các giai đoạn theo dõi (ngày) | |||||
| Gieo hạt – Nảy mầm | Gieo hạt – Ra lá thật (3-4 lá thật) | Trồng – Ra hoa | Trồng – Hình thành quả | Trồng – Thu hoạch quả | Tổng thời gian sinh trưởng | |
| NT1 | 3 | 12 | 25 | 41 | 77 | 89 |
| NT2 | 3 | 12 | 24 | 40 | 76 | 88 |
| NT3 | 3 | 12 | 24 | 40 | 76 | 88 |
| NT4 | 3 | 12 | 24 | 41 | 77 | 89 |
| NT5 | 3 | 12 | 24 | 41 | 77 | 89 |
Việc bón phân kali ở các nồng độ khác nhau chưa thấy có ảnh hưởng lớn đến thời gian sinh trưởng, phát triển của cây dưa lưới. Thời gian sinh trưởng của cây ở các nghiệm thức tương đối đồng đều. Giai đoạn cây dưa lưới ra hoa, quả và thu hoạch thì ở các nghiệm thức có sự sai khác không đáng kể về thời gian sinh trưởng, phát triển, chỉ chênh lệch thời gian dao động ở khoảng 1 ngày.
3.2.3. Ảnh hưởng của các nồng độ kali khác nhau đến chiều dài thân chính của cây dưa lưới
Chiều dài của thân cây dưa lưới chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền của giống, thời tiết, kỹ thuật canh tác. Trong đó dinh dưỡng đóng vai trò tác động lớn đến chiều dài thân cây. Khi cung cấp đầy đủ, cân đối chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sẽ tác động tốt đến quá trình tăng trưởng chiều dài thân cây. Vì vậy, để tìm hiểu ảnh hưởng của các nồng độ kali khác nhau đến chiều dài thân chính của cây dưa lưới, chúng tôi đã tiến hành theo dõi, phân tích và thu được kết quả ở bảng 3.4. và hình 3.1.
Tóm lại, các công thức kali khác nhau đã tác động đến sự sinh trưởng của cây dưa lưới làm cho chiều dài thân chính khác nhau. Ở nghiệm thức 2 (350ppm K2O) có chiều dài thân chính cây dưa lưới đạt cao nhất, ở nghiệm thức 1 đối chứng (250ppm K2O); nghiệm thức 3 (450ppm K2O), nghiệm thức 4 (550ppm K2O), nghiệm thức 5 (650ppm K2O), có chiều dài thân chính cây dưa lưới đạt thấp hơn. Điều này cho thấy nếu thừa hay thiếu kali đều ảnh hưởng tới chiều dài của thân chính cây dưa lưới.
3.2.4. Ảnh hưởng của các nồng độ kali khác nhau đến tổng số hoa và tổng số hoa cái trên cây của dưa lưới
Kết quả ở bảng 3.5. cho thấy: Tổng số hoa trên cây ở các nghiệm thức dao động từ 12,34 đến 14,56 hoa/cây. Trong đó, nghiệm thức có số hoa/cây cao nhất là nghiệm thức 2 (350ppm K2O) (14,56 hoa/cây) và nghiệm thức 3 (450ppm K2O) (14,20 hoa/cây). Ở nghiệm thức 1 đối chứng (250ppm K2O) có số hoa trên cây thấp nhất (12,34 hoa/cây).
Số hoa cái trên cây ở các nghiệm thức dao động từ 4,01 đến 5,35 hoa/cây. Nghiệm thức 2 (350ppm K2O) và Nghiệm thức 3 (450ppm K2O) có số hoa cái trên cây cao nhất (5,35 hoa/cây và 5,05 hoa/cây). Thấp nhất là ở nghiệm thức 1 đối chứng (250ppm K2O) (4,01 hoa/cây).
Từ bảng 3.5. cho thấy tỷ lệ hoa cái/tổng số hoa trên cây dưa lưới ở các nghiệm thức đều thấp, dao động từ 32,50 – 36,74 %. Trong đó tỷ lệ hoa cái trên tổng số hoa trên cây dưa lưới thấp nhất ở nghiệm thức 1 đối chứng (250ppm K2O) với tỷ lệ 32,5 % và tỷ lệ cao nhất ở nghiệm thức 2 (350ppm K2O) với tỷ lệ 36,74%.
Tương tự thì tỉ lệ đậu quả của dưa lưới ở các nghiệm thức cũng tương đối thấp, dao động từ 30,02 – 34,18%. Thấp nhất là nghiệm thức 1 đối chứng (250ppm K2O), cao nhất là nghiệm thức 2 (350ppm K2O).
3.3. Ảnh hưởng của các nồng độ kali đến năng suất của cây dưa lưới trồng trong nhà màng
Bảng 3.6. cho thấy, trọng lượng quả dưa lưới khác nhau ở các nồng độ kali trong dung dịch tưới. Trọng lượng quả cao nhất ở nghiệm thức 2 (350ppm K2O) (2010,00 g) và khác biệt (α < 0,05) so với đối chứng (1942,67 g). Năng suất lý thuyết (4582,2 kg/1000 m2), năng suất thực thu (4055,20 kg/1000 m2) của dưa lưới cũng cao nhất ở nghiệm thức 2 (350ppm K2O) và khác biệt so với nghiệm thức 1 đối chứng (250ppm K2O) (4305,3 và 3872,42 kg/1000 m2).
Tóm lại: qua thí nghiệm cho thấy, với nồng độ kali khác nhau thì cho năng suất khác nhau, nồng độ kali thiếu hay thừa đều không tốt và ảnh hưởng tới năng suất của dưa lưới trồng trong nhà màng, cụ thể: Với nghiệm thức 2 (350ppm K2O) cho năng suất cao nhất. Còn lại, ở các nghiệm thức khác: Nghiệm thức 1 đối chứng (250ppm K2O), nghiệm thức 3 (450ppm K2O), nghiệm thức 4 (550ppm K2O), nghiệm thức 5 (650ppm K2O) thì năng suất dưa lưới đạt thấp hơn.
3.4. Ảnh hưởng của các nồng độ kali đến phẩm chất của cây dưa lưới
Kali làm tăng tốc độ quang hợp của lục lạp và vận chuyển các sản phẩm quang hợp từ lá đến các cơ quan dự trữ, vì vậy mà chúng cải thiện năng suất và chất lượng quả [25]. Việc thừa hay thiếu kali cũng ảnh hưởng đến chất lượng quả. Nếu thiếu kali thì các yếu tố cấu thành năng suất cũng như phẩm chất các loại quả, các loại hoa và hạt bị thay đổi theo hướng bất lợi [16].
3.4.1. Ảnh hưởng của các nồng độ kali khác nhau đến chiều dài quả, đường kính quả và độ dày thịt quả dưa lưới
Bảng 3.7. cho thấy dưa lưới ở nghiệm thức 2 (350ppm K2O) có chiều dài quả cao nhất (16,11 cm) và khác biệt có ý nghĩa (α < 0,01) so với đối chứng (15,07 cm).
Đường kính quả (15,10 cm) và độ dày thịt quả (4,13 cm) cũng cao nhất khi dưa lưới được cung cấp kali ở nghiệm thức 2 (350ppm K2O).
Kết quả nghiên cứu của Shankar and Sumangala (2005) trên cây ớt cũng cho thấy, chiều dài quả (8,35 cm) và số quả/cây (50,7 quả) tăng một cách có ý nghĩa khi tăng liều lượng kali bón gốc đến một nồng độ nhất định.
Tóm lại: qua thí nghiệm cho thấy, với nồng độ kali khác nhau thì chiều dài quả, đường kính quả và độ dày thịt quả của cây dưa lưới đều có sự khác nhau. Nồng độ kali thiếu hay thừa đều ảnh hưởng tới chiều dài quả, đường kính quả và độ dày thịt quả của dưa lưới trồng trong nhà màng, cụ thể: Ở nghiệm thức 2 (350ppm K2O) cho chiều dài quả, đường kính quả và độ dày thịt quả cao nhất. Còn lại, ở các nghiệm thức 1 đối chứng (250ppm K2O), nghiệm thức 3 (450ppm K2O), nghiệm thức 4 (550ppm K2O), nghiệm thức 5 (650ppm K2O) thì chiều dài quả, đường kính quả và độ dày thịt quả dưa lưới đạt thấp hơn.
3.4.2. Ảnh hưởng của các nồng độ kali khác nhau đến độ Brix của dưa lưới
Kết quả ở bảng 3.8 cho thấy Kali ảnh hưởng đến độ Brix của dưa lưới. Ở các nồng độ kali khác nhau, độ Brix của dưa lưới cũng khác nhau. Trong đó, ở nghiệm thức 2 (350ppm K2O) thì cho dưa lưới có độ Brix cao nhất (11,9 %) và khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (α < 0,05) so với đối chứng (10,83 %).
Tóm lại: qua thí nghiệm cho thấy, với nồng độ kali khác nhau thì độ Brix dưa lưới đều có sự khác nhau. Nồng độ kali thiếu hay thừa đều ảnh hưởng tới độ Brix của quả dưa lưới trồng trong nhà màng, cụ thể: Với nghiệm thức 2 (350ppm K2O) cho độ Brix quả cao nhất. Còn lại, ở các nghiệm thức 1 đối chứng (250ppm K2O), nghiệm thức 3 (450ppm K2O), nghiệm thức 4 (550ppm K2O), nghiệm thức 5 (650ppm K2O) thì độ Brix quả dưa lưới đạt thấp hơn.
3.4.3. Ảnh hưởng của các nồng độ kali khác nhau đến hàm lượng nitrat dưa lưới
Trực tiếp liên quan tới yếu tố này là lượng đạm (N) bón cho cây dưa lưới và một số yếu tố kỹ thuật canh tác, cung cấp nước tưới và thời gian cách ly cho dưa lưới trước khi thu hoạch. Trong đó, kali đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng tới nồng độ nitrat của dưa lưới. Qua theo dõi và tổng hợp và kết quả phân tích chúng tôi thu được kết quả ở bảng 3.9. Qua kết quả nghiên cứu ở bảng 3.9 chúng tôi nhận thấy ở nghiệm thức 2 (350ppm K2O), là không ảnh hưởng xấu đến chất lượng của dưa lưới.
3.4.4. Đánh giá cảm quan về độ giòn và mùi hương của dưa lưới ở các nồng độ kali khác nhau
Ngoài độ ngọt thì mùi hương, độ giòn của dưa lưới cũng quyết định đến chất lượng của sản phẩm này, ảnh hưởng tới thị hiếu của người tiêu dùng.
Để đánh giá nội dung này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 20 người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Theo kết quả ở bảng 3.10. đánh giá cảm quan của người tiêu dùng, Ở nghiệm thức 2 (350ppm K2O) làm cho dưa lưới có mùi thơm cao nhất (7,4/10 điểm); độ giòn cao nhất 7,6/10 điểm.
3.5. Ảnh hưởng của các nồng độ kali khác nhau đến khả năng chống chịu sâu bệnh của dưa lưới trồng trong nhà màng
Điều kiện ngoại cảnh có thể làm thay đổi năng suất cây trồng theo hướng tích cực hoặc không tích cực. Tùy vào khả năng chống chịu mà các loại cây trồng có thể thích ứng với điều kiện sinh thái khác nhau.
Sâu bệnh hại trên cây trồng là một trong các nguyên nhân chính làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm.
Ảnh hưởng của sâu bệnh gây hại đến cây trồng nặng hay nhẹ phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó việc cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho cây có tác động rất lớn tới quá trình sinh trưởng, phát triển của cây, giúp cây phát triển khỏe mạnh, tăng sức chống chịu sâu bệnh, giảm tác hại đến cây trồng.
Sản xuất dưa lưới trên giá thể, trong nhà màng, sử dụng hệ thống tưới tự động. Khâu giống, giá thể đã được xử lý kỹ nên hạn chế được mầm mống sâu bệnh hại. Mặt khác, sản xuất trong nhà màng, nhà màng đã cách ly được nhiều loại côn trùng gây hại nên đánh giá chung, tỷ lệ nhiễm sâu bệnh hại trên thí nghiệm thấp.
Tóm lại; Nhìn chung sự tác động của sâu bệnh đến cây dưa lưới là không đáng kể, chưa có sự sai khác nhiều ở các thí nghiệm khác nhau, một phần là do sản xuất trong nhà màng nên mầm mống sâu bệnh hại được xử lý và cách ly tốt nên việc nhiễm sâu bệnh hại được hạn chế.
Sau khi kết thúc đề tài tại xã Hòa Khương, tôi đã ứng dụng một số kết quả bước đầu để sản xuất dưa lưới tại 02 xã Hòa Ninh và Hòa Phú thuộc huyện Hòa Vang với diện tích 5.000 m2. Kết quả đã thu được rất khả quan, mang lại hiệu quả cho bà con nông dân và hiện đang được bà con nông dân tin tưởng, nhân rộng.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua kết quả nghiên cứu của đề tài, một số kết luận được rút ra như sau:
– Điều kiện sinh thái tại xã Hòa Khương nói riêng và huyện Hòa Vang nói chung tương đối phù hợp để trồng cây dưa lưới trong nhà màng được cung cấp dinh dưỡng bằng hệ thống nhỏ giọt, nhiệt độ trung bình năm 26,2 độ C, số giờ nắng bình quân hàng năm là 2195,4 giờ, độ ẩm trung bình là 80,6%, lượng mưa trung bình năm 2020 mm. Tỷ lệ nảy mầm của hạt dưa lưới khi tiến hành xử lý và gieo vào khay xốp là 90 %; Tỷ lệ sống sót của cây dưa lưới khi tiến hành trồng thí nghiệm ở các nghiệm thức khác nhau là 95 % và đều mang lại hiệu quả cho người nông dân.
– Kali ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của cây dưa lưới trồng trong nhà màng được cung cấp dinh dưỡng bằng hệ thống tưới nhỏ giọt. Tưới nhỏ giọt kali ở nồng độ 350 ppm K2O giúp cho dưa lưới sinh trưởng, phát triển nhanh và mạnh nhất.
– Kali ảnh hưởng đến khả năng cho năng suất của cây dưa lưới trồng trong nhà màng được cung cấp dinh dưỡng bằng hệ thống tưới nhỏ giọt. Tưới nhỏ giọt kali ở nồng độ 350 ppm K2O giúp cho dưa lưới cho năng suất cao nhất.
– Kali ảnh hưởng đến phẩm chất của quả dưa lưới trồng trong nhà màng được cung cấp dinh dưỡng bằng hệ thống tưới nhỏ giọt. Tưới nhỏ giọt kali ở nồng độ 350 ppm K2O giúp cho quả dưa lưới có nồng độ Brix cao nhất, tồn dư NH3– thấp nhất và được đánh giá cảm quan về mùi hương và độ giòn cao nhất.
2. Kiến nghị
– Nhân rộng và phát triển mô hình sản xuất cây dưa lưới tại Đà Nẵng trong điều kiện nhà màng, tưới nước và châm phân tự động qua hệ thống nhỏ giọt để tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tạo ra sản phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho bà con nông dân.
– Trong quy trình bón phân, sử dụng K2O ở nồng độ 350 ppm để cung cấp qua hệ thống tưới nhỏ giọt cho dưa lưới trồng trong nhà màng.
– Tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm quy trình sản xuất dưa lưới trên giá thể, trong nhà màng với các mức phân kali khác nhau ở những vụ mùa khác nhau, địa điểm khác nhau để đánh giá, hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất dưa lưới trên giá thể, trong nhà màng, sử dụng tưới nước, bón phân tự động tại thành phố Đà Nẵng.
– Tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng khác đến các loại rau ăn lá cũng như rau ăn quả trồng trong nhà màng để hoàn thiện quy trình trồng rau sạch theo hướng nông nghiệp công nghệ cao.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KY THUAT\SINH THAI HOC\BUI DUC HANH\SAU BAO VE


