Nâng cao hiệu quả hoạt động Quỹ phát triển kinh tế xã hội

Nâng cao hiệu quả hoạt động Quỹ phát triển kinh tế xã hội

Nâng cao hiệu quả hoạt động Quỹ phát triển kinh tế xã hội tại Hội phụ nữ tỉnh Quảng Nam

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Khái niệm tài chính vi mô (TCVM) xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1976, khi ông Muhammad Yunus thành lập nên Ngân hàng Grameen, như là một thử nghiệm, ở vùng ngoại ô của Bangladesh. Kể từ khi đó, một vài tổ chức TCVM đã ra đời và đạt được thành công khi đến gần với những người nghèo nhất trong xã hội. Tuy nhiên, phải đến khi Ủy ban Nobel trao cho Ngân hàng Grameen Bank và người sáng lập Muhammad Yunus Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2006 “Vì những nỗ lực của họ trong việc tạo ra sự phát triển kinh tế và xã hội”, TCVM mới thực sự thu hút được sự chú ý của thế giới và niềm tin vào khả năng chống lại đói nghèo.

Tại Việt Nam, năm 1986, Chính phủ Việt Nam quyết định thực hiện chính sách quốc gia về xóa đói giảm nghèo thông qua việc thúc đẩy các hoạt động sản xuất của người nghèo. Bên cạnh đó, với sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) quốc tế; các chương trình hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) song phương và đa phương; các cơ quan đoàn thể và chính quyền địa phương, các chương trình TCVM đã được hình thành với mục đích giảm nghèo cho phụ nữ, trẻ em…. 

Theo một báo cáo Đánh giá Nghèo Việt Nam 2012 của Ngân hàng Thế giới (WB) thì tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm từ gần 60% hồi đầu những năm 1990 xuống 20,7% năm 2010. Đây là con số thực sự ấn tượng, có sự đóng góp không nhỏ của chính sách TCVM, đưa Việt Nam trở thành một tấm gương trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, cải thiện cuộc sống người dân.

Đối với tỉnh Quảng Nam đa số người dân sống tại nông thôn, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, bình quân của tỉnh tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 9%, nhưng nếu phân tích tỷ lệ hộ nghèo đến các huyện và xã, đặc biệt các huyện vùng núi và các xã đặc biệt khó khăn thì nhiều xã tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn trên 50%. Những năm qua có nhiều tổ chức và nhiều chương trình của Chính phủ triển khai các hoạt động tài chính vi mô tại Quảng Nam nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống cho các hộ nghèo. Quỹ Phát triển kinh tế xã hội (SEDF) do Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Quảng Nam quản lý luôn nỗ lực vì sự phát triển của phụ nữ nghèo và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng nơi Quỹ SEDF hoạt động. Mô hình quỹ SEDF được tạo lập trên cơ sở kết nối chương trình hỗ trợ từ nguồn vốn hỗ trợ của tổ chức phi chính phủ (NGO) có tên là PyD- Tổ chức Hòa Bình phát triển Tây Ban Nha. Thông qua mô hình quản lý của Hội, từ ban quản lý dự án tỉnh, huyện, xã, chi/tổ Hội phụ nữ và các tổ, nhóm TDTK của Hội đã cung cấp các dịch vụ TD nhỏ cho hộ gia đình nhằm đầu tư phát triển kinh tế hộ. Với nguồn vốn vay không cần thế chấp, hoàn trả lãi theo tháng, vốn được hoàn trả linh hoạt theo tháng, quý hoặc năm tại nơi cư trú không phải giao dịch ở ngân hàng. Đây là điều hết sức thuận lợi cho người dân đặc biệt là những hộ dân nghèo khó có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn tín dụng khác.

Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển kinh tế, vai trò này chưa được phát huy tương xứng với tiềm năng của các chương trình, dự án TCVM. Hơn nữa, quy mô hoạt động còn hạn chế, nhiều hộ chưa thoát nghèo bền vững; đội ngũ cán bộ kiệm nhiệm, tiền lương cán bộ chưa được chi trả xứng đáng mà chủ yếu phù thuộc vào sự hỗ trợ của dự án khi còn tài trợ, cán bộ chưa có chuyên môn sâu trong lĩnh vực TCVM; đặc biệt là khả năng mở rộng nguồn vốn còn hạn chế dẫn đến thiếu sự lang tỏa cho nhiều đối tượng có nhu cầu; thiếu tính bền vững trong quản lý và phát triển. Từ thực tế trên cho thấy, việc nghiên cứu nhằm tìm ra những giải pháp đổi mới quản lý hoạt động Quỹ Phát triển kinh tế xã hội (SEDF) của Hội LHPN tỉnh Quảng Nam là cần thiết, nhằm tìm kiếm các giải pháp để đảm bảo tính bền vững của Quỹ, thông qua đó giúp người dân tạo thu nhập ổn định, giúp các hộ nghèo thoát nghèo bền vững. Đó chính là lý do việc chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động Quỹ phát triển kinh tế xã hội tại Hội phụ nữ tỉnh Quảng Nam”.

2. Mục đích nghiên cứu

– Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về quản lý hoạt động tài chính vi mô.

– Tổng kết kinh nghiệm quản lý hoạt động tín dụng tại các vùng khác nhau của Việt Nam, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm quản lý hoạt động tín dụng của Quỹ phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Nam.

– Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tín dụng của Quỹ phát triển kinh tế xã hội (SEDF). Rút ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế để từ đó làm rõ hơn các vấn đề cần giải quyết.

– Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động tín dụng vi mô của Quỹ phát triển kinh tế xã hội (SEDF) trong thời gian tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

– Hoạt động tài chính vi mô tại Quỹ phát triển kinh tế xã hội do Hội Phụ Nữ Quảng Nam quản lý. Chủ yếu tập trung vào phần nghiên cứu về cơ cấu tổ chức, quản lý hoạt động tín dụng (cho vay vốn, thu hồi nợ, xử lý rủi ro, chính sách cho vay,…), hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng tại Hội phụ nữ các cấp cơ sở.

– Nhóm những người vay vốn và chưa vay vốn từ Quỹ: mục đích vay vốn và hiệu quả sử dụng vốn, các tác động đối với hộ gia đình khi sử dụng vốn vay, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của hộ gia đình.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu hoạt động tín dụng vi mô của Quỹ phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Nam những năm qua. Và đề xuất các giải pháp để nâng cao hoạt động tài chính vi mô của quỹ đến năm 2025.

4. Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp nghiên cứu tài liệu và khảo sát thực tế.

Nghiên cứu tài liệu từ các sách báo, số liệu thống kê và các báo cáo cũng như nghiên cứu liên quan đến tài chính vi mô tại Quảng Nam.

Khảo sát thực tế thông qua các điều tra hiện trường, phỏng vấn người dân, các cấp quản lý và chuyên gia, đồng thời thực hiện các quan sát hiện trường nghiên cứu.

5. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương được tóm tắt như sau:

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng của tổ chức tài chính vi mô

Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý Quỹ phát triển kinh tế xã hội (SEDF) của Hội LHPN tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Phát triển kinh tế xã hội (SEDF) của Hội LHPN tỉnh Quảng Nam

6. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ

1.1. Khái quát về Tổ chức tài chính vi mô

1.1.1. Khái niệm về Tài chính vi mô

Hiện nay có khá nhiều quan niệm khác nhau về tài chính vi môtrên thế giới và ở Việt Nam. Theo Tài chính vi mô Gateway, 2008 thì Thuật ngữ TCVM có nghĩa là dịch vụ cung cấp cho các gia đình khó khăn với các khoản vay rất nhỏ để giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất hoặc phát triển doanh nghiệp nhỏ của họ.

Theo cách hiểu truyền thống: “Tài chính vi mô (microfinance) được coi là cho vay món nhỏ, ngắn hạn, không yêu cầu thế chấp, không có lãi (như tương trợ) hoặc lãi cho vay rất cao (vay nóng) cho những người có nhu cầu vay cấp bách mà họ không thể vay được từ các nhà cho vay chính thức”.

Theo CGAP (2002), “Tài chính vi mô là việc cung cấp dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nghèo bao gồm: dịch vụ gửi tiết kiêm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm…”.

Theo Legerwood J (2001):“Tài chính vi mô bao gồm cả trung gian tài chính và trung gian xã hội, có nghĩa là tài chính vi mô không chỉ đơn thuần là công cụ ngân hàng mà còn là công cụ phát triển”.

Trong khi đó, theo quan điểm của ADB cho rằng: “Tài chính vi mô là một hình thức phát triển tài chính chủ yếu tập trung xóa đói giảm nghèo thông qua việc cung cấp dịch vụ tài chính cho người nghèo. Tài chính vi mô là việc cung cấp một loạt các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, và bảo hiểm cho người nghèo và các hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp vi mô của họ”.

Cơ quan phát triển Quốc tế Canada (CIDA) thì định nghĩa Tài chính vi mô như là “Việc cung cấp một loạt các dịch vụ tài chính cho người nghèo, hộ gia đình thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ thường thiếu tiếp cận với các tổ chức tài chính chính thức”.

Một cách hiểu đơn giản nhất về Khái niệm tổ chức tài chính vi mô (microfinance institutions – MFI) là tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính cho những người có thu nhập thấp. Hầu hết các tổ chức tài chính vi mô đều cho vay tín dụng vi mô và chỉ nhận gửi những khoản tiết kiệm rất nhỏ từ người vay chứ không phải từ công chúng. Do đó, một MFI có thể là bất kỳ tổ chức hợp nhất tín dụng, ngân hàng thương mại thu nhỏ, các tổ chức tài chính phi chính phủ hoặc liên kết tín dụng- với vai trò cung cấp các dịch vụ tài chính cho người nghèo. (theo CGAP – Nhóm tư vấn hỗ trợ người nghèo)

Tại Việt nam, Tài chính vi mô được hiểu là tài chính quy mô nhỏ (TCQMN) “Tài chính quy mô nhỏ: là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản bao gồm tín dụng quy mô nhỏ; nhận tiền gửi tiết kiệm bắt buộc; tiền gửi tự nguyện, một số dịch vụ thanh toán cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và người nghèo” (Theo Luật Tổ chức tín dụng – Luật TCTD)

Sau hơn 25 năm phát triển Tài chính vi mô tại Việt Nam đã mang lại những thành công nhất định trong công cuộc xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam và được Chính phủ công nhận bằng Nghị định số: 28/2005/NĐ-CP, quy định về tổ chức và hoạt động của Tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam. Nghị định này đã khai thông và phát huy một cách tích cực cho sự phát triển của ngành Tài chính vi mô. Tiếp sau đó,Chính phủ ban hành nghị định 165/2007/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều Nghị định số 28/2005/NĐ-CP và Thông tư hướng dẫn thực hiện trong lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.

Từ đây, theo Nghị định 28/2005/NĐ-CP: “Tổ chức tài chính quy mô nhỏ: là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và nhận tiết kiệm để cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân thu nhập thấp”.

Như vậy, dù có thể có các cách diễn đạt khác nhau nhưng TCVM (hay TCQMN ở Việt Nam) cũng luôn được dùng để mô tả hoạt động cung ứng các dịch vụ tài chính của các trung gian tài chính cho các đối tượng là người nghèo, người có thu nhập thấp hoặc các doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Cũng có thể dễ dàng nhận thấy, các khoản tín dụng được cung ứng bởi TCVM thường có giá trị nhỏ. Đây cũng có thể được coi là các đặc trưng cơ bản của TCVM.

1.1.2. Vai trò của tài chính vi mô

TCVM không chỉ có vai trò quan trọng đối với người nghèo mà còn có vai trò tích cực trong đóng góp cho sự phát triển của xã hội, các tổ chức TCVM và cả nền kinh tế.

Xét vai trò của TCVM đối với người nghèo, TCVM đem lại cho người nghèo cơ hội tiếp cận các nguồn lực, cách sử dụng vốn, tạo điều kiện và cơ hội cho các hộ nghèo, hộ có thu nhập thấp tìm kiếm việc làm, giúp thoát nghèo, và có thể tránh các rủi ro về kinh tế. Bởi lẻ, TCVM không chỉ cung cấp các dịch vụ tài chính, cung cấp nguồn lực quan trọng nhằm tạo thu nhập, TCVM còn cung cấp các dịch vụ quản lý rủi ro như tín dụng, bảo hiểm con người, phương tiện sản xuất. Nhờ những dịch vụ quản lý này mà nhiều người đã dần ổn định cuộc sống, thu nhập bền vững hơn. Đồng thời tăng cường khả năng gắn kết giữa gia đình đối với cộng đồng và xã hội, thậm chí một số chị em phụ nữ phát huy được vai trò lãnh đạo của mình trong gia đình và xã hội.

Về yếu tố xã hội, khi TCVM tác động tích cực trong công tác tạo việc làm, gia tăng thu nhập kể cả nâng cao nhận thức cho người nghèo thông qua các dịch vụ tư vấn, đào tạo và cho vay… Điều này đồng nghĩa với việc góp phần trong công tác làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, giảm đói nghèo trong xã hội và giải quyết việc làm tại địa phương. Hơn nữa, sự gia tăng thu nhập của người nghèo cũng làm tăng cầu sử dụng các sản phẩm và dịch vụ như việc làm, thu nhập, học hành, khám chữa bệnh, du lịch, giải trí…. Như vậy sẽ làm tăng lượng các mặc hàng được sản xuất, trong điều kiện áy thúc đẩy cho nền sản xuất phát triển cũng như thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế… góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.

Về nền kinh tế, TCVM là một trong những giải pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng nghèo đói, góp phần ổn định nền kinh tế. Một trong những giải pháp được áp dụng là giúp người nghèo phát triển sản xuất bằng việc cho vay vốn, trợ giúp kỹ thuật sản xuất… nhằm giúp người nghèo tự tạo ra thu nhập ổn định, qua đó dần từng bước thoát khỏi cảnh nghèo. Bên cạnh đó, TCVM không chỉ cung cấp các khoản tín dụng mà còn cung cấp các dịch vụ rủi ro khác. Điều này vừa cho phép người nghèo sử dụng và sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực sẳn có của mình như đất đai, sức lao động mà còn là các nguồn tín dụng đúng mục đích nhằm tạo ra thu nhập, cải thiện, nâng cao cuộc sống.

Về các tổ chức hoạt động, quản lý TCVM, đây là cơ hội để các tổ chức hoạt động và quản lý TCVM đa dạng hóa hoạt động của đơn vị, được thể hiện cụ thể như sau: Một là, mở rộng hoạt động, tăng thêm đối tượng phục vụ. Hai là, nâng cao tính thiết thực và hữu ích hoạt động của tổ chức. Nếu như trước đây, với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Hội LHPN, hoạt động của Hội chủ yếu tập trung vào các công tác tuyên truyền, tập hợp, vận động hội viên thực hiện chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước và của Hội, thì hiện tổ chức Hội LHPN, tùy theo quy mô và điều kiện hoạt động đã có thể đưa các sản phẩm TCVM đến được với hội viên của mình, đặc biệt là các hội viên có hoàn cảnh nghèo khó. Từ đó, nâng cao uy tín và vị thế của Hội LHPN. Ba là, nâng cao năng lực quản lý, nghiệp vụ chuyên môn và tăng nguồn thu nhập cho cán bộ của tổ chức tiếp cận với những hoạt động về TCVM. Thông qua hoạt động này, cán bộ có nhiều cơ hội và điều kiện tiếp cận với các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực TCVM, nhiều cơ hội tiếp cận cộng đồng dân cư nghèo, đồng thời qua đó cũng có điều kiện tăng thêm nguồn thu nhập chính đáng cho cán bộ, nhân viên và tổ chức từ hoạt động này.

1.1.3. Đặc trưng cơ bản của Tài chính vi mô

Như phần trên đã trình bày, TCVM là một bộ phận của tài chính nên đương nhiên nó có thể được cung ứng bởi tất cả các trung gian tài chính theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, không phải bất kỳ một trung gian tài chính nào có cung ứng dịch vụ TCVM đều là tổ chức TCVM mà cần phải hiểu rằng, tổ chức TCVM là các tổ chức có hoạt động chủ yếu về tài chính vi mô. Nói một cách khác, hoạt động TCVM được coi là nghề nghiệp, mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho tổ chức đó.

Do sự khác biệt về văn hóa, phong tục tập quán và trình độ phát triển và đặc biệt là sự khác biệt về pháp luật nên tổ chức TCVM ở các quốc gia khác nhau có hình thức pháp lý, nhiệm vụ, phương pháp và sự bền vững khác nhau. Tuy nhiên, tất cả đều chia sẻ đặc tính chung là cung cấp các dịch vụ tài chính cho khách hàng là những đối tượng hộ nghèo, dễ bị tổn thương hơn so với khách hàng truyền thống của ngân hàng.

Thông qua cách hiểu trên đây, có thể thấy những đặc trưng cơ bản của một tổ chức TCVM như sau:

Thứ nhất, tổ chức TCVM là một trung gian tài chính;

Thứ hai, đối tượng cung ứng tín dụng chủ yếu của các tổ chức này là người nghèo, người có thu nhập thấp (bao gồm cả các hộ gia đình), không có tài sản thế chấp và dễ bị thương trong xã hội; Ngoài ra, phụ nữ cũng là đối tượng chính của TCVM;

Thứ ba, địa bàn hoạt động chủ yếu của các tổ chức này là khu vực nông thôn;

Thứ tư, giá trị các khoản tín dụng được cung ứng bởi các tổ chức này thường có giá trị không lớn, ngắn hạn.

Thứ năm,TCVM chủ yếu dựa vào uy tín, nhóm, cộng đồng.

Nâng cao hiệu quả hoạt động Quỹ phát triển kinh tế xã hội tại Hội phụ nữ tỉnh Quảng Nam
Nâng cao hiệu quả hoạt động Quỹ phát triển kinh tế xã hội tại Hội phụ nữ tỉnh Quảng Nam

1.1.4. Các hoạt động cơ bản của Tổ chức tài chính vi mô

Hoạt động cơ bản của các tổ chức TCVM là cung cấp các dịch vụ trung gian tài chính. Nhìn chung, các hoạt động tài chính do tổ chức TCVM thực hiện bao gồm: tín dụng, tiết kiệm, thẻ tín dụng, dịch vụ thanh toán, bảo hiểm vi mô. Việc lựa chọn tập trung thực hiện hoạt động nào và phương pháp cung cấp phụ thuộc vào mục tiêu của tổ chức TCVM, nhu cầu thị trường mục tiêu và cơ cấu tổ chức của nó.

Phần sau đây sẽ mô tả ngắn gọn về các hoạt động tài chính này:

1.1.4.1. Hoạt động tín dụng

Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi. Tín dụng có vị trí quan trọng đối với việc tích tụ, tận dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để phát triển kinh doanh.

Đối với tổ chức TCVM, tín dụng thường được đồng nghĩa với cho vay, và các khoản vay này thường phục vụ cho mục đích sản xuất. Một số tổ chức TCVM cũng thực hiện cho vay tiêu dùng như sửa chữa nhà cửa, xây dựng nhà vệ sinh… hoặc một số nhu cầu đặc biệt nào đó.

Các phương thức tín dụng thông dụng mà tổ chức TCVM cung cấp bao gồm: tín dụng cho cá thể, tín dụng theo nhóm tương hỗ, và tín dụng theo nhóm tương hỗ thông qua trung gian thứ ba. Do những ưu và nhược điểm của từng phương thức tín dụng, các tổ chức TCVM tùy thuộc điều kiện và khả năng mà áp dụng một hoặc một số phương thức tín dụng.

1.1.4.2. Hoạt động huy động vốn

Các tổ chức TCVM có thể thực hiện huy động vốn bằng nhiều cách khác nhau như nhận tiền gửi tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu; vay các TCTD khác trên địa bàn hoặc trên thị trường liên ngân hàng; vay Ngân hàng Trung ương, hoặc nguồn tài trợ trực tiếp từ các nhà tài trợ. Tuy nhiên, do đặc trưng riêng của các tổ chức TCVM là hoạt động khá đơn lẻ, ở các vùng khó khăn hơn nên không thuận lợi trong việc huy động từ các nguồn vay. Do đó, tiết kiệm là hình thức chủ yếu để huy động vốn của các tổ chức TCVM.

Huy động tiết kiệm là hoạt động của TCTD nhằm thu hút vốn của những người muốn dành riêng một khoản tiền cho những mục tiêu hay cho một nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai. Rất nhiều tổ chức TCVM trên toàn thế giới đã tỏ ra rất thành công trong việc huy động tiết kiệm. Điều đó chứng minh rằng tất cả mọi khách hàng đều có khả năng tiết kiệm, kể cả các khách hàng có thu nhập thấp.

Để phát triển bền vững, hiệu quả, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tài chính của khách hàng, các tổ chức TCVM rất cần thiết phát triển hoạt động này và nguồn vốn từ huy động tiết kiệm phải trở thành nguồn hoạt động chính của tổ chức TCVM.

Các tổ chức TCVM cung cấp các loại hình tiết kiệm theo nhiều cách khác nhau, như theo thời gian (tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm ngắn hạn, tiết kiệm trung hạn, tiết kiệm dài hạn); theo đối tượng khách hàng (khách hàng cá nhân, tổ chức), theo vị trí địa lý của khách hàng. Tuy vậy, với đặc trưng tập trung vào các nhóm khách hàng doanh nghiệp nhỏ và khách hàng cá nhân thu nhập thấp, thông thường các tổ chức TCVM cung cấp ba loại tiết kiệm chính là tiết kiệm bắt buộc, tiết kiệm tự nguyện, và tiền gửi có kỳ hạn cho các doanh nghiệp nhỏ

Các hoạt động tài chính khác

1.1.4.3. Hoạt động thanh toán

Hoạt động thanh toán của tổ chức TCVM là việc tổ chức TCVM trích tiền từ tài khoản của đơn vị phải trả chuyển vào tài khoản của đơn vị thụ hưởng. Thanh toán thường bao gồm các thể thức như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thư tín dụng hay thẻ thanh toán.

Cần phải khẳng định rằng không phải mọi tổ chức TCVM đều được cung cấp dịch vụ thanh toán, và cung cấp mọi thể thức thanh toán, tùy thuộc quy định của từng quốc gia.Theo Luật các TCTD Việt Nam, chỉ có các ngân hàng mới được cung ứng dịch vụ thanh toán.Các dịch vụ thanh toán gắn liền với các dịch vụ huy động tiền gửi của tổ chức TCVM.Để thực hiện thanh toán, khách hàng cần phải dùng tới tài khoản tiền gửi không kỳ hạn. Phí từ hoạt động thanh toán có thể gắn liền với hoạt động tiền gửi, nhưng cũng có thể tách biệt, với mục tiêu đảm bảo đủ bù đắp các chi phí liên quan tới hoạt động thanh toán như chi phí trang thiết bị và cơ sở hạ tầng khác, chi phí nhân sự, bảo hiểm.

Hoạt động thanh toán của các tổ chức TCVM vẫn còn nhiều hạn chế cả về số lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và số lượng đơn vị tham gia thực hiện thanh toán.

1.1.4.4. Hoạt động bảo hiểm vi mô

Thực chất, nhu cầu bảo hiểm vi mô ở khu vực nông thôn là rất lớn. Khu vực nông thôn chịu nhiều rủi ro, nhất là những rủi ro thời tiết, dịch bệnh.Khách hàng của các tổ chức TCVM thường dễ bị tổn thương nếu rủi ro xảy ra. Bảo hiểm là một hợp đồng theo đó một bên, (gọi là công ty bảo hiểm), bằng việc thu một khoản tiền (gọi là phí bảo hiểm), cam kết thanh toán cho bên kia (gọi là người được bảo hiểm) một khoản tiền , hoặc hiện vật tương đương với khoản tiền đó, khi xảy ra một sự cố đã quy định đi ngược lại quyền lợi của người được bảo hiểm.

Nhiều tổ chức TCVM đã thử nghiệm việc bảo hiểm dư nợ cho vay của các khách hàng của mình.Trong hầu hết các trường hợp, khách hàng đóng góp một món nhỏ vào quỹ tập thể được sử dụng để trả cho món vay của một khách hàng nếu họ mất khả năng hoặc các tài sản sản xuất của họ bị phá hủy hoặc bị đánh cắp. Một số tổ chức TCVM đã thử nghiệm các kế hoạch bảo hiểm để đề phòng thất thoát do hỏa hoạn hoặc mất trộm và để trả cho toàn bộ các sự kiện trong một chu kỳ sống, như khi sinh nở hay một thành viên trong gia đình chết. Một ví dụ điển hình là ngân hàng Grameen Bank đã cung cấp dịch vụ bảo hiểm vay vốn và hoàn trả. Mỗi thành viên được yêu cầu đóng góp khoảng 1% giá trị món vay vào quỹ bảo hiểm. Trong trường hợp khách hàng chết thì quỹ này được sử dụng để hoàn trả món vay và cung cấp cho gia đình người chết một số tiền để chi phí tang lễ. Các sản phẩm bảo hiểm vi mô đã được giới thiệu và cung cấp cho các khách hàng có thu nhập thấp một số quốc gia như Indonesia, Bangladesh, Mông cổ.

Bảo hiểm vi mô là một sản phẩm mà tổ chức TCVM có cơ hội cung cấp rộng rãi hơn trong tương lai, vì khách hàng có nhu cầu ngày càng tăng về bảo hiểm y tế và tiền vay trong trường hợp chết hoặc mất mát tài sản.

Ngoài ra, các tổ chức TCVM có thể thực hiện các hoạt động tài chính đa dạng khác như: mua bán ngoại tệ, bảo quản hộ tài sản, quản lý hộ ngân quỹ, bảo lãnh, cho thuê trang thiết bị, ủy thác, tư vấn, đại lý… Việc quyết định thực hiện các hoạt động nào phụ thuộc vào mục tiêu của tổ chức TCVM, nhu cầu của thị trường mục tiêu, sự tồn tại của các nhà cung cấp dịch vụ khác nhau, sự tính toán chi phí chính xác và tính khả thi của việc chuyển giao các dịch vụ hỗ trợ. Song do đặc điểm khu vực nông thôn như ở phần trên, nhiều hoạt động tài chính hiện đại khác này thường không/chưa phù hợp với các khách hàng của các tổ chức TCVM.

1.1.4.5. Hoạt động của Tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các hoạt động của Tổ chức tài chính quy mô nhỏ được Quy định tại Chương 4, Nghị định 28/2005/NĐ-CP, cụ thể:

  1. Huy động vốn

Cũng giống như các Ngân hàng thương mại (NHTM), huy động các nguồn vốn khác nhau trong xã hội để hoạt động kinh doanh là nghiệp vụ khởi đầu tạo điều kiện cho hoạt động của Tổ chức tài chính quy mô nhỏ. Đây có thể coi là hoạt động cơ bản đầu tiên của mỗi tổ chức tài chính trung gian nói chung và với Tổ chức tài chính quy mô nhỏ nói riêng. Hoạt động này có thể ví như nguồn nguyên liệu chính đầu vào cho “quá trình sản xuất” ra các sản phẩm của tổ chức.

Tổ chức tài chính quy mô nhỏ được huy động vốn từ các nguồn sau:

  1. Nhận tiết kiệm bao gồm:

Tiết kiệm bắt buộc: là khoản tiền mà khách hàng tài chính quy mô nhỏ phải gửi tại TCTCQMN để được quyền vay vốn của tổ chức này. Tiết kiệm bắt buộc là một khoản tiền nhỏ gửi định kỳ hoặc là một số tiền tương ứng với một tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị của khoản vay được giữ lại theo quy định của TCTCQMN. Tổ chức tài chính quy mô nhỏ được sử dụng tiết kiệm bắt buộc để bảo đảm khoản vay của khách hàng tại tổ chức tài chính quy mô nhỏ.

Tiền gửi tự nguyện: là tiền gửi theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng của khách hàng tài chính quy mô nhỏ và của các tổ chức, cá nhân khác. Như tên gọi của nó cho thấy, tiết kiệm tự nguyện không phải là một phần trách nhiệm khi tiếp cận tới các dịch vụ tín dụng. Dịch vụ này được mở cửa đối với người vay và người không vay vốn, họ có thể gửi tiền và rút tiền tùy thuộc vào nhu cầu của họ. Lãi suất được trả biến đổi từ tương đối thấp tới cao hơn một chút so với lãi suất mà các tổ chức tài chính chính thức trả. Quá trình cung ứng dịch vụ tiết kiệm mang lại một vài lợi ích chẳng hạn sự ổn định trong tiêu dung của khách hàng và nguồn vốn ổn định của TCTCQMN.

  1. Vay vốn

Vay vốn của tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam; Vay vốn của các cá nhân và tổ chức nước ngoài khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép. Những nguồn vốn này thường có lãi suất cao, Tổ chức tài chính quy mô nhỏ chỉ sử dụng để đảm bảo khả năng thanh toán, bù đắp nguồn vốn thiếu hụt trong thanh toán tạm thời và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không khuyến khích tổ chức sử dụng kênh huy động này.

Tổ chức tài chính quy mô nhỏ được tiếp nhận vốn ủy thác theo các chương trình, dự án của Chính phủ, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Đây là một nguồn vốn vô cùng quan trọng đối với các Tổ chức tài chính quy mô nhỏ, nó tương đối ổn định, giúp cho tổ chức có thể sử dụng một phần vào việc cho vay trung dài hạn.

  1. Hoạt động sử dụng vốn

TCTCQMN tuy đã được công nhận là một bộ phận của hệ thống tài chính thức với các hoạt động tín dụng, tiết kiệm được công nhận là một bộ phận của hệ thống tài chính chính thức trên toàn quốc.Tuy nhiên, hoạt động tín dụng mà tổ chức này cung cấp là tín dụng quy mô nhỏ. Nhìn chung, hoạt động tín dụng của Tổ chức tài chính quy mô nhỏ thường tập trung về hai nhóm chính là: cho vay; cho vay bằng nguồn vốn ủy thác. Trong các hoạt động sử dụng vốn nêu trên, xét về bản chất Tổ chức tài chính quy mô nhỏ là tổ chức cung cấp vốn tín dụng cho hoạt động của nền kinh tế, nhưng chỉ ở mức hạn chế với những đối tượng nghèo khó tiếp cận với nguồn tín dụng của các NHTM. Mặc dù, về mục tiêu chính của Tổ chức tài chính quy mô nhỏ không phải là thu được lợi nhuận cao từ hoạt động sử dụng vốn nhưng hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản nhất, mang lại nguồn thu chủ yếu và thể hiện được đặc trưng của hệ thống tài chính.

Điểm khác biệt của TCTCQMN đối với các tổ chức khác trong hệ thống tài chính chính thức là:Tài chính quy mô nhỏ cho phép các thành viên tham gia, tiếp cận với các dịch vụ tài chính và phi tài chính cho người có thu nhập thấp, những người muốn tham gia vào tổ chức này để có thể tiếp cận với nguồn vốn giúp họ có tiền để bắt đầu hoặc đang phát triển một hoạt động tạo thu nhập. Các khoản cho vay cá nhân của khách hàng nghèo là những món vay nhỏ. Theo nhận định của các tổ chức quốc tế, ở các nước phát triển, tổ chức tài chính chính thức chỉ cung cấp dịch vụ tài chính cho khoảng 25% dân số, 75% dân số còn lại thường bị “bỏ qua”. Bởi, phần lớn trong số họ là hộ nghèo thu nhập thấp, không có tài sản thế chấp hoặc sinh sống cách xa địa bàn hoạt động của các tổ chức này. Tuy nhiên, những người này cũng có nhu cầu gửi tiền tiết kiệm cũng như mong muốn được vay vốn để phát triển sản xuất hay tiêu dùng và các nhu cầu khác. Vì vậy, tổ chức tín dụng quy mô nhỏ đã hình thành. 

Các đặc tính của sản phẩm ở TCTCQMN bao gồm:

• Quy mô các món vay và tiết kiệm nhỏ.

• Cho vay ngắn hạn (thường là đến kỳ hạn từ một năm).

• Các kỳ hạn thanh toán được diễn ra trong thời gian ngắn.

• Thủ tục đăng ký rất đơn giản.

• Không có tài sản thế chấp cho các món vay, điều này trái với thông lệ ngân hàng chính thức. Thay vì nhận tài sản thế chấp, TCTCQMN sử dụng phương pháp thay thế như: các đánh giá về tiềm năng trả nợ của khách hàng thông qua phân tích dòng tiền, dựa trên cơ sở các dòng tiền được tạo ra khi khách hàng sử dụng các khoản vay vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh.

  1. Các hoạt động khác

Tổ chức tài chính quy mô nhỏ cũng có vai trò là tổ chức trung gian tài chính , vì thế bên cạnh việc thực hiện các hoạt động huy động vốn và cho vay đối với nền kinh tế, Tổ chức tài chính quy mô nhỏ còn thực hiện việc cung cấp một số dịch vụ thanh toán cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, được phép cung ứng một số dịch vụ thanh toán hạn chế theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; được quyền làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, bảo hiểm.

Một số hoạt động khác của tổ chức tài chính quy mô nhỏ là: bảo hiểm, bảo hiểm vi mô; dịch vụ gửi tiền, chuyển tiền; giáo dục; đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật…

1.2. Nội dung của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ tài chính vi mô

1.2.1. Quan điểm về hiệu quả hoạt động của tín dụng Tài chính vi mô

Tổ chức tín dụng được cho là có hiệu quả khi có thỏa mãn sự giữa nhu cầu về sử dụng vốn của chủ thể tổ chức tín dụng và người vay vốn, sự thỏa mãn ấy thể hiện ở lợi ích kinh tế, chính trị xã hội đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát triển của tổ chức tín dụng.

Xét về mặt kinh tế:

– Tín dụng hộ nghèo giúp người nghèo thoát khỏi đói nghèo sau một quá trình XĐGN cuộc sống đã khá lên và mức thu nhập đã ở trên chuẩn nghèo, có khả năng vươn lên hoà nhập với cộng đồng. Góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo, phục vụ cho sự phát triển và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trính tích tụ và tập chung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế.

– Giúp cho người nghèo xác định rõ trách nhiệm của mình trong quan hệ vay mượn, khuyến khích người nghèo sử dụng vốn vào mục đích kinh doanh tạo thu nhập để trả nợ vay, tránh sự hiểu nhầm tín dụng là cấp phát.

Xét về mặt xã hôi:

– Tín dụng cho hộ nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới, làm thay đổi cuộc sống ở nông thôn, an ninh, trật tự an toàn xã hội phát triển tốt, hạn chế được những mặt tiêu cực. Tạo ra bộ mặt mới trong đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn.

– Tăng cường sự gắn bó giữa các hội viên với các tổ chức hội, đoàn thể của mình thông qua việc hướng dẫn giúp đỡ kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tế gia đình…Nêu cao tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường tình làng nghĩa xóm, tạo niềm tin của người dân đối với Đảng và Nhà nước.

– Góp phần trực tiếp vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn thông qua áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra các ngành nghề, dịch vụ mới trong nông nghiệp đã góp phần thực hiện phân công lại lao động trong nông nghiệp và lao động xã hội.

Sự tồn tại và phát triển của tổ chức tín dụng vi mô:

TCVM được đánh giá là có hiệu quả khi thỏa mãn yếu tố tác động tích cực về mặt xã hội và kinh tế, tuy nhiên cần xem xét đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức đó. Nếu TCVM chỉ dừng lại ở một quy mô, phạm vi nhất định và không có chiến lược phát triển, thì sẽ không tạo điều kiện phát triển kinh tế bền vững cho người dân, người nghèo sẽ bị tái nghèo khi không đủ các nguồn lực cung cấp khi họ có nhu cầu. Do vậy, yếu tố bền vững của tổ chức tín dụng vi mô cần được chú trọng đối với những người làm công tác tài chính vi mô. Đó là khả năng cung ứng tín dụng phù hợp với yêu cầu phát triển của các mục tiêu kinh tế xã hội và nhu cầu của khách hàng đảm bảo nguyên tắc hoàn trả nợ vay đúng hạn, mang lại lợi nhuận nhằm đảm bảo yếu tố duy trì và phát triển cho hoạt động quản lý tín dụng.

1.2.2. Nội dung nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ tài chính vi mô

1.2.2.1. Bảo tồn và phát triển các nguồn quỹ trong hoạt động

Để nâng cao hiệu quả tín dụng, TCTCQMN cần đáp ứng đủ nhu cầu vốn hợp lý cho khách hàng để họ có thể duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh một cách liên tục. Với đặc thù là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, TCTCQMN chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và nhận tiết kiệm để cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân thu nhập thấp”. Như vậy, để có đủ nguồn vốn đáp ứng nhu cầu của khách hàng thì các TCTCQMN phải không ngừng nâng cao hiệu quả và mở rộng hoạt động huy động vốn của mình.

Tổng nguồn vốn và cơ cấu huy động vốn của TCTCQMN cũng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động tín dụng của tổ chức đó. Một TCTCQMN chủ động được nguồn vốn để cho vay, đảm bảo được một tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn, trung hạn để đầu tư cho vay, đảm bảo mức cơ cấu lãi suất đầu vào hợp lý là cơ sở quan trọng để tính toán và nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng. Một TCTCQMN không chủ động được nguồn vốn sẽ phải đi vay từ các tổ chức tài chính, ngân hàng khác, các nguồn khác có lãi suất cao hơn để cho vay điều này sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động tín dụng.

1.2.2.2. Hiệu quả trong tổ chức cho vay

Có nhiều quan điểm khác nhau về sự bền vững của tổ chức tín dụng. Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng nhu cầu của thế hệ mai sau. Sự bền vững của tổ chức là sự phát triển và cân bằng của 4 nhóm yếu tố: khách hàng, các quy trình nội bộ, đào tạo nhân viên và tài chính của tổ chức (Niven, 2009).

Theo Duflos (2013), bền vững của tổ chức tín dụng cung cấpTCVM có nghĩa là “Năng lực của tổ chức tín dụng bù đắp được mọi chi phí và có lãi trong khi cung cấp được các dịch vụ tài chính cho khách hàng nghèo, thu nhập thấp”.

Từ các quan điểm trên, TCTD được coi như phát triển bền vững nếu duy trì được sự cân bằng giữa an toàn – sinh lời trong thời gian dài, phục vụ lợi ích của khách hàng và gia tăng lợi ích cho cộng đồng, xã hội, môi trường. Sự bền vững của một tổ chức là khả năng tổ chức đó cung ứng cho khách hàng các dịch vụ tài chính có lợi nhuận và phát triển lâu dài, được đo bằng các tỷ lệ tự bền vững và các hệ số sinh lời. Vậy, hiệu quả hoạt động tài chính vi mô là kết quả của mối quan hệ biện chứng giữa tổ chức tín dụng – khách hàng vay vốn (người nghèo) – nền kinh tế xã hội, cho nên khi đánh giá hiệu quả hoạt động TCVM cần phải xem xét cả ba phía: hiệu quả đối với tổ chức tín dụng, khách hàng và nền kinh tế xã hội.

a. Hiệu quả đối với tổ chức tín dụng:

Tổ chức tài chính vi mô thường xem xét đến ba mức độ bền vững là: tự bền vững về hoạt động OSS (operational self-sustainablity), tự bền vững về tài chính FSS (financial self-sustainablity) và tự bền vững về thể chế ISS (Institutional self-sustainablity). Tuy vậy, mức độ tự bền vững về thể chế không được định lượng hóa nên OSS và FSS được tập trung nghiên cứu trong tổ chức tài chính vi mô.

Đối với tổ chức tín dụng khác, có hai chỉ tiêu thể hiện tính bền vững tài chính màchúng ta có thể quan sát trong việc đánh giá hiệu quả của tổ chức tín dụng là lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) phản ánh khả năng của tổ chức để triển khai tài sản sinh lời và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) phản ảnh khả năng sinh lời trên vốn đầu tư của chủ sở hữu.

(i) Tự bền vững về hoạt động (OSS)

Tỷ số tự bền vững về hoạt động OSS thể hiện mối quan hệ giữa thu nhập hoạt động và tổng chi phí hoạt động (bao gồm cả khấu hao và dự phòng rủi ro). Các nhà tài trợ và nhà quản lý TCTCVM sử dụng chuẩn tiêu biểu này để đánh giá xem TCTCVM đã tựtrang trải được các chi phí hoạt động của nó bằng thu nhập từ hoạt động hay chưa.

Thu nhập hoạt động

OSS= ———————————–

Tổng chi phí hoạt động

Tổng chi phí hoạt động = Chi phí hoạt động + Chi phí tài chính + Dự phòng rủi ro. Tổ chức tài chính vi mô được coi là đảm bảo bền vững về hoạt động nếu OSS lớn hơn (>)100%, tuy nhiên thông lệ quốc tế cho thấy, để đạt độ bền vững hoạt động lâu dài thì OSS nên lớn hơn 120%.

(ii) Tự bền vững về tài chính (FSS)

Ban đầu, sự bền vững của một tổ chức tài chính vi mô được coi là khả năng của tổ chức để trang trải chi phí hoạt động bằng cách thu nhập của tổ chức đó, bất kể nguồn gốc của nó. Điều này có nghĩa là một tổ chức được coi là bền vững về mặt tài chính nếu nó có thể thu hút đủ sự đóng góp để trang trải chi phí của nó. Sau đó, các ý tưởng tự bền vững được thêm vào các khái niệm về khả năng tồn tại: một tổ chức tài chính vi mô có thể tự tạo ra đủ thu nhập từ các dịch vụ mà tổ chức cung cấp cho khách hàng để trang trải các chi phí của tổ chức. Nói cách khác, các tổ chức tín dụng mà chủ yếu là các tổ chức tài chính vi mô nên được duy trì hoạt động bởi các khách hàng của nó, chứ không phải bởi các nhà tài trợ. Đây là cấp độ của tính bền vững, gọi là hoạt động tự bền vững (Christen và Drake, 2001).Các cấp độ tiếp theo tự bền vững được thể hiện khi tổ chức này có thể trang trải được các chi phí của lạm phát và chi phí không dùng tiền mặt khác, cũng như các hoạt động hoàn toàn không có yếu tố đầu vào được trợ cấp (vay vốn ưu đãi hoặc viện trợ). Nếu tổ chức không tự bền vững tài chính, nó không thể tồn tại mà không cần trợ cấp vì không thể để trang trải chi phí sử dụng vốn theo giá thị trường.

Tỷ số tự bền vững về tài chính (FSS) cũng đo lường xem mức độ thu nhập trang trải các chi phí hoạt động của một tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM có điều chỉnh theo lạm phát và loại bỏ tác động của trợ cấp. Các điều chỉnh này nhằm làm rõ tình hình tài chính của tổ chức đó sẽ như thế nào nếu không có các khoản trợ cấp, khi vốn được huy động trên thị trường thương mại thay vì từnguồn viện trợ hoặc tài trợ ưu đãi và khi tính tới chi phí từ lạm phát. FSS được tính bằng công thức sau:

FSS = Thu nhập hoạt động/ tổng chi phí hoạt động được điều chỉnh

Trong đó:

Tổng chi phí hoạt động được điều chỉnh = Chi phí hoạt động + Chi phí tài chính + Dự phòng mất vốn + Chi phí vốn

Với: Chi phí vốn = [(Tỷ lệ lạm phát * (Vốn tự có trung bình – Tổng tài sản cố định trung bình)] + [(Nợ trung bình * Lãi suất thương mại của các nguồn vốn nợ) – Chi phí tài chính thực tế]

Tổ chức được coi là tự bền vững về tài chính nếu FSS lớn hơn (>)100%

(iii) Tỷ suất sinh lời: lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

Thu nhập ròng trên tổng tài sản bình quân ROA – Return on Average Assets

(Còn được gọi là ROA)

ROA = Lợi nhuận sau thuế/ tổng tài sản bình quân

Trong đó:

Tổng tài sản bình quân = (Tài sản đầu kỳ + Tài sản cuối kỳ)/2.

Khả năng sinh lời phản ánh kết quả hoạt động, đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ phát triển của một TCTD đặc biệt là phù hợp với NHTM. Đứng trên góc độ từ TCTD, thì một TCTD có khả năng sinh lời cao sẽ có khả năng tích luỹ cao, sẽ có điều kiện trang bị, đầu tư công nghệ, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ thu hút khách hàng; mặt khác đứng trên góc độ nhà đầu tư, người gửi tiền sẽ quyết định giao dịch khi nhìn thấy TCTD đó có thể an toàn do có thể bù đắp rủi ro, từ đó tạo điều kiện tăng trưởng tổng tài sản. Theo thông lệ quốc tế người ta thường đo lường khả năng sinh lời của NHTM bằng các chỉ tiêu định lượng: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận (cho biết lợi nhuận được hình thành từ nguồn nào) và đặc biệt là các chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận ròng trên vốn tự có (ROE), lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA).

Tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản (ROA) thể hiện khả năng của đơn vị trong việc sử dụng các tài sản của mình để tạo ra lợi nhuận. ROA càng cao thể hiện khả năng quản lý của Ban quản trị ngân hàng trong việc chuyển tài sản của ngân hàng thành lợi nhuận ròng. Thể hiện hiệu quả kinh doanh cao của ngân hàng với cơ cấu tài sản sinh lời và không sinh lời khá hợp lý.Tuy nhiên, ROA quá cao không phải là tín hiệu tốt đối với các ngân hàng vì trong tình huống đó, ngân hàng đang rơi vào tình trạng rủi ro cao do lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro có mối quan hệ thuận chiều.

Theo khung an toàn trong mô hình CAMELS: ROA≥1%

Tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)

ROE= Lợi nhuận sau thuế/ Vốn chủ sở hữu

ROE thể hiện 1 đồng vốn chủ sở hữu của ngân hàng sẽ mang về bao nhiêu đồnglợi nhuận trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm). Nói cách khác, ROE đánhgiá lợi ích mà cổ đông (chủ sở hữu ngân hàng) có được từ nguồn vốn bỏ ra. Tỷ lệ nàycàng cao thể hiện việc sử dụng vốn của ngân hàng trong đầu tư, cho vay càng hiệu quả.

Các nhà quản trị ngân hàng luôn muốn tăng ROE để thoả mãn yêu cầu của cổ đôngthông qua nhiều biện pháp như kiểm soát rủi ro có hiệu quả, giảm thiểu nợ xấu.

Theo khung an toàn trong mô hình CAMELS: ROE ≥15%

Các chỉ tiêu ROA, ROE thường được các nhà quản trị, các nhà đầu tư quan tâm,sử dụng khi đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, chúng thể hiện khả năng, thời hạn thu hồi vốn đầu tư của chủ sở hữu. Hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của ngân hàng càng cao là cơ sở để ngân hàng tăng quy mô vốn cũng như năng lực tài chính của mình. ROE và ROA thường được sử dụng chung để đánh giá khả năng sinh lời chungcủa tổ chức tài chính. Trong đề tài này tổ chức được nghiên cứu là “Quỹ Phát triển kinh tế xã hội SEDF tỉnh Quảng Nam của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh” là tổ chức tài chính vi mô với nguồn vốn tài trợ của tổ chức Phi chính phủ. Vậy các chỉ số ROA, ROE được sử dụng để đánh giá sự bền vững tài chính của tổ chức.

(iv) Tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ và tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ

Tỷ lệ nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng được tính toán như sau:

Tỷ lệ nợ quá hạn =Dư nợ quá hạn
Tổng dư nợ

Trong đó: Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn;

Tỷ lệ nợ quá hạn: là tỷ lệ giữa các khoản nợ gốc quá hạn (hoặc tính cả tiền lãi quá hạn) trên tổng dư nợ.

Tỷ lệ nợ quá hạn cũng cho thấy bao nhiêu khoản vay đến hạn và bao nhiêu khoản vay vẫn chưa được hoàn trả. Tuy nhiên tỷ lệ nợ quá hạn ngầm chỉ ra rủi ro đối với khoản vay và hậu quả có thể xảy ra của các khoản nợ quá hạn, vì nó chỉ xem xét đến việc hoàn trả khi đã quá hạn, chứ không xem xét đến tổng dư nợ có nguy cơ bị quá hạn. Khi tỷ lệ các khoản nợ quá hạn tăng lên, TCTCQMN có nhiều nguy cơ không thu hồi được các khoản vốn đã cho vay. Khả năng xảy ra nợ xấu, nợ khó đòi là hoàn toàn xảy ra trong hoạt động tín dụng do đây là hoạt động kinh doanh có nhiều rủi ro. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ quá hạn tăng lên sẽ làm tăng các khoản dự phòng phải trích do tỷ lệ trích lập dự phòng đối với các khoản nợ có vấn đề thường cao.

Trong đề tài này, tỷ lệ nợ xấu được sử dụng để đánh giá đo lường sự bền vững của TCTD. Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt và theo tiêu chuẩn ở Việt Nam tỷ lệ nợ xấu ở mức 3% là chấp nhận được (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2014); Theo khung an toàn trong mô hình CAMELS: Nợ xấu < 2% tổng dư nợ. Theo chuẩn Quốc tế: Tỷ lệ nợ xấu/ tổng dư nợ < 1,5% (World Bank 2012).

b. Hiệu quả đối với khách hàng:

Về phía khách hàng, hiệu quả sử dụng thể hiện ở những tác động đến sự thay đổi qua quá trình sử dụng vốn vay để tổ chức thực hiện các phương án, dự án sản xuất, kinh doanh đã thoả thuận với tổ chức tín dụng khi tiếp cận vốn vay nhằm mục đích cải thiện thu nhập hộ gia đình.

Ngoài ra, như chúng ta biết các dịch vụ phi tài chính của các tổ chức tài chính vi mô bán chính thức chiếm một phần quan trọng trong các tổ chức TCVM với đối tượng khách hàng chính có xu hướng là phụ nữ. Vì những người nghèo nhất thường là phụ nữ, không được học hành, không có tài sản riêng, thiệt thòi mọi mặt trong xã hội, họ đồng thời cũng là người phải quán xuyến cả gia đình. Những dịch vụ phi tài chính này thường bao gồm các khóa đào tạo hướng dẫn về các kỹ năng kinh doanh cơ bản, các kỹ năng và kiến thức tự chủ tài chính, có vai trò ra quyết định và thông tin về chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản, dinh dưỡng cho trẻ em… đây chính là điểm khác biệt chủ yếu giữa các tổ chức TCQMN với các tổ chức tài chính khác. Vậy các dịch vụ hỗ trợ tăng thêm của tổ chức TCVM cũng được xem xét như là một trong những ưu thế để đánh giá tính hiệu quả của nó.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\NGUYEN THI THUY HA

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *