Nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

MỞ ĐẦU

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã và đang có những bước tiến vượt bậc trong công cuộc hội nhập sâu rộng với thế giới. Một trong những lĩnh vực then chốt trong việc đưa Việt Nam trở thành một điểm đến tin cậy, hấp dẫn cho các nhà đầu tư chính là tài chính Ngân hàng. Bên cạnh những thành tích nổi bật đã đạt được, các ngân hàng thương mại ở nước ta vẫn còn đang đối mặt với nhiều khó khăn thách thức đặc biệt là trong hoạt động tín dụng do sự chuyển đổi còn chậm, trình độ còn non kém chưa theo kịp những diễn biến ngày một phức tạp của tình hình quốc tế. Điều này đã làm nảy sinh ra một vấn đề hết sức nan giải đó là tình trạng nợ xấu.

Nợ xấu là một vấn đề không mới của các ngân hàng thương mại. Nó đã phát sinh từ lâu nhưng bắt đầu được quan tâm đặc biệt từ cuối năm 2011 sau cuộc khủng hoảng toàn cầu, gây nên sự sụp đổ hàng loạt các định chế tài chính lớn trên thế giới, rung động không chỉ nền kinh tế số một thế giới là Hoa Kỳ mà toàn bộ các khu vực khác cũng phải chịu hậu quả nặng nề từ nó. Từ đó đến nay, nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn tiếp tục diễn ra và ngày càng có những diễn biến khó lường. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh, tính cạnh tranh với nước ngoài của các ngân hàng khi làm giảm cũng như nền kinh tế của cả nước bởi hệ thống ngân hàng chính là cầu nối để chuyển vốn trong nền kinh tế đồng thời là công cụ vĩ mô để Chính phủ và Nhà nước có thể quản lý nền kinh tế.

Thời gian qua, các TCTD và VAMC đã tích cực rà soát, đánh giá toàn bộ danh mục tài sản trong toàn hệ thống TCTD và nợ đã mua bằng trái phiếu đặc biệt nhằm đánh giá nhận diện thực trạng nợ, nợ xấu, tài sản đảm bảo cho các khoản nợ xấu được xác định theo NQ 42, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý để xây dựng các giải pháp xử lý phù hợp và triển khai, áp dụng các biện pháp nhằm xử lý nợ xấu. Theo đó, việc xử lý nợ xấu theo NQ 42 về cơ bản đã có kết quả và những thành công đáng kể, nhưng vẫn còn tồn tại một số khó khăn.

Trong bối cảnh chung của hệ thống ngân hàng của Việt Nam, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk không thể tránh khỏi những khó khăn trong công tác xử lý cũng như hạn chế tình trạng nợ xấu ngày một gia tăng.

Với mong muốn hiểu rõ hơn về nợ xấu và phân tích cụ thể thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu, góp phần lành mạnh hoá tình hình tài chính, tăng năng lực cạnh trạnh cho ngân hàng trong quá trình hội nhập, tác giả chọn chủ đề “Nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk”

  1. Mục tiêu nghiên cứu
    1. Mục tiêu chung

– Phân tích, đánh giá thực trạng công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk, từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

    1. Mục tiêu riêng

– Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến xử lý nợ xấu trong hệ thống NHTM. – Phân tích và đánh giá một cách cụ thể, khách quan nhất thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk giai đoạn từ năm 2021-2023.

– Đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk trong thời gian tới.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Công tác xử lý nợ xấu tại Agribank Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

Phạm vi nghiên cứu: Do khuôn khổ luận văn có hạn nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tình hình xử lý nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk trong giai đoạn từ năm 2021 – 2023.

  1. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu và nội dung nghiên cứu đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:

– Phương pháp tổng hợp: nhằm kế thừa những lý luận cơ bản về nợ xấu tại các Ngân hàng, từ đó hình thành cơ sở lý thuyết cho đề tài luận văn.

– Phương pháp thống kê: thu thập số liệu về tổng quan tình hình hoạt động, thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

– Phương pháp so sánh, phân tích dữ liệu và suy luận trên cơ sở số liệu thực tế đã thu thập và tổng hợp được và các chỉ tiêu căn cứ để đánh giá chất lượng các khoản vay.

Để có những kết luận chính xác hơn cần phải dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể bao gồm các chỉ tiêu lên quan đến hoạt động cho vay nợ của ngân hàng như: chỉ tiêu về dư nợ, các chỉ tiêu đánh giá tình trạng nợ quá hạn, chỉ tiêu đánh giá nợ xấu… Thực tế, xử lý nợ xấu là một vấn đề rất nhạy cảm liên quan đến rất nhiều các chủ thể: ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế. Do đó để công tác xử lý nợ xấu mang lại hiệu quả thì cần phải có sự kết hợp linh hoạt các phương pháp trên.

  1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

– Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về công tác xử lý nợ xấu của NHTM.

– Trên cơ sở đánh giá thực trạng xử lý nợ xấu tại ngân hàng, tác giả đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác xử lý nợ xấu tại ngân hàng, qua đó giúp Chi nhánh hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

  1. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nợ xấu và công tác xử lý nợ xấu trong ngân hàng thương mại.

Chương 2: Thực trạng công tác xử lý nợ xấu Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

  1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu:

Để đảm bảo quá trình nghiên cứu đề tài đúng hướng, tôi đã tham khảo các tài liệu nghiên cứu trước đây về xử lý nợ xấu như:

  • Nghiên cứu nước ngoài
  • Tình hình nghiên cứu trong nước
Nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NỢ XẤU VÀ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

KHÁI QUÁT VỀ NỢ XẤU VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Khái niệm nợ xấu

Nợ xấu được hiểu là những khoản nợ bị vỡ nợ hoặc trong tình trạng gần kề vỡ nợ. Nhiều khoản nợ trở thành nợ xấu sau khi vỡ nợ 90 ngày. Theo Peter Rose, nợ xấu là những khoản nợ không còn thu nhập lãi tích lũy, hoặc phải tái cơ cấu để phù hợp với hoàn cảnh thay đổi của người đi vay. Nợ được xếp vào loại này khi bất cứ khoản trả nợ theo lịch trình bị quá hạn hơn 90 ngày. Khi đó, bất cứ khoản tiền lãi tích lũy theo sổ sách phải được giảm trừ khỏi thu nhập từ cho vay. Các ngân hàng bị cấm ghi nhận bất cứ khoản thu nhập từ lãi bổ sung từ nợ này cho đến khi có dòng thu tiền mặt.

Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ” (IMF’s Compilation Guide on Financial Soundnees Indicators 2004). Với quan điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ đáng nghi ngờ.

Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên trong các hướng dẫn về thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày (BCBS’s Sound Practices for Loan Accounting and Disclosure 1999, 107). Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Như vậy, quan điểm về nợ xấu của Ủy ban Basel cũng dựa vào hai giác độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng.

Từ những định nghĩa trên có thể thấy được sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới. Theo đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu nó xuất hiện 1 trong 2 dấu hiệu sau: Quá hạn trả nợ gốc và lãi; khi khách hàng vay vốn bị tổ chức tín dụng (TCTD) coi là không có khả năng trả nợ. Bản chất của một khoản nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ.

Theo điều 6 hoặc điều 7 của Quyết định 493 ngày 22/04/2005 và sửa đổi trong Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 và gần đây nhất theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì nợ xấu được định nghĩa như sau [3]:

“Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)”.

Các khoản nợ được thực hiện phân loại đồng thời theo Điều 10 và Điều 11 thông tư này. Trong đó:

  • Phân loại nợ theo Điều 10 là phân loại theo phương pháp định lượng, tức là chủ yếu dựa trên thời gian quá hạn của các khoản nợ (Nhóm 3: thời gian quá hạn từ 91-180 ngày; Nhóm 4: Thời gian quá hạn từ 181-360 ngày; Nhóm 5: Thời gian quá hạn lớn hơn 360 ngày).
  • Phân loại nợ theo Điều 11 là phân loại theo phương pháp định tính, tức là chủ yếu dựa trên khả năng trả nợ của khách hàng (Nhóm 3: Các khoản nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được đánh giá là có khả năng tổn thất; Nhóm 4: Các khoản nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất cao; Nhóm 5: Các khoản nợ được đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.

Như vậy, nợ xấu theo quan điểm của Ngân hàng nhà nước Việt Nam cũng được xác định dựa trên hai yếu tố: (i): quá hạn trên 90 ngày; (ii): khả năng trả nợ của khách hàng được xếp vào loại nghi ngờ về khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ (hay khả năng tổn thất của các khoản nợ).

Qua những định nghĩa về nợ xấu của các tổ chức trên ta có thể hiểu khái quát nợ xấu là các khoản nợ mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạn hoặc không trả nợ như đã cam kết dẫn đến gây thiệt hại cho ngân hàng.

Khi xem xét định nghĩa nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam và thông lệ quốc tế thì có thể thấy mặt định lượng thời gian quá hạn 91 ngày là khá tương đồng. Về mặt định tính, Việt Nam cũng có những dấu hiệu giống khái niệm của quốc tế là khả năng trả nợ của khách hàng. Việc cho phép phân loại nợ theo phương pháp định tính hay định lượng cho thấy Việt Nam có sự thống nhất với nhiều quốc gia trên thế giới (Mỹ, Nhật, Singapore).

1.1.2. Phân loại nợ xấu

Theo Quyết định số 22/VBHN – NHNN ngày 04/6/2014 của ngân hàng nhà nước ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng thì nợ xấu được xác định dựa trên cả yếu tố thời hạn nợ và khả năng thu hồi ở Việt Nam hiện nay phổ biến thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm như sau:

Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), bao gồm :

– Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn.

– Các khoản nợ quá thời hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là cókhả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.

– Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại Khoản 2, Điều 6.

Nhóm 2 (Nợ cần chú ý), bao gồm:

– Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày.

– Các khoản nợ điều chỉnh kì hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng có đánh giá khách hàng và khả năng về trả nợ đầy đủ gốc và lãi đúng kì hạn được điều chỉnh lần đầu).

– Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Khoản 3 Điều 6.

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), bao gồm :

– Các khoản nợ quá thời hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.

– Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kì hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b khoản này.

– Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.

– Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 Điều 6.

Nợ xấu thuộc nhóm này được xem là các khoản nợ có khả năng thu hồi nợ cao nhất. Ngân hàng sẽ trích lập 1 tỷ lệ DPRR cho nợ xấu nhóm này là 20% dư nợ của nhóm.

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), bao gồm :

– Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày.

– Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.

– Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2.

– Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 Điều 6.

Nợ xấu thuộc nhóm này được đánh giá là có khả năng thu hồi nợ thấp hơn sovới các khoản nợ của nhóm 3. Các khoản nợ này được xếp vào những khoản nợ mà ngân hàng có sự nghi ngờ về khả năng trả nợ. Tỉ lệ trích lập DPRR cho nợ xấu thuộc nhóm này là 50% tổng dư nợ của nhóm.

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm :

– Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.

– Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.

– Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần hai.

– Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.

– Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 điều này.

Khả năng thu hồi nợ của nhóm này được coi như bằng 0, do vậy tỉ lệ trích lập DPRR tương ứng là 100% tổng dư nợ của nhóm. Còn riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý thì được trích lập dự phòng cụ thể theo khả năng tài chính của tổ chức tín dụng.

Theo quy định, nợ xấu là nợ được phân vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Trên cơ sở kết quả phân loại nợ, TCTD chủ động thực hiện hạch toán, trích lập dự phòng rủi ro theo quy định [4].

Tuy nhiên, trên thực tế các TCTD xem xét nợ xấu chủ yếu dựa trên các đánh giá về khả năng thu hồi các món vay.

Nợ xấu trong cho vay của NHTM gây hậu quả lớn đối với cả khách hàng vay và ngân hàng, nền kinh tế. Đối với khách hàng vay, nợ xấu tạo áp lực trả nợ buộc kháchhàng phải giải quyết nợ trong tình trạng tài chính không tốt, khách hàng bị mất uy tín (cá nhân khách hàng hoặc doanh nghiệp). Đối với NHTM, nợ xấu làm giảm thu nhập của ngân hàng, thua lỗ và ngân hàng rơi vào tình trạng phá sản vì mất uy tín hiệu ứng rút tiền ồ ạt… Nợ xấu còn ảnh hưởng đến nền kinh tế giảm khả năng tiếp cận nguồn vốn, tăng chi phí sử dụng vốn hoạt động kinh doanh của khách hàng. Để hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tốt, các NHTM cần có các giải pháp ngăn ngừa và xử lý nợ xấu.

1.1.3. Nguyên nhân phát sinh nợ xấu

Phân tích nguyên nhân phát sinh nợ xấu là một trong những điểm quan trọng cần phải làm để từ đó đưa ra được chiến lược cũng như phương pháp quản lý và xử lý phù hợp, khả thi và có hiệu quả.

Hoạt động ngân hàng là hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian, do vậy hoạt động của Ngân hàng thương mại phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Môi trường pháp lý, môi trường kinh tế cũng như môi trường thiên nhiên, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng, đạo đức khách hàng và các yếu tố thuộc về chính bản thân ngân hàng…

1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan

Môi trường thiên nhiên

Thiên tai, bão lụt, hoản hoạn, mất mùa, dịch bệnh,… Đây là những nguyên nhân khách quan do sự biến đổi của môi trường thiên nhiên đã gây ra sự hoạt động thất bại của khách hàng vay, nhất là các khoản cho vay nông nghiệp, dẫn đến nợ xấu phát sinh. Nguyên nhân này nằm ngoài tầm kiểm soát và mong muốn của cả NH và các khách hàng vay. Đây là nguyên nhân gây ra rủi ro không thể tránh được, những mất mát do nguyên nhân này gây ra cần được sự hỗ trợ của nhà nước, và của cả xã hội.

Môi trường kinh tế

Nếu môi trường kinh tế chưa thực sự phát triển, cạnh tranh trên thị trường chưa thực sự bình đẳng, tốc độ cũng như trình độ phát triển chưa cao sẽ dẫn đến việc các cá nhân và tổ chức cũng như các doanh nghiệp không có tiềm lực tài chính đủ mạnh. Mặt khác, với sự thay đổi liên tục trong các chính sách kinh tế vĩ mô như sự thay đổi về cơ chế lãi suất, tỷ giá… chính sách xuất nhập khẩu, hàng tiêu dùng… thay đổi quy hoạch xây dựng hạ tầng, thay đổi cơ chế tài chính, cơ chế sử dụng đất đai… cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, khiến các đối tượng này rơi vào thế bị động, do đó nó gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng nợ của các đối tượng này tại NH.

Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng chưa đầy đủ là một trong các nguyên nhân góp phần gây ra nợ xấu. Sự bất cập và chồng chéo của các luật sẽ khiến cơ quan hữu quan lúng túng trong việc xử lý tranh chấp về tài sản bảo đảm, các quy định về kế toán kiểm toán chưa đủ sức mạnh thực hiện sẽ khiến số liệu không đủ cơ sở vững chắc để thẩm định cho vay.

Sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của khách hàng

Năng lực tài chính của doanh nghiệp không cao ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh. Mặt khác, năng lực điều hành, quản lý kinh doanh của chủ doanh nghiệp vay vốn yếu kém cũng dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng.

Đạo đức khách hàng

Một số doanh nghiệp cố ý thông báo số liệu tài chính của doanh nghiệp không chính xác, gây sai lệch trong việc thẩm định và cấp tín dụng đã dẫn đến khó khăn trong việc thu hồi nợ ngân hàng.

Hoặc bản thân doanh nghiệp/cá nhân thiếu ý thức trong vấn đề sử dụng vốn vay và trả nợ, không lo lắng, không quan tâm đến món nợ đối với ngân hàng mặc dù khả năng tài chính của doanh nghiệp có. Một số doanh nghiệp/cá nhân thì lại có tư tưởng lợi dụng kẽ hở của pháp luật để tính toán, chụp giựt, lừa đảo, móc ngoặc, sử dụng vốn sai mục đích để kiếm lời, vay không có ý định trả nợ.

1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan

Các nguyên nhân từ phía Ngân hàng:

Một là, chính sách tín dụng của ngân hàng không hiệu quả, không phù hợp với nền kinh tế, quy chế tín dụng không chặt chẽ để khách hàng chiếm đoạt vốn của ngân hàng. Khi nền kinh tế có sự thay đổi thì chính sách tín dụng cũng thay đổi để phù hợp nhưng một số ngân hàng do không nhạy bén nên chính sách không phù hợp. Ví dụ trước kia một số ngân hàng thương mại nhà nước có thể cho vay chủ yếu ở khối khách hàng doanh nghiệp nhà nước, hạn chế cho vay khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, khi nền kinh tế Việt Nam chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, thì khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển, khối các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh trì trệ, không phát huy hiệu quả của đồng vốn dẫn tới không có khả năng trả nợ cho ngân hàng.

Hai là, cán bộ tín dụng không chấp hành đúng quy trình tín dụng như không đánh giá đầy đủ chính xác khách hàng trước khi cho vay, cho vay khống, thẩm định hời hợt, cho vay vượt tỷ lệ an toàn. Đặc biệt khâu thẩm định hời hợt của cán bộ tín dụng dẫn tới nợ xấu rất cao. Trừ một số ít khách hàng có phát sinh nợ xấu bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan như: kinh doanh thua lỗ, công nợ khó đòi, khó khăn do thay đổi cơ chế, thay đổi chính sách tăng trưởng của Nhà nước thì hầu hết các khoản nợ xấu bắt nguồn từ khâu thẩm định quá hời hợt của cán bộ tín dụng. Do không xác định được quy mô kinh doanh thực sự của khách hàng, khả năng cạnh tranh của khách hàng đối với ngành nghề mà khách hàng đang kinh doanh, không xác định được nguồn thu của khách hàng từ đâu và về đâu để có thể đưa ra một mức cho vay và cách thức giám sát hợp lý. Cán bộ ngân hàng đôi khi còn hời hợt trong phần kiểm tra sử dụng vốn, dẫn đến không phát hiện kịp thời những khó khăn của khách hàng ngay từ khi vừa nhen nhóm. Không ít khách hàng, khi được kiểm tra về việc sử dụng vốn sau khi vay cho biết một phần vốn vay thực sự vào kinh doanh, phần khác dùng cho mục đích sửa nhà, mua sắm vật dụng, thậm chí là tiêu xài cá nhân… Đến khi phần vốn đầu tư kinh doanh thua lỗ, không còn nguồn khác `để trả nợ ngân hàng, thế là phát sinh nợ xấu. Mặt khác, tư cách khách hàng là yếu tố quan trọng gắn liền với thiện chí hoàn trả tiền vay của khách hàng thường bị lãng quên trong quá trình thẩm định ban đầu.

Ba là, cán bộ tín dụng không kiểm tra, giám sát chặt chẽ về việc sử dụng vốn vay và tình hình kinh doanh của khách hàng. Thông thường sau khi cho vay, cán bộ tín dụng phải kiểm tra xem khách hàng đã dùng tiền vay đúng mục đích hay chưa, kiểm tra tình hình kinh doanh của khách hàng, yêu cầu khách hàng nộp báo cáo tài chính định kỳ để nhận biết những rủi ro sớm xảy ra, từ đó kịp thời có những biện pháp xử lý. Tuy nhiên, không phải cán bộ tín dụng nào cũng tuân thủ đúng các yêu cầu kiểm soát khoản vay như trên, đến khi khách hàng không trả được nợ mới phát hiện ra việc sử dụng vốn vay không đúng mục đích hoặc tình hình kinh doanh đã xấu đi…

Bốn là, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ tín dụng yếu kém dẫn đến việc đánh giá tư cách khách hàng, phương án SXKD/ dự án không chính xác, nên xảy ra tình trạng phương án/ dự án không khả thi nhưng vẫn cấp tín dụng.

Năm là, cán bộ tín dụng thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp: thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn, nể nang trong quan hệ khách hàng, nhận quà biếu hay hối lộ của khách hàng.

Sáu là, do áp lực cạnh tranh nên ngân hàng đã nới lỏng các điều kiện tín dụng để thu hút khách hàng. Cạnh tranh thu hút khách hàng buộc các ngân hàng phải nới lỏng điều kiện tín dụng: tỷ lệ cho vay/ trị giá TSĐB, tín chấp, cầm cố hàng hóa không giám sát chặt món vay; tỷ lệ cho vay/nhu cầu vốn…cụ thể: Áp lực tăng trưởng nóng buộc một số ngân hàng nới lỏng điều kiện tín dụng để cạnh tranh thu hút khách hàng về và kết quả là sau đó tỷ lệ nợ xấu tăng đột biến.

Một ví dụ điển hình cho việc cho vay dưới chuẩn là cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn của Mỹ năm 2008, để thấy được hậu quả nặng nề của việc nới lỏng điều kiện phê duyệt tín dụng gây ảnh hưởng nặng nề không chỉ tới Ngân hàng và tới cả sự vận hành của nền kinh tế. Cho vay thế chấp dưới chuẩn là các khoản cho vay chất lượng thấp với mức rủi ro cao. Các khoản vay này không được xem xét kỹ lưỡng và thường được đảm bảo bởi rất ít hoặc không có giấy tờ chứng minh năng lực tài chính của người vay.

Tại Mỹ, các Ngân hàng đầu tư đã bơm tiền cho các công ty để cho vay mua bất động sản. Điều kiện vay dễ đến mức không cần tài sản thế chấp, không cần vốn tự có, thậm chí thất nghiệp…cũng được vay. Đổi lại lãi suất vay khá cao để bù đắp rủi ro. Nhiều người không có khả năng trả nợ đã vay tiền mua nhà, dùng tiền thuê nhà để trả lãi vay chờ BĐS tăng bán hưởng chênh lệch. Giữa năm 2007 thị trường BĐS Mỹ đóng băng, lãi suất vay tăng lên, bài toán tài chính bị phá vỡ, không bán được nhà, người vay không trả được nợ… Hệ quả này dẫn tới sự sụp đổ của nhiều ngân hàng lớn của Mỹ như đầu tiền là Ngân hàng Lehman Brothers, tiếp theo là các ngân hàng khác. Sự sụp đổ của một loạt ngân hàng dẫn tới khủng hoảng nên kinh tế mỹ năm 2008. Từ kinh nghiệm của Mỹ ta thấy, việc cho vay dưới chuẩn, cho vay khi khách hàng không chứng minh được khả năng trả nợ dẫn tới hậu quả to lớn, thậm chí là sụp đổ ngân hàng. Vì vậy, trong các chính sách tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng bao giờ cũng kèm theo việc nâng cao chất lượng tín dụng để tránh nợ xấu gia tăng. Tuy nhiên thực tế không phải tất cả các ngân hàng đều thực hiện đúng mục tiêu đề ra vừa tăng trưởng tín dụng vừa đảm bảo chất lượng khoản vay.

Nguyên nhân chủ quan từ phía khách hàng

Nguyên nhân gây ra nợ xấu trong ngân hàng phát sinh từ phía khách hàng bao gồm:

  • Sau khi vay được vốn, khách hàng tự ý thay đổi mục đích sử dụng vốn, sử dụng vào các hoạt động có rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không trả được nợ cho ngân hàng. Ngoài ra, trong một số trường hợp, khi đã có vốn trong tay khiến cho đạo đức khách hàng thay đổi không còn thiện chí trả nợ cho ngân hàng.
  • Năng lực quản lý kinh doanh yếu kém, khả năng tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh không bắt kịp thay đổi của thị trường.
  • Doanh nghiệp dùng nợ vay ngắn hạn để đầu tư vào tàn sản dài hạn trong khi không có chức năng chuyển hóa kỳ hạn.
  • Sức ì lớn trong sản xuất kinh doanh, thiếu vắng sự linh hoạt cần thiết, không cải tiến quy trình công nghệ, không đầu tư vào máy móc thiết bị hiện đại, không cải tiến mẫu mã… Các nguyên nhân này dẫn tới hàng hóa sản xuất ra thiếu sự cạnh tranh, tồn kho do không tiêu thụ được, không tạo ra dòng tiền để hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
  • Doanh nghiệp chủ ý lừa đảo, chiếm dụng vốn của ngân hàng, làm giả hồ sơ giấy tờ, con dấu, nhất là giấy từ TSBĐ và tư cách pháp nhân. Hiện nay ở Việt Nam, có nhiều vụ án kinh tế thì có tới 4-5 vụ là có liên quan tới ngân hàng. Có nhiều hình thức doanh nghiệp lừa đảo ngân hàng, ví dụ là thành lập nhiều công ty giả: không có địa chỉ, con dấu… Họ lập các hợp đồng mua bán hàng hóa giả rồi vay vốn ngân hàng.

1.1.4. Ảnh hưởng của nợ xấu và vai trò công tác xử lý nợ xấu

1.1.4.1 Ảnh hưởng của nợ xấu tới Ngân hàng

Trước hết, nợ xấu làm giảm lợi nhuận của của ngân hàng. Lợi nhuận được hình thành từ những khoản thu của ngân hàng mà những khoản thu này chủ yếu thu từ lãi cho vay. Nếu những khoản cho vay không thu hồi được thì nợ xấu của ngân hàng sẽ càng cao. Khi đó, ngân hàng sẽ phải trích lập RPRR cho khoản vay đó tức làm tăng chi phí của ngân hàng đồng thời làm giảm lợi nhuận.

Thứ hai, nợ xấu ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. Khi nợ xấu phát sinh, ngân hàng không thu được khoản tiền gốc và tiền lãi tín dụng, nhưng vẫn phải trả gốc và lãi cho các khoản vốn huy động đến hạn, điều này làm cho ngân hàng giảm lợi nhuận, rơi vào tình trạng mất cân đối thu chi và rủi ro thanh khoản. Mất khả năng thanh khoản mức độ nặng còn có thể dẫn tới phá sản ngân hàng.

Thứ ba, nợ xấu làm mất uy tín của ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu cao làm cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài chính của ngân hàng bị suy giảm, dẫn tới làm giảm khả năng huy động vốn, điều này sẽ đẩy chi phí huy động của ngân hàng lên cao hoặc thậm chí dẫn tới rủi ro thanh khoản và đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Đây cũng là lý do tại sao các Ngân hàng việt nam hiện nay vẫn mập mờ trong cách tính tỷ lệ nợ xấu và công bố nợ xấu. Bởi tỷ lệ nợ xấu càng cao, càng chứng tỏ hoạt động tín dụng kém hiệu quả của ngân hàng, điều này làm mất niềm tin của nhà đầu tư, của người gửi tiền.

Thứ tư, nợ xấu có thể cản trở quá trình hội nhập của các Ngân hàng việt nam. Nợ xấu tác động trực tiếp tới khả năng tài chính của các Ngân hàng khi phân tích đánh giá tình hình tài chính hoạt động ngân hàng. Trong quá trình hội nhập mở rộng, sự xuất hiện của ngân hàng nước ngoài ngày càng nhiều thì sự cạnh tranh càng khốc liệt. Vấn đề về lành mạnh tài chính của ngân hàng được đặt lên để đảm bảo quá trình hội nhập không bị hòa tan.

Đối với nền kinh tế:

Hoạt động kinh doanh ngân hàng mang tính hệ thống, có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều chủ thể trong toàn bộ nền kinh tế, do đó, nợ xấu có thể gây ra hậu quả đối với hệ thống tài chính quốc gia.

Hoạt động tín dụng ngân hàng dựa trên nguyên lý “đi vay để cho vay”, do đó, chỉ cần người gửi tiền mất niềm tin vào một ngân hàng họ tiến hàng rút tiền ồ ạt, tạo hiệu ứng tâm lý rút tiền ở các ngân hàng khác, hậu quả có thể khiến cho hệ thống ngân hàng sụp đổ hoàn toàn. Ngân hàng là một công cụ quan trọng thúc đẩy sự phát triển của sản xuất lưu thông hàng hóa. Việc sụp đổ cả một hệ thống ngân hàng sẽ làm ngưng trệ quá trình lưu thông vốn trong nền kinh tế và có thể dẫn tới khủng hoảng kinh tế.

Nợ xấu gia tăng có thể khiến ngân hàng dè dặt trong việc huy động và cung ứng vốn cho nền kinh tế, làm cho sản xuất bị đình trệ, tăng trưởng kinh tế chậm lại, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp gia tăng, xã hội mất ổn định và chất lượng cuộc sống giảm sút.

1.1.4.2. Vai trò của công tác xử lý nợ xấu

Xử lý nợ xấu là nhiệm vụ cấp bách, quan trọng hàng đầu trong chương trình các cải cách các hoạt động ngân hàng. Nó giữ vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại phát triển và uy tín dụng Ngân hàng. Xử lý nợ xấu của NHTM là một trong những vấn đề quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng quan tâm tới, kể cả các nước có nền kinh tế mới nổi hay các nước có nền kinh tế đã phát triển. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, quá trình hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế và tự do hóa tài chính làm cho môi trường cạnh tranh khốc liệt và rủi ro hơn.

Thứ nhất, xử lý nợ xấu đảm bảo ngân hàng phát triển ổn định

Ngăn ngừa nợ xấu ngân hàng sẽ hoạt động ổn định và tiếp tục phát triển bền vững vì nợ xấu phát sinh sẽ làm giảm tốc độ quay vòng vốn của NHTM do số tiền gốc của các khoản vay này khó có khả năng thu hồi, dẫn đến giảm doanh thu và thu nhập của NHTM. Nợ xấu phát sinh làm giảm lợi nhuận của NHTM do ngân hàng không thu được hoặc thu không đủ các khoản lãi phát sinh của các món nợ xấu. Ngoài ra, nợ xấu khiến NHTM phải trích lập dự phòng rủi ro cho khoản vay đó, làm tăng chi phí của ngân hàng đồng thời làm giảm lợi nhuận. Do đó, hầu hết các ngân hàng đều trú trọng đến công tác quản lý nợ xấu, bởi nếu không quản lý tốt dẫn đến phát sinh nợ xấu sẽ ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng và làm gia tăng thiệt hại.

Thứ hai, nợ xấu ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận khách hàng của ngân hàng

Những ảnh hưởng của nợ xấu dẫn đến lợi nhuận giảm, khả năng thanh toán giảm… có tác động sâu sắc đến tâm lý khách hàng bao gồm cả khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp hay các ngân hàng đối tác, làm mất uy tín dẫn đến giảm khả năng tiếp cận khách hàng vay vốn cũng như ảnh hưởng đến các hoạt động khác của ngân hàng như huy động vốn, các dịch vụ tài chính liên quan. Nợ xấu dẫn đến khủng hoảng nền kinh tế. Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng cao sẽ gây tâm lý hoang mang cho người gửi tiền. Hiệu ứng rút tiền ồ ạt có thể sẽ làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến phá sản.

Thứ ba, ngăn ngừa được nợ xấu thì nền kinh tế đất nước phát triển ổn định, tăng trưởng kinh tế đời sống văn hóa xã hội phát triển

Quản lý nợ xấu không tốt dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng cao sẽ gây nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân hàng, từ đó có thể kéo theo khủng hoảng tài chính tiền tệ xảy ra. Khi đó làm giảm số dự trữ và vốn, làm tổn thất sức mạnh tài chính của Ngân hàng. Hơn nữa, các khoản nợ xấu tạo ra gánh nặng chi phí cho các ngân hàng và làm ngân hàng suy giảm khả năng huy động vốn, khả năng cho vay đối với nền kinh tế. Vì thế lòng tin của dân chúng cũng như uy tín quốc tế đối với hệ thống ngân hàng, nề kinh tế đất nước do đó cũng suy giảm theo.

Tóm lại, vai trò của quản lý nợ xấu là rất quan trọng; nếu quản lý không tốt không những tác động đối với khách hàng, nhân dân, hệ thống Ngân hàng mà còn nguy hại đối với cả nền kinh tế, trật tự xã hội. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong giai đoạn trước đây là một minh chứng rõ nhất về ảnh hưởng của nợ xấu.

Nhận thức được điều này, việc nâng cao hiệu quả công tác ngừa và xử lý nợ xấu trong hoạt động của NHTM là một vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay, quản lý nợ xấu không còn là việc riêng của các NHTM mà là sự quan tâm chung của cả NHNN, Chính phủ và xã hội.

1.1.5. Tiêu chí cơ bản phản ánh nợ xấu

Các tiêu chí phản ánh mức độ nợ xấu của một NHTM gồm có:

  • Tiêu chí 1: Tổng nợ xấu là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn bộ khoản nợ xấu của ngân hàng.
  • Tiêu chí 2: Tỷ lệ giá trị các khoản nợ xấu/tổng dư nợ (tỷ lệ nợ xấu): chỉ tiêu này cho biết mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng.

Tỷ lệ này phản ánh cứ 100 đơn vị tiền tệ khi ngân hàng cho vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà ngân hàng xác định khó có khả năng thu hồi hoặc không thu hồi được đúng hạn tại thời điểm xác định. Tỷ lệ này càng cao thì khả năng rủi ro càng cao. Theo Thông lệ và chuẩn mực quốc tế, tỷ lệ nợ xấu nhỏ hơn 3%.

  • Tiêu chí 3: Tỷ lệ nợ xấu nội, ngoại bảng/Tổng dư nợ và nợ xấu nội, ngoại bảng/Tổng nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu nội, ngoại bảng/Tổng dư nợ =Nợ xấu nội, ngoại bảngx 100%
Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ xấu nội, ngoại bảng/ Tổng nợ xấu =Nợ xấu nội, ngoại bảngx 100%
Tổng nợ xấu

Các chỉ số này phản ánh chỉ tiêu tương đối của nợ xấu nội, ngoại bảng một cấu phần quan trọng của nợ xấu. Đây là những chỉ tiêu phản ánh khá trung thực về thực tế và nguy cơ mất vốn của NH. Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng rủi ro mất vốn của NH càng cao. Cụ thể, với hai NH có cùng số nợ xấu thì NH nào có tỷ lệ nợ khó đòi/nợ xấu cao hơn sẽ có chỉ tiêu tuyệt đối về nợ khó đòi lớn hơn và tất nhiên là nguy cơ mất vốn sẽ cao hơn.

  • Tiêu chí 4: Tỷ lệ dự phòng rủi ro được trích lập/Số dư nợ xấu:
Tỷ lệ trích lập DP/

Dư nợ xấu =

Số DPRR được trích lậpx 100%
Dư nợ xấu

Tỷ lệ này phản ánh quỹ dự phòng rủi ro có khả năng bù đắp bao nhiêu cho các khoản nợ xấu. Nếu tỷ lệ này càng cao thì khả năng quỹ DPRR đủ bù đắp các thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng và ngược lại. Ngoài ra cũng tùy theo tình hình cụ thể của mỗi ngân hàng hoặc quốc gia trong từng thời kỳ mà có thể có thêm các chỉ tiêu khác để đánh giá, so sánh thực trạng nợ xấu nhằm xây dựng các biện pháp xử lý hợp lý.

QUY TRÌNH XỬ LÝ NỢ XẤU

Việc xử lý nợ xấu được tiến hành theo một trình tự nhất định, bao gồm những vấn đề sau:

Nhận diện nợ xấu

Phòng ngừa

nợ xấu

Xử lý

nợ xấu

1.2.1. Nhận diện nợ xấu

Nhận diện nợ xấu là bước đầu tiên trong quá trình quản lý nợ xấu ngân hàng, mà trong đó NHTM sẽ căn cứ vào một số tiêu thức nhất định để nhận diện hoặc xác định khoản nợ đó có phải là nợ xấu hay không. Để nhận biết các khoản nợ xấu, mỗi quốc gia với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính khác nhau sẽ có những quan điểm khác nhau. Một số tiêu chí thường được các NHTM sử dụng trong việc nhận diện nợ xấu là:

Việc xác định nợ xấu cần được NHTM thực hiện định kỳ và đột xuất ngay khi khách hàng hoặc khoản vay có những biểu hiện nhất định:

a) Nhận diện từ phía khách hàng

– Dấu hiệu từ báo cáo tài chính

+ Nhận biết từ bảng cân đối kế toán:

Khách hàng gửi báo cáo tài chính chậm hoặc không gửi báo cáo tài chính thiếu lý do thuyết phục. Số liệu báo có không đầy đủ, rõ ràng và thiếu trung thực. Nguồn vốn chủ sở hữu giảm (trừ trường hợp chia tách doanh nghiệp). Thay đổi đáng kể trong cơ cấu bảng tổng kết tài sản. Nợ phải trả tăng đột biến trong khi nhu cầu SXKD không có sự thay đổi lớn, vốn lưu động ròng âm, các khoản nợ dài hạn tăng đáng kể. Các khoản phải thu tăng đột biến, thời gian thu hồi nợ phải thu trung bình tăng, tỉ lệ các khoản phải thu khó đòi/tổng các khoản phải thu tăng.

Hàng tồn kho, chi phí trả trước, tạm ứng, chi phí sản xuất dở dang tăng đột biến, nhiều công trình xây dựng cơ bản dở dang kéo dài, không quyết toán được. Tỉ lệ các khoản tồn kho kém chất lượng/tổng hàng tồn kho tăng.

Thay đổi tăng nhanh chóng của tài sản cố định (trừ trường hợp doanh

nghiệp đầu tư phát triển sản phẩm mới).

Các chỉ tiêu hệ số thể hiện khả năng thanh toán, hiệu quả hoạt động, luân chuyển vốn giảm.

+ Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh:

Doanh thu bán hàng giảm đột biến hoặc doanh thu bán hàng tăng lớn nhưng lợi nhuận giảm. Tổng doanh thu và doanh thu thuần chênh lệch lớn.

Tỷ lệ phần trăm của chi phí trên tổng doanh thu tăng lớn, mức lãi giảm.

Chi phí quản lý, chi phí tài chính tăng không cân xưng so với mức tăng của doanh thu bán hàng. Tốc độ tăng chi phí cao hơn nhiều so với tốc độ tăng doanh thu trong khi kế hoạch sản xuất kinh doanh không có sự thay đổi độ biến.

Giá vốn tăng cao. Không thực hiện trích lập dự phòng phải thu khó đòi theo quy đinh, công nợ dây dưa kéo dài.

Chi phí quản lý chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí.

Lợi nhuận cao nhưng lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh âm, xuất hiện lỗ hổng từ hoạt động kinh doanh.

* Dấu hiệu từ hoạt động kinh doanh, quan hệ với bạn hàng

Thị giá cổ phiếu doanh nghiệp giảm hoặc thay đổi bất lợi. Thay đổi phạm vi kinh doanh. Nguồn cung cấp nguyên liệu bị giảm sút, giá đầu vào tăng đột biến. Thị phần sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp dần thu nhỏ trên thị trường, năng lực cạnh tranh thấp, tiền đề phát triển trong tương lai không nằm trong xu thế tiêu thụ của thị trường. Mất quyền phân phối sản phẩm hoặc nguồn cung cấp.

Giá trị từng đơn đặt hàng hoặc hợp đồng mua bán thay đổi đáng kể có thể làm mất cân bằng năng lực sản xuất hiện hành. Khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ người bán, khách hàng mua chịu tăng lên. Hàng tồn kho kém chất lượng, cơ cấu tồn kho không phù hợp. Mất nhiều khách hàng có quan hệ lâu năm.

Bố trí nhà máy, thiết bị không phù hợp với quy mô, quy trình luân chuyền sản xuất kinh doanh và thị trường phân phối. Công suất của nhà máy giảm đáng kể hoặc một số dây chuyền phải ngừng hoạy động vì không có đơn hàng.

* Dấu hiệu từ giao dịch ngân hàng

Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch nhu cầu vay vốn lưu động ngày càng tăng lên không sát thực tế, thiếu cơ sở. Thời hạn xin vay vốn ngày càng kéo dài. Đề nghị vay vốn của khách hàng thể hiện nhiều nguồn trả nợ khác nhau nhưng trên thực tế lại khó có thể nhận thấy được.

Chất lượng và giá trị tài sản bảo đảm suy giảm.

Xuất hiện những chủ nợ khác, đặc biệt những chủ nợ nhận tài sản bảo đảm.

Thay đổi trong thái độ đối với cán bộ ngân hàng, ngài tiếp xúc với cán bộ ngân hàng, thiếu tính hợp tác trong cung cấp thông tin, tình hình sản xuất kinh doanh, tài sản bảo đảm cho ngân hàng.

Khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn, chậm trả nợ gốc, nợ lãi, thường xuyên phải cơ cấu lại thơi hạn trả nợ. Thiếu tinh thần hợp tác trong việc thanh toán các khoản nợ với ngân hàng.

* Dấu hiệu liên quan đến quản trị doanh nghiệp

Doanh nghiệp sắp chuyển đổi hình thức sở hữu, thay đổi nhân sự, người điều hành, cổ đông lớn, có dấu hiệu mất đoàn kết trong nội bộ doanh nghiệp, xuất hiện các vụ kiện cáo từ nội bộ doanh nghiệp, chậm hoàn thiện hồ sơ pháp lý.

Trình độ quản lý doanh nghiệp của bộ máy lãnh đạo doanh nghiệp kém.

Việc điều hành và phân công xử lý công việc thể hiện sự chắp vá không mang tính dài hạn và kế hoạch hóa cao. Sử dụng nguồn lực lãng phí, kém hiệu quả.

Mức độ tín nhiệm của ban lãnh đạo và doanh nghiệp giảm thấp.

Thái độ làm việc của nhân viên giảm sút, khó khăn về nhân sự, một số

người có năng lực rời bỏ doanh nghiệp.

Không có khả năng thực hiện các kế hoạch hoặc các cam kết.

Mạo hiểm mua bán, thực hiện công việc kinh doanh mới tại khu vực kinh doanh mới hoặc với dây chuyền kinh doanh mới. Giá cả sản phẩm không phù hợp với giá thị trường.

Phản ứng chậm với sự đi xuống của thị trường hoặc các điều kiện kinh tế.

Có dấu hiệu nợ lương cán bộ, công nhân viên.

Khách hàng vay vốn, lãnh đạo chủ chốt, kế toán trưởng doanh nghiệp bị cơ quan có thẩm quyền thẩm tra, bắt hoặc tạm giam liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Khách hàng có dấu hiện bỏ trốn hoặc mất tích.

b) Nhận diện qua dấu hiệu liên quan đến công tác quản lý tín dụng của ngân hàng

Dấu hiệu từ hồ sơ khoản vay:

+ Hồ sơ cho vay không đầy đủ, thiếu chặt chẽ, thông tin thiếu độ tin cậy.

+ Hồ sơ tài sản bảo đảm chưa đảm bảo tính pháp lý, tài sản nhận làm bảo đảm có tính đặc thù cao hoặc tính chuyển nhượng thấp trên thị trường.

+ Kế hoạch trả nợ, nguồn trả nợ không rõ ràng, tính khả thi thấp.

+ Khoản vay có dấu hiệu không trả nợ đúng hạn nhưng không có vật tư, công nợ tương đương làm bảo đảm.

Dấu hiệu liên quan đến công tác quản lý tín dụng:

+ Quy trình cho vay của ngân hàng không được nghiêm túc tuân thủ.

+ Quyết định cho vay không căn cứ vào tính khả thi của phương án sử dụng vốn vay của khách hàng mà chủ yếu dựa vào nguồn thu từ tài sản bảo đảm.

+ Coi nhẹ công tác đánh giá khách hàng, phân tích báo cáo tài chính, khả năng trả nợ của người vay hoặc bỏ qua cáo cáo của bộ phận thông tin tín dụng và những nguồn tham khảo tín dụng khác, bỏ qua ý kiến của các cấp thẩm định.

+ Kiểm tra sau giải ngân mang tính hình thức, chiếu lệ.

+ Cho vay thêm nhưng không có tài sản bảo đảm tương ứng.

+ Cho vay đảo nợ.

+ Cán bộ tín dụng có mối quan hệ đặc biệt với khách hàng.

c) Các dấu hiệu nhận biết từ phía cơ quan chủ quản, các cơ quan khác

+ Khách hàng có liên quan đến vụ án đang được cơ quan pháp luật điều tra, giải quyết.

+ Cơ quan chức năng có quyết định thay đổi, bổ sung hoặc rút bớt ngành nghề kinh doanh, thu hồi giấy phép kinh doanh của doanh nghiệp

+ Nợ nghãi vụ ngân sách Nhà nước

+ Kết quả kiểm toán có những điểm khác lớn so với các báo cáo của doanh nghiệp.

d) Các dấu hiệu khác

+ Cơ chế chính sách thay đổi ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh của khách hàng vay, bạn hàng truyền thống, chiến lược của khách hàng

+ Giá cả thị trường thay đổi làm ảnh hưởng tiêu cực đến đầu vào, đầu ra của sản phẩm mà vốn vay của ngân hàng đang đầu tư

+ Tỷ giá ngoại tệ tăng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay ngoại tệ.

+ Thiên tai, hỏa hoạn ảnh hưởng đến đối tượng vay vốn

1.2.2. Phòng ngừa nợ xấu

Kiểm soát và xử lý vấn đề nợ xấu luôn là mục tiêu ưu tiên hàng đầu của hệ thống ngân hàng. Việc tỷ lệ nợ xấu cao nếu không kiểm soát và xử lý kịp thời thì hậu quả xấu của nó gây ra đối với bản thân các ngân hàng và đối với nền kinh tế là rất lớn. Vì vậy, để hạn chế nợ xấu phát sinh thì trước hết, các NH cần phải tập trung vào các biện pháp ngăn chặn nợ xấu. Các biện pháp phòng ngừa nợ xấu như sau:

– Xếp hạng tín dụng đối với khách hàng

Ngân hàng phải xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để xếp hạng khách hàng theo định kỳ hoặc khi cần thiết để làm cơ sở cho việc xét duyệt cấp tín dụng, quản lý chất lượng tín dụng, xây dựng chính sách dự phòng rủi ro phù hợp.

Ngân hàng phải triển khai phân loại khách hàng, chấm điểm tín dụng với từng đối tượng khách hàng dựa trên các tiêu chí định tính cũng như định lượng. Hầu hết các Ngân hàng đều có tiêu chí xếp loại và phân loại nợ theo nhóm khách hàng để phân tích và đánh giá rủi ro tín dụng.

Thông qua xếp hạng tín dụng của khách hàng, Ngân hàng có thể đánh giá cơ bản về mức độ rủi ro của khách hàng, sàng lọc được khách hàng tốt để phục vụ việc ra quyết định cấp tín dụng. Đây cũng là cơ sở để Ngân hàng có thể tập trung vào các đặc điểm riêng của khách hàng để có biện pháp quản lý tín dụng hiệu quả.

Quan hệ khách hàng với các tổ chức tín dụng phụ thuộc vào mức độ xếp hạng tín dụng của khách hàng đó. Những khoản vay có mức rủi ro cao cần phải kiểm soát, đánh giá thường xuyên, những khách hàng vay có mức xếp hạng tín dụng thấp cũng cần phải được chú trọng theo dõi. Ngược lại, những khách hàng tốt với mức xếp hạng tín dụng cao sẽ được ưu ái hơn trong các quan hệ giao dịch.

Việc áp dụng cách chấm điểm phân loại khách hàng và thực hiện tốt công tác xếp hạng tín dụng khách hàng sẽ giúp Ngân hàng rút ngắn được thời gian thẩm định và giảm thiểu rủi ro tín dụng cho mình.

– Thực hiện tốt quy trình tín dụng

Bản thân hoạt động tín dụng luôn chứa đựng nguy cơ rủi ro tiềm ẩn, chính vì vậy, các ngân hàng khi xem xét cho vay đều phải thực hiện nghiêm ngặt quy trình quản lý tín dụng: từ khâu thẩm định, giải ngân, cho vay đến các khâu kiểm tra trước và sau khi cho vay… Việc thực hiện và quản lý nghiêm ngặt quy trình quản lý tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng tránh được rủi ro các khoản nợ xấu phát sinh, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm và các thiếu sót trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Xuất phát từ yêu cầu này, việc xây dựng các trình tự và thủ tục đó sao cho có hiệu quả luôn là đòi hỏi lớn đối với các NH. Sổ tay tín dụng cần quy định cụ thể, chi tiết, rõ ràng thủ tục, quy trình, trình tự mọi công việc có liên quan đến hoạt động tín dụng, kể từ khi nhận đơn xin vay đến khi thu hồi được toàn bộ gốc và lãi của khoản vay đó. Việc xây dựng sổ tay tín dụng nhằm mục đích làm cho hoạt động tín dụng được thực hiện một cách quy củ và thống nhất.

Kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng

Kiểm tra, giám sát để đảm bảo chắc chắn rằng khách hàng vay không làm những việc rủi ro bằng những khoản tiền của ngân hàng cho vay. Ngân hàng thực hiện việc kiểm tra sử dụng vốn vay sau khi giải ngân, kiểm tra hoạt động kinh doanh của khách hàng vay theo định kỳ. Đây là một yêu cầu bắt buộc trong quy trình tín dụng của bất cứ một NH nào.

Các ngân hàng sử dụng rất nhiều các biện pháp khác nhau để kiểm tra, giám sát khoản vay, bao gồm:

  • Tiến hành kiểm tra, giám sát tất cả các khoản tín dụng theo định kỳ nhất định, đồng thời cũng tiến hành kiểm tra đột xuất với những khoản tín dụng có dấu hiệu rủi ro cao.
  • Xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung quá trình kiểm tra một cách thận trọng và chi tiết, bảo đảm rằng những khía cạnh quan trọng nhất của mỗi khoản vay phải được kiểm tra.
  • Quản lý chặt chẽ và thường xuyên các khoản tín dụng có vấn đề, tăng cường kiểm tra, giám sát khi phát hiện những dấu hiệu không lành mạnh, liên quan đến khoản vay.
  • Tăng cường các biện pháp kiểm soát tín dụng trong trường hợp nền kinh tế suy giảm hay các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục cho vay của ngân hàng phải đối mặt với những vấn đề lớn.

Một khía cạnh khác của hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng là công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi một bộ phận độc lập với hoạt động tín dụng đó là phòng kiểm tra nội bộ, có chức năng đưa ra các đánh giá một cách khách quan đối với hoạt động tín dụng. Trên cơ sở đó, bộ phận kiểm tra nội bộ thực hiện chức năng tư vấn cho bộ phận nghiệp vụ và là công cụ quản lý của ban lãnh đạo ngân hàng.

– Xây dựng chiến lược quản lý rủi ro

Cần có chiến lược quản lý rủi ro phù hợp với chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ và có thể được điều chỉnh một cách linh hoạt tùy theo diễn biến thị trường tín dụng. Chiến lược quản lý rủi ro nói chung nhằm hạn chế nợ xấu phát sinh phải chỉ rõ điểm mạnh điểm yếu của ngân hàng, các cơ hội cũng như các mối đe dọa từ môi trường kinh doanh… Chiến lược phải được hoạch định một cách nhất quán về các thứ tự ưu tiên cho đến các mục tiêu có sự xung đột trong hoạt động kinh doanh. Chiến lược phòng ngừa, hạn chế rủi ro phải đặc biệt chú trọng đến việc đa dạng hóa danh mục tín dụng trên cơ sở phân bổ hợp lý các nguồn vốn cũng như chi phí quản lý rủi ro sẽ được hình thành trên cơ sở là một bộ phận hữu cơ phù hợp và gắn liền với chiến lược kinh doanh tổng thể của ngân hàng.

Xây dựng hạn mức rủi ro tín dụng

Chiến lược hoạt động của Ngân hàng một mặt cần phải mang lại thu nhập cho Ngân hàng, mặt khác cần phải đảm bảo khả năng thanh khoản. Ngân hàng xây dựng và triển khai sản phẩm, dịch vụ truyền thống và hiện đại nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao của khách hàng cũng như sự phát triển của nền kinh tế. Trong hệ thống các hoạt động của Ngân hàng, nhất là hoạt động tín dụng, hoạt động mang lại hơn 70% thu nhập cho Ngân hàng, Ngân hàng cần phải xác định mức độ rủi ro tối đa, giới hạn tỷ lệ nợ xấu. Rủi ro luôn đi kèm với hoạt động của bất kỳ Ngân hàng nào, chúng ta có thể làm hạn chế tổn thất của chúng, nhưng không thể ngăn ngừa chúng xuất hiện. Hoạt động Ngân hàng nằm trong giới hạn rủi ro, đó cũng là một thành công lớn của Ngân hàng.

Ngân hàng phải xây dựng danh mục tài sản với các rủi ro có thể chấp nhận được và danh mục nguồn vốn với chi phí thực sự hợp lý, phù hợp với khả năng thanh khoản và thực tế ngành kinh tế, vùng kinh tế và cả nền kinh tế.

Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản nợ có khả năng phát sinh nợ xấu

Khi những khoản nợ có nguy cơ chuyển thành nợ xấu thì các ngân hàng cần phải xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm đối với những khoản nợ này. Đối với những khoản nợ này, khi khoản nợ bị chuyển sang nhóm 2 thì cần phải sớm phân tích nguyên nhân và có biện pháp để khoản nợ không kéo dài thời gian quá hạn, dễ dẫn đến nguy cơ nợ xấu.

Yêu cầu cảnh báo sớm nợ nhóm 2 đòi hỏi ngân hàng cho vay phải kiểm tra trực tiếp và thu thập thông tin về khách hàng để giải đáp ngay câu hỏi: Nguyên nhân nào dẫn đến chậm trả gốc và/hoặc lãi của khách hàng? và xem xét khả năng tài chính của khách hàng có đủ để tiếp tục trả nợ hay không. Việc phát hiện, cảnh báo sớm sẽ có tác động tích cực cho cả hai bên nhằm kịp thời khắc phục khó khăn.

Khi một khoản nợ chuyển nhóm 2 thì khả năng chuyển sang nợ xấu là hết sức tiềm ẩn ở mọi ngân hàng cho vay. Như vậy, việc xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu phát sinh cần được quan tâm đặc biệt. Hệ thống này phải bao gồm các thủ tục và quy trình thích hợp để xây dựng một hệ thống cảnh báo toàn diện. Một quy trình cảnh báo sớm điển hình bao gồm rất nhiều yếu tố cơ bản, trong đó tính đầy đủ, cập nhật và chính xác của thông tin là yếu tố then chốt.

1.2.3. Xử lý nợ xấu trong ngân hàng

Khi một khoản nợ đã được xác định là nợ xấu, các NH có các biện pháp sau để xử lý:

Quy trách nhiệm đòi nợ đối với cán bộ tín dụng

Đối những khoản nợ xấu phát sinh có nguyên nhân chủ quan từ cán bộ tín dụng, ngân hàng kiên quyết sử dụng biện pháp quy trách nhiệm cho người đó. Trong trường hợp không thể đòi nợ được, người làm sai sẽ phải bồi thường cho ngân hàng và còn phải chịu các hình thức kỷ luật khác.

Nếu các khoản nợ xấu phát sinh do nguyên nhân khách quan, các ngân hàng cũng có thể áp dụng biện pháp gắn việc đòi nợ với trách nhiệm của cán bộ tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi nợ. Ngoài ra, các ngân hàng có thể xây dựng cơ chế thưởng phạt trong việc thu hồi nợ nhằm phát huy động lực sáng tạo của những người có trách nhiệm.

Cơ cấu lại nợ

Biện pháp này được áp dụng với những khoản nợ xấu có khả năng thu hồi. Ngân hàng xem xét khả năng phục hồi của khách hàng, sau đó sẽ tiến hành thương lượng với khách hàng về giải pháp thực thi cũng như yêu cầu cam kết của khách hàng. Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể thực hiện các phương án sau:

Gia hạn nợ: Đây là phương án có lợi cho cả khách hàng và ngân hàng. Khách hàng có thể tránh được áp lực trả nợ để tiếp tục kinh doanh, còn ngân hàng thì giảm được nợ xấu. Tuy nhiên, biện pháp này bị giới hạn bởi thời hạn được phép cho vay của ngân hàng.

Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ: Việc điều chỉnh kỳ hạn nợ thông thường được thực hiện thông qua việc hoãn hoặc/và giảm khối lượng nợ gốc phải thanh toán của kỳ hạn trả nợ, nhưng không được giảm tổng số nợ phải trả.

Chuyển nợ thành vốn góp cổ phần

Chuyển các khoản nợ xấu thành vốn cổ phần với các doanh nghiệp cổ phần. Ngân hàng áp dụng biện pháp này khi khách hàng gặp rủi ro trong kinh doanh do nguyên nhân khách quan song có triển vọng phục hồi. Trong thực tế, các ngân hàng hay sử dụng biện pháp này đối với những doanh nghiệp tạm thời sa sút, gặp sự cố đột xuất không nghiêm trọng trong kinh doanh hoặc đối với các khách hàng có nợ lớn mà vẫn còn cơ hội hồi phục.

Xử lý tài sản bảo đảm, đòi nợ bên bảo lãnh

Ban đầu, khi khách hàng vay vốn, để hỗ trợ cho việc thực hiện hợp đồng, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng cam kết thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba. Khi đến hạn thanh toán nợ, khách hàng chây ỳ không chịu trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ được nữa, ngân hàng sẽ tiến hành thanh lý tài sản bảo đảm. Ngân hàng bán tài sản bảo đảm trên thị trường, hoặc qua trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản bảo đảm hay bán cho công ty mua bán nợ hoặc khách hàng vay tự bán tài sản dưới sự giám sát của ngân hàng và số tiền thu được sẽ trả nợ ngân hàng.

Bán các khoản nợ

Biện pháp này được ngân hàng sử dụng nhằm tận thu nợ xấu, khắc phục và xử lý nợ tồn đọng, làm trong sạch, lành mạnh bảng cân đối kế toán, đảm bảo ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững. Thông thường các khoản mua bán nợ hiện nay của các NH là các khoản nợ xấu, nợ tồn đọng đã lâu, khó xử lý bằng các biện pháp thông thường. Ngân hàng đánh giá biện pháp bán toàn bộ khoản nợ là biện pháp hiệu quả nhất giúp ngân hàng nhanh chóng thu được tiền về để thực hiện quay vòng vốn, mặt khác nhằm giảm nợ xấu, cơ cấu lại danh mục tín dụng, giảm chi phí quản lý các khoản nợ xấu này.

Khi bán các khoản nợ xấu, ngân hàng thường chấp nhận bán thấp hơn mệnh giá để thu hồi vốn nhanh và tránh ảnh hưởng tới những khoản nợ còn lại. Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này, bên cạnh việc nhanh chóng đưa các khoản nợ xấu ra khỏi bảng tổng kết tài sản, các NH thường thành lập một tổ chức có tính chuyên môn hoá cao gọi là Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản. Công ty này sẽ tiếp nhận các khoản nợ và thực hiện mua bán tiếp theo. Hiện nay, Việt Nam đã thành lập Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) để thực hiện mua các khoản nợ xấu.

Bù đắp bằng quỹ Dự phòng rủi ro

Khi các biện pháp thu hồi khác không có hiệu quả, ngân hàng có thể dùng quỹ DPRR tài sản để bù đắp thiệt hại của khoản nợ xấu. Do tính chủ động cao nên biện pháp này thường được các NHTM vận dụng tối đa nhằm xử lý nợ nhanh chóng. Nhưng thực chất của biện pháp này là dùng nội lực của ngân hàng để khắc phục gánh nặng nợ xấu nên sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng. Việc sử dụng quá nhiều giải pháp này làm giảm thu nhập của ngân hàng trong khi vốn cho vay vẫn không thu hồi được. Vì vậy, ngân hàng nên chú trọng vào các biện pháp thu nợ có tính triệt để hơn hoặc kết hợp biện pháp này cùng các biện pháp khác.

Sử dụng giải pháp pháp lý để đòi nợ

Biện pháp kiện khách hàng ra tòa để đòi nợ được ngân hàng lựa chọn khi các biện pháp trên không khả thi. Ngân hàng có thể nhờ tòa án can thiệp buộc khách hàng trả nợ, chuyển giao tài sản bảo đảm tiền vay hoặc nếu khách hàng là doanh nghiệp không trả được nợ thì ngân hàng với tư cách là chủ nợ có thể làm đơn xin tòa mở thủ tục tuyên bố phá sản theo luật phá sản. Trên thực tế, việc phải sử dụng đến giải pháp này thường không đem lại hiệu quả cao cho việc đòi nợ của ngân hàng vì thủ tục rắc rối, khách hàng thường không còn khả năng trả nợ, TSBĐ có tranh chấp về pháp lý hoặc không đủ giá trị bù đắp cho khoản vay…

Sự trợ giúp của Chính phủ

Đối với những khoản nợ xấu phát sinh do các khoản vay theo chính sách của Chính phủ, các Ngân hàng phải trông chờ vào nguồn bù đắp từ Ngân sách Nhà nước. Thực chất các khoản vay theo chính sách có thể coi như khoản vay có bảo lãnh của bên thứ ba là Chính phủ. Do vậy, khi Ngân hàng không thể thu hồi được nợ từ khách hàng thuộc đối tượng này thì Chính phủ phải đứng ra giải quyết cho Ngân hàng. Chính phủ có thể sử dụng Ngân sách mua toàn bộ số nợ xấu của NHTM để xử lý dần trong một số năm nhằm giải thoát cho các NHTM không bị sa lầy vào khủng hoảng nợ xấu, giúp Ngân hàng tập trung vào hoạt động kinh doanh. Biện pháp này có hạn chế là thủ tục, trình tự xử lý phức tạp, kéo dài, có sự tham gia của nhiều cơ quan chức năng, không thể áp dụng thường xuyên vì vốn ngân sách có hạn, việc xử lý một khối lượng lớn nợ xấu rất tốn kém làm giảm ngân sách đầu tư cho các lĩnh vực khác, gây ảnh hưởng toàn bộ nền kinh tế.

NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU

Xử lý nợ xấu của Ngân hàng đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ, từ nhiều phía cả Nhà nước, Ngân hàng và bản thân khách hàng. Việc xử lý nợ xấu của các NH chịu sự tác động của các yếu tố chủ yếu sau:

Môi trường pháp lý và môi trường kinh tế

Hệ thống pháp luật hay hành lang pháp lý là cơ sở để điều tiết các hoạt động trong nền kinh tế. Hành lang pháp lý phải thuận lợi, rõ ràng và đủ mạnh thì sẽ góp phần làm lành mạnh hoạt động của các doanh nghiệp và hỗ trợ ngân hàng trong việc ngăn ngừa và xử lý nợ xấu. Nếu luật về thủ tục thế chấp, tịch thu tài sản, phá sản NH mà không được chặt chẽ thì sẽ dẫn đến những tác động tiêu cực tới nền kinh tế do các khoản nợ xấu gây nên. Cơ chế pháp lý có hiệu quả thì cần phải có những biện pháp hợp lý, chặt chẽ thống nhất, xử lý nợ có hiệu quả để tránh tình trạng thủ tục rườm rà, phức tạp, kéo dài quá lâu.

Ngoài môi trường pháp lý thì môi trường kinh tế lành mạnh, minh bạch với sự phát triển đầy đủ của các thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản cũng là nhân tố ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động quản lý nợ xấu của ngân hàng.

Vốn chủ sở hữu của ngân hàng

Xử lý nợ xấu một cách triệt để đòi hỏi NH phải có tiềm lực tài chính đủ mạnh, mà cụ thể ở đây là quy mô vốn chủ sở hữu. Thực tế trong số các biện pháp xử lý nợ xấu thì việc trích lập và sử dụng quỹ DPRR vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể. Tuy nhiên, không phải NH nào cũng có thể trích đủ DPRR theo quy định của pháp luật vì số thực trích DPRR tín dụng được tính vào chi phí và trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Thực tế đã có những NH lâm vào tình trạng năng lực tài chính quá thấp có khi phải mất đến mấy chục năm mới có thể xử lý hết nợ tồn đọng. Vì vậy, nâng cao năng lực tài chính, tăng quy mô vốn chủ sở hữu là điều kiện quan trọng giúp cho NH chủ động hơn trong công tác quản lý nợ xấu của mình. Các ngân hàng với tiềm lực tài chính mạnh cũng sẽ vững vàng hơn khi gặp phải khoản tổn thất lớn do nợ xấu gây ra. Tuy nhiên ở các quốc gia đang phát triển còn cần có sự hỗ trợ từ phía chính phủ nhằm nâng cao năng lực tài chính cho Ngân hàng.

Sự phát triển của công nghệ ngân hàng

Trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế, ngân hàng luôn là những người đi đầu trong việc ứng dụng các tiến bộ trong công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động. Sự phát triển của công nghệ ngân hàng tác động đến hệ thống thông tin và kế toán trong ngân hàng, sẽ dẫn đến thay đổi các thủ tục kiểm soát và góp phần quản lý nợ xấu có chất lượng.

Nguồn nhân lực thực hiện công tác quản lý nợ xấu

Sự phát triển của ngân hàng luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên, họ là nhân tố quan trọng nhất trong môi trường quản lý cũng như đóng vai trò là chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Các NH hoạt động có hiệu quả cao bao giờ cũng quan tâm đến việc tuyển chọn cán bộ tín dụng có trình độ, năng lực và tâm huyết. Các ngân hàng thường phải có kế hoạch tuyển dụng, đào tạo và đào tạo lại để cán bộ ngân hàng thích ứng với yêu cầu thực tế. Do vậy, việc tuyển chọn và xây dựng nguồn nhân lực nhanh nhạy, có phẩm chất tốt, đáp ứng đòi hỏi của thị trường, phát hiện xử lý kịp thời các vướng mắc trong quá trình cho vay là vô cùng quan trọng.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG DE AN 2024/ Nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk

Nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *